Tải bản đầy đủ

Hiệu quả kinh tế về sản xuất cà phê của các nông hộ ở Thị trấn Quảng Phú Huyện CưM’gar Tỉnh ĐăkLăk

Phần 1:

MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Năm 1857 lần đầu tiên cây cà phê được trồng tại Việt Nam, trải qua hơn 100
năm tồn tại và phát triển, ngành cà phê Việt Nam đã có những bước thăng trầm gắn
liền với lịch sử phát triển của dân tộc. Nó chỉ mới thực sự khẳng định chỗ đứng của
mình khi nền kinh tế nước ta bước vào giai đoạn mới – giai đoạn mở cửa và hội
nhập với nền kinh tế đầy năng động của khu vực và thế giới. Những năm gần đây,
cà phê Việt Nam đã trở thành mặt hàng có vị trí chiến lược quan trọng cho kinh tế
đất nước. Diện tích, năng suất và sản lượng xuất khẩu của cà phê đã tăng nhanh, vì
vậy cây cà phê là một trong mười mặt hàng xuất khẩu có giá trị kim ngạch cao và
mang lại ngoại tệ tương đối lớn cho ngân sách nhà nước.
ĐăkLăk là một tỉnh thuộc Tây Nguyên Nam Trung Bộ, có vị trí kinh tế - xã
hội khá chiến lược. Đồng thời còn có điều kiện thuận lợi về đất đỏ bazan thích hợp
cho phát triển cây cà phê, đó chính là mũi nhọn kinh tế của tỉnh. Do vậy, cà phê là
mặt hàng xuất khẩu chủ lực của ĐăkLăk, chiếm trên 80% kim ngạch xuất khẩu của
tỉnh, với tổng diện tích trên 160.000 ha, sản lượng hàng năm đạt khoảng 300.000
tấn. Dù giá cả có biến động mạnh và theo chiều hướng bất lợi cho người sản xuất
trong những năm vừa qua, nhưng cây cà phê vẫn giữ một vị trí quan trọng trong sự
nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh ĐăkLăk trong vài thập niên tới. Một trong

những hạn chế chính của ngành cà phê Việt Nam cũng như của ĐăkLăk là phát
triển không bền vững, sức cạnh tranh trên thị trường thế giới thấp. Để nâng cao tính
bền vững cho ngành cà phê ĐăkLăk thì cần phải thực hiện một số giải pháp để sản
xuất có hiệu quả. Phát triển kinh doanh cây cà phê đã góp phần cải thiện đời sống
các dân tộc đồng bào miền núi khó khăn, đặc biệt là các tỉnh Tây Nguyên. Ngoài ra,
phát triển cây cà phê theo đúng quy hoạch còn góp phần cải tạo môi trường sinh
thái.
Hiện nay, cà phê là một mặt hàng nông sản xuất khẩu đứng trong hàng Topten
của các mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu lớn nhất. Thêm vào đó cà phê là một loại
1


nước uống cao cấp, nhu cầu đòi hỏi của người tiêu dùng vẫn không ngừng tăng lên,
chưa có những sản phẩm nhân tạo được chấp nhận để thay thế cho cà phê. Vì vậy,
việc trồng và xuất khẩu loại hàng hóa đặc biệt này vẫn có một ý nghĩa kinh tế lớn
đối với nước ta. Đồng thời, qua quá trình sản xuất cà phê giải quyết được nhiều vấn
đề xã hội như tạo công ăn việc làm, nâng cao thu nhập và hạn chế được các tệ nạn
xã hội, phát triển vùng kinh tế mới …
Nằm trong cơ cấu kinh tế của tỉnh ĐăkLăk, thị trấn Quảng Phú - huyện
CưM’gar trong những năm qua đã góp phần phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, đã
đem lại nhiều thành quả cao cho thị trấn, trong số đó có thành quả về kinh tế. Nền
kinh tế của thị trấn đã tiến triển vượt bậc, các nông hộ gia đình làm cà phê có thu
nhập khá. Đời sống của nông dân dần dần đi vào thế ổn định. Tiềm năng đất đai, lao
động, ngành nghề của thị trấn cũng đã được phát huy một cách đúng mức theo lợi
thế của mình. Đồng thời, do thu nhập từ cà phê mang lại rất cao cho nên đã huy
động được tính tích cực sản xuất của người nông dân, thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội của thị trấn.
Tuy nhiên, khi diện tích và sản lượng cà phê ngày càng tăng đã gây không ít
khó khăn cho quá trình sản xuất, chế biến cũng như tiêu thụ sản phẩm. Nhất là trong
mấy năm gần đây, giá cả cà phê xuống thấp và liên tục biến động, thời tiết diễn biến
thất thường làm cho việc phát triển cây cà phê gặp nhiều khó khăn, bên cạnh đó cà
phê là loại cây trồng đòi hỏi vốn đầu tư khá lớn đi cùng với các biện pháp chăm sóc
chu đáo. Trước vấn đề đó, việc quan trọng đã và đang đặt ra để phát triển kinh tế
của các nông hộ trồng cà phê là phải chú ý tới các giải pháp nâng cao hiệu quả sản
xuất cà phê, mang lại mức thu nhập cao hơn cho các nông hộ và tạo ra được một
lượng hàng nông sản xuất khẩu đem lại kim ngạch cho đất nước.
Xuất phát từ thực trạng trên tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Hiệu quả kinh
tế về sản xuất cà phê của các nông hộ ở Thị trấn Quảng Phú - Huyện CưM’gar
- Tỉnh ĐăkLăk”.

1.2. Mục tiêu nghiên cứu

- Tìm hiểu tình hình phát triển cây cà phê trên địa bàn thị trấn Quảng Phú huyện CưM’gar - tỉnh ĐăkLăk.

2


- Đánh giá hiệu quả kinh tế về sản xuất cà phê trên địa bàn thị trấn Quảng Phú
- huyện CưM’gar - tỉnh ĐăkLăk.

1.3. Địa điểm, thời gian và phạm vi nghiên cứu
- Địa điểm nghiên cứu: Thị trấn Quảng Phú - huyện CưM’gar - tỉnh ĐăkLăk.
- Thời gian nghiên cứu: được tiến hành từ ngày 21/3/2005 đến ngày 27/5/2005
Thu thập số liệu trong năm 2004.
- Phạm vi nghiên cứu: đánh giá hiệu quả về sản xuất cà phê trên địa bàn
huyện.
Đối tượng nghiên cứu là các hộ nông dân trồng cà phê trên địa bàn nghiên
cứu.

3


Phần 2:

TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
2.1. Cơ sở lý luận
Thực hiện đường lối đổi mới nền kinh tế từ yêu cầu cấp bách của cơ chế thị
trường. Đặc biệt là nước ta đang trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại
hóa đất nước, đi vào ứng dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật, thì việc làm đầu
tiên của một nước sản xuất nông nghiệp là phải tiếp tục đổi mới sản xuất nông
nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa.
Xây dựng và phát triển kinh tế nông thôn là một vấn đề phức tạp và rộng lớn,
do đó cần có sự quan tâm của Đảng và Nhà nước. Nó chứa đựng nhiều mặt kinh tế xã hội – chính trị mà đặc biệt quan trọng là yếu tố kinh tế. Một quốc gia có nền kinh
tế phát triển thì các lĩnh vực khác cũng phát triển theo.
Nông nghiệp nước ta là khu vực kinh tế truyền thống, tập trung tuyệt đại đa số
lao động của xã hội, nó phụ thuộc rất lớn vào điều kiện tự nhiên như đất đai, khí
hậu và nông nghiệp là nơi duy nhất tạo ra lương thực, thực phẩm.
Nông thôn nước ta với dân số chiếm trên 65 triệu người, trong đó lao động
nông nghiệp gần 28 triệu người, chiếm 75% về dân số và hơn 60% về lao động so
với cả nước. Vấn đề phát triển nông nghiệp nông thôn nước ta là một trong những
vấn đề hết sức quan trọng và luôn là mối quan tâm hàng đầu của Đảng và Nhà
nước.
Trong những năm vừa qua kinh tế nông nghiệp và nông thôn đã có những
bước phát triển đáng kể làm thay đổi bộ mặt kinh tế - xã hội nông thôn của cả nước,
trong đó ngành nông nghiệp là ngành mũi nhọn đã đem về cho đất nước nhiều thành
tựu. Một trong những thành tựu nổi bật là các mặt hàng nông sản tiếp tục tăng, nhất
là mặt hàng nông sản cà phê.
Sản phẩm cà phê nước ta chủ yếu dùng cho xuất khẩu, giá cà phê phụ thuộc
vào giá cà phê thế giới. Những năm qua giá cả thị trường thế giới biến đổi, không
ổn định. Mặc dù về phương diện sản xuất thì cà phê Việt Nam có lợi thế cạnh tranh
cao nhưng sản phẩm xuất khẩu của nước ta còn nghèo nàn, chủ yếu là xuất khẩu sản

4


phẩm thô chưa chế biến, chất lượng sản phẩm còn thấp, còn nhiều bất cập trong đầu
tư công nghệ và chế biến.[3]
Kinh tế hộ gia đình trồng cà phê là một nguồn lực kinh tế lớn đã tạo ra mặt
hàng nông sản cà phê xuất khẩu cho tỉnh nói riêng và cho cả nước nói chung. Việc
phát triển kinh tế cho các hộ sản xuất cà phê nơi đây có vai trò và vị trí quan trọng
đối với nền kinh tế của tỉnh ta, các hộ trồng cà phê chiếm tới 70% diện tích toàn
tỉnh đã đem về cho tỉnh nhiều kim ngạch xuất khẩu cao. Làm cho nền kinh tế của
tỉnh tăng trưởng và phát triển, do đó kinh tế hộ gia đình sản xuất cà phê là một mô
hình thích hợp trong cơ cấu của tỉnh ĐăkLăk.

2.1.1. Tổng quan về cây cà phê
Cà phê là cây công nghiệp quan trọng, sản phẩm của nó là một loại nước uống
không thể thiếu của nhiều dân tộc. Nhu cầu càng ngày càng tăng khi đời sống con
người ngày càng đầy đủ và cùng với nhu cầu sử dụng tăng, yêu cầu chất lượng cà
phê cũng sẽ cao hơn, các loại cà phê có chất lượng thấp chắc chắn dần dần sẽ phải
loại bỏ để thay thế bằng những loại cà phê có chất lượng cao phục vụ theo nhu cầu.
[3]
Cà phê là cây trồng có biên độ thích nghi với nhiệt độ khá rộng. Ở mỗi loài,
mỗi giống có phạm vi thích nghi khác nhau và khả năng thích nghi cao với điều
kiện nhiệt độ. Cho nên có thể trồng cà phê trên địa bàn rất rộng, song từng loài,
từng giống khả năng phân bố có thể hẹp hơn, nhưng với từng giống, từng loài này
khi có nhu cầu vẫn có thể trồng trọt trong phạm vi lớn và với khả năng thích nghi
rộng lớn nên vấn đề nghiên cứu để xác định khả năng mở rộng diện tích không phải
vấn đề quan trọng. Vấn đề mở rộng phải xét trong một phạm vi toàn cục để có một
cơ cấu cây trồng nói chung hợp lý, có hiệu quả kinh tế cao nhất.[3]
Hiện nay ở nước ta trồng 3 loài cà phê khác nhau phụ thuộc vào điều kiện
ngoại cảnh (theo phân loại gọi là loài nhưng theo thói quen gọi là loại).
Cà phê chè: Arabica.
Cà phê vối: Canephora.
Cà phê mít: Excelsa.
Trong mỗi loại cà phê lại có nhiều giống khác nhau.

5


Cà phê chè gồm các giống: Typica, Bourbon, Mokka, Mundonovo, Catimor,
…[3]
Cà phê vối cũng có nhiều giống khác nhau nhưng các giống khác trồng không
đáng kể, hiện nay chủ yếu chỉ trồng Robusta.
Cà phê mít hiện nay cũng chủ yếu là trồng một giống và ngay giống hiện
trồng diện tích cũng rất ít.
Mỗi loài cà phê, mỗi giống cà phê chúng đều có những đặc tính thực vật, sinh
vật và khả năng thích nghi khác nhau đối với yêu cầu ngoại cảnh, đặc biệt là nhiệt
độ và cường độ ánh sáng.
Cà phê có thể trồng ở các vùng có độ dốc lớn và ở vùng cao sẽ tốt hơn vì ở
các vùng có độ cao sẽ trồng cà phê phù hợp hơn và chất lượng cao hơn. Cũng có thể
trồng các loại cà phê có khả năng chịu bóng râm xen vào các loại cây rừng và ngay
cả xen vào trong các loại cây như cao su, quế trong những năm đầu khi tán lá chưa
lớn, chưa ảnh hưởng tới cà phê.[3]
Hiện nay không những ở nước ta mà ngay cả ở các nước trên thế giới vẫn áp
dụng kỹ thuật trồng cũ, có cách đây hàng trăm năm, chưa được cải tiến nên năng
suất cà phê nói chung cả thế giới còn thấp. Các giống cà phê được lai tạo và đưa ra
sản xuất chủ yếu theo hướng cho năng suất cao, khả năng chống chịu khá, nhất là
đối với sâu bệnh, mà chưa chú ý đến chọn ra được các giống có phẩm chất ngon
chuẩn bị cho tương lai không xa.[3]
Ở nước ta không những năng suất mà cả sản lượng cà phê xuất khẩu trong
những năm gần đây đã có những bước tiến đáng kể nhưng do kỹ thuật trồng, giống
cà phê có chất lượng chưa tốt cho nên đã hạn chế một phần rất lớn vấn đề xuất
khẩu.

2.1.2. Khái niệm hiệu quả kinh tế
Hiệu quả nói chung, là thuật ngữ được sử dụng cho mọi lĩnh vực trong đời
sống. Nó được dùng làm mô tả cách thức để đạt được mục tiêu đặt ra với hao tổn về
nguồn lực ít nhất. Các giới hạn về tài nguyên, nhân lực, chi phí, thời gian,…buộc
con người phải quan tâm đặc biệt tới hiệu quả của công việc. Xã hội ngày càng phát
triển, phạm trù hiệu quả ngày càng được chú trọng, vì thế có thể xem xét trình độ

6


phát triển của một xã hội thông qua việc đánh giá xã hội đó sử dụng có hiệu quả hay
không các nguồn lực trong xã hội.[6]
Trong sản xuất, hiệu quả kinh tế được coi là thước đo phản ánh năng lực, trình
độ, khả năng phát triển của một tổ chức. Nâng cao hiệu quả kinh tế được coi là cách
thức duy nhất và quan trọng nhất để sản xuất tồn tại và phát triển.Với tầm quan
trọng như vậy, hiệu quả kinh tế được định nghĩa như sau: “hiệu quả kinh tế là một
phạm trù kinh tế phản ánh trình độ và năng lực quản lý, đảm bảo thực hiện có kết
quả nhất những mục tiêu kinh tế - xã hội đặt ra với chi phí nhỏ nhất”[6]. Qua định
nghĩa trên ta thấy, hiệu quả kinh tế đề cập đến 2 thuật ngữ: kết quả và chi phí.
+ Kết quả: là những gì đạt được sau một quá trình đầu tư sản xuất được đo
lường bằng các con số chỉ tiêu.
+ Chi phí: là tổng giá trị các nguồn lực được sử dụng để đạt được mục tiêu
như: chi phí nguyên vật liệu, vật tư, phân bón, tiền lương,…Vậy chi phí biểu hiện
toàn bộ giá trị lao động được kết tinh trong kết quả thu được.
Như vậy, kết quả và chi phí có mối quan hệ mật thiết với nhau, chi phí là tiền
đề để hộ gia đình nông dân thực hiện được kết quả đặt ra. Hiệu quả kinh tế được xét
khi phối hợp giữa hai yếu tố chi phí và kết quả, nghĩa là về mặt định lượng hiệu quả
kinh tế là một đại lượng so sánh giữa đầu vào và đầu ra, so sánh giữa chi phí kinh
doanh và kết quả thu được. [6]
Đánh giá hiệu quả kinh tế của hộ nông dân được thực hiện trên cơ sở kết quả
phân tích từng phần, tổng hợp, hướng vào mục tiêu chính là lợi nhuận.

2.1.3. Ý nghĩa của việc nâng cao hiệu quả kinh tế
Nâng cao hiệu quả kinh tế là điều kiện sống còn để các đơn vị sản xuất tồn tại
và phát triển, kể cả hộ nông dân. Vì lẽ đó, có thể nói nâng cao hiệu quả kinh tế
thường xuyên là cách thức duy nhất để sản phẩm của nó được chấp nhận trên thị
trường vì mục đích của việc nâng cao hiệu quả kinh tế không gì ngoài:
- Giảm chi phí đầu vào dẫn đến giảm giá bán sản phẩm ở đầu ra.
- Nâng cao chất lượng sản phẩm để tăng sức cạnh tranh trên thị trường.
Để đạt được điều này, có nghĩa hộ gia đình nông dân phải tạo cho mình một
sức cạnh tranh đủ mạnh trên thị trường để tồn tại và phát triển.

7


Từ đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (12/1986), Đảng đã xác định chuyển
nền kinh tế nước ta sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo
định hướng xã hội chủ nghĩa, cùng với sự thừa nhận vai trò của kinh tế hộ đã làm
cho nền kinh tế khởi sắc và phát triển. Các hộ được giao quyền sử dụng đất lâu dài
và ổn định. Họ được tự do lựa chọn phương hướng sản xuất, quy mô tổ chức, hình
thức thực hiện và nơi tiêu thụ nông sản phẩm mà họ làm ra. Nói cách khác hộ vừa là
người tổ chức vừa là người thực hiện và chịu toàn bộ trách nhiệm các khâu của quá
trình tái sản xuất trong nông nghiệp để tạo ra nguồn thu nhập cho hộ mình. Đó
chính là động lực thúc đẩy các hộ tự nguyện bỏ thêm công sức, tiền bạc vào để đầu
tư thâm canh và tăng cường cơ sở vật chất - kỹ thuật để phát triển sản xuất tạo ra
hiệu quả kinh tế cho hộ mình ngày một đầy đủ và giàu có hơn.
Trong nền kinh tế sản xuất hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế
thị trường có sự quản lý của nhà nước, các thành phần kinh tế luôn cạnh tranh nhau
và vấn đề quan tâm đầu tiên là giảm chi phí đầu vào để tăng thêm lợi nhuận, tức là
tính đến chi phí biên (MC) và doanh thu biên (MR). Tại điểm MC = MR sản lượng
lúc này đạt mức sản lượng tối ưu. Mà doanh thu được tính bằng số lượng sản phẩm
nhân với đơn giá. Do đó giá cả đầu ra cũng ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả kinh tế.
Vì vậy, khi hiệu quả kinh tế tăng có nghĩa là lợi nhuận tăng sẽ thúc đẩy nông dân
vươn lên làm giàu, xóa đói giảm nghèo.[2]
Mặc dù các hộ trồng cà phê có cùng chung yếu tố đầu vào và đầu ra, nhưng
hiệu quả kinh tế của mỗi hộ nhận được là khác nhau. Đó là sự tác động lên các yếu
tố đầu vào là khác nhau ở từng nông hộ như là áp dụng khoa học kỹ thuật, kiến thức
và khả năng của các chủ hộ và cũng là yếu tố quan trọng của việc đạt hiệu quả sản
xuất cao hay thấp. Tuỳ thuộc vào khả năng hiện có của mình mà mỗi hộ đầu tư
chăm sóc cho cây cà phê khác nhau.
Ngoài ý nghĩa chung về hiệu quả kinh tế, việc phát triển kinh tế từ cây cà phê
của hộ nông dân còn mang lại tác dụng tích cực về mặt xã hội như tạo việc làm,
nâng cao mức sống cho người nông dân và góp phần cải thiện môi trường sinh thái.

2.1.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tê
Có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế của việc sản xuất cà phê
như khí hậu, đất đai, giá cả, vốn,…nhưng bất kỳ một ngành trồng trọt nào cũng phải
8


có một điều kiện sinh thái thích hợp mới trồng được. Bên cạnh đó con người sẽ can
thiệp bằng cách lợi dụng các công trình nghiên cứu khoa học về nông học để điều
tiết ít nhiều nhằm giảm bớt các ảnh hưởng của các nhân tố trên.
* Thời tiết và khí hậu: So với các nước trên thế giới và ngay cả các nước nhiệt
đới thì điều kiện khí hậu, thời tiết của nước ta hết sức phức tạp và có nhiều sự sai
khác rất lớn so với vùng khí hậu nhiệt đới thuần túy. Với đặc điểm phức tạp của chế
độ thời tiết và khí hậu, việc nghiên cứu kỹ hơn để tìm ra cách dự đoán trước được
thời tiết và xác định được chế độ khí hậu của từng vùng cụ thể có ý nghĩa hết sức
quan trọng trong việc xác định các loại cà phê được trồng cho từng vùng, thời điểm
gây bệnh và thời điểm cần lợi dụng mưa để chăm bón, giảm được công lao động,
tăng được khả năng sử dụng hữu hiệu của phân bón.
* Thị trường và giá cả: là hai yếu tố quan trọng, vì nó là khâu tiếp theo của
quá trình sản xuất, góp phần đem lại doanh thu và lợi nhuận cho người nông dân khi
khâu tiêu thụ được thực hiện thông suốt. Đó là mong ước của tất cả những hộ sản
xuất cà phê.
Trong lịch sử, cà phê biến động mạnh về giá chủ yếu do biến động về thời tiết
làm giảm nguồn cung. Trong niên vụ 1997 – 1998 đến 2002 – 2003, sản lượng cà
phê toàn cầu dường như tăng liên tục từ 97,6 triệu bao lên 118,8 triệu bao dẫn đến
thời kỳ khủng hoảng thừa và giá cà phê xuống thấp đến mức kỷ lục trong vòng 30
năm qua trong niên vụ 2001 – 2002. Hậu quả khốc liệt của giai đoạn khủng hoảng
này đã được rất nhiều báo cáo đánh giá trên phạm vi toàn cầu và từng quốc gia. Cho
đến nay việc phục hồi giá vẫn còn rất chậm do vẫn chưa có những biện pháp khắc
phục hữu hiệu ở các nước sản xuất cũng như ở các mắc xích của kênh thị trường.[1]
Do sự sụt giảm của giá cả cà phê trên thị trường thế giới mấy năm vừa qua mà
các nhà trồng cà phê ở Tây Nguyên đã có lúc khốn đốn vì giá thành sản phẩm cao
hơn giá bán. Các biện pháp thâm canh trước đây có tác dụng đẩy năng suất cà phê
lên cao, đã từng được lựa chọn làm phương án để giảm giá thành, thì nay đang được
xem xét lại. Nhiều người đã tính đến việc giảm đầu tư, trong đó phân bón, nước
tưới và công lao động là những yếu tố đầu vào được đưa ra xem xét cắt giảm trước
tiên.[1]

9


* Vốn: Ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả kinh tế của các hộ sản xuất. Vì vốn
là yếu tố quan trọng hàng đầu của bất kỳ đơn vị nào muốn sản xuất kinh doanh.
Nông thôn nước ta còn nghèo, đặc biệt là các vùng nông thôn miền núi, do đó người
nông dân không có vốn để đầu tư sản xuất. Bên cạnh đó việc vay vốn lại gặp nhiều
khó khăn, hộ nào không có tài sản thế chấp thì không thể vay vốn được. Mà nếu
không có vốn thì không thể áp dụng khoa học kỹ thuật, cải tiến chất lượng sản
phẩm được, sản phẩm không thể cạnh tranh trên thị trường thế giới…
* Chính sách kinh tế - xã hội: Đảng và nhà nước cần có các chính sách về tài
chính - tín dụng, chính sách về thuế và giá cả, chính sách đầu tư vốn cho hộ sản
xuất với lãi suất thấp để khắc phục tình trạng chặt cây cà phê vì thấy sản xuất không
có hiệu quả. Ngoài ra còn có các chính sách xóa đói giảm nghèo đối với vùng sâu,
vùng xa để phát triển kinh tế nhằm sớm hoàn thành sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn.
Ngoài các nhân tố trên, hiệu quả kinh tế còn chịu ảnh hưởng của các nhấn tố
khoa học – kỹ thuật, tổ chức sản xuất,...
Tóm lại, hiệu quả kinh tế là do tổng hợp nhiều yếu tố tạo thành và phải được
xem xét trong nhiều năm liên tục. Việc huy động, khai thác và sử dụng các nguồn
lực trên càng hợp lý và đầy đủ, càng cho phép đạt hiệu quả kinh tế cao, còn ngược
lại sẽ làm cho hiệu quả kinh tế thấp.[6]. Đặc biệt trong điều kiện kinh tế - xã hội của
nông nghiệp và nông thôn nước ta là sản xuất nhỏ, cơ sở vật chất - kỹ thuật còn
thấp, với trên 60% lao động xã hội làm nông nghiệp và 75% dân số xã hội sống ở
nông thôn, với tuyệt đại đa số là nông hộ gia đình. Nông nhiệp có phát triển nhanh
chóng, bền vững hay không phụ thuộc vào việc khai thác và sử dụng có hiệu quả
nguồn lao động này.

2.2. Cơ sở thực tiễn
Cà phê là loại cây công nghiệp đặc sản của vùng nhiệt đới, hạt cà phê chứa
một số Vitamin nhóm B, đặc biệt là axit nicotenic và một số chất khác. Các nhà
khoa học Thụy Sỹ đã phân tích hạt cà phê và cho thấy trong hạt cà phê có 670 hợp
chất thơm, tạo thành một mùi hương tổng hợp tuyệt vời (trong chè là 404, trong ca
cao là 385). Chính các chất và hương vị độc đáo có trong hạt cà phê đã làm cho

10


nhiều người nghiện cà phê và việc uống cà phê trở thành tập quán, là nhu cầu hàng
ngày của phần đông dân số thế giới, đặc biệt là ở các nước phát triển.[3]
Cà phê là một trong những mặt hàng nông sản quan trọng, đặc biệt là đối với
các nước đang phát triển. Hoạt động mậu dịch của cà phê trên toàn thế giới chiếm tỷ
trọng rất cao, chỉ sau dầu mỏ. Sự hưng thịnh và suy thoái của công nghiệp cà phê có
ảnh hưởng trực tiếp đến khoảng 70 nước sản xuất cà phê và 25 triệu hộ nông dân
với 125 triệu nhân khẩu. Đặc thù của thị trường cà phê là rất không ổn định về cung
cầu và giá. Sản lượng cà phê thế giới diễn biến mạnh tùy vào khí hậu thời tiết, tình
hình tiêu thụ, giá cả, cán cân cung - cầu.[1]
Mức tiêu thụ cà phê trên thế giới ngày càng cao, cả những nước trước đây có
tập quán uống trà thì nay mức tiêu dùng cà phê cũng tăng lên đáng kể như Anh,
Nhật…Ở Nhật Bản trong những năm 1980 có khoảng 46% số dân uống cà phê và
53,8% số dân uống chè.[7]
Các nước đang phát triển mức tiêu thụ cà phê ngày càng tăng. Ở Việt Nam
trước đây uống cà phê chỉ có ở các thành phố lớn (phía Nam là chủ yếu) thì đến nay
việc uống cà phê đã lan rộng khắp cả nước, không những chỉ thành thị mà đến cả
những vùng nông thôn.[3]
Cà phê là nguyên liệu cho một số ngành công nghiệp phát triển như: Bánh
kẹo, rượu và sữa cà phê…Nhiều quốc gia sản xuất cà phê đang tìm kiếm các chiến
lược và giải pháp mới để tái khẳng định vị trí trên thị trường và giảm bớt sự phụ
thuộc vào hệ thống định giá tại các thị trường New York và London. Nhiều quốc
gia sản xuất đang tìm cách “đặc thù hóa” sản phẩm cà phê thông qua nguồn gốc
xuất xứ, quá trình canh tác, chế biến, đặc trưng chất lượng, hương vị riêng biệt, ít bị
lỗ…Các loại cà phê “đặc thù” này có thể được buôn bán thông qua những kênh thị
trường sinh lợi nhiều hơn so với kênh thị trường dành cho những sản phẩm cà phê
truyền thống.[7]
* 11-2004: Giá cà phê thế giới tăng mạnh
Ngược lại với xu hướng giảm nhanh của tháng 10/2004, giảm khoảng 8,510%, tháng qua giá cà phê các loại lại tăng mạnh. Tại New York giá cà phê arabica
giao ngay ngày 17/10/2004 sẽ đạt 0,9350 USD/ Ib (2.064 USD/ tấn), tăng 23% so
với đầu tháng 11/2004. Tại Luân Đôn, giá cà phê robusta giao ngay thời gian này
11


cũng tăng 20% lên 655 USD/tấn. Tại Châu Á giá chào bán cà phê robusta loại 2 của
Việt Nam và EK-1 loại 4 của Inđônêxia ngày 16/11/2004. Tuy nhiên so với cùng kỳ
năm trước giá cà phê đã biến động rất khác nhau: giá cà phê arabica tại New York
đã tăng kỷ lục, tăng 52%, giá cà phê robusta tại Luân Đôn hầu như không đổi trong
khi giá cà phê của Việt Nam và Inđônêxia giảm 10-11%. Một loạt nhân tố ngắn hạn
tác động làm giá cà phê tăng mạnh. Trước tiên là nguồn cung giảm tại Braxin và
Côlômbia, hai nước sản xuất và xuất khẩu cà phê arabica lớn nhất, nhì thế giới.
Theo hiệp hội quốc gia những người trồng cà phê Côlômbia (NFCC), thời tiết khô
hạn, sâu bệnh đã làm sản lượng cà phê vụ 2003/2004 của nước này giảm gần 1 triệu
bao so với vụ trước, còn 10,88 triệu bao (1 bao = 60 kg). Nguồn cung cà phê cho
xuất khẩu của Côlômbia tháng qua vẫn giảm sút. Xuất khẩu cà phê của Côlômbia
hai tuần đến tháng 11/2004 ước tính chỉ đạt 232.000 bao, giảm hơn 35% so với
cùng kỳ năm trước. Ngày 12/11/2004 một trận động đất lớn xảy ra tại Côlômbia
làm xuất khẩu cà phê của nước này gần như bị ngưng trệ. Điều này đã tác động
mạnh đến giá cà phê arabica trên thị trường giao ngay.[4]
Tại Braxin tồn kho cà phê nội địa giảm đã làm xuất khẩu cà phê mấy tuần qua
hạn chế, ước tính chỉ đạt 370.000 – 380.000 bao/tuần, giảm so với 420.000 –
440.000 bao/tuần của tháng 10/2004. Trong bối cảnh này các nhà rang xay cà phê
Mỹ, các quỹ đầu tư lại có xu hướng tăng mua cà phê vào, gia tăng dự trữ. Nhân tố
này đã làm giá cà phê arabica càng tăng nhanh hơn. Giá cà phê arabica tăng mạnh là
nguyên nhân chủ yếu thúc đẩy giá cà phê robusta cũng tăng nhanh tháng qua, mặc
dù nguồn cung cà phê robusta nên được đánh giá là dồi dào ở những nước xuất
khẩu lớn như Việt Nam, Inđônêxia và Uganđa.[4]
* Vụ 2004/2005: Giá cà phê thế giới sẽ giảm 10-15%
Theo Don Jones, báo cáo mới của Tổ chức Cà phê quốc tế (ICO) cho thấy, thị
trường cà phê thế giới vụ 2004/2005 (từ tháng 10/2004 đến tháng 9/2005) có thể lại
thừa cung sau khi bị thiếu hụt tới 12,39 triệu bao vụ trước. Sản lượng cà phê thế
giới vụ 2004/2005 dự báo sẽ tăng gần 15% so với vụ trước. Trong đó sản lượng cà
phê arabica tăng 10,1% và sản lượng cà phê robusta tăng 24,7%. Trong 5 nước sản
xuất cà phê lớn nhất thế giới, thì sản lượng cà phê Braxin vụ 2004/2005 dự báo sẽ
tăng gần 28,8% so với vụ trước; của Việt Nam tăng 11%; của Inđônêxia tăng 3%;
12


Ấn Độ tăng 4,3%; riêng của Côlômbia dự đoán giảm 5%. Tiêu thụ cà phê thế giới
vụ 2004/2005 dự đoán chỉ tăng chút ít, tăng gần 1 triệu bao so với vụ trước, đạt 114
triệu bao và thấp hơn sản lượng 1,7 triệu bao. Trong đó tiêu thụ cà phê vụ
2004/2005 ở các nước nhập khẩu dự đoán sẽ tăng 1% so với vụ trước và ở các nước
sản xuất dự đoán sẽ ở mức cao của vụ trước. Tồn kho cà phê thế giới cuối vụ
2004/2005 dự đoán sẽ tăng 12,4% so với cuối vụ trước.[4]
Sản lượng cà phê tăng cao sẽ đưa xuất khẩu cà phê thế giới vụ 2004/2005 đạt
mức cao kỷ lục 95,8 triệu bao, tăng 8,8% so với vụ trước. Trong đó xuất khẩu cà
phê arabica thế giới dự đoán sẽ tăng 8,5% và xuất khẩu cà phê robusta thế giới dự
đoán sẽ tăng hơn 11%. Trong 5 nước xuất khẩu cà phê lớn nhất thế giới, xuất khẩu
cà phê vụ 2004/2005 dự đoán sẽ tăng ở 4 nước: Braxin tăng hơn 10%; Việt Nam
tăng 6,1%; Inđônêxia tăng 3% và Ấn Độ tăng 13%. Chỉ riêng Côlômbia xuất khẩu
cà phê vụ 2004/2005 dự đoán sẽ tiếp tục giảm 2,2% sau khi vẫn giảm gần 10% vụ
trước.[4]
Theo ICO, vụ 2004/2005 giá cà phê sẽ bị bất lợi bởi nguồn cung thế giới tăng
mạnh. Giá cà phê arabica thế giới vụ 2004/2005 dự đoán sẽ chỉ đạt trung bình 66,90
uscent/LB (1.477 USD/tấn, giảm 15,3%); giá cà phê robusta tại Luân Đôn sẽ đạt610
USD/tấn, giảm 15,3%[4]

13


Phần 3:

ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN, NỘI DUNG
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Đặc điểm địa bàn
3.1.1. Điều kiện tự nhiên
3.1.1.1. Vị trí địa lý
Quảng Phú được công nhận là thị trấn vào năm 1998 bao gồm 8 tổ dân phố.
Thị trấn nằm ở vị trí hết sức thuận lợi, cách thị trấn Eapôk 5 km và cách thành phố
Buôn Ma Thuột 16 km. Tổng diện tích tự nhiên là 809 ha với 2.896 hộ, 14.110
khẩu. Đồng bào dân tộc thiểu số là 12 hộ với 50 khẩu chiếm 0.4% dân số tại đây,
trong đó: dân tộc Tày là 05 hộ với 21 khẩu; dân tộc Nùng là 01 hộ với 05 khẩu; dân
tộc Mán là 02 hộ với 12 khẩu; và dân tộc Êđê là 04 hộ với 12 khẩu.
Địa lý của thị trấn như sau:
Phía bắc giáp xã Eakpam - huyện CưM’gar.
Phía đông giáp xã Quảng Tiến - huyện CưM’gar.
Phía tây giáp xã Quảng Tiến - huyện CưM’gar.
Phía nam giáp xã Quảng Tiến - huyện CưM’gar.
3.1.1.2. Địa hình
Thị trấn Quảng Phú có vị trí tương đối bằng phẳng, diện tích có độ dốc ít
khoảng 25% tổng diện tích đất tự nhiên. Đất đai chủ yếu là đất đỏ bazan, đất cải tạo
(đất đỏ pha sỏi). Nhóm đất đỏ có tầng dày, thành phần cơ giới rộng, tơi xốp và hàm
lượng dinh dưỡng khá cao phù hợp với nhiều loại cây trồng.
3.1.1.3. Đất đai
Thị trấn Quảng Phú có vị trí hết sức thuận lợi, đất đai màu mỡ là những yếu tố
thích hợp để phát triển kinh tế cây trồng mang lại hiệu quả cao. Mặc dù diện tích đất
bình quân cho mỗi hộ là rất lớn, nhưng chủ yếu nằm ở các xã lân cận nên diện tích
đất nông nghiệp thực tế ngay tại thị trấn không nhiều. Do các hộ gia đình ở đây di
dân vào khoảng năm 1957 là chính nên đa phần là đất khai hoang.
14


Bảng 1: Cơ cấu đất đai của thị trấn Quảng Phú
STT
1
2
3
4
5

Loại đất
Tổng diện tích đất tự nhiên
Đất nông nghiệp
Đất rừng – lâm nghiệp
Đất chuyên dùng
Đất ở
Đất chưa sử dụng

Diện tích (ha)
Tỷ lệ (%)
809
100,00
456
56,36
42
5,20
160
19,77
125
15,45
26
3,22
Nguồn: UBND Thị trấn Quảng Phú.

Qua bảng cơ cấu đất đai ta thấy, đây là vùng sản xuất nông nghiệp với diện
tích đất nông nghiệp chiếm tỷ lệ lớn trong tổng diện tích đất của toàn thị trấn (456
ha, chiếm 56,36% tổng diện tích tự nhiên). Các diện tích còn lại chiếm tỷ lệ tương
đối, trừ diện tích đất lâm nghiệp và đất chưa sử dụng chiếm tỷ lệ ít, trong đó đất lâm
nghiệp là 5,20%; còn đất chưa sử dụng là 3,22%. Diện tích đất chưa sử dụng chủ
yếu là núi đá, cát, sỏi, nên việc khai thác và sử dụng là điều không thể được.
3.1.1.4.Khí hậu và thuỷ văn
Thị trấn Quảng Phú nằm không xa thành phố Buôn Ma Thuột (16 km), do đó
khí hậu, thời tiết tương đối giống tại thành phố. Kiểu khí hậu mang tính chất nhiệt
đới gió mùa cao nguyên cho nên thời tiết trong năm được chia làm hai mùa rõ rệt:
- Mùa mưa bắt đầu từ tháng 4 và kết thúc vào tháng 10.
- Mùa khô bắt đầu từ tháng 11 và kết thúc vào tháng 4 năm sau.
Lượng mưa trung bình trong năm từ 1800 – 1850 mm nhưng phân bố không
đồng đều, tập trung phần lớn vào mùa mưa. Còn vào mùa khô thì chịu ảnh hưởng

15


của gió Lào từ tây nam thổi vào nên làm cho mùa khô trở nên khô hanh và thiếu
nước nghiêm trọng, gây ra hạn hán.
Nhiệt độ cao nhất trong năm là 32.50C.
Nhiệt độ thấp nhất trong năm là 13.50C.
Nhiệt độ trung bình trong năm là 24.50C.
Độ ẩm trung bình trong năm là 82%.
Với điều kiện khí hậu như vậy đã làm thời tiết của vùng ôn hòa, mát và ẩm rất
thích hợp cho nhiều loại cây trồng, có khả năng thâm canh, tăng vụ.
3.1.1.5. Thảm thực vật
Thị trấn Quảng Phú có diện tích đất rừng ít, cụ thể là 42 ha, chiếm 5,20% tổng
diện tích đất tự nhiên của toàn thị trấn, nhưng tập trung chủ yếu trên đồi CưM’gar.
Tuy nhiên, toàn bộ diện tích đất rừng của thị trấn đều là rừng trồng nên thảm thực
vật ở đây không được đa dạng và phong phú như các khu rừng nguyên sinh khác.
Mặc khác, do là rừng trồng nên phần lớn thảm thực vật ở đây chủ yếu là lau, sậy rất
dễ gây cháy vào mùa khô nên UBND thị trấn luôn tổ chức thực hiện tốt công tác
quản lý, bảo vệ, phòng chống cháy đồi CưM’gar.

3.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội
3.1.2.1. Điều kiện kinh tế
Thị trấn Quảng Phú sản xuất nông nghiệp là chủ yếu, trong đó cây cà phê
đóng vai trò chủ đạo trong thu nhập của người dân, bên cạnh đó còn có các loại cây
khác như tiêu, điều,…Tổng thu nhập kinh tế: 110 tỉ đồng, đạt 100% kế hoạch và
bằng 112% so với năm 2003. Thu nhập bình quân đầu người không đạt kế hoạch do
việc tăng dân số cơ học từ nơi khác đến.
Cụ thể:
* Sản xuất nông nghiệp:
+ Trồng trọt:
Tổng diện tích gieo trồng: 1.894 ha, gồm 456 ha trên địa bàn (không tính
diện tích cao su và đất vườn tạp) và 1.438 ha xâm canh ở địa bàn khác.
Trong đó:
- Cà phê: 1.765 ha (xâm canh: 1.320 ha), Năng suất: 30 tạ/ha. Sản lượng:
5.295 tấn.
16


- Tiêu: 56,8 ha (xâm canh: 46,8 ha), Năng suất: 20 tạ/ha. Sản lượng: 113,6
tấn.
- Điều: 11,2 ha (xâm canh).
- Ruộng nước: 22 ha (xâm canh: 20,5 ha), Năng suất 50 tạ/ha. Sản lượng 110
tấn.
- Cây nông sản ngắn ngày: 40 ha (xâm canh).
- Cây ăn trái (quy đổi): 12 ha (xâm canh: 10 ha).
Do ảnh hưởng của đợt hạn cuối năm nên nhiều diện tích cây ngắn ngày bị mất
trắng và năng suất cà phê giảm, nhưng do giá cà phê có chiều hướng tăng, nên tổng
thu nhập từ trồng trọt đạt 65 tỉ đồng, đạt 100% kế hoạch và bằng 104,8% năm 2003.
+ Chăn nuôi:
Mặc dù bị ảnh hưởng của dịch cúm gia cầm nhưng chăn nuôi đã có những
bước phát triển mới. Chăn nuôi bò và dê có phát triển về số lượng nhưng chủ yếu là
giống địa phương. Công tác phòng trừ dịch bệnh đã thực hiện tốt nên không có dịch
bệnh xảy ra.
- Đàn bò: 152 con, sản lượng 03 tấn thịt.
- Đàn heo: 8.769 con, sản lượng 480 tấn thịt.
- Đàn dê : 397 con, sản lượng 06 tấn thịt.
- Đàn gia cầm: 20.000 con, sản lượng 20 tấn thịt.
- Ong mật: 4.000 đàn, sản lượng 80 tấn mật.
- Cá nước ngọt: 02 ha ( xâm canh: 1,3 ha ), sản lượng 02 tấn.
+ Lâm nghiệp:
Diện tích rừng trồng trên đồi CưM’gar là 42 ha đã được chăm sóc, quản lý tốt,
không có tình trạng chặt phá và cháy rừng xảy ra.
Đã tiến hành thành lập kế hoạch phòng và chữa cháy rừng, thành lập Đội chữa
cháy dân phòng với 09 tổ và 57 thành viên.
* Tài chính ngân sách:
+ Về thu ngân sách: Tổng thu ngân sách chưa đạt chỉ tiêu kế hoạch được giao,
trong đó chủ yếu là thuế ngoài quốc doanh. Nguyên nhân chủ yếu là do giá hàng
hóa tăng, đời sống kinh tế của nhân dân gặp nhiều khó khăn nên sức tiêu thụ chậm,

17


do ý thức chấp hành của người dân còn kém, hoạt động quản lý của địa phương
chưa sâu sát.
+ Về chi ngân sách: việc chi ngân sách đã được thực hiện nghiêm túc theo dự
toán phân bổ ngân sách và kế hoạch chi, đảm bảo phục vụ cho công tác chi hoạt
động cho toàn bộ cơ quan. Trong năm đã phát sinh một số nguồn chi về hoạt động
của UBND, chi phục vụ quốc phòng, VHTT-TDTT, mua sắm sửa chữa tài sản cố
định.
* Quản lý đất đai, xây dựng:
Đã tổ chức xây dựng kế hoạch sử dụng đất đến năm 2010 và đã được HĐND
thị trấn thông qua. Các tranh chấp đất đai đã được giải quyết kịp thời, chính xác.
Tuy nhiên, công tác quản lý đất đai còn lỏng lẻo, chưa sâu sát, cụ thể và chặt
chẽ, chưa phân định rõ và chính xác số liệu từng loại đất, từng khu vực đất trên địa
bàn, thiếu chủ động trong việc thực hiện nhiệm vụ quản lý đất đai trên địa bàn,
trong đó có việc xây dựng kế hoạch sử dụng đất hàng năm. Do nhiều nguyên nhân
khác nhau nên tiến độ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất còn chậm, thời gian
kéo quá dài, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân.
* Giao thông:
Các tuyến đường giao thông trên địa bàn đã được nhân dân thường xuyên tu
sửa để đảm bảo giao thông. Tuy nhiên, do những tháng mưa nhiều và lượng mưa
lớn đã làm một số tuyến đường bị xuống cấp. Việc vận động nhân dân tham gia xây
dựng vỉa hè thuộc công trình xây dựng Tỉnh lộ 8 đang được triển khai thực hiện.
Công trình xây dựng đường nhựa tại Tổ dân phố 03 do huyện bố trí nguồn vốn
chậm nên hiện nay mới bắt đầu tiến hành làm hồ sơ triển khai thực hiện.
Việc thu vốn đối ứng xây dựng giao thông các tuyến Quảng Phú – Ea Mnang,
Quảng Phú – Ea Mdroh và đường vành đai chưa thực hiện được do việc giao chỉ
tiêu của huyện quá cao, không đúng với thực tế, do đời sống nhân dân đang gặp khó
khăn và một số vị trí không xác định được chủ sử dụng.
* Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp:
Chủ yếu là các cơ sở sản xuất nhỏ lẻ của tư nhân. Việc sắp xếp hoạt động
chưa thực hiện được do chưa xây dựng khu công nghiệp tập trung, từ đó dẫn đến
việc hoạt động còn gây ô nhiễm môi trường, mất mỹ quan đô thị. Toàn địa bàn có
18


63 cơ sở Công nghiệp - Tiể thủ công nghiệp gồm: 04 cơ sở xây dựng cơ bản, 14 cơ
sở khí, 08 cơ sở rèn, 06 cơ sở mộc và hàng dân dụng, 09 cơ sở sản xuất ống nước
nhựa, 17 cơ sở sản xuất thực phẩm, 01 cơ sở sản xuất nước đá, 06 cơ sở giày dép.
Tổng thu nhập 11 tỉ đồng, đạt 100% kế hoạch và bằng 137,5% năm 2003.
* Thương mại, dịch vụ:
Mặc dù ban quản lý chợ đã đi vào hoạt động và các hoạt động hỗ trợ của địa
phương diễn ra nhiều nhưng việc sắp xếp trật trự mua bán thực hiện chưa đảm bảo
yêu cầu. Ý thức chấp hành nghĩa vụ thuế của nhân dân chưa đồng đều, một số hộ
chây ỳ, dây dưa nợ thuế và không chấp hành nghĩa vụ thuế. Việc cạnh tranh không
lành mạnh và gian lận vẫn diễn ra. Số hộ hoạt động thương mại và dịch vụ ngày
càng tăng, trong đó thương mại 194 hộ, dịch vụ 136 hộ. Tổng thu nhập 18 tỉ đồng,
đạt 100% kế hoạch và bằng 128,5% năm 2003.
3.1.2.2. Điều kiện văn hóa – xã hội
* Giáo dục:
Năm học 2003-2004 đã kết thúc với chất lượng đạt khá. Có 5/6 trường đạt
trường tiên tiến, 42 giáo viên dạy giỏi cấp huyện, 2 giáo viên dạy giỏi cấp tỉnh, 30%
giáo viên thị trấn được công nhận lao động giỏi loại A, 45 giáo viên đạt lao động
giỏi xuất sắc, 06 giáo viên đạt chiến sĩ thi đua. Có 110 học sinh đạt danh hiệu học
sinh giỏi cấp huyện, 18 học sinh giỏi cấp tỉnh. Tốt nghiệp tiểu học đạt 100%, tốt
nghiệp THCS đạt 99,3% và trên 45% cháu mẫu giáo đạt danh hiệu Cháu ngoan Bác
Hồ.
* Y tế:
Đã tiến hành thực hiện công tác y tế theo 10 chuẩn quốc gia. Qua kiểm tra đã
đạt 6/10 chuẩn Quốc gia về y tế và trên địa bàn không có dịch bệnh xảy ra.
Tiêm chủng mở rộng đạt 97%. Tỉ lệ trẻ suy dinh dưỡng đạt 26%. Quản lý 57
bệnh nhân tâm thần, 01 bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS.
Kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm 87 cơ sở, có 30 cơ sở vi phạm, nhắc nhở
27 cơ sở, chuyển huyện xử lý 30 cơ sở.
Tại trạm y tế đã trang bị 01 điện thoại, bắt hệ thống nước máy, làm mái che
trước hiên và láng xi măng đường đi vào trạm để phục vụ công tác khám chữa bệnh.
* Thương binh – xã hội:
19


Đã hoàn thành công tác kê khai thành tích kháng chiến cho đối tượng chính
sách và đã được cấp trên công nhận.
- Xây dựng quỹ đền ơn đáp nghĩa được 140.320.000 đồng, làm hồ sơ hưởng
chế độ bảo trợ xã hội cho 11 đối tượng.
- Tặng 60 xuất quà cho đối tượng chính sách nhân dịp tết Nguyên đán và ngày
27/7 trị giá 1.650.000 đồng. Hỗ trợ sửa chữa nhà ở cho 3 đối tượng với số tiền
15.000.000 đồng.
- Điều tra đối tượng bảo trợ xã hội: 251 đối tượng, trong đó: tàn tật là 127 đối
tượng, trẻ mồ côi là 99 đối tượng và người già cô đơn là 25 đối tượng.
- Tổng số hộ nghèo là 137, trong đó có 27 hộ nghèo phát sinh mới, xét giảm
hộ nghèo được 30 hộ. Hiện nay đã có 02 hộ chuyển nơi cư trú nên tổng số còn lại là
105 hộ, chiếm 3,62% tổng số hộ trên địa bàn. Việc thực hiện chương trình xóa đói
giảm nghèo còn chậm, chưa xây dựng được mô hình giảm nghèo, chưa kiểm tra xóa
nghèo cho những hộ đủ điều kiện theo quy định.
* Văn hóa thông tin - Thể dục thể thao:
- Về công tác thông tin tuyên truyền: Tổ chức tuyên truyền luật bầu cử HĐND
các cấp. Trang trí khánh tiết phục vụ các buổi hội nghị, đại hội, phục vụ cuộc bầu
cử HĐND các cấp, các ngày lễ lớn trong năm.
- Về hoạt động TDTT: Tổ chức tốt hoạt động hè cho thiếu nhi. Kết hợp cùng
khối Dân vận thị trấn tổ chức hội thao chào mừng ngày truyền thống Dân vận của
Đảng.
- Công tác xây dựng đời sống văn hóa: Triển khai xét duyệt và công nhận
danh hiệu gia đình văn hóa cho 07 Tổ dân phố đã ra mắt và đã có 2.773 hộ đạt danh
hiệu gia đình văn hóa. Hoàn tất hồ sơ, đã được UBND huyện phê duyệt Quy ước Tổ
dân phố văn hóa tại tổ 08 và đã tiến hành ra mắt trong tháng 12 năm 2004.
- Công tác quản lý các hoạt động văn hóa: đã tiến hành kiểm tra xử lý 02
trường hợp kinh doanh băng đĩa với hình thức cảnh cáo nhắc nhở. Tham gia cùng
đoàn 814 của huyện tiến hành kiểm tra phát hiện và xử lý 06 trường hợp kinh doanh
băng đĩa và 01 trường hợp kinh doanh karaoke không có giấy phép kinh doanh
chuyển về huyện xử lý.
* An ninh, Quốc phòng:
20


+ An ninh: Trong năm 2004, tình hình thế giới và trong nước cũng như ở địa
phương tiếp tục có những diễn biến khá phức tạp, các thế lực thù địch tìm mọi cách
chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc dưới nhiều hình thức khác nhau.
Năm 2004 nổi lên đáng chú ý là sự kiện ngày 10/4, địa bàn Tây nguyên nói
chung và huyện CưM’gar nói riêng có một số đồng bào dân tộc ít người bị bọn phản
động dụ dỗ, mua chuộc, lôi kéo đã có những hành vi tổ chức gây rối trật tự công
cộng, chống người thi hành công vụ, vượt biên trái phép,…
Do ảnh hưởng của các hoạt động bạo loạn trên địa bàn huyện nên tình an ninh
trật tự trên địa bàn thị trấn cũng có những diễn biến phức tạp. Tuy nhiên, do thực
hiện tốt công tác trực, tuần tra, bám sát cơ sở của lực lượng Công an thị trấn và sự
hoạt động tích cực của các Ban bảo vệ dân phố nên tình hình an ninh chính trị trên
địa bàn được giữ vững.
+ Quốc phòng:
- Xây dựng lực lượng: Tổng quân số gồm 212 đồng chí, chiếm 1,5% dân số.
Gồm: 01 trung đội cơ động huyện 25 đồng chí; 01 trung đội cơ động thị trấn 24
đồng chí; 01 trung đội và 07 tiểu đội dân quân tại chỗ tại 08 Tổ dân phố; 01 tiểu đội
công binh 09 đồng chí; 01 tiểu đội nữ cối 60 ly 12 đồng chí và tổ trinh sát 09 đồng
chí.
- Công tác trực, tuần tra canh gác: Kết hợp với lực lượng công an thực hiện tốt
nhiệm vụ tuần tra trên địa bàn. Tuy nhiên, ý thức chấp hành kỷ luật của chiến sĩ
chưa tốt, vẫn còn chiến sĩ vi phạm kỷ luật, vi phạm pháp luật.

3.2. Nội dung nghiên cứu
Tìm hiểu hiệu quả về sản xuất cà phê của các nông hộ trên địa bàn nghiên cứu.

3.3. Phương pháp nghiên cứu
3.3.1. Phương pháp thu thập số liệu
* Phương pháp thu thập số liệu gián tiếp
Thu thập số liệu thông qua các tài liệu, các sách báo, các báo cáo hàng năm …
* Phương pháp thu thập số liệu trực tiếp
Tôi tiến hành phỏng vấn bằng phiếu điều tra đối với các hộ nông dân trồng cà
phê trên địa bàn thị trấn Quảng Phú - huyện Cư’Mgar - tỉnh Đăklăk.
3.3.2. Phương pháp chọn mẫu
21


* Tiêu chuẩn phân loại hộ:
Theo quyết định số 1143/ 2000 BLĐ – TBXH ra ngày 01/11/2000, quy định
mức thu nhập bình quân đầu người đối với vùng nông thôn miền núi là:
- Hộ đói: Mức thu nhập bình quân/ người < 80.000 đồng/ tháng.
- Hộ nghèo: Mức thu nhập bình quân/ người từ 80.000 – 100.000 đồng/ tháng.
- Hộ trung bình: Mức thu nhập bình quân/ người từ 100.000 – 200.000 đồng/
tháng.
- Hộ khá: Mức thu nhập bình quân/ người từ 200.000 – 400.000 đồng/ tháng.
- Hộ giàu: Mức thu nhập bình quân/ người > 400.000 đồng/ tháng.
Dựa vào tiêu chuẩn trên, trong đề tài này chúng tôi phân loại các hộ ở xã ra
làm 4 nhóm hộ chính: Nhóm hộ giàu, nhóm hộ khá, nhóm hộ trung bình, và nhóm
hộ nghèo.
Trên cơ sở phân loại hộ, tôi lựa chọn những hộ trồng cà phê có diện tích từ 0,5
ha cà phê kinh doanh ổn định trở lên, đại diện cho bốn nhóm hộ giàu, khá, trung
bình và nghèo của thị trấn. Việc chọn những hộ có diện tích từ 0,5 ha trở lên nhằm
đảm bảo cho việc đánh giá chính xác hơn.
Đây là cách chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng: là việc phân các đối tượng
nghiên cứu thành các nhóm, tầng theo các đặc tính, sau đó lấy mẫu ngẫu nhiên theo
nhóm.
* Dung lượng mẫu
Để tiết kiệm thời gian và chi phí nhưng dung lượng mẫu vẫn mang tính đại
diện cho các nông hộ trồng cà phê của thị trấn, tôi tiến hành điều tra, phỏng vấn mội
nhóm hộ là 30 hộ (tổng số hộ là 120 hộ).
3.3.3. Phương pháp xử lý số liệu
Các số liệu, thông tin thu thập được tiến hành phân tổ, tổng hợp các số liệu
theo chỉ tiêu cụ thể, sàng lọc, lựa chọn các thông tin thích hợp làm cơ sở cho đề tài.
Dùng chỉ tiêu thống kê thông thường như số trung bình để tổng hợp và phân tích số
liệu.

3.3.4. Các chỉ tiêu đánh giá
22


* Diện tích, sản lượng và năng suất bình quân
* Tổng thu
Công thức: TR = P*Q
Trong đó: TR: Tổng thu
P: Giá bán
Q: Sản lượng bán
* Chi phí lao động gia đình: ở đây tôi tính công lao động gia đình bằng cách
lấy số ngày công lao động của họ làm việc trong một năm rồi nhân với số tiền phải
trả cho một công lao động.
Số ngày làm việc của các nhóm hộ:
+ Hộ giàu: 120 ngày/năm.
+ Hộ khá: 135 ngày/năm.
+ Hộ trung bình: 160 ngày/năm.
+ Hộ nghèo: 168 ngày/năm.
Cách tính: Lao động gia đình = Số ngày làm việc * Đơn giá
Trong đó: Đơn giá là chi phí phải trả cho 1 công lao động. Chi phí cho 1 công
lao động là 30.000 đồng.
* Thu nhập thuần của nông hộ: vì có những năm giá cả biến động mạnh,
thời tiết thay đổi làm năng suất cà phê giảm, giá giảm dẫn đến tổng thu giảm. Để có
thể vẫn tiến hành sản xuất được thì “tổng thu = tổng chi phí khả biến”, vì vậy phải
tính chỉ tiêu này để biết được có nên tiến hành sản xuất nữa hay không.
Công thức:
Thu nhập thuần = Tổng thu – Chi phí khả biến
* Lãi thuần (lợi nhuận)
Công thức:
Lãi thuần = Thu nhập thuần – Chi phí cố định
Hay: Lãi thuần = Tổng thu - Tổng chi phí
Trong đó: Tổng chi phí = Chi phí khả biến + Chi phí cố định
* Tổng chi phí/ha
Phản ánh mức độ đầu tư cho sản xuất cà phê của các nhóm hộ.
Tổng chi phí bao gồm: Chi phí khả biến và chi phí cố định.
23


* Chi phí lãi vốn vay: vì các hộ nông dân ở đây vay vốn không phải chỉ dùng
cho sản xuất cà phê nên tôi lấy 70% tổng số vốn vay của hộ dùng cho sản xuất cà
phê.
* Tỷ suất thu nhập(T)
Thể hiện một đồng chi phí bỏ ra thì thu được bao nhiêu đồng thu nhập.
Công thức: T = Th/C
Trong đó: Th: Thu nhập thuần
C: Chi phí khả biến
* Tỷ suất lợi nhuận
Thể hiện khi bỏ ra 1 đồng chi phí thì sẽ thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận.
Công thức:
Tỷ suất lợi nhuận = Lợi nhuận/ Tổng chi phí
* Thu nhập/nhân khẩu
Phản ánh mức sống bình quân của các thành viên trong nông hộ.
* Thu nhập/ha
Được tính bằng tổng thu từ cà phê/ tổng diện tích trồng cà phê.
Phản ánh hiệu quả kinh tế đem lại trên một đơn vị diện tích.
* Chi phí khả biến: là những chi phí thay đổi khi mức đầu ra thay đổi hoặc
khi quy mô của hoạt động sản xuất thay đổi.
* Chi phí cố định: là những chi phí không thay đổi khi mức độ sản xuất thay
đổi, đó là các chi phí về tài sản cố định như máy móc, đất đai,...Chi phí cố định
thường được tính bằng việc khấu hao các tài sản cố định hàng năm, do vậy chi phí
này là chi phí tiền mặt.
* Phương pháp khấu hao: Ở đây tôi sử dụng phương pháp khấu hao theo
đường thẳng.
Công thức:
KH = (Giá mua – Giá thanh lý)/ Thời gian sử dụng
Giá thanh lý: Vào thời điểm hết hạn sử dụng đối với các tư liệu sản xuất tôi
coi như giá thanh lý không có ý nghĩa và bằng không.
Máy cày, máy bơm, máy xay xát: tính khấu hao trong 15 năm.
Ống tưới: tính khấu hao trong 10 năm.
24


Giếng nước: đa phần được sử dụng vĩnh viễn nhưng có những yếu tố ngoại
cảnh có thể tác động làm cho thời gian sử dụng của giếng nước ngắn lại. Vì vậy ở
đây tôi tính khấu hao cho giếng nước trong 20 năm.
* Giá trị hiện tại ròng của cà phê: Thể hiện giá trị hiện tại thu được của một
quy trình sản xuất 1 ha cà phê sau khi đã trừ đi chi phí.
t

NPV = ∑
n =0

Bt − Ct
(1 + i ) t

Trong đó:
i: là tỷ suất chiết khấu.
Ở đây lấy theo lãi suất của NHNN & PTNT là 13,8%. ( 1,15%/tháng).
Bt: là doanh thu năm thứ t.
Ct: là chi phí năm thứ t.
t: là thời gian (20 năm).
Vì chi phí thời kỳ kiến thiết cơ bản các hộ không nhớ nên tôi tham khảo chi
phí thời kỳ kiến thiết cơ bản của công ty cà phê Eapôk.
Vốn đầu tư ban đầu: 12.252.700 đồng/ha.
Chi phí kiến thiết cơ bản:
+ Năm 1: 10.716.542 đồng/ha.
+ Năm 2: 13.573.321 đồng/ha.
+ Năm 3: 15.210.350 đồng/ha.
+ Năm 4: 15.373.000 đồng/ha.
Đối với chi phí thời kỳ kinh doanh (16 năm) thì tôi lấy doanh thu và chi phí
của các nông hộ trong năm 2004 làm doanh thu và chi phí cho toàn bộ thời kỳ kinh
doanh.
* Tỷ số doanh lợi

B
:nói lên việc đầu tư của một dự án có hiệu quả hay
C

không
B PNB
=
C PNC

Trong đó:
PVB: là những khoản thu nhập tính ở hiện tại.

25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×