Tải bản đầy đủ

So sánh hiệu quả kinh tế giữa bông và cây đậu tương của nông hộ tại xã EaM’nang,huyện CưM’Gar,tỉnh DakLăk

PHẦN THỨ NHẤT
MỞ ĐẦU
1.1-Đặt vấn đề
Đất nước ta đang trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Để đưa đất nước tiến nhanh lên
chủ nghĩa xã hội thì sự nghiệp CNH-HĐH đất nước được Đảng và nhà nước xác định là động lực to
lớn, đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế. Trong những năm đầu của sự
nghiệp CNH-HĐH đất nước, tất cả mọi ngành, mọi thành phần kinh tế, mọi lĩnh vực cần được phát
huy cao độ và đồng bộ, tạo điều kiện cho nhau cùng phát triển.
Nông nghiệp nông thôn với hơn 70% lao động, là nơi tập trung phần lớn dân cư ( hơn 10
triệu hộ ); là ngành sản xuất ra lương thực, thực phẩm nuôi sống toàn bộ xã hội. Nó là cơ sở và là
nền tảng vững chắc để đảm bảo an ninh lương thực và an toàn xã hội. Trên thực tế nước ta vẫn còn
là một nước nông nghiệp lạc hậu, sản xuất manh mún, tự phát. Năng suất lao động thấp gây khó
khăn cho việc nâng cao đời sống của nhân dân và việc đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế đất
nước.
Nằm trong cơ cấu kinh tế của huyện CưM’Gar-Tỉnh DakLăk, EaM’nang là xã nông nghiệp
có diện tích tương đối lớn, điều kiện phát triển kinh tế có nhiều thuận lợi cũng như khó khăn. Trong
những năm gần đây, giá cả cà phê diễn biến thất thường, có thời kỳ xuống quá thấp làm cho đời
sống người trồng cà phê gặp nhiều khó khăn. Do vậy, việc đa dạng hoá cây trồng để thu nhập ổn
định đang cứu cánh cho các hộ nông dân chuyên canh. Đa dạng hoá là một trong những giải pháp
được ứng dụng phổ biến song hiện nay việc trồng cây gì? nuôi con gì? cho hiệu quả kinh tế để cải
thiện thu nhập cho hộ là một bài toán khó. Cây công nghiệp ngắn ngày đang được bà con nông dân

nơi đây quan tâm vì nó phù hợp với điều kiện của địa phương khi mà nguồn nuớc tưới cho cây công
nghiệp dài ngày càng ngày càng cạn kiệt. Xuất phát từ yêu cầu trên chúng tôi tiến hành thực hiện đê
tài”So sánh hiệu quả kinh tế giữa bông và cây đậu tương của nông hộ tại xã EaM’nang,huyện
CưM’Gar,tỉnh DakLăk”.
1.2-Mục tiêu nghiên cứu
 Tìm thực trạng hiệu quả kinh tế sản xuất cây bông và cây đậu tương của nông hộ tại địa
bàn nghiên cứu.
 Đưa ra giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất của vấn đề nghiên cứu.
 Tìm hiểu những mặt thuận lợi và khó khăn của việc sản xuất cây bông và cây đậu tương
của nông hộ, nguyên nhân của thực trạng, những tồn tại cần được giải quyết.
1 -phạm vi -nội dung nghiên cứu
1.3- Đối tượng


1.3.1-Đối tượng nghiên cứu:
- Nông hộ tại xã EaM’nang-Huyện -CưM’Gar-tỉnh DăkLăk.
1.3.2-Phạm vi nghiên cứu
- Địa điểm nghiên cứu: Xã EaM’nang-huyện CưM’Gar-tỉnh DăkLăk.
- Thu thập số liệu về cây bông vụ 2 và và cây đậu tương của vụ 2 năm 2004.
1.3.3-Nội dung nghiên cứu
- Nhân khẩu và lao động
- Tình hình sử dụng đất đai của nông hộ năm 2004
- Tình hình trang bị tư liệu sản xuất
- Tình hình vốn sản xuất của nông hộ
- Chi phí và thu nhập của nông hộ đối với cây bông vải và cây đậu tương trong vụ 2 năm
2004.
- So sánh hiệu quả cây bông vải và cây đậu tương.
PHẦN THỨ HAI
TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
2.1. Cơ sở lý luận
2.1.1.Các quan điểm về hiệu quả và hiệu quả kinh tế
Khái niệm về hiệu quả: hiệu quả là khái niệm dùng để chỉ mối quan hệ giữa kết quả thực
hiện các mục tiêu hoạt động cụ thể của chủ thể và chi phí mà chủ thể bỏ ra để có kết quả đó trong
những điều kiện nhất định.[2]
Hiệu quả tổng hợp bao gồm: Hiệu quả kinh tế, hiệu quả chính trị xã hội, hiệu quả trực tiếp,
hiệu quả gián tiếp, hiệu quả tương đối và hiệu quả tuyệt đối vv…
Hiệu quả kỹ thuật: Hiệu quả kỹ thuật là số lượng sản phẩm có thể đạt được trên một chi phí
đầu vào hay nguồn lực sử dụng vào sản xuất trong điều kiện cụ thể về kỹ thuật hay công nghệ áp
dụng vào nông nghiệp. Hiệu quả này thường được phản ánh trong mối quan hệ về các hàm sản xuất
và liên quan đến phương diện vật chất sản xuất. Nó chỉ ra rằng một đơn vị nguồn lực dùng vào sản

xuất đem lại bao nhiêu đơn vị sản phẩm. Hiệu quả kỹ thuật của việc sử dụng các nguồn lực được thể
hiện thông qua các mối quan hệ giữa đầu vào và đầu ra, giữa các đầu vào với nhau và giữa các sản
phẩm khi nông dân quyết định sản xuất.[2]
Hiệu quả phân bổ: là chỉ tiêu hiệu quả trong các yếu tố gía sản phẩm và đầu vào được tính để
phản ánh giá trị sản phẩm thu thêm trên một đồng chi phí chi thêm về đầu vào hay nguồn lực. Thực
chất hiệu quả kỹ thuật có tính đến các yếu tố giá của đầu vào và giá của đầu ra, việc xác định hiệu
quả này giống như xác định các điều kiện lý thuyết biên để tối đa hoá lợi nhuận.[3]
2


Hiệu quả kinh tế: là phạm trù kinh tế mà trong đó sản xuất đạt cả hiệu quả kỹ thuật và hiệu
quả phân bổ, điều này có nghĩa là cả hai yếu tố hiện vật và giá trị đều tính đến khi xem xét việc sử
dụng các nguồn lực trong nông nghiệp. Nếu đạt được một trong các yếu tố hiệu quả kỹ thuật hay
hiệu quả phân bổ mới là điều kiện cần chứ chưa phải là điều kiện đủ cho hiệu quả kinh tế. Chỉ khi
nào việc sử dụng các nguồn lực đạt cả hai chỉ tiêu hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân bổ thì khi đó
sản xuất mới đạt hiệu quả kinh tế.
Hiệu quả là phạm trù phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực để đạt kết quả nhất định.
Trình độ lợi dụng các nguồn lực không thể đo bằng các đơn vị hiện vật hay giá trị mà là một phạm
trù tương đối.
Vì vậy có thể mô tả hiệu quả ở dạng chung nhất bằng công thức: H = K/C
Trong đó: H: là hiệu quả sản xuất kinh doanh.
K: là kết quả đầu ra đạt được trong sản xuất kinh doanh.
C: là hao phí nguồn lực cần thiết gắn với kết qủa đó.
 Quan điểm 1: Hiệu quả kinh tế được xác định bởi kết quả đạt được và chi phí bỏ ra để đạt
được kết quả đó.
Công thức: H = Q/C
Trong đó: H: hiệu quả kinh tế.
Q: kết quả đầu ra.
C: chi phí sản xuất.
Quan điểm 2: Hiệu quả kinh tế được đo bằng hiệu số giữa kết quả đạt được và chi phí bỏ ra
để đạt được kết quả đó.
Công thức tính:

H= Q-C

Trong đó
H: hiệu quả
Q: kết quả đầu ra
C: chi phí
 Quan điểm 3: Hiệu quả kinh tế được xem xét trong phần biến động giữa chi phí và kết quả
sản xuất. Nó được biểu hiện ở quan hệ tỷ lệ giữa phần tăng thêm của kết quả và phần tăng thêm của
chi phí.
Công thức tính:
Hiệu quả kinh tế = Gia tăng giá trị sản xuất/gia tăng chi phí bỏ ra
Ở đây, hiệu quả kinh tế mới chỉ quan tâm đến phần tăng thêm mà không đánh giá chúng
trong quá trình hoạt động. Tuy nhiên, khi đánh giá hiệu quả tiến bộ khoa học kỹ thuật và trong đánh
giá lựa chọn3phương án sản xuất thì quan điểm này tỏ ra thích hợp.


Trong nông nghiệp, khi đề cập đến hiệu quả kinh tế chúng ta thường nói đến hiệu quả sử
dụng đất đai, lao động, vốn...Vậy hiệu quả kinh tế như thế nào cho đúng? Về hiệu quả sản xuất
trong nông nghiệp đã được nhiều tác giả bàn đến như: Farrell (1975), Ellis (1993) ... các học thuyết
đều đi đến thống nhất là cần phân biệt rõ ba khái niệm cơ bản về hiệu quả: Hiệu quả kỹ thuật, hiệu
quả phân bổ các nguồn lực và hiệu quả kinh tế .
- Hiệu quả kỹ thuật là số lượng sản phẩm có thể đạt được trên một
chi phí đầu vào hay nguồn lực sử dụng vào sản xuất trong điều kiện cụ thể về kỹ thuật hay công
nghệ áp dụng vào nông nghiệp.[4]
 Nội dung và bản chất của hiệu quả kinh tế:
 Nội dung hiệu quả kinh tế:
-Xác định các yếu tố đầu ra: Đây là công việc xác định mục tiêu đạt được, các kết quả đạt
được có thể là: giá trị sản xuất, khối lượng sản phẩm, giá trị sản phẩm, giá trị tăng thêm, lợi nhuận.
-Xác định các yếu tố đầu vào: Đó là chi phí sản xuất, chi phí dịch vụ, chi phí lao động ....
 Bản chất hiệu quả kinh tế:
Bản chất hiệu quả kinh tế là sự gắn kết mối quan hệ giữa kết quả và chi phí. Tiêu chuẩn của
hiệu quả kinh tế là sự tối đa hoá kết quả và tối thiểu hoá chi phí trong điều kịên tài nguyên có hạn.
Tuỳ từng ngành từng mức độ mà ta xác định đâu là kết quả đâu là hiệu quả.[5]
 Một số khái niệm về hiệu quả kinh tế
- Khái niệm về chi phí: Chi phí là những khoản hao phí về vật tư, tiền và lao động để hoàn
thành một quá trình sản xuất nào đó.
- Chi phí sản xuất trong nông hộ là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các hao phí về lao động
sống và lao động vật hoá mà nông hộ phải bỏ ra để tíên hành các hoạt động sản xuất trong một quá
trình nhất định.
- Khái niệm về tổng thu: tổng thu là thu của người lao động về một hay nhiều hoạt động sản
xuất nào đó nhưng chưa trừ đi chi phí.
- Khái niệm về thu nhập: Thu nhập là tổng thu của người lao động sau khi đã trừ đi chi phí
sản xuất và thuế.
2.1.2. Một số vấn đề liên quan đến đề tài nghiên cứu
 Chính sách của đảng và nhà nước liên quan đến đề tài nghiên cứu
2.2. Cơ sở thực tiễn
2.2.1.Vài nét về thực trạng kinh tế nông hộ Việt Nam
Như chúng ta đã biết nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất không thể thay thế trong nền kinh
tế quốc dân, nó là ngành sản xuất ra lương thực và thực phẩm nuôi sống toàn bộ xã hội. Nước ta
đang trong thời
4 kỳ CNH-HĐH, nền kinh tế còn lạc hậu, muốn đẩy nhanh công cuộc xây dựng chủ


nghĩa xã hội thì cần phải đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế, ổn định chính trị và an ninh quốc gia.
Để làm được điều đó đòi hỏi phải đảm bảo an ninh lương thực cho toàn bộ xã hội. Tuy là một nước
xuất khẩu gạo đứng thứ hai thế giới, một số mặt hàng nông sản khác chiếm thứ hạng khá cao. Song
nhìn chung mức sống của người dân đặc biệt là nông dân nước ta còn rất thấp. Nguyên nhân là do
năng suất lao động của nứơc ta chưa cao, trình độ dân trí còn thấp. Người nông dân chủ yếu sản
xuất dựa vào điều kiện tự nhiên và kinh nghiệm từ những người đi trước. Trong khi đó hiện nay,
nguồn vốn phục vụ sản xuất còn thiếu hụt. Mặt khác, mật độ dân số nước ta cao. Bình quân diện
tích đất bình quân đầu người thấp. Lao động dôi dư trong nông nghiệp còn khá lớn. Theo tài liệu
ngày 01/04/1999 thì dân số nước ta là 76.324.753 người. Tốc độ tăng dân số tự nhiên hiện nay là
1,7%; trong khi đó dân số nông thôn là 65.707.000 người, hàng năm số người đến độ tuổi lao động
bổ sung vào lực lượng lao động hàng triệu lao động. Trình độ tiếp thu khoa học ký thuật còn hạn
chế. Tuy nhiên, mặt tích cực của lao động nước ta là tính cần cù chịu khó, khả năng thích ứng với
công việc cao, tư chất thông minh và tính chịu đựng gian khổ là điều kiện thuận lợi để phát huy
nguồn lực lao động vào việc nâng cao hiệu quả sản xuất. Hiện nay, một số bộ phận lớn nông dân
tiên tiến giám nghĩ giám làm, muốn làm Giàu trên chính mảnh ruộng quê hương mình và vì vậy họ
có nhu cầu vay vốn rất lớn để đầu tư sản xuất. Song, vấn đề trồng cây gì? nuôi con gì? cho hiệu quả
kinh tế cao vẫn đang nỗi băn khoăn, chăn trở của các nông hộ.
Daklak là một trong năm tỉnh Tây Nguyên có diện tích lớn nhất cả nước (1.308.474 ha). Với
lợi thế về vị trí địa lý, có nhiều điều kiện giao lưu, buôn bán, trao đổi hàng hoá, mở rộng thị trường
với các tỉnh bạn và các nước trong khu vực. Quỹ đất đỏ bazan lớn trên 720.000 ha, đất tốt, địa hình
tương đối bằng phẳng, mật độ dân số thấp̣̣ (124 người/km 2), tiềm năng đất có khả năng phát triển
nông nghiệp lớn cộng với khí hậu ôn hoà, có nhiều vùng sinh thái thích hợp phát triển một nền nông
nghiệp đa dạng với các cây trồng đem lại hiệu quả kinh tế cao. Trong những năm gần đây, giá cả
mặt hàng cà phê xuống thấp và không ổn định làm cho đời sống của người trồng cà phê gặp nhiều
khó khăn. Vì vậy, giải pháp nâng cao thu nhập cho người nông dân là gì? đang là một bài toán khó
mà thực tiễn đặt ra cần phải giải quyết.
2.2.2.Tình hình sản xuất cây bông và cây đậu tương trên thế giới và Việt Nam
2.2.2.1. Tình hình sản xuất cây cây bông
a. Tình hình sản xuất cây cây bông trên thế giới
Cây bông vải tên khoa học là Gossypium Malvacearum được trồng rất lâu đời cách đây
khoảng 5000 năm ở vùng Môhenzô Đarô (Ấn Độ) và thung lũng Indus (Pakistan). Tuy vậy, khoảng
200 năm trở lại đây khi khoa học kỹ thuật phát triển, các máy cán bông và dệt vải ra đời thì nghề
trồng bông mới thực sự phát triển rộng rãi. Hiện nay trên thế giới có khoảng 79 nước trồng bông,
5 nước trồng với diện tích lớn. Diện tích bông trên thế giới trong những năm 80-90 thế
trong đó có 69


kỷ 20 đạt tới 31-35 triệu ha. Hai nước có diện tích bông đứng đầu thế giới là Ấn Độ (7,5-8 triệu
ha/năm) và Trung Quốc (5-5,5 triệu ha/năm). Năng suất cao nhất là ở Úc đạt tới 3,7-4 tấn/ha, Trung
Quốc là 2,3-2,7 tấn/ha, Lào là 2,1-2,5 tấn/ha. Nước có năng suất thấp nhất là Myanma chỉ đạt 78 kg
xơ/ha. Giá cả bông thời kỳ này giao động từ 1.6-2.2 USD/kg bông xơ.[7]
b. Tình hình sản xuất cây cây bông ở Việt Nam
Cây bông ở nước ta được trồng từ lâu đời, tuy nhiên quá trình phát triển có nhiều thăng trầm.
Nghề trồng bông vải ở nước ta đã có từ thế kỷ thứ XV. Thời kỳ Pháp thuộc thực dân Pháp đã nhiều
lần chú trọng mở rộng diện tích bông, nhưng do điều kiện kỹ thuật lúc bầy giờ còn hạn chế nên việc
trồng bông bị thất bại.
Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, nước ta đã hình thành một số vùng trồng bông
phục vụ nhu cầu vải cho nhân dân nổi tiếng như ở khu 5 với loại vải Xita. Sau ngày hoà bình lặp lại,
nước ta thi hành nhiều chính sách, biện pháp để phát triển nghề trồng bông. Song do chiến tranh và
một số trở ngại về điều kiện tự nhiên và kỹ thuật nên sản xuất bông thời kỳ này không ổn định. Năm
1976-1990 diện tích trồng bông ở nước ta có khoảng 14.000-16.000 ha, sản lượng bông xơ đạt
1.300-1.500 tấn/năm chủ yếu là bông ở miền núi phía bắc do đồng bào dân tộc thiểu số trồng, trong
khi nhu cầu tiêu thụ giai đoạn này là khoảng từ 60.000-65.000 tấn/năm.
Ở DakLak cây bông cũng được trồng từ rất lâu do đồng bào nơi đây trồng để tự cung tụ cấp
phục vụ nhu cầu của cộng đồng sở tại. Năm 1983 bộ Nông Nghiệp đã thông qua chiến lược phát
triển cây bông và tổ chức sản xuất bông hàng hoá từ trong nhân dân là chính. Năm 1991 thực hiện
chỉ thị của HĐBT về việc trồng bông, tỉnh Daklak đã đưa ra nghị quyết HĐND tỉnh tại kỳ họp thứ 5
khoá VII và chỉ thị 08/CT-UB ngày 22/02/1991 về việc phát triển bông vải trên địa bàn tỉnh. Năm
1991 toàn tỉnh ĐăkLăk trồng được khoảng 3000 ha. Năm 1990 Công ty bông Trung ương đã trồng
thử nghiệm 200 ha bông tại huyện EaKar-DakLak, năng suất đạt 8-10 tạ/ha, đặc biệt có hộ gia đình
đạt 15-18 tạ/ha. Hiện nay năng suất bông đã được nâng lên rất nhiều, có hộ gia đình đạt trên 30
tạ/ha. Các vùng được xác định là cho năng xuất cao là Đông Nam Bộ và Tây Nguyên.[8]
c. Ý nghĩa của cây bông
Cây bông là loại cây công nghiệp có giá trị kinh tế. Vải sợi bông đước ưa chuộng hơn vải
tổng hợp do đặc tính sinh học của nó. Nhu cầu bông xơ ngày càng tăng lên. Ngoài sản phẩm chính
là bông xơ, hạt bông còn là sản phẩm quan trọng trong công nghiệp để chế biến dầu ăn. Dầu bông
dùng làm nguyên liệu công nghiệp, làm xà phòng, bã được dùng làm thức ăn cho gia súc…với ý
nghĩa đó, cây bông ngày càng được con người quan tâm phát triển và do vậy nó ngày càng có chỗ
đứng trên thị trường.
2.1.2.2. Tình hình sản xuất cây đậu tương
a. Nguồn
6 gốc ra đời của cây đậu tương


b. Tình hình sản xuất cây đậu tương trên thế giới
 Về năng suất:
 Về tình hình xuất khẩu:
c. Tình hình sản xuất cây đậu tương ở Việt Nam
Cây đậu tương đã có lịch sử trông từ lâu đời và đã trở thành một trong những cây thực phẩm
quan trọng trong đời sống nhân dân từ miền xuôi đến miền ngược khắp cả nước. Nông dân cũng đã
có nhiều kinh nghiệm trồng trọt phong phú và có những giống địa phương mang nhiều tính trạng
quí.
Ở miền Bắc nước ta năm 1967 có diện tích đậu tương cao nhất (trên 30.000 ha). Từ năm
1970, diện tích và sản lượng bị giảm nghiêm trọng. Tuy nhiên nhiều vùng, nhiều hợp tác xã vẫn giữ
vững và phát triển phong trào đậu tương và đã trở thành những điển hình của mìên bắc.
Ở miền Nam trước ngày giải phóng, cây đậu tương được trồng ở một số nơi như: Lâm Đồng,
Đồng Nai, Hậu Giang, An Giang... năm 1973 đã đạt diện tích11.150ha và đã có những điển hình đạt
năng suất cao.
Về năng suất ở nước ta trước đây còn thấp. Hiện nay, năng suất đã được nâng lên rất nhiều
(trên dưới 20 tạ/ha).
 Về thị trường:
Hiện nay tình hình sản xuất đậu tương ở nước ta chưa đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng trong
nước cũng như chưa trở thành hàng hoá xuất khẩu tương xứng với tiềm năng của nó.[10]
d. Ý nghĩa của cây đậu tương.
- Ý nghĩa về giá trị dinh dưỡng: hạt đậu tương chứa nhiều Prôtêin và có một hàm lượng dầu
đáng kể.
- Ý nghĩa về kinh tế: Đậu tương được sử dụng rất nhiều trong đời sống. Nó là nguồn thực
phẩm quan trọng cho con người. Trước đây ở châu Mỹ, người ta trồng đậu tương lấy thân và lá cho
gia súc. Hiện nay đậu tương được ứng dụng nhiều trong công nghiệp chế biến thực phẩm như:
người ta dùng để ép dầu, chế biến bột đậu tương, chế biến sữa đậu tương, làm thực phẩm lên men...
PHẦN THỨ BA
ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Đặc điểm địa bàn
3.1.1. Điều kiện tự nhiên
3.1.1.1. Vị trí địa lý
3.1.1.2. Khí hậu thời tiết
3.1.4.4.Tài nguyên thiên nhiên
a. Tài nguyên nước (Thuỷ văn)
b. Tài7nguyên đất


c. Tài nguyên khác
 Tài nguyên rừng:
 Cảnh quan và môi trường
• Nhận xét chung
 Thuận lợi:
 Khó khăn:
3.1.2. Điều kiện kinh- tế xã hội
3.1.2.1. Ngành nông nghiệp
a.Về trồng trọt
 Cây lương thực và cây thực phẩm
 Cây công nghiệp hàng năm
 Cây công nghiệp dài ngày
b. Chăn nuôi :
3.1.2.2. Thương mại và dịch vụ
3.1.2.3. Công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp
3.1.2.4. Dân số và lao động
a. Dân số
b. Lao động
3.1.2.5. Thực trạng phát triển các khu dân cư :
3.1.2.6. Cơ sở hạ tầng
a. Giao thông
b. Thuỷ lợi
c. Điện và thông tin liên lạc
d. Cơ sơ hạ tầng hành chính địa phương
3.1.2.7. Tình hình y tế
3.1.2.8.Tình hình giáo dục
3.1.2.9. Các lĩnh vực xã hội khác
• Nhận xét chung:
 Thuận lợi:
 Khó khăn
3.2. Phương pháp nghiên cứu
3.2.1. Phương pháp chung
8


 Phương pháp duy vật biện chứng: Phương pháp duy vật biện chứng yêu cầu nghiên cứu
xem xét sự vật trong mối liên hệ về nhiều mặt và có hệ thống trong sự phát triển, chuyển biến của
nó từ lượng sang chất (hoặc ngưng trệ).[11]
3.2.2. Phương pháp cụ thể
 Phương pháp chọn mẫu nghiên cứu: Tiến hành điều tra hộ nông dân ở các nhóm hộ có
trồng đồng thời cả đậu tương và bông trong vụ 2 năm 2004.
 Về Thu nhập: Phân thành các nhóm hộ:Giàu, khá, Trung bình, Nghèo theo đánh giá của
địa phương.
 Về diện tích :
- Diện tích cây bông: từ 0,1 ha trở lên.
- Diện tích cây đậu tương : từ 0,1 ha trở lên
 Dung lượng 120 hộ và được phân bổ cho mỗi nhóm như sau:
- Nhóm hộ giàu: 30 hộ
- Nhóm hộ khá: 30 hộ
- Nhóm hộ trung bình: 30 hộ
- Nhóm hộ nghèo: 30 hộ
 Phương pháp điều tra thu thập số liệu:
 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp: phỏng vấn trực tiếp nông hộ bằng bảng hỏi.
 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp: số liệu trong các bản báo cáo của xã qua các năm.
 Phương pháp xử lý số liệu (dùng phần mềm Excel).
Phương pháp thống kê: Khi nghiên cứu hàng loạt các hiện tượng thường dùng phương pháp
thống kê. Phương pháp thống kê là phương pháp tổng hợp các số liệu của các hiện tượng để
tiến hành phân tích so sánh…
 Phương pháp so sánh: được sử dụng phổ biến trong nghiên cứu kinh tế. So sánh giúp cho
việc nhận thức sâu sắc tình hình thực tế, phản ánh rõ mức độ phát triển của quá trình kịnh tế,
nhằm làm rõ diễn biến của quá trình kinh tế, mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau.
Trong đó: sử dụng phương pháp so sánh tương đối và tuyệt đối về các chỉ tiêu của
nông hộ: như lao động, nhân khẩu, thu nhập...
3.2.3. Cơ sở phân loại hộ và dung lượng mẫu điều tra
Trong đề tài này chúng tôi phân hộ thành các nhóm hộ dựa theo tiêu chuẩn đánh giá hộ của
xã EaM’nang.
Chúng tôi tiến hành điều tra 120 hộ và được phân bổ cho các nhóm hộ như sau
9 hộ giàu: 30 hộ
- Nhóm


- Nhóm hộ khá: 30 hộ
- Nhóm hộ trung bình: 30 hộ
- Nhóm hộ nghèo:30 hộ
3.3. Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu
Nhằm đánh giá hiệu quả sản xuất từng loại cây trồng trong nông hộ một cách chính xác, có
cơ sở khoa học cần phải xây dựng một hệ thống chỉ tiêu bao gồm cả chỉ tiêu tổng hợp và chỉ tiêu chi
tiết. Xuất phát từ bản chất của hiệu quả kinh tế ta thấy biểu hiện tập chung nhất của hiệu quả là lãi
thuần. Lãi thuần chi phối toàn bộ quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của nông hộ. Không có
thu nhập thì hoạt động sản xuất khó mà tồn tại. Thu nhập thuần là kết quả tổng hợp của hoạt động
sản xuất kinh doanh trong nông hộ xong biểu hiện dưới hình thức giá trị là phổ biến.
 Thu nhập thuần
Thu nhập thuần từ sản xuất = Thu từ sản xuất - Chi phí khả biến
 Lãi thuần
Lãi thuần =Thu nhập thuần – chi phí cố định
 Tổng thu
Tổng thu từ sản xuất =Q1x P1+Q2 x P2
Trong đó:
Q, Q2: Khối lượng sản phẩm chính và phụ.
P, P2: Giá bán được của sản phẩm chính và phụ.
Đây mói là chỉ tiêu về số lượng, nếu dùng chỉ tiêu này để đánh giá quá trình kinh tế thì chưa
phản ánh đúng, chúng ta mới nêu được mặt lượng, chưa nêu được mặt chất. Do đó chúng ta cần
dùng thêm chỉ tiêu thứ hai để làm rõ thêm mặt chất của quá trình kinh tế đó là tỷ xuất lợi nhuận.Tỷ
suất lãi thuần được tính bằng tỷ lệ giữa lãi thuần thu được với tổng chi phí sản xuất kinh doanh hoặc
vốn khác.
 Tỷ suất lãi thuần/ chi phí sản xuất:
 Hiệu quả sử dụng vốn tự có:
Hiệu quả sử dụng vốn
tự có

Lãi thuầntrị lao+động
đình
Biếngiá
phí(X)
Địnhgia
phí(X)
=
Vốn tự có



Lãi thuần/ lao động gia đình:

Lãi thuần /lao
động gia đình

Lãi thuần

=
Tổng số công lao động gia đình



Lãi thuần/ tổng thu:
Lãi thuần/tổng thu
từ hoạt động X

10

Lãi thuần hoạt động X

=

Tổng thu từ hoạt X




Công thức tính khấu hao TLSX trong nông hộ
Tỷ lệ thời gian dùng sản xuất
bông, đậu trong
1 vụ

Nguyên giá – GTTL
Mức KH
TLSX

=

X
Tổng diện tích bông,
đậu của hộ

Số năm sử dụng


Giá trị chi
phí cơ hôi
lao động
gia đình

Công thức tính chi phí cơ hội của lao động gia đình.

=

số công lao
động thuê bình
quân trong năm của địa
phương

x

Giá công lao động
thuê bình quân của
địa phương

X

Tổng chi công lao
động gia đình cho
hoạt
động X

PHẦN THỨ TƯ
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1. Tình hình chung của nông hộ
4.1.1. Tình hình nhân khẩu và lao động của nông hộ
4.1.2. Tình hình sử dụng đất đai của nông hộ
4.1.3.Tình hình trang bị tài sản cố định và công cụ lao động của nông hộ
4.1.4. Thực trạng vốn sản xuất trong nông hộ
4.1.5. Chi phí sản xuất cây bông và cây đậu tương
4.1.5.1. Chi phí sản xuất cây bông vải
4.1.5.2. Chi phí sản xuất cây đậu tương vụ 2
4.1.6. Tổng thu cây bông và cây đậu tương trên ha đất gieo trồng
4.1.6.1. Tổng thu cây bông trên ha đất gieo trồng
4.1.6.2. Tổng thu cây đậu tương trên ha đất gieo trồng của các nhóm hộ
4.2. So sánh hiệu quả kinh tế cây bông và cây đậu tương trên hecta đất gieo trồng
4.2.1. So sánh hiệu quả kinh tế trên hecta đất gieo trồng cây bông vải và cây đậu tương của nhóm
hộ giàu
11


4.2.2. So sánh hiệu quả kinh tế trên hecta đất gieo trồng cây bông vải và cây đậu tương của nhóm hộ
khá
4.2.3. So sánh hiệu quả kinh tế trên hecta đất gieo trồng cây bông vải và cây đậu tương của nhóm hộ
trung bình
4.2.4. So sánh hiệu quả kinh tế trên hecta đất gieo trồng cây bông vải và cây đậu tương của nhóm
hộ nghèo

12



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×