Tải bản đầy đủ

bài giảng viêm gan mãn tính

VIÊM GAN MẠN TÍNH


ĐẠI CƯƠNG
Y HỌC HIỆN ĐẠI

Y HỌC CỔ TRUYỀN


Y HỌC HIỆN ĐẠI

ĐỊNH NGHĨA
Viêm gan mạn tính là bệnh gan có tổn thương hoại tử và
viêm, có hoặc không có kèm theo xơ hóa, diễn ra trong thời gian
trên 6 tháng.
Thể nhẹ là thể không tiến triển hoặc tiến triển rất chậm và
không đưa đến xơ hoặc ung thư gan còn thể nặng là thể viêm hoại
tử dồn dập hoặc nhiều đợt tiến triển tấn công vào tế bào gan để rồi
cuối cùng đưa đến xơ và ung thư hóa.



Y HỌC HIỆN ĐẠI

NGUYÊN NHÂN
PHÂN LOẠI
VIÊM GAN M ẠN
TÍNH DO VIRUS

VIÊM GAN M ẠN
TÍNH T Ự MI ỄN
VIÊM
GAN
M ẴN
TÍNH

VIÊM GAN
M ẠNTÍNH DO
THU ỐC

VIÊM GAN M ẠN
TÍNH TI ỀM TÀNG


Y HỌC HIỆN ĐẠI

LÂM SÀNG
Giai đoạn đầu, bệnh nhân thường có các biểu hiện không đặc hiệu
như: mệt mỏi, kém ăn, đầy bụng, chậm tiêu. Có thể có cảm giác đau
nhẹ hoặc tức nặng vùng hạ sườn phải nhưng cũng có nhiều bệnh
nhân không có biểu hiện gì đặc biệt.
Giai đoạn sau, các triệu chứng xuất hiện đầy đủ và điển hình hơn:
+ Cảm giác chủ quan: bệnh nhân mệt mỏi nhiều hơn, ăn kém, đầy bụng
chậm tiêu đặc biệt khi ăn nhiều lipid, đại tiện phân nát hoặc táo, sống
phân.
+ Nước tiểu vàng
+ Da và niêm mạc: vàng da, củng mạc mắt vàng, sao mạch… mức độ
rất khác nhau.
+ Khám bụng: gan có thể không sờ thấy hoặc to dưới bờ sườn. Lách to,
tuần hoàn bàng hệ cửa chủ, có thể có cổ chướng tự do…



SAO MẠCH

VÀNG DA

TUẦN HOÀN BÀNG HỆ CỬA CHỦ


Y HỌC HIỆN ĐẠI

CẬN LÂM SÀNG
Các xét nghiệm phản ánh tình trạng hoại tử tế bào gan và suy giảm
chức năng gan như:
+ CTM: HC giảm, Hb giảm, Hematocrit giảm.
+ Sinh hóa máu: GOT, GPT tăng, bilirubin máu tăng, albumin máu
giảm, tỉ lệ prothrombin giảm.
+ Sinh hóa nước tiểu: có thể bình thường
+ Siêu âm: hoại tử tế bào gan, tĩnh mạch cửa giãn, lách to
+ Nội soi ổ bụng: có thể thấy các hạt nổi trên bề mặt gan


Y HỌC HIỆN ĐẠI
ĐIỀU TRỊ
+ Bảo vệ tế bào gan.
+ Điều trị triệu chứng.
+ Điều trị nguyên nhân: thuốc ức chế virus (Interferon,
nhóm Nucleoside), thuốc ức chế miễn dịch ( Prednisone)



Y HỌC CỔ TRUYỀN
Viêm gan mạn tính được miêu tả trong chứng hoàng đản,
hiếp thống của y học cổ truyền.
Hoàng đản là bệnh có các biểu hiện mắt vàng, da vàng,
nước tiểu vàng.Chia ra 3 thể: âm hoàng, dương hoàng, và cấp
hoàng.
Hiếp thống là đau ở một hoặc hai vùng cạnh sườn, chỉ là
một cảm giác chủ quan của người bệnh.


Y HỌC CỔ TRUYỀN

NGUYÊN NHÂN CHUNG
Do cảm nhiễm thấp nhiệt bên ngoài  uất kết ở tỳ vị, chức năng
vận hóa rối loạn  chán ăn, đầy bụng; ảnh hưởng đến can đởm  khí
huyết ứ trệ  hạ sườn đau, bụng đầy, mật ứ, miệng đắng.
Ăn uống không điều độ, uống nhiều rượu  tổn thương tỳ vị 
thấp nhiệt nội sinh  nung nấu can, đởm  vàng da, đau sườn, mệt
mỏi, chán ăn.
Ngoài ra, người bệnh do cảm phải tà khí sinh ra nhiệt độc công
phá bên trong  phần dinh, huyết bị tổn thương. Nhiệt độc vào tâm
bào  hoàng đản cấp (cấp hoàng), sốt cao, mê man, nói sảng, chảy
máu cam, tiểu ra máu...


Y HỌC CỔ TRUYỀN

VIÊM GAN
MẠN TÍNH
DO VIRUS


Y HỌC CỔ TRUYỀN
VIÊM GẠN MẠN TÍNH DO VIRUS

NGUYÊN NHÂN
Y học cổ truyền cho rằng, nguyên nhân gây bệnh viêm gan do
virus gồm nội nhân và ngoại nhân, trong đó:
-Ngoại nhân đa phần là cảm nhiễm ngoại tà thấp nhiệt, dịch độc;
-Nội nhân do bẩm tố hư suy, chính khí suy yếu, thấp nhiệt dịch độc
thừa cơ xâm phạm vào cơ thể, uẩn kết ở tam tiêu  tỳ vị vận hóa thất
điều ;
Thấp nhiệt giao tranh ở can đởm  khí cơ uất trệ  đởm dịch
không thông tiết, tích tụ lại  cơ biểu, mặt, mắt vàng;


Y HỌC CỔ TRUYỀN
VIÊM GẠN MẠN TÍNH DO VIRUS
CƠ CHẾ BỆNH
Cơ chế bệnh của viêm gan do virus mạn tính phức tạp, chủ yếu có 4
mặt chính: độc tà xâm nhập, chính khí hư, khí uất, huyết ứ.
Sự thay đổi bệnh lý thường là từ thực đến hư, từ uất đến ứ.Do tà khí
thấp nhiệt dịch độc tích tụ trung tiêu, lại thêm tình chí không thoải mái,
ăn uống không điều độ, lao động quá sức nội thương ...lâu ngày  tỳ
vị bất hòa, can mất điều đạt  làm cho can uất khí trệ  các triệu
chứng của can uất tỳ hư, can vị bất hòa.


Y HỌC CỔ TRUYỀN
VIÊM GẠN MẠN TÍNH DO VIRUS

CƠ CHẾ BỆNH
Nếu thấp nhiệt hóa táo, hoặc do lâu ngày dùng các đồ khổ hàn, táo
thấp  can âm bị tổn thương.Bởi vì can thận cùng nguồn, bệnh lâu
ngày sẽ ảnh hưởng đến thận  thận âm hư.
Nếu can uất tỳ hư mà tỳ dương bất túc thì  tỳ thận dương hư.Tỳ
là nguồn sinh hóa của khí huyết, tỳ hư lâu ngày  khí huyết cùng hư;
khí hư  không hành được huyết  huyết ứ.Huyết ứ lâu ngày, ứ kết
ngưng đọng  chứng tích tụ.
Nếu khí trệ huyết ứ, đàm thấp nội sinh  thủy đình trong bụng 
cổ trướng.
Trên lâm sàng biểu hiện chính hư tà thực, hư thực hiệp tạp, làm cho
bệnh khó điều trị và dai dẳng. Diễn biến bệnh chủ yếu ở tạng can, liên
quan đến tỳ, vị, thận.


Y HỌC CỔ TRUYỀN

VIÊM GAN
MẠN TÍNH
DO THUỐC


Y HỌC CỔ TRUYỀN
VIÊM GẠN MẠN TÍNH DO THUỐC

NGUYÊN NHÂN
Nguyên nhân trực tiếp là do cảm phải chất độc của dược phẩm
( dược độc ).Dược độc xâm nhập vào cơ thể  tổn thương can tỳ  rối
loạn chức năng tạng phủ mà phát bệnh.
Tiên thiên bất túc, công năng tạng phủ hư suy, không có sức đề
kháng  tà khí bên ngoài xâm nhập mà phát bệnh.
Ngoài nguyên nhân yếu tố thể chất do tiên thiên, hậu thiên cũng
quyết định việc dễ phát bệnh của bệnh này.
Hoặc do ăn uống không điều độ, tình chí tổn thương, lao động mệt
mỏi quá sức...  mất cân bằng của khí huyết âm dương, tăng thêm cơ
hội phát bệnh.
Do nguyên nhân gây bệnh phức tạp, nên sự phát bệnh là do
nhiều nguyên nhân cùng gây ra.


Y HỌC CỔ TRUYỀN
Y HỌC
CỔTÍNH
TRUYỀN
VIÊM GẠN
MẠN
DO THUỐC

CƠ CHẾ BỆNH
Vị trí bệnh tại can và có liên quan mật thiết với đởm, tỳ, vị, lâu
ngày thì ảnh hưởng đến thận.Cơ chế bệnh chủ yếu là dược độc tích tụ
bên trong dẫn đến thấp nhiệt nội sinh, khí trệ huyết ứ, can thận hư suy,
các mặt này cùng ảnh hưởng lẫn nhau.
Tính chất bệnh: thuộc bản hư tiêu thực; biểu hiện của bản hư là các
triệu chứng của tỳ khí hư suy, can thận âm hư; biểu hiện của tiêu thực là
các trỉệu chứng của thấp nhiệt; nhiệt độc, khí trệ huyết ứ do dược độc
xâm phạm.


Y HỌC CỔ TRUYỀN

VIÊM GAN
M ẠN TÍNH
T Ự MI ỄN


Y HỌC CỔ TRUYỀN
Y HỌC
CỔ TRUYỀN
VIÊM GẠN
MẠN
TÍNH TỰ MIỄN

NGUYÊN NHÂN
Viêm gan mạn tính tự miễn nguyên nhân gây bệnh phức tạp,
thường là do nhiều nguyên nhân kết hợp với nhau cùng gây bệnh.
-Nội nhân là do tiên thiên bất túc, hoặc bẩm tố tỳ vị hư nhược;
-Ngoại nhân do cảm phải tà độc, dược độc.
Nội nhân và ngoại nhân có ảnh hưởng nhân quả lẫn nhau.


Y HỌC CỔ TRUYỀN
Y HỌC
CỔ TRUYỀN
VIÊM GẠN
MẠN
TÍNH TỰ MIỄN

CƠ CHẾ BỆNH
Tính chất bệnh thuộc hư thực thác tạp, thực có thấp trở, khí trệ,
huyết ứ; hư có tỳ hư. Bệnh có gốc là tỳ hư, ngọn là thấp trọc, bệnh lâu
ngày thì có ảnh hưởng tại khí và huyết, trong đó yếu tố tỳ hư xuyên suốt
từ đầu đến cuối bệnh.
Bệnh nhân có bẩm tố tỳ vị hư nhược, không vận hóa được tinh vi
của thủy cốc  thủy thấp đình trệ  lưu lại ở hai bên mạn sườn 
chứng hiếp thống.
Đàm thấp lưu lại tại can đởm  can khí uất kết  không sơ tiết
được  hiếp thống; hoặc đởm chấp không sơ tiết được  đởm chấp
không theo đường cũ được mà tràn ra cơ phu, xuống bàng quang 
chứng hoàng đản.
Khí huyết hư suy, khí hư thì huyết ứ  bệnh tình tái phát nhiều lần,
dai dẳng khó khỏi.


Y HỌC CỔ TRUYỀN
Y HỌC
CỔ TRUYỀN
VIÊM GẠN
MẠN
TÍNH TỰ MIỄN

CƠ CHẾ BỆNH
Trong trường hợp bn không được điều trị sớm, hoặc điều trị
không đúng, chính không thắng tà  thấp độc sẽ xâm nhập doanh huyết
 gây tổn thương huyết lạc  nội hãm tâm bào, che lấp thần minh 
gây ra các triệu chứng nguy cấp như xuất huyết, hôn mê...;
Khí trệ huyết ứ lâu ngày có thể thành chứng tích tụ; bệnh lâu ngày
 can, tỳ, thận cùng tổn thương  ảnh hưởng đến khả năng vận hành
của can tỳ khí huyết, đồng thời  ảnh hưởng đến khả năng khí hóa của
thận và bàng quang  thủy thấp đình tụ mà gây ra chứng cổ chướng.


BIỆN CHỨNG
LUẬN TRỊ


VIÊM GAN MẠN TÍNH DO VIRUS
Do bệnh có cảm nhiễm các loại virus khác nhau, và sau khi mắc
phải trạng thái miễn dịch cơ thể cũng không giống nhau, cho nên biểu
hiện trên lâm sàng rất là phức tạp, đa dạng.
Nguyên tắc điều trị:
1) Nguyên nhân và cơ chế bệnh là do thấp nhiệt dịch độc xâm nhập
tích tụ trong cơ thể, cho nên pháp dùng pháp điều trị thanh nhiệt lợi thấp
giải độc là nguyên tắc cơ bản.
2) Phân rõ hư thực, điều tiết các công năng tạng phủ: can thì sơ,
đởm thì lợi, tỳ thì vận, vị thì hòa.
3) Can thận cùng nguồn, bệnh lâu ngày thì cần chú ý tư dưỡng can
thận, để đạt được mục đích phục chính khứ tà.


VIÊM GAN MẠN TÍNH DO VIRUS
Thời kì cấp tính điều trị tiêu là chính, thời kì mạn tính thì tiêu bản
đồng trị.
Viêm gan cấp tính thể hoàng đản, cần chú trọng biện mức độ nặng
nhẹ của yếu tố thấp, nhiệt; Viêm gan cấp tính không có hoàng đản, chú
trọng biện thấp trở, khí trệ.
Thời kì cấp tính có hoàng đản thì dùng pháp thanh nhiệt lợi thấp,
thoái hoàng làm chính; không có hoàng đản thì dùng pháp kiện tỳ lợi
thấp hành khí.
Viêm gan mạn tính chú trọng biện hư thực của khí huyết âm
dương.
Viêm gan mạn tính đa phần lấy nguyên tắc điều trị thanh nhiệt lợi
thấp, kiện tỳ sơ can, tư dưỡng can thận, hoạt huyết hóa ứ, ôn bổ tỳ thận.
Do tính chất bệnh phức tạp khi điều trị nên đông tây y kết hợp điều
trị, có thể thu được hiệu quả tốt hơn.


VIÊM GAN MẠN TÍNH DO THUỐC

Viêm gan mạn tính do thuốc các chứng trạng rất nhiều, biểu hiện
lâm sàng và mức độ nặng nhẹ giữa các thể bệnh có sự khác biệt rất lớn,
cho nên trên lâm sàng cần biện chứng tổng quát, biện bệnh tỉ mỉ, kết hợp,
vận dụng linh hoạt nhiều loại phương pháp điều trị mới có thể có hiệu
quả.
Biểu hiện lâm sàng chủ yếu là đau tức vùng mạn sườn ( hiếp thống),
nên tìm hiểu rõ, mức độ đau, thời gian mắc bệnh, bệnh tại khí hay tại
huyết, thuộc hư hay thực; nếu bn có hoàng đản là biểu hiện chính thì phải
phân rõ thanh thấp nhiệt âm dương.


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×