Tải bản đầy đủ

THỰC TRẠNG của VIỆC QUẢN lý vốn đầu tư xây DỰNG cơ bản đối với NGÀNH THUỶ lợi TRONG THỜI GIAN QUA

Chương 1
ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN VÀ CƠ SỞ ĐỂ TỔ CHỨC THỰC HIỆN
QUẢN LÝ CHI ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN ĐỐI VỚI NGÀNH THUỶ
LỢI

1.Những vấn đề chung về đầu tư xây dựng cơ bản:
1.1Một số khái niệm cơ bản:
1.1.1Khái niệm đầu tư xây dựng cơ bản:
Đầu tư xây dựng cơ bản là quá trình sử dụng các nguồn lực vào hoạt
động sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng tài sản cố định, nhằm từng bước
tăng cường và hoàn thiện cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền kinh tế.
1.1.2.Khái niệm vốn đầu tư xây dựng cơ bản:
Vốn đầu tư xây dựng cơ bản thuộc ngân sách nhà nước là vốn của ngân
sách nhà nước được cân đối trong dự toán ngân sách nhà nước hàng năm từ các
nguồn thu trong nước, nước ngoài (bao gồm vay nước ngoài của chính phủ và
vốn viện trợ của nước ngoài cho chính phủ, các cấp chính quyền và các cơ quan
nhà nước) để cấp phát và cho vay ưu đãi về đầu tư xây dựng cơ bản.
1.1.2.1 Vốn đầu tư xây dựng cơ bản của ngân sách Nhà nước được hình
thành từ các nguồn sau:
+ Một phần tích luỹ trong nước từ thuế, phí, lệ phí
+ Vốn viện trợ theo dự án của chính phủ, các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức

liên hợp quốc và các tổ chức Quốc Tế khác.


+ Vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) của tổ chức Quốc tế và các Chính phủ
hỗ trợ cho Chính phủ Việt Nam.
+ Vốn thu hồi nợ của ngân sách đã cho vay ưu đãi các năm trước
+ Vốn vay của Chính phủ dưới các hình thức trái phiếu kho bạc nhà nước phát
hành theo quyết định của Chính phủ
+ Vốn thu từ tiền giao quyền sử dụng đất theo quy định của Chính phủ
+ Vốn thu từ tiền bán, cho thuê tài sản thuộc sở hữu Nhà nước
1.1.3 Khái niệm chi đầu tư xây dựng cơ bản của Ngân sách Nhà nước:
Chi đầu tư xây dựng cơ bản của NSNN là quá trình sử dụng một phần vốn
tiền tệ đã được tập trung vào NSNN nhằm thực hiện tái sản xuất giản đơn và tái
sản xuất mở rộng tài sản cố định, từng bước tăng cường hoàn thiện cơ sở vật
chất kĩ thuật cho nền kinh tế .
1.1.3.1. Phân loại chi đầu tư xây dựng cơ bản :
Thứ nhất: dựa theo tính chất tái sản xuất tài sản cố định, chi đầu tư
XDCB cho ngành thuỷ lợi được chia thành:
- Chi đầu tư xây dựng công trình thuỷ lợi mới:
Đây là khoản chi để xây dựng mới các công trình thuỷ lợi, sở thuỷ lợi,
viện nghiên cứu, trung tâm khoa học mới ... Khoản chi này đòi hỏi vốn đầu tư
lớn, thời gian xây dựng kéo dài. Do đó Nhà nước phải xem xét đầu tư vào những
công trình, dự án mang tính chất cấp bách, trọng điểm, chấm dứt tình trạng đầu
tư phân tán dàn trải. Khoản chi này cần được quan tâm hơn cả trong chi đầu tư
XDCB cho ngành thuỷ lợi
- Chi đầu tư cải tạo, mở rộng, nâng cấp các công trình thuỷ lợi, trạm bơm.

2


Khoản chi này do thời gian sử dụng lâu dài nên các công trình thuỷ lợi
thường là đã xuống cấp, do thiên tai, địch hoạ gây ra, trong khi đó nhu cầu sử
dụng lại không ngừng tăng lên. Đòi hỏi phải đầu tư để nâng cấp, mở rộng và cải
tạo lại. Hiện nay các khoản chi này vẫn giữ một vị trí quan trọng, đảm bảo tiết
kiệm mà đáp ứng được một số nhu cầu đáng kể
Thứ hai: Dựa vào cơ cấu công nghệ của vốn đầu tư, chi đầutư XDCB
cho ngành thuỷ lợi được phân thành:
- Chi xây lắp: là các khoản chi để xây dựng, lắp đạt các thiết bị vào vị trí
như trong thiết kế. Tuy nhiên, ngành thuỷ lợi là ngành phi sản xuất nên chi phí
lắp đặt chiếm tỷ lệ ít. Do vậy, chi về xây lắp của ngành thuỷ lợi chủ yếu là chi

phí về xây dựng
- Chi về máy móc thiết bị: Là khoản chi để mua sắm máy móc thiết bị
phục vụ cho ngành thuỷ lợi như các máy bơm, máy tính, dụng cụ sửa chữa ...
Đối với các khoản chi này chỉ chiếm một phần nhỏ trong tổng chi đầu tư XDCB.
- Chi về XDCB khác: là các khoản chi có liên quan đến tất cả qúa trình
xây dựng như việc kiểm tra, kiểm soát để làm luận chứng kinh tế kỹ thuật và các
chi phí có liên quan đến việc chuẩn bị mặt bằng thi công, chi phí tháo dỡ vật kiến
trúc, chi phí đền bù hoa màu đất đai di chuyển nhà cửa ... khoản chi này chiếm tỷ
trọng nhỏ nhưng rất cần thiết.
1.1.3.2.Phạm vi sử dụng vốn ngân sách Nhà nước cho cấp phát đầu tư xây
dựng cơ bản
Vốn của ngân sách nhà nước chỉ được cấp phát cho các dự án đầu tư thuộc
đối tượng sử dụng vốn ngân sách Nhà nước theo quy định của luật ngân sách
Nhà nước và quy chế quản lý đầu tư và xây dựng. Cụ thể vốn ngân sách nhà
nước chỉ được cấp phát cho các đối tượng sau:

3


- Các dự án kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, quốc phòng an ninh không có
khả năng thu hồi vốn và được quản lý sử dụng theo phân cấp về chi ngân sách
Nhà nước cho đầu tư phát triển .
- Hỗ trợ các dự án của các doanh nghiệp đầu tư vào các lĩnh vực cần có
sự tham gia của Nhà nước theo quy định của pháp luật
- Chi cho công tác điều tra, khảo sát, lập các dự án quy hoạch tổng thể
phát triển kinh tế - xã hội vùng, lãnh thổ, quy hoạch xây dựng đô thị và nông
thôn khi được Thủ tướng Chính phủ cho phép
- Các doanh nghiệp Nhà nước được sử dụng vốn khấu hao cơ bản và các
khoản thu của Nhà nước để lại để đầu tư (đầu tư mở rộng, trang bị lại kỹ thuật)
Tóm lại, chi đầu tư XDCB của NSNN đó là những khoản chi lớn của nhà
nước đầu tư vào việc xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội
không có khả năng thu hồi vốn trực tiếp và nó được thực hiện bằng chế độ cấp
phát không hoàn trả từ ngân sách Nhà nước. Chi đầu tư XDCB là một khoản chi
trong chi đầu tư phát triển và hiện nay chi đầu tư phát triển chiếm khoảng 20%
tổng chi NSNN(6- 7% GDP). Hiện nay quan điểm của Đảng ta là không sử dụng
tiền đi vay cho tiêu dùng mà chỉ dùng vào mục đích đầu tư phát triển và phải có
kế hoạch thu hồi vốn vay và chủ động trả nợ khi đến hạn, đồng thời trước khi
đầu tư cần phải nghiên cứu kỹ nhằm đẳm bảo mỗi đồng vốn đầu tư bỏ ra đều
mang lại hiệu quả cao.
1.2.Trình tự đầu tư xây dựng của một dự án:
*Khái niệm:
Trình tự đầu tư và xây dựng là thứ tự theo thời gian tiến hành những công
việc của quá trình đầu tư để nhằm đạt được mục tiêu đầu tư.

4


*Các giai đoạn của trình tự đầu tư và xây dựng:
Theo chế độ hiện hành thì trình tự đầu tư và xây dựng được chia làm 3giai
đoạn:
- Chuẩn bị đầu tư
- Thực hiện đầu tư
- Kết thúc xây dựng, đưa công trình vào khai thác sử dụng
1.2.1.Giai đoạn chuẩn bị đầu tư :
Giai đoạn này được bắt đầu từ khi nghiên cứu sự cần thiết đầu tư cho đến
khi có quyết định đầu tư của cấp có thẩm quyền.
Nội dung của giai đoạn này bao gồm:
- Nghiên cứu về sự cần thiết phải đầu tư và qui mô đầu tư
- Tiến hành tiếp xúc thăm dò thị trường trong nước hoặc nước ngoài nước
để tìm nguồn cung ứng vật tư thiết bị hoặc tiêu thụ sản phẩm. Xem xét khả năng
có thể huy động các nguồn vốn để đầu tư và lựa chọn các hình thức đầu tư
- Tiến hành điều tra khảo sát và chọn địa điểm xây dựng
- Lập dự án đầu tư
-

- Gửi hồ sơ dự án và văn bản trình đến người có thẩm quyền quyết đinh đầu tư,
tổ chức cho vay vốn đầu tư và cơ quan thẩm định dự án đầu tư. Như

vậy

giai

đoạn chuẩn bị đầu tư là là cơ sở để thực hiện các nội dung tiếp theo của quá trình
thực hiện đầu tư, và kết thúc xây dựng đưa dự án vào khai thác sử dụng, đây
cũng là giai đoạn quyết định sự thành công hay thất bại của công cuộc đầu tư
trong tương lai
1.2.2.Giai đoạn thực hiện đầu tư:

5


Giai đoạn này được bắt đầu từ khi có quyết định đầu tư, công trình được
ghi vào trong kế hoạch chuẩn bị thực hiện đầu tư cho đến khi xây dựng xong
toàn bộ công trình.
Nội dung của giai đoạn này:
- Xin giao đất hoặc thuê đất theo quy định của Nhà nước
- Chuẩn bị mặt bằng xây dựng
- Tổ chức tuyển chọn tư vấn khảo sát thiết kế, tư vấn giám định kỹ thuật
chất lượng công trình
- Thẩm định thiết kế, tổng dự toán công trình: Tất cả các dự án đầu tư xây
dựng thuộc mọi nguồn vốn và thành phần kinh tế đều phải được cơ quan chuyên
môn thẩm định thiết kế trước khi xây dựng. Nội dung thẩm định trên một số mặt:
sự tuân thủ các tiêu chuẩn, qui phạm trong thiết kế kiến trúc, công nghệ, kết cấu

- Tổ chức đấu thầu mua sắm thiết bị, thi công xây lắp
- Xin giấy phép xây dựng: Tất cả các công trình xây dựng mới, cải tạo sửa
chữa, thay đổi chức năng hoặc mục đích sử dụng phải xin giấy phép xây dựng
- Kí kết hợp đồng với các nhà thầu để thực hiện dự án
- Thi công xây lắp công trình
- Theo dõi kiểm tra việc thực hiện hợp đồng
- Quyết toán vốn đầu tư xây dựng sau khi hoàn thành xây lắp đưa dự án
vào khai thác sử dụng: Việc quyết toán vốn đầu tư xây dựng được tiến hành hàng
năm trong thời gian xây dựng. Khi dự án hoàn thành thì chủ đầu tư phải báo cáo
quyết toán vốn đầu tư cho cơ quan cấp phát hoặc cho vay vốn và cơ quan quyết
định đầu tư .
khi quyết toán phải qui đổi vốn đầu tư đã thực hiện về mặt bằng giá trị
thời điểm bàn giao đưa vào vận hành

6


1.2.3. Kết thúc xây dựng đưa dự án vào khai thác sử dụng.
Giai đoạn này được bắt đầu từ khi công trình xây dựng xong toàn bộ, vận
hành đạt thông số đề ra trong dự án đến khi thanh lý dự án.
Nội dung của giai đoạn này bao gồm:
- Bàn giao công trình
- Thực hiện việc kết thúc xây dựng công trình
- Vận hành công trình và hướng dẫn sử dụng công trình
- Bảo hành công trình
- Quyết toán vốn đầu tư
- Phê duyệt quyết toán
2. Vai trò của ngành Thuỷ lợi đối với sự phát triển kinh tế ở nước ta
2.1.Khái niệm:
Theo thống kê điều tra ngày 1/4/1999 dân số nước ta là 76.324.753 người
trong đó có 37.519.754 nam (chiếm 49,2%)và 38.804.999 nữ (chiếm 50,8%). Số
người sống ở nông thôn là 58.407.770(chiếm 76,5%) và ở thành thị là
17.916.983 người (chiếm 23,5%) với tỷ lệ tăng dân số bình quân là 2,1% từ năm
1979-1989 và là 1,7% từ năm 1989-1999. Hiện nay vấn đề phát triển nông thôn
đâng là mối quan tâm hàng đầu ở các nước trên thế giới nói chung và ở Việt
Nam nói riêng cũng như thu hút được sự chú ý của nhiều nhà khoa học. Để tạo
điều kiện cho sự phát triển toàn diện, đáp ứng được yêu cầu trong đời sống của
nhân dân, đòi hỏi nông thôn phải có một cơ sở hạ tầng đảm bảo, mà trước hết là
thuỷ lợi - một lĩnh vực cơ bản có tính chất quyết định. Thuỷ lợi đáp ứng các yêu
cầu về nước một trong những điều kện tiên quyết để tồn tại và phát triển cuộc
sống cũng như các loại hình sản xuất. Đồng thời thuỷ lợi góp phần không nhỏ

7


cho sự nghiệp phát triển bền vững của đất nước, không ngừng nâng cao đời sống
cả về kinh tế và văn hoá - xã hội .
Các nguồn nước trong thiên nhiên (nước mặt ,nước ngầm) và mưa phân bố
không đều theo thời gian, không gian. Mặt khác yêu cầu về nước giữa các vùng
cũng rất khác nhau, theo mùa, theo tháng, thậm chí theo giờ trong ngày .
Như vậy có thể nói : Thuỷ lợi là biện pháp điều hoà giữa yêu cầu về nước
với lượng nước đến của thiên nhiên trong khu vực; đó cũng là sự tổng hợp các
biện pháp nhằm khai thác, sử dụng và bảo vệ các nguồn nước, đồng thời hạn
chế những thiệt hại do nước có thể gây ra.
2.2. Vai trò của Thuỷ lợi đối với việc phát triển kinh tế xã hội của đất nước
ta
2.2.1.Những ảnh hưởng tích cực:
Nền kinh tế của đất nước ta là nền kinh tế nông nghiệp, độc canh lúa
nước. Vì vậy nền kinh tế nước ta phụ thuộc rất nhiều vào thiên nhiên, nếu như
thơi tiết khí hậu thuận lợi thì đó là môi trường thuận lợi để nông nghiệp phát
triển nhưng khi gặp những thời kỳ mà thiên tai khắc nghiệt như hạn hán, bão lụt
thì sẽ gây ảnh hưởng nghiêm trọng đối với đời sống của nhân dân ta đặc biệt đối
với sự phát triển của cây lúa, bởi vì lúa là một trong những mặt hàng xuất khẩu
quan trọng của nước ta. Vì vậy mà hệ thống thuỷ lợi có vai trò tác động rất lớn
đối với nền kinh tế của đất nước ta như:
- Tăng diện tích canh tác cũng như mở ra khả năng tăng vụ nhờ chủ động
về nước, góp phần tích cực cho công tác cải tạo đất.
Nhờ có hệ thống thuỷ lợi mà có thể cung cấp nước cho những khu vực bị
hạn chế về nước tưới tiêu cho nông nghiệp đồng thời khắc phục được tình trạng
khi thiếu mưa kéo dài và gây ra hiện tượng mất mùa mà trước đây tình trạng này

8


là phổ biến. Mặt khác nhờ có hệ thống thuỷ lợi cung cấp đủ nước cho đồng
ruộng từ đó tạo ra khả năng tăng vụ, vì hệ số quay vòng sử dụng đất tăng từ 1,3
lên đến 2-2,2 lần đặc biệt có nơi tăng lên đến 2,4-2,7 lần. Nhờ có nước tưới chủ
động nhiều vùng đã sản xuất được 4 vụ. Trước đây do hệ thống thuỷ lợi ở nước
ta chưa phát triển thì lúa chỉ có hai vụ trong một năm. Do hệ thống thuỷ lợi phát
triển hơn trước nên thu hoạch trên 1 ha đã đạt tới 60-80 triệu đồng, trong khi nếu
trồng lúa 2 vụ chỉ đạt trên dưới 10 triệu đồng. Hiện nay do có sự quan tâm đầu tư
một cách thích đáng của Đảng và Nhà nước từ đó tạo cho ngành thuỷ lợi có sự
phát triển đáng kể và góp phần vào vấn đề xoá đói giảm nghèo, đồng thời cũng
tạo ra một lượng lúa xuất khẩu lớn và hiện nay nước ta đang đứng hàng thứ hai
trên thế giới về xuất khẩu gạo…Ngoài ra, nhờ có hệ thống thuỷ lợi cũng góp
phần vào việc chống hiện tượng sa mạc hoá .
- Tăng năng xuất cây trồng, tạo điều kiện thay đổi cơ cấu nông nghiệp,
giống loài cây trồng, vật nuôi, làm tăng giá trị tổng sản lượng của khu vực
- Cải thiện chất lượng môi trường và điều kiện sống của nhân dân nhất là
những vùng khó khăn về nguồn nước, tạo ra cảnh quan mới
- Thúc đẩy sự phát triển của các ngành khác như công nghiệp, thuỷ sản, du
lịch ...
- Tạo công ăn việc làm, góp phần nâng cao thu nhập cho nhân dân, giải
quyết nhiều vấn đề xã hội, khu vực do thiếu việc làm, do thu nhập thấp. Từ đó
góp phần nâng cao đời sống của nhân dân cũng như góp phần ổn định về kinh tế
và chính trị trong cả nước
- Thuỷ lợi góp phần vào việc chống lũ lụt do xây dựng các công trình đê
điều ... từ đó bảo vệ cuộc sống bình yên của nhân dân và tạo điều kiện thuận lợi
cho họ tăng gia sản xuất .

9


Tóm lại thuỷ lợi có vai trò vô cùng quan trọng trong cuộc sống của nhân
dân nó góp phần vào việc ổn định kinh tế và chính trị tuy nó không mang lại lợi
nhuận một cách trực tiếp nhưng nó cũng mang lại những nguồn lợi gián tiếp như
việc phát triển ngành này thì kéo theo rất nhiều ngành khác phát triển theo. Từ
đó tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển và góp phần vào việc đẩy mạnh công
cuộc CNH-HĐH đất nước.
3 2.2.2.Những ảnh hưởng tiêu cực :
- Mất đất do sự chiếm chỗ của hệ thống công trình, kênh mương hoặc do
ngập úng khi xây dựng hồ chứa, đập dâng lên.
- Ảnh hưởng đến vi khí hậu khu vực, làm thay đổi điều kiện sống của
người, động thực vật trong vùng, có thể xuất hiện các loài lạ, làm ảnh hưởng tới
cân bằng sinh thái khu vực và sức khoẻ cộng đồng
- Làm thay đổi điều kiện địa chất, địa chất thuỷ văn gây ảnh hưởng tới
thượng, hạ lưu hệ thống, hoặc có thể gây bất lợi đối với môi trường đất, nước
trong khu vực
- Trực tiếp hoặc gián tiếp làm thay đổi cảnh quan khu vực, ảnh hưởng tới
lịch sử văn hoá trong vùng
3. Các yếu tố ảnh hưởng tới công tác thuỷ lợi :
Sự phát triển của thuỷ lợi ở các quốc gia trên thế giới không đồng đều mà
phụ thuộc vào rất nhiều nhân tố khác nhau. Nếu xem xét một cách tổng quát thì
có thể thấy nó phụ thuộc vào các yếu tố cơ bản sau :
- Điều kiện tự nhiên của quốc gia
- Tập quán sản xuất, cơ cấu cây trồng cũng như nhu cầu về nước
- Mức độ phát triển kinh tế xã hội và khoa học kỹ thuật

10


4. Nội dung báo cáo nghiên cứu khả thi các dự án thuỷ lợi :
Báo cáo nghiên cứu khả thi dự án thuỷ lợi là hồ sơ pháp lý đảm bảo rằng
công trình đã hội đủ các điều kiện tối ưu và hiện thực để có thể tiến hành đầu tư
xây dựng .
Đây là yêu cầu bắt buộc và vì thế đòi hỏi nghiên cứu khả thi phải:
- Tuân thủ luật tài nguyên nước và các nghị định, quy định kèm theo
- Phù hợp quy hoạch tổng thể và quy hoạch chuyên ngành của khu vực
- Tương ứng với trình độ khoa học - công nghệ trong xây dựng và quản lý
kinh tế
- Có giải pháp xử lý hậu quả các ảnh hưởng tới xã hội và môi trường
- Các tài liệu điều tra tính toán phải theo tiêu chuẩn hiện hành, đủ tin cậy
1.Các văn bản pháp lý cần thiết :
Để xem xét phê duyệt, những hồ sơ sau là cần thiết:
- Tờ trình của UBND địa phương xin đầu tư dụ án
- Trích lược các quy hoạch, nghiên cứu đã được duyệt
- Các văn bản có liên quan đến dự án của các ngành
2.Các báo cáo nghiên cứu khả thi:
Bao gồm :
+ Báo cáo tổng hợp chi tiết có đủ biểu đồ, bản vẽ minh hoạ
+ Báo cáo tóm lược các biểu đồ, bản vẽ chủ yếu kèm theo
3.Các chuyên đề, bảng biểu trong phụ lục:
+ Báo cáo thuỷ văn
+ Báo cáo địa hình
+ Báo cáo địa chất, địa chất thuỷ văn thổ nhưỡng
+ Nhiệm vụ dự án: thuỷ điện thuỷ nông, phục vụ các ngành khác …

11


+Thiết kế sơ bộ
+ Thiết kế thi công và dự toán
+ Thiết kế tổ chức và quản lý khai thác
+ Đền bù, di dân tái định cư ,bảo vệ môi trường
+ Đánh giá hiêu quả kinh tế dự án
+ Đánh giá tác động của môi trường của dự án và biện pháp xử lý
5. Sự cần thiết phải tăng cường việc quản lý chi đầu tư XDCB từ NSNN cho
ngành thuỷ lợi.
Từ khi đất nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường thì yêu cầu về quản
lý chi cho đầu tư XDCB cũng có sự thay đổi nhằm phù hợp với nền kinh tế mới.
Hiện nay ở bất cứ quốc gia nào trên thế giới thì yêu cầu về quản lý tài chính nói
chung và yêu cầu về việc quản lý một cách chặt chẽ các khoản chi đầu tư xây
dựng cơ bản đối với ngành thuỷ lợi nói riêng phải đảm bảo đúng mục đích, đúng
kế hoạch, đúng định mức, tiết kiệm và sử dụng nguồn vốn một cách có hiệu quả
là hết sức quan trọng.Tuy nhiên việc quản lý các khoản chi không bị thất thoát là
một vấn đề hết sức nan giải bởi vì trong thực tế hiện tượng tham ô, tham nhũng
thì vẫn không thể loại bỏ được hết .Vì vậy mà việc tăng cường công tác quản lý
chi đầu tư XDCB từ NSNN cho ngành thuỷ lợi ở nước ta hiện nay xuất phát từ
những lý do sau:
Thứ nhất: Xuất phát từ thực trạng của công tác quản lý vốn đầu tư
XDCB:
Hiện nay cơ chế quản lý tài chính ở nước ta có nhiều thay đổi nhằm đáp
ứng với yêu cầu thực tiễn của nước ta hiện nay khi mà đất nước đang trong quá
trình chuyển sang nền kinh tế thị truờng .Tuy nhiên cơ chế quản lý vốn đầu tư

12


XDCB trước đây trở nên kém hiệu quả và không còn phù hợp với tình hình mới
do vậy mà ảnh hưởng lớn đến việc sử dụng kinh phí của ngân sách nhà nước. Vì
vậy mà nhà nước đã ban hành nghị định số 52 của Chính phủ nay bổ xung nghị
định số 12 của Chính phủ về việc ban hành Quy chế Quản lý đầu tư và xây dựng
nhằm quản lý một cách chặt chẽ hơn các khoản chi của Nhà nước cho đầu tư và
xây dựng
Mặt khác do cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý tài chính chồng chéo nhiều
khi hiệu quả quản lý không cao. Ngoài ra các cơ chế chính sách nhiều khi không
chặt chẽ cũng tạo ra các kẽ hở trong quản lý vốn đầu tư, trong khi đó nguồn vốn
dùng cho chi đầu tư XDCB nhiều khi là nguồn vốn đi vay, có thể là vay trong
nước hoặc vay nước ngoài vì đất nước ta còn nghèo mà khả năng thu thì không
thể đáp ứng cho nhu cầu chi vì vậy mà yêu cầu sử dụng nguồn vốn một cách có
hiệu quả là rất cần thiết
Đối với các đơn vị sử NSNN cho đầu tư XDCB thì thiếu chủ động trong
việc sử dụng kinh phí được cấp do chưa nắm sát được thực tế nhu cầu chi tiêu,
nhiều đơn vị đã dùng mọi cách để sử dụng hết kinh phí được cấp và họ không
quan tâm đến việc chi đúng định mức, đơn giá, được duyệt…
Thứ hai: xuất phát từ vai trò của công tác quản lý vốn đầu tư XDCB đối
với ngành thuỷ lợi
Thực hiện tốt công tác quản lý vốn đầu tư XDCB nói chung và đối với
ngành thuỷ lợi nói riêng thì có ý nghĩa quan trọng trong việc thực hành tiết kiệm.
Để từ đó tập chung mọi nguồn lực tài chính để phát triển kinh tế, ổn định và lành
mạnh nền kinh tế quốc gia, chống các hiện tượng tiêu cực, lãng phí, góp phần ổn
định tiền tệ và kiềm chế lạm phát

13


Ngoài ra thực hiện công tác này còn đảm bảo cho các công trình thuỷ lợi
của nhà nước được đáp ứng đầy đủ nguồn vốn và sử dụng nguồn vốn một cách
có hiệu quả để hoàn thành tiến độ thi công công trình theo đúng kế hoạch, nâng
cao trách nhiệm của các cơ quan tài chính, cơ quan cấp phát cũng như các chủ
đầu tư trong quá trình đầu tư xây dựng
Thông qua công tác quản lý một cách chặt chẽ thì cũng hạn chế được
những tiêu cực trong quá trình thi công công trình. Từ đó cũng thấy được những
mặt còn yếu kém trong công tác quản lý để từ đó có những biện pháp hoặc
những chính sách để bổ xung kịp thời nhằm làm hoàn thiện hơn công tác quản lý
.
Thứ ba : Xuất phát từ đặc điểm của các công trình ngành thuỷ lợi: Nhằm
đảm bảo cho chất lượng của công trình thuỷ lợi thì cần phải tăng cưòng công tác
quản lý bởi vì ngành thuỷ lợi có ý nghĩa rất quan trọng cho sản xuất như tưới
tiêu, hệ thống thoát nước, thoát lũ…Đặc biệt là đối với các công trình đê điều.
Nếu công trình đê điều không làm tốt, làm theo đúng kế hoạch được duyệt …thì
khi có lũ có thể gây ra hậu quả nghiêm trọng.Vì vậy mà cần phải tăng cường
công tác quản lý vốn đầu tư XDCB từ NSNN đối với ngành thuỷ lợi, việc tăng
cường công tác quản lý này vừa nhằm đảm bảo đồng vốn được sử dụng đúng
mục đích lại vừa đảm bảo được chất lượng công trình như thiết kế đã được
duyệt.
Xuất phát từ những lý do trên mà việc hoàn thiện, đổi mới cơ chế quản lý
NSNN nói chung và việc tăng cường công tác quản lý vốn đầu tư XDCB từ
NSNN cho ngành thuỷ lợi nói riêng là hết sức cần thiết. Mặt khác việc quản lý
vốn đầu tư XDCB từ NSNN đối với ngành thuỷ lợi một cách có hiệu quả thì sẽ
nâng cao được trách nhiệm cũng như phát huy được vai trò của các cấp các

14


ngành các đơn vị có liên quan đến công tác quản lý, sử dụng NSNN và vốn vay
của nhà nước, từ đó góp phần lập lại kỷ cương tài chính của đất nước
6. Nguyên tắc quản lý cấp phát vốn đầu tư XDCB :
6.1. Điều kiện cấp phát vốn đầu tư XDCB :
Để đảm bảo cho công tác XDCB tiến hành đúng trình tự, đảm bảo các
nguyên tắc cấp phát vốn đầu tư XDCB, các dự án đầu tư thuộc đối tượng cấp
phát của Ngân sách nhà nước muốn được cấp phát vốn đầu tư XDCB phải có đủ
các điều kiện sau :
Thứ nhất: phải có đầy đủ thủ tục đầu tư và xây dựng .
Thủ tục đầu tư và xây dựng là những quyết định văn bản ... của cấp có
thẩm quyền cho phép được đầu tư dự án theo chương trình phát triển kinh tế xã
hội của đất nước. Nó là kết quả của các bước chấp hành trình tự đầu tư và xây
dựng. Chỉ khi nào hoàn tất các thủ tục đầu tư và xây dựng như quyết định của
cấp có thẩm quyền cho phép tiến hành công tác chuẩn bị đầu tư, báo cáo nghiên
cứu khả thi và quyết định đầu tư của cấp có thẩm quyền, thiết kế dự toán được
duyệt …thì dự án mới được phép ghi vào kế đầu tư XDCB và mới được phép
cấp phát vốn theo kế hoạch, thiết kế dự toán được duyệt
Thứ hai: Công trình đầu tư phải được ghi vào kế hoạch vốn đầu tư
XDCB năm .
Khi công trình được ghi vào kế hoạch đầu tư nghĩa là dự án đã được tính
toán về hiệu quả kinh tế mang lại cho nền kinh tế quốc dân, tính toán về phương
án đầu tư về nguồn vốn đầu tư và đã cân đối được khả năng cung cấp nguyên vật
liệu, khả năng thi công dự án. Chỉ khi nào dự án được ghi trong kế hoạch đầu tư

15


XDCB mới đảm bảo về mặt thủ tục đầu tư, xây dựng và mới có nguồn vốn của
NSNN đảm bảo cho việc cấp phát vốn đầu tư XDCB được thực hiện
Thứ ba: phải có ban quản lý công trình được thành lập theo quyết định
của cấp có thẩm quyền
Các công trình đầu tư cần thiết phải có bộ phận quản lý dự án để thực hiện
các thủ tục đầu tư và xây dựng; để quản lý sử dụng và quyết toán vốn đầu tư của
dự án, để kiểm tra giám sát quá trình đầu tư xây dựng dự án, đảm bảo sử dụng
vốn đúng kế hoạch và có hiệu quả. Vì vậy chỉ khi có ban quản lý dự án được
thành lập thì các quan hệ về phân cấp thanh toán mới được thực hiện, nên đảm
bảo đúng chế độ Nhà nước quy định
Thứ tư : Đã tổ chức đấu thầu tuyển chọn tư vấn mua sắm vật tư thiết bị,
xây lắp theo quy định của chế độ đấu thầu (trừ những dự án được phép chỉ định
thầu)
Để thực hiện dự án đầu tư, các ban quản lý dự án, chủ đầu tư phải tuyển
chọn thầu để thực hiện thi công xây lắp, mua sắm vật tư thiết bị theo yêu cầu đầu
tư của dự án. Trong cơ chế thị trường việc đấu thầu để tuyển chọn thầu là hết sức
cần thiết. Mục đích của việc tổ chức đấu thầu là để chọn được những đơn vị thi
công xây lắp có trình độ quản lý tốt, tổ chức thi công nhanh hợp lý đảm bảo chất
lượng và giá thành hợp lý. Sau khi đã chọn thầu các đơn vị chủ đầu tư phải kí kết
hợp đồng thi công về mua sắm máy móc thiết bị; các chủ đầu tư theo dõi quản lý
và tổ chức thanh toán cho các đơn vị nhận thầu theo những điều đã kí kết trong
hợp đồng. Vì vậy nếu không có đấu thầu để chọn thầu thi công thì việc xây dựng
dự án không thể được thực hiện và việc cấp vốn đầu tư không thể có

16


Thứ năm: Các công trình đầu tư chỉ được cấp phát khi có khối lượng cơ
bản hoàn thành đủ điều kiện được cấp vốn thanh toán hoặc đủ điều kiện được
cấp vốn tạm ứng
Sản phẩm XDCB do các đơn vị thi công xây lắp (đơn vị trúng thầu hoặc
chỉ định thầu) thực hiện thông qua quá trình sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp xây lắp theo hợp đồng đặt hàng của các chủ đầu tư (chủ công trình).
Chính vì vậy khi nào có khối lượng xây dựng cơ bản hoàn thành (sản phẩm
XDCB hoàn thành - Bộ phận công trình, hạng mục công trình, công trình hoàn
thành của đơn vị xây lắp bàn giao theo đúng những điều đã ghi trong hợp đồng
(đã được nghiệm thu - có trong kế hoạch thiết kế, dự toán) thì chủ đầu tư mới
được thanh toán cho khối lượng hoàn thành đó .
Đối với việc mua sắm máy móc thiết bị và đối với phần thi công xây lắp
đấu thầu, để đảm bảo nhu cầu vốn cho việc mua sắm thiết bị, dự trữ vật tư ... thì
các đơn vị mua sắm thi công được tạm ứng trước (cấp phát tạm ứng) nhưng phải
đảm bảo các điều kiện của tạm ứng đã quy định để đảm bảo sử dụng vốn đúng
mục đích và có hiệu quả
6.2. Nguyên tắc quản lý cấp phát vốn đầu tư xây dựng cơ bản
Để đảm bảo tính kế hoạch và hiệu quả kinh tế cao của vốn đầu tư, đồng
thời đảm bảo phù hợp với sự vận động của vốn đầu tư thì việc cấp vốn đầu tư
xây dựng cơ bản phải đảm bảo những nguyên tắc sau :
Thứ nhất:
Cấp phát vốn đầu tư XDCB phải trên cơ sở thực hiện nghiêm chỉnh trình
tự đầu tư và xây dựng, đảm bảo đầy đủ các các tài liệu thiết kế, dự toán
Trình tự đầu tư và xây dựng bao gồm 3 giai đoạn :

17


+ Chuẩn bị đầu tư
+ Thực hiên đầu tư
+ Kết thúc xây dựng đưa công trình vào khai thác sử dụng
Mỗi giai đoạn của trình tự thể hiện kết quả của việc thực hiện chủ trương,
kế hoạch đầu tư xây dựng cơ bản theo kế hoạch phát triển kinh tế ở tuừng thời kỳ
phát triển kinh tế của đất nước
- Giai đoạn chuẩn bị đầu tư là giai đoạn thể hiện chủ trương đầu tư. Sự cần
thiết đầu tư dự án, lập dự án đầu tư (dự án tiền khả thi, dự án khả thi) xét duyệt
và quyết định đầu tư dự án là những nội dung của công việc chuẩn bị đầu tư. Chỉ
khi có quyết định đầu tư dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt thì dự án mới
được ghi vào trong kế hoạch đầu tư xây dựng cơ bản của nhà nước và mới được
cấp phát vốn đầu tư xây dựng cơ bản
- Giai đoạn thực hiện đầu tư : là giai đoạn thực hiện những công tác chuẩn
bị xây dựng và thực hiện công tác đâu tư xây dựng dự án. Trong giai đoạn này
các tài liệu về thiết kế dự toán, hợp đồng thi công…được hoàn thành. Chất lượng
lập duyệt cũng như đảm bảo cung cấp kịp thời các tài liệu thiết kế dự toán có ý
nghĩa quyết định trong trong việc sử dụng hợp lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản.
Trên cơ sở những tài liệu thiết kế dự toán được duyệt thì việc thi công xây lắp
công trình mới được thực hiện và vốn đầu tư xây dựng cơ bản mới được chi ra
cho việc thực hiện các khối lượng xây lắp đó
- Giai đoạn kết thúc xây dựng đưa công trình vào khai thác và sử dụng: là
giai đoạn khánh thành nghiệm thu bàn giao và quyết toán vốn đầu tư. Số thực chi
cấp phát vốn đầu tư cho dự án chỉ được thực hiện đúng theo báo cáo quyết toán
vốn đầu tư được duyệt .
Từ những điều phân tích trên cho thấy một trong những nguyên tắc cơ bản
của cấp phát vốn đầu tư xây dựng cơ bản là phải đảm bảo các tài liệu thiết kế dự

18


toán, tuân thủ đúng trình tự đầu tư và xây dựng. Chỉ có đảm bảo nguyên tắc này
thì tiền vốn cấp ra mới đúng kế hoạch, có hiệu quả theo đúng chủ trương đầu tư
xây dựng của Nhà nước
Thứ hai : Việc cấp phát vốn đầu tư XDCB phải đảm bảo đúng mục đích
đúng kế hoạch .
Thứ ba: Việc cấp phát vốn đầu tư xây dựng cơ bản chỉ được thực hiện
theo mức độ thực tế hoàn thành kế hoạch, trong phạm vi giá dự toán được duyệt.
Thứ tư: Việc cấp vốn đầu tư xây dựng cơ bản được thực hiên bằng 2
phương pháp: cấp phát không hoàn trả và cho vay có hoàn trả
Thứ năm: Cấp phát vốn đầu tư xây dựng cơ bản phải thực hiện kiểm tra
bằng đồng tiền đối với việc sử dụng đúng mục đích có hiệu quả vốn đầu tư .
6.3. Hình thức cấp phát thanh toán:
Cấp phát, thanh toán vốn đầu tư XDCB bao gồm 2 khâu:
- Cấp phát và thu hồi tạm ứng
- Thanh toán khối lượng hoàn thành
6.3.1. Cấp phát tạm ứng nhằm đảm bảo vốn cho các đơn vị trong việc thực hiện
thi công, xây lắp, mau sắm thiết bị, thuê tư vấ, đền bù giải phómh mặt bằng. Khi
chưa có khối lượng hoàn thành về những công việc này tạo điều kiện cho các
đơn vị thực hiện được kế hoạch đầu tư cơ bản và hoàn thành dự án đúng kỳ hạn.
6.3.2. Cấp phát khối lượng xây dựng cơ bản hoàn thành là nội dung chính của
cấp phát vốn đầu tư XDCB. Vì lúc này tiền vốn mới thực sự được cấp ra cho

19


việc thực hiện đầu tư xây dựng dự án, là khâu có tác dụng quyếtđịnh đảm bảo
cấp phát đúng thiết kế, đúng kếhoạch và dự toán được duyệt.
Trong quá trình cấp phát thanh toán cần phối hợp với các ngành chủ
quản, tăng cường kiểm tra giám sát để quản lý hoạt động đầu tư có hiệu quả hơn.
* Công tác quyết toán vốn đầu tư XDCB:
Quyết toánvốn đầu tư là toàn bộ chi phí hơp pháp đã thực hiện trong quá
trình đầu tư để đưa dự án vào khai thác sử dụng. Chi phí hợp pháp là chi phí theo
đúng hợp đồng đã ký kết và thiết kế dự toán được phê duyệt, bảo đảm đúng tiêu
chuẩn, định mức, đơn giá, chế độ tài chính - kế toán và những quy định hiện
hành của Nhà nước có liên quan. Quyết toán vốn đầu tư trong giới hạn tổng mức
nếu có.
Quyết toán vốn đầu tư XDCB cho ngành thuỷ lợi là khâu công việc cuối
cùng trong cả quá trình quản lý chi ngân sách đầu tư XDCB cho ngành thuỷ lợi.
Nó là quy trình kiểm tra rà soát chỉnh lý lại số liệu đã được phản ánh sau một kỳ
hạch toán và tìn hình chấp hành dự toán chi nhằm phân tích kết quả thực hiện dự
toán chi đầu tư để rút ra kinh nghiệm, bài học cần thiết trong thực hiện chi và
quản lý chi đầu tư ở kỳ sau.

20


Chương 2:
THỰC TRẠNG CỦA VIỆC QUẢN LÝ VỐN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ
BẢN ĐỐI VỚI NGÀNH THUỶ LỢI TRONG THỜI GIAN QUA

1. Khái quát về tình hình thuỷ lợi ở nước ta hiện nay:
Việt nam có 2360 con sông, trong đó có 9 hệ thống sông lớn có diện tích
lưu vực trên 10.000km2. Tổng lượng nước mặt trung bình hàng năm 835 tỷ m3,
trong đó có 313 tỷ m3 sản sinh trên lãnh thổ và 522 tỷ m3 từ lãnh thổ các nước
khác đổ vào. Tài nguyên nước dưới đất có trữ lượng động thiên nhiên toàn lãnh
thổ khoảng 1.500m3/s. Nguồn tài nguyên nước thoạt nhìn dường như được ưu
đãi, nhưng so với các nước trên thế giới thì lượng nước sản sinh trong nước vào
loại trung bình thấp (4200m3/người)

21


Trong những năm qua Nhà nước và nhân dân ta đã đầu tư xây dựng nhiều
công trình thuỷ lợi. Theo tài liệu điều tra cả nước đã có 8625 công trình các loại,
trong đó có 743 hồ chứa loại vừa và lớn (chưa kể hàng nghìn hồ đập nhỏ ), 1017
đập dâng, 4712 cống tưới tiêu loại vừa và lớn, gần 200 trạm bơm điện các loại.
Tổng giá trị đầu tư theo trị giá hiện tại ước tính trên 100.000 tỷ đồng (chưa kể
5700 km đê sông, 2000 km đê biển cùng với hệ thống cống và hàng nghìn km bờ
bao chống lũ ở đồng bằng sông Cửu Long). Số vốn vốn đầu tư này đã đưa diện
tích được thuỷ lợi hoá tằng từ 4 triệu ha năm 1980 đến 5 triệu ha vào năm 1990
và 6 triệu ha vào năm 2000. Tuy nhiên khả năng ngăn chặn những thiệt hại do
bão lũ gây ra rất kém, vì vậy một vùng đất nông nghiệp vẫn nằm trong tình trạng
bị ngập mặn.
Tính đến đầu năm 1996 các hệ thống thuỷ lợi ở nước ta mới chỉ phục vụ
tưới được cho 5,6 triệu ha gieo trồng lúa (khoảng hơn 3 triệu ha đất canh
tác/tổng diện tích đất nông nghiệp khoảng 7 triệu ha), 60 vạn ha rau màu và cây
công nghiệp, tiêu úng cho 92 vạn ha và cải tạo 70 vạn ha đất ven biển. Hàng năm
thuỷ lợi còn cung cấp hơn 2 tỷ m3 nước cho công nghiệp, dân dụng thuỷ sản
...Tài sản cố định của các hệ thống thuỷ lợi ước tính khoảng hơn 20.000 tỷ đồng
(theo thời giá năm 1992).
Phục vụ cho sự nghiệp phát triển thuỷ lợi ở nước ta trước đây có bộ Thuỷ
lợi, nay là ngành thuỷ lợi thuộc bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Đến
nay ngành Thuỷ lợi đã có đủ năng lực để hoàn chỉnh các khâu từ Quy hoạch,
Khảo sát thiết kế, thi công và quản lý khai thác các hệ thống thuỷ lợi, kể cả các
công trình và hệ thống lớn, phức tạp, ngang tầm với trình độ khoa học của thế
giới. Tham gia vào công tác thuỷ lợi, còn có sự đóng góp không nhỏ của các
ngành khác như Xây dựng, Điện lực...

22


Đối với vùng đồng bằng, trung du phía bắc các hệ thống thuỷ lợi đã cấp
nước tưới tiêu (chủ động hoặc tạo nguồn), tạo điều kiện cho nông dân sản xuất
trên phần lớn diện tích canh tác. Đồng bằng Bắc bộ đã có khoảng 84% đất nông
nghiệp được thuỷ lợi hoá, đưa hệ số sử dụng đất lên xấp xỉ 2 lần. Mặc dù những
hệ thống thuỷ lợi này do xây dựng đã lâu, công tác duy tu bảo dưỡng trong
những năm qua còn nhiều khó khăn nên chất lượng cũng như hiệu quả phục vụ
chưa cao .
Ở đồng bằng phía nam, đặc biệt tại các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long,
tình hình thuỷ lợi còn rất nhiều hạn chế. Tại các tỉnh này hệ thống thuỷ lợi vẫn
thiếu và chưa đồng bộ, ngập lụt thường xuyên xảy ra, sản xuất nông nghiệp vì
thế nên bị động, phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên
2. Quy trình quản lý thanh toán vốn đầu tư XDCB đối với ngành Thuỷ lợi
tại Vụ Đầu tư .
2.1. Quy trình chung :
2.1.1. Hoạt động đầu tư tuân thủ theo một quy trình vì vậy cũng phải tuân theo
một chu trình của dự án
- Trong quá trình thanh toán có nhiều văn bản đầu tư để chứng minh và
thụ lý hồ sơ, phù hợp với từng điều kiện cụ thể
- Trước khi cấp phát phải kiểm tra tính pháp lý:
+ Tính hợp pháp
+ Về giá trị phải phù hợp với từng thời kỳ
+ Đề xuất giá trị cấp phát
2.1.2.Quy trình quản lý theo kế hoạch:
- Thụ lý hồ sơ
- Kiểm tra toàn bộ hồ sơ pháp lý của dự án

23


+ Quyết định bằng văn bản quy hoạch
+ Quyết định giao nhiệm chủ nhiệm đầu tư đề tài nghiên cứu khoa

học

+ Dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt về nội dung
- Văn bản chỉ định thầu
- Hợp đồng giao nhận thầu
- Thẩm tra về giá trị thực hiện quy hoạch
+ Kiểm tra tính pháp lý của nội dung thực hiện quy hoạch
+ Kiểm tra về mặt khối lượng thực tế và kế hoạch được duyệt
+ Xác định khối lượng thực tế của công việc thực hiện
* Căn cứ vào kết quả của hai nội dung trên đề xuất cấp phát thanh toán cho chủ
đầu tư
2.1.3.Quy trình quản lý dự án
* Quản lý ở giai đoạn chuẩn bị đầu tư
- Kiểm tra chủ trương đầu tư
+ Quyết định đầu tư
+ Quyết định trúng thầu
+ Hợp đồng kinh tế
+ Biên bản nghiệm thu tài liệu
+ Quyết định dự án đầu tư
- Kiểm tra về mặt giá trị hợp đồng
- Kiểm tra về mặt pháp lý
- Các biên bản nghiệm thu và khảo sát kỹ thuật
+ Xác định khối lượng
+ Xác định giá trị
Căn cứ hồ sơ pháp lý đã kiểm tra đề xuất cấp phát thanh toán
* Quản lý ở giai đoạn thực hiện đầu tư

24


- Pháp lý : hợp đồng kinh tế,thiết kế ,biên bản bàn giao nghiệm thu thiết kế
- Khối lượng :xác định khối lượng thực hiện ,quy trình thiết kế ,biên bản
phát sinh, biên bản bàn giao
- Về giá trị: căn cứ vào khối lượng thực hiện, đơn giá đề xuất thanh toán
* Giai đoạn thực hiện dự án
- Về pháp lý :
+ Hồ sơ mời thầu
+ Quyết định trúng thầu
- Khối lượng xây lắp
+ Căn cứ vào khối lượng nhà thầu đã thực hiện, biên bản phát sinh, xác
định khối lượng thực hiện
Căn cứ khối lượng thực hiện và đánh giá để đề xuất thanh toán
* Về thiết bị : căn cứ vào hợp đồng cung cấp thiết bị giữa nhà thầu và chủ đầu tư
với khối lượng thực hiện để đề xuất thanh toán với chủ đầu tư
* Giai đoạn kết thúc
- Xác định chi phí khác của dự án
+ Nghiệm thu khánh thành bàn giao, chạy thử
+ Chi ban quản lý, đề xuất biện pháp cấp phát thanh toán cho đơn vị
3. Thực trạng của việc quản lý chi đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà
nước cho ngành Thuỷ lợi trong thời gian qua:
3.1. Thực trạng hệ thống thuỷ lợi ở nước ta hiện nay:
Do các công ty quản lý thuỷ nông phải trả những chi phí cơ bản như
lương, hành chính, tiền điện, nên thiếu tiền vận hành bảo dưỡng dẫn đến việc
duy tu kém và sử dụng dưới mức công suất hiện có. Mặt khác chất lượng công
trình rất thấp, có nơi vừa xây dựng đã bị phá huỷ do lũ quét và do các tác động

25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×