Tải bản đầy đủ

Tìm hiểu về hiệp định TPP

HỌC VIỆN CHÍNH SÁCH VÀ PHÁT TRIỂN
----------

Tiểu Luận

KINH TẾ QUỐC TẾ
CHỦ ĐỀ:
"Tìm hiểu về hiệp định TPP"

Nhóm thực hiện: Nhóm 11
1. Cao Tú Trung – TCC5B
2. Nguyễn Hợp Dũng – QHPT5
3. Nguyễn Thị Thảo – QHPT5
4. Nguyễn Hồng Nhung – QTDN5
5. Nguyễn Thị Mai Hương – KHPT5B

HÀ NỘI – 2016


Mục lục
I. Giới thiệu chung

1. TPP là gì ?
2. Sơ lược về Hiệp định TPP
3. Mục tiêu của Hiệp định
4. Mục đích tham gia Hiệp định
II. Tác động của TPP đến thế giới
1. Thỏa thuận được thống nhất vào thời điểm thương mại toàn cầu đang lao
dốc
2. Bối cảnh kinh tế thế giới tác động đến các nước tham gia TPP
3. Tác động của TTP đến các nước thành viên
4. Dự đoán sự ảnh hưởng đến 1 số quốc gia trên thế giới
III. Tác động của TPP đến Việt Nam
1. Tác động đến xuất nhập khẩu
2. Tác động đến đầu tư từ nước ngoài
3. Tác động đến năng lực cạnh tranh
4. Tác động đến thể chế, chính sách
5. Tác động đến môi trường kinh doanh
IV. Tổng kết và giải pháp
1. Tổng kết
2. Giải pháp
V. Dự kiến thay đổi của Mỹ đến TPP sau kì bầu cử tổng thống thứ 45


I. Giới thiệu chung về TPP
1. TPP là gì ?
• Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (tiếng Anh: Trans-Pacific
Partnership Agreement - viết tắt TPP) là một hiệp đinh/thỏa thuận thương mại tự
do được ký kết giữa 12 nước vào ngày 4 tháng 2 năm 2016 tại Auckland, New
Zealand sau 5 năm đàm phán với mục đích hội nhập các nền kinh tế thuộc khu
vực châu Á-Thái Bình Dương.
2. Sơ lược về Hiệp định TPP
Ý tưởng về một khu vực thương mại tự do xuyên Thái Bình Dương đã xuất hiện
cách đây 2 thập kỷ nhưng chỉ trở thành hiện thực khi Hiệp định hợp tác kinh tế
chiến lược xuyên Thái Bình Dương (P4) được ký kết ngày 3/6/2005 giữa 4 nước
Brunei, Chile, New Zealand và Singapore.
• Từ năm 2008 - 2013, từ 4 nước ban đầu, P4 đã thu hút thêm 8 nước tham gia
là Mỹ (9/2008), Australia, Peru (11/2008), Malaysia (10/2010), Việt Nam
(11/2010), Mexico, Canada (6/2012) và Nhật Bản (7/2013), nâng tổng số thành
viên lên 12 nước.
• Từ năm 2010, P4 chính thức có tên là Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình
Dương (TPP). Trong cùng năm, vòng đàm phán TPP đầu tiên được tiến hành tại

Melbourne, Australia.
• Tháng 12/2013, Bộ trưởng 12 nước từ bỏ mục tiêu hoàn tất đàm phán trong
năm 2013 sau khi không thu hẹp được bất đồng về quyền sở hữu trí tuệ.
• Năm 2014, các cuộc đàm phán được tiến hành theo phương thức song
phương, chủ yếu tập trung vào kết quả đàm phán giữa Mỹ và Nhật Bản, hai nền
kinh tế lớn nhất TPP. Tuy nhiên, khoảng cách quá lớn giữa hai nước về vấn đề ô
tô và sản phẩm nông nghiệp khiến đàm phán TPP một lần nữa bỏ lỡ thời hạn
chót.
• Tháng 7/2015, Bộ trưởng 12 nước đàm phán TPP họp tại Hawaii (Mỹ)
nhưng vẫn không khai thông được bất đồng.
• Ngày 5/10/2015, sau 5 ngày đàm phán cam go do bất đồng về thời gian bảo
hộ độc quyền các sản phẩm sinh dược thế hệ mới, đại diện 12 nước đã tìm được
tiếng nói chung và đạt được thỏa thuận cuối cùng. Phiên họp tại Atlanta đã chính


thức kết thúc đàm phán hiệp định thương mại tự do thế hệ mới có quy mô lớn
nhất trong lịch sử.
• Ngày 4/02/1016, Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương TPP chính thức
được ký kết, kết thúc quá trình hơn 5 năm đàm phán đầy cam go và thử thách, tạo
bước đột phá quan trọng trong hoạt động thương mại toàn cầu.
Sau lễ ký này, mỗi nước có thời gian 2 năm để thực hiện các quy trình nội bộ,
hoàn tất thủ tục phê chuẩn tại Quốc hội để TPP có hiệu lực. Thỏa thuận này sẽ
chỉ có hiệu lực khi được ít nhất 6 nước thành viên, chiếm tối thiểu 85% Tổng sản
phẩm quốc nội (GDP) kết hợp của cả 12 nước, phê chuẩn. Điều này có nghĩa là
thỏa thuận phải được Quốc hội tại hai nền kinh tế lớn nhất trong TPP là Mỹ và
Nhật Bản thông qua.
TPP là thỏa thuận thương mại tự do giữa 12 quốc gia (bao gồm: Canada, Brunei,
Chile, Malaysia, Mexico, New Zealand, Peru, Singapore, Austrialia, Mỹ, Nhật
Bản và Việt Nam), được hình thành với mục tiêu chính là xóa bỏ các loại thuế
quan và rào cản hàng hóa, dịch vụ xuất nhập khẩu giữa các nước thành viên.
Ngoài ra, TPP sẽ còn thống nhất nhiều luật lệ, quy tắc chung giữa các nước này.
Hiệp định bao gồm 30 chương và đề cập đến không chỉ các lĩnh vực truyền thống
như hàng hóa, dịch vụ, đầu tư mà còn cả các vấn đề mới như thương mại điện tử,
tạo thuận lợi cho dây chuyền cung ứng, doanh nghiệp nhà nước. Một khi có hiệu
lực, TPP sẽ trở thành khu vực thương mại tự do với 800 triệu dân, chiếm 30%
kim ngạch thương mại toàn cầu và gần 40% sản lượng kinh tế thế giới. Ý tưởng
chung về một khu thương mại tự do xuyên Thái Bình Dương đã xuất hiện cách
đây 2 thập kỷ nhưng chỉ trở thành hiện thực khi hiệp định hợp tác kinh tế chiến
lược xuyên Thái Bình Dương được ký kết ngày 3/6/2005 giữa bốn nước Brunel,
Chile, New Zealand và Sinapore.
Việt Nam đàm phán ra nhập TPP vào tháng 11 năm 2008 và đã được ký kết ra
nhập vào ngày 4 tháng 02 năm 2016 trở thành 1 trong 12 nước thành viên trong
TPP hiện nay. Ngoài 12 nước thành viên nêu trên còn có một số nước như:
Colombia, Philippines, Thái Lan, Đài Loan và Hàn Quốc mong muốn ngỏ ý tham
gia.


Ngày
Quốc gia

bắt

Trạng thái

đầu
Ký kết

đàm phán
Úc
Việt Nam
Singapore
Peru
Nhật Bản
New Zealand
Mexico
Malaysia
Hoa Kỳ
Chile
Canada[9]
Brunei
Đài Loan
Thái Lan
Philippines
Indonesia
Hàn Quốc
Colombia

Kết thúc đàm phán
Kết thúc đàm phán
Sáng lập
Kết thúc đàm phán
Kết thúc đàm phán
Sáng lập
Kết thúc đàm phán
Kết thúc đàm phán
Kết thúc đàm phán
Sáng lập
Kết thúc đàm phán
Sáng lập
Ngỏ ý muốn tham gia
Ngỏ ý muốn tham gia
Ngỏ ý muốn tham gia
Ngỏ ý muốn tham gia
Ngỏ ý muốn tham gia
Ngỏ ý muốn tham gia

tháng 11 năm 2008
tháng 11 năm 2008
tháng 6 năm 2005
tháng 11 năm 2008
tháng 3 năm 2013
tháng 6 năm 2005
tháng 10 năm 2012
tháng 10 năm 2010
tháng 2 năm 2008
tháng 6 năm 2005
tháng 10 năm 2012
tháng 6 năm 2005

04-02-2016
04-02-2016
04-02-2016
04-02-2016
04-02-2016
04-02-2016
04-02-2016
04-02-2016
04-02-2016
04-02-2016
04-02-2016
04-02-2016

3. Mục tiêu của Hiệp định
Mục tiêu ban đầu của Hiệp định là giảm 90% các loại thuế xuất nhập khẩu giữa
các nước thành viên trước ngày 1-1-2006 và cắt giảm bằng không tới năm 2015.
Đây là một thỏa thuận toàn diện bao quát tất cả các khía cạnh chính của một hiệp
định thương mại tự do, bao gồm trao đổi hàng hóa, các quy định về xuất xứ, can
thiệp, rào cản kỹ thuật, trao đổi dịch vụ, vấn đề sở hữu trí tuệ, các chính sách của
chính quyền...
Trở thành một khuôn khổ thương mại toàn diện, có chất lượng cao và là khuôn
mẫu cho các Hiệp định thế kỷ 21.


Duy trì tính “mở” của Hiệp định TPP, tức là có thể kết nạp thêm thành viên mới
trong tương lai và có thể tiếp tục đàm phán những vấn đề phát sinh sau khi Hiệp
định có hiệu lực.
Thúc đẩy hoạt động thương mại nhanh chóng hơn, các quốc gia phát triển những
hoạt động dịch vụ trong khu vực dễ dàng hơn và các doanh nghiệp tham gia tốt
hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu.
4. Mục đích tham gia
Các Bên tham gia Hiệp định này, với mục đích:
• THÀNH LẬP một hiệp định khu vực toàn diện phục vụ thúc đẩy hội nhập
kinh tế nhằm tự do hóa thương mại và đầu tư, đem lại tăng trưởng kinh tế và lợi
ích xã hội, tạo ra những cơ hội mới cho người lao động và doanh nghiệp, góp
phần nâng cao mức sống, lợi ích người tiêu dùng, giảm nghèo và thúc đẩy tăng
trưởng bền vững;
• THẮT CHẶT tình hữu nghị và hợp tác giữa chính phủ và người dân của
các Nước ký kết
• XÂY DỰNG dựa trên các quyền và nghĩa vụ tương ứng theo Hiệp định
Marrakesh về thành lập Tổ Chức Thương Mại Thế Giới;
• THỪA NHẬN sự khác biệt về mức độ phát triển và sự đa dạng của các nền
kinh tế;
• CỦNG CỐ khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp của nước mình trên
thị trường toàn cầu và tăng cường khả năng cạnh tranh của các nền kinh tế bằng
cách tạo ra các cơ hội cho các doanh nghiệp, bao gồm cả việc thúc đẩy sự phát
triển và tăng cường các chuỗi cung ứng khu vực;
• HỖ TRỢ tăng trưởng và phát triển của vi mô, doanh nghiệp nhỏ và vừa
bằng cách tăng cường khả năng của doanh nghiệp đối với việc tham gia và hưởng
lợi từ các cơ hội mà Hiệp định này đem lại;
• THÀNH LẬP một khuôn khổ pháp lý và thương mại có thể dự đoán được
cho thương mại và đầu tư trên nguyên tắc các bên cùng có lợi;
• TẠO THUẬN LỢI cho thương mại khu vực bằng cách khuyến khích áp
dụng thủ tục hải quan hiệu quả và minh bạch để giảm chi phí và đảm bảo khả
năng dự báo cho các nhà nhập khẩu và xuất khẩu của các Bên;
• THỪA NHẬN quyền điều chỉnh và giải quyết sẵn có của các Bên để bảo
tồn sự linh hoạt của các Bên tham gia nhằm thiết lập các ưu tiên về quy phạm
pháp luật, bảo vệ lợi ích công cộng, và bảo vệ các mục tiêu phúc lợi công cộng
hợp pháp, chẳng hạn như y tế công cộng, an toàn, môi trường, bảo tồn tài nguyên
thiên nhiên có khả năng bị cạn kiệt, sự toàn vẹn và sự ổn định của hệ thống tài
chính và đạo đức xã hội;
• THỪA NHẬN quyền áp dụng, duy trì hoặc sửa đổi các hệ thống chăm sóc
sức khỏe của các Bên;


• KHẲNG ĐỊNH rằng các doanh nghiệp nhà nước có thể đóng một vai trò
hợp pháp trong nền kinh tế đa dạng của các Bên, đồng thời thừa nhận rằng việc
cung cấp các lợi thế không công bằng cho các doanh nghiệp nhà nước làm suy
yếu thương mại và đầu tư công bằng và cởi mở, và thiết lập các quy tắc cho các
doanh nghiệp nhà nước nhằm tạo ra một sân chơi bình đẳng với các doanh nghiệp
tư nhân, hoạt động kinh doanh minh bạch và vững vàng;
• THÚC ĐẨY bảo vệ môi trường mức độ cao, kể cả thông qua việc thực thi
có hiệu quả pháp luật về môi trường và đẩy mạnh các mục tiêu phát triển bền
vững, bao gồm cả thông qua thương mại hỗ trợ lẫn nhau, các chính sách và hoạt
động môi trường;
• BẢO VỆ và thực thi các quyền lao động, cải thiện điều kiện làm việc và
mức sống, tăng cường hợp tác và năng lực của các bên về các vấn đề lao động;
• THÚC ĐẨY sự minh bạch, quản trị tốt và tính pháp quyền của pháp luật,
loại trừ hối lộ và tham nhũng trong thương mại và đầu tư;
• THỪA NHẬN các công việc quan trọng mà cơ quan có liên quan của các
Bên đang làm để tăng cường hợp tác kinh tế vĩ mô tại các diễn đàn phù hợp , bao
gồm cả các vấn đề tỷ giá;
• THỪA NHẬN tầm quan trọng của sự khác biệt về văn hóa giữa và trong
các Bên, và thừa nhận rằng thương mại và đầu tư có thể mở rộng các cơ hội để
làm giàu bản sắc văn hóa và sự đa dạng văn hóa trong và ngoài nước;
• ĐÓNG GÓP cho sự phát triển hài hòa và mở rộng thương mại thế giới, và
kích thích để hợp tác khu vực và quốc tế rộng hơn;
• THÀNH LẬP một Hiệp định để giải quyết những thách thức và cơ hội về
thương mại và đầu tư trong tương lai, góp phần thúc đẩy các ưu tiên của mình
theo thời gian; và
• MỞ RỘNG quan hệ đối tác của mình bằng cách khuyến khích sự gia nhập
của các nước hoặc vùng lãnh thổ Hải quan riêng biệt khác nhằm nâng cao hơn
nữa hội nhập kinh tế khu vực và tạo ra nền tảng của một Khu vực mậu dịch tự do
châu Á Thái Bình Dương.

II. Tác động của TPP đến thế giới
1. Thỏa thuận được thống nhất vào thời điểm thương mại toàn cầu đang lao
dốc.


Thương mại toàn cầu đã chính thức rơi vào tình trạng suy thoái.

• Đối với bất kì một nền kinh tế nào đang nợ nần và gặp nhiều khó khăn thì
hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương đến thật đúng lúc.


• Theo Viện Kinh tế quốc tế Peterson, TPP có thể thúc đẩy thu nhập thế giới
lên đến 295 tỷ USD mỗi năm trong thập kỷ tới – một “món quà” đối với nền kinh
tế thế giới.
• Các chuyên gia nói về TPP như một thỏa thuận ảnh hưởng đến "40% nền
kinh tế thế giới", chiếm 40% tổng GDP của thế giới với giá trị kinh tế gần 30
nghìn tỷ USD và đây cũng là hiệp định thương mại đa phương lớn nhất trong hai
thập kỷ qua.
• Tập đoàn tài chính Gavekal Research nhấn mạnh kinh tế thế giới đang suy
thoái với sự suy giảm khối lượng xuất khẩu lớn nhất từ năm 2010. Trước đó,
Pacific Money cũng cho rằng thương mại châu Á sẽ suy thoái trong bối cảnh
thương mại toàn cầu đang trải qua thời kỳ tuyệt vọng bất thường.
• Theo IMF, năm 2015 sẽ đánh dấu năm thứ tư liên tiếp có mức tăng trưởng
thương mại dưới mức trung bình.
• Trong báo cáo World Economic Outlook mới nhất, các nhà tư bản có trụ sở
tại Hoa Kỳ đã hạ mức dự báo tăng trưởng toàn cầu năm 2015 xuống còn 3,1% so
với mức 3,3% hồi tháng 7, mức tăng năm 2016 là 2,6% so với dự báo trước đó là
3,8%.
• Áp lực càng tăng thêm với các khoản nợ toàn cầu liên tục tăng do nới lỏng
định lượng, với các công ty thị trường mới nổi ước tính tăng lên đến 3 nghìn tỷ
USD nợ xấu. Theo IMF, nợ doanh nghiệp trong các nền kinh tế trong thập kỷ qua
đã tăng gấp bốn lần, với khoản nợ xấu trung bình 15% GDP của các nước và
25% GDP của Trung Quốc.
• Với các nguy cơ ngày càng gia tăng đối với nền kinh tế toàn cầu, áp lực hiện
tại đè lên các nhà làm luật TPP buộc họ phải đẩy nhanh việc thực hiện hiệp định
và ngăn chặn sự lao dốc ngày càng sâu của thương mại thế giới.
2. Bối cảnh kinh tế thế giới tác động đến các nước tham gia TPP.
• Hoa Kỳ - nền kinh tế đầu tàu thế giới cũng đồng thời là trụ cột chính của
Hiệp định TPP trong thời gian qua dù có tín hiệu tăng trưởng khả quan trong
những tháng đầu năm 2015, song tốc độ tăng trưởng kinh tế của nước này lại
thiếu tính ổn định. Khép lại quý III/2015, tăng trưởng GDP của Hoa Kỳ đạt 1,5%,
thấp hơn nhiều so với mức 3,9% đạt được trong quý 11/2015. Hàng lưu kho giảm
là yếu tố kìm hãm tăng trưởng trong quý III khi lấy mất 1,44 điểm phần trăm của
tốc độ tăng trưởng chung. Các doanh nghiệp Hoa Kỳ ghi nhận lượng hàng lưu
kho trị giá 56,8 tỷ USD trong quý III, giảm mạnh so với con số 113,5 tỷ USD của
quý II và là mức thấp nhất kể từ quý 1/2014. Trong khi đó, chi tiêu của người tiêu
dùng Hoa Kỳ, chiếm hơn 2/3 hoạt động kinh tế của nước này, tăng trưởng 3,2%
trong quý III/2015 sau khi tăng 3,6% vào quý II - tiếp tục trở thành động lực tăng
trưởng chính của nền kinh tế.


• Trong thời gian qua, các nền kinh tế thành viên TPP như Việt Nam,
Malaysia, Singapore... cũng chứng kiến sự tăng tưởng nhanh; các nền kinh tế lớn
như Canada, Australia tuy không tăng trưởng mạnh nhưng vẫn duy trì được thứ
hạng cao trên bản đồ kinh tế thế giới. Với bối cảnh kinh tế như vậy, Hiệp định
TPP đang được kỳ vọng sẽ là một “cú hích” cho nền thương mại quốc tế nói
riêng cũng như nền kinh tế của các nước thành viên nói chung.
• Trung Quốc là nền kinh tế đứng thứ hai trên thế giới và chính sách tỷ giá của
nước này luôn là mối quan tâm của nhiều nhà kinh tế trên thế giới. Trong hai
ngày 11/08/2015 và 12/08/2015, Ngân hàng Trung ương Trung Quốc liên tiếp ấn
định tỷ giá thấp hơn ngày hôm trước lần lượt là 1,9% và 1,6%. Đây là mức thay
đổi tỷ giá lớn nhất qua một ngày ở Trung Quốc trong suốt một thập kỷ qua. Rõ
ràng, đồng Nhân dân tệ yếu đi, hàng hóa Trung Quốc sẽ rẻ hơn một cách tương
đối so với hàng hóa các nước khác, thúc đẩy sự xuất khẩu của hàng hóa Trung
Quốc, đồng thời hạn chế sự thâm nhập của hàng hóa nước ngoài vào thị trường
đông dân nhất thế giới này. Đây sẽ là một bất lợi không nhỏ đối với các nước
thành viên TPP trong thời gian tới, đặc biệt hai nước trong khu vực Đông Nam Á
vốn có lợi thế về lao động giá rẻ là Việt Nam và Malaysia.
• Tình hình biến động thất thường của dầu thô được dự báo sẽ ảnh hưởng đến
các nền kinh tế thành viên TPP. Trong nửa cuối năm 2014, thế giới chứng kiến sự
suy giảm mạnh của giá dầu thô. Từ hơn 100 USD/thùng vào tháng 6/2014 xuống
chỉ còn khoảng 50 USD/thùng vào cuối tháng 12/2014. Xu hướng giảm này đã
chững lại vào đầu năm 2015. Giá dầu mặc dù có lúc đã giảm xuống 45
USD/thùng vào ngày 23/1/2015 nhưng nhanh chóng tăng ngược trở lại mức giá
60 USD/thùng trong tháng 5 và tháng 6/2015. Ngân hàng Thế giới và Quỹ Tiền
tệ quốc tế đều dự báo về diễn biến giá dầu thế giới sẽ có xu hướng tăng nhưng giá
dầu lại giảm về mức thấp nhất trong vòng vài năm qua, chỉ ở mức 40 USD/thùng
vào cuối tháng 8/2015, sau đó tăng nhẹ và đến cuối tháng 10/2015, giá dầu dao
động quanh mức 45 USD/thùng...
3. Tác động của TPP đến các nước thành viên.
a. Đối với các quốc gia “nhóm trên”
• Về mở rộng thị trường xuất khẩu: Với TPP, các nền kinh tế hàng đầu thế
giới như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Canada... có cơ hội mở rộng thị trường xuất khẩu
đối với các mặt hàng của mình. Các rào cản dù là thuế quan hay phi thuế quan
cũng được dỡ bỏ với lộ trình rất ngắn, khiến TPP được tin tưởng sẽ là sức bật hết
sức mạnh mẽ cho xuất khẩu từ các nước “nhóm trên” này. Nhật Bản, Canada,
Hoa Kỳ được cho là sẽ được hưởng lợi lớn nhất về xuất khẩu một khi các cam kết
của TPP được thực thi. Với kịch bản cắt giảm hoàn toàn thuế quan và cắt giảm
các hàng rào phi thuế tương đương 7% thuế quan thì giá trị xuất khẩu của 3 nước
này sẽ tăng lên lần lượt là 21,12 tỷ USD, 15,04 tỷ USD và 12,60 tỷ USD
(Nguyễn Đức Thành, 2015).


• Về việc tham gia thị trường mua sắm công tại các nước khác: Theo TPP, thị
trường mua sắm công ở các nước “nhóm dưới” cũng sẽ mở ra. Đây là lĩnh vực to
lớn, đầy tiềm năng mà trước nay vẫn chưa thể khai thác. Với kinh nghiệm lâu
năm và nguồn tài chính vững mạnh, rõ ràng các doanh nghiệp từ các nước phát
triển sẽ có lợi thế hơn hẳn khi thị trường này được mở cửa.
• Về đầu đầu tư và tăng trưởng kinh tế: Bên cạnh ảnh hưởng đến xuất khẩu,
TPP cũng được cho là sẽ tác động đến nhiều mặt của nền kinh tế. Cụ thể, với nền
kinh tế Hoa Kỳ, tuy không thu lợi quá lớn nhưng TPP vẫn đem lại những lợi ích
kinh tế nhất định. Theo nghiên cứu của Petri (2011), bằng phương pháp cân bằng
tổng quát khả toán (CGE), nếu TPP thành công, dự kiến đến năm 2025, GDP Hoa
Kỳ tăng thêm 0,15% so với khi không có TPP, phúc lợi xã hội của Hoa Kỳ sẽ
tăng 40 tỷ USD so với khi không có TPP.
• Theo nghiên cứu của TS. Nguyễn Đức Thành và cộng sự công bố tháng
8/2015, Hoa Kỳ sẽ được hưởng lợi là sự gia tăng 0,01% GDP thực tế theo kịch
bản về giảm toàn bộ thuế quan + 7% hàng rào phi thuế quan một khi hiệp định
TPP được đàm phán và thực thi thành công. Cũng theo kịch bản này, đầu tư của
Hoa Kỳ sẽ tăng 0,26% với trị giá là 7,4 tỷ USD...

b. Đối với các quốc gia “nhóm dưới”
• Về xuất khẩu hàng hóa: Một khi đàm phán TPP được hoàn thành, các nước
“nhóm dưới” sẽ được hưởng mức thuế suất thấp, hầu như bằng 0% tại đại đa số
các mặt hàng, tạo động lực mạnh mẽ cho xuất khẩu. Điều này đặc biệt quan trọng
đối với Việt Nam vì Trung Quốc - nước có lợi thế về lao động giá rẻ, có lợi thế
về xuất khẩu dệt may, thủy sản giống như Việt Nam chưa phải là thành viên của
TPP khiến cho hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam được hưởng nhiều ưu đãi hơn
tại thị trường các nước TPP.
• Về tiếp cận thị trường: Theo lý thuyết, các nước “nhóm dưới” sẽ dễ dàng
hơn trong việc tiếp cận thị trường nước ngoài ở các lĩnh vực đầu tư và dịch vụ.
Tuy nhiên, hiện tại vì khả năng còn hạn chế, đầu tư từ các nước “nhóm dưới”
sang các nước còn lại còn yếu, chưa có lợi thế so với các nước khác. Đây sẽ là
một lĩnh vực mà các nền kinh tế với trình độ phát triển chưa cao cần chú ý khai
thác hơn trong tương lai khi tham gia TPP.
• Về lợi ích thu được từ hàng hóa nhập khẩu giá rẻ: Bên cạnh những lợi ích có
thể khai thác được từ thị trường nước ngoài, thì bản thân thị trường nội địa cũng
có một số lợi ích khi các nước “nhóm dưới” tham gia vào TPP. Nhờ thuế nhập
khẩu giảm, người tiêu dùng trong nước sẽ được tiếp cận với những hàng hóa
nước ngoài với giá cả hợp lý hơn. Các ngành sản xuất của trong nước, tương tự
cũng sẽ có được các nguồn nguyên liệu đầu vào nhập từ các nước đối tác với giá


cả rẻ hơn, giúp giảm chi phí sản xuất, nâng cao khả năng cạnh tranh của sản
phẩm đầu ra, Điều này đặc biệt có ý nghĩa với vói các nước đang phát triển như
Việt Nam khi tỷ lệ nhập khẩu đầu vào của các ngành xuất khẩu chủ lực còn rất
cao.
• Về lợi ích từ đầu tư, dịch vụ: Đối với các nước đang phát triển, đầu tư nước
ngoài hết sức quan trọng bởi đó là một động lực mạnh mẽ để phát triển nền kinh
tế. Đặc biệt, trong lĩnh vực dịch vụ, làn sóng đầu tư từ các nước TPP hứa hẹn sẽ
đem lại tầm cao mới cho chất lượng dịch vụ, cũng như tạo ra thị trường cạnh
tranh mạnh mẽ buộc các doanh nghiệp trong nước ở các nước này phải cải tiến và
phát triển. Theo ước tính của TS. Nguyễn Đức Thành, chỉ tính riêng lợi ích TPP
đem lại, đầu tư Việt Nam sẽ tăng khoảng 27%, tương ứng với 11,5 tỷ USD. Đây
là con số lớn nhất nếu so sánh với các nước tham gia TPP khác. Cũng theo
nghiên cứu này, đầu tư vào các nước nhóm dưới khác như Malaysia, Peru sẽ tăng
ở mức lần lượt 6,28% và 0,55%.
• Về lợi ích từ cải cách thể chế: Các nước “nhóm dưới” cũng thu lợi từ những
thay đổi, cải cách thể chế nhằm đáp ứng những yêu cầu chung của TPP. Tham
gia TPP là một cơ hội để các nước này rà soát lại hệ thống pháp luật và cơ quan
nhà nước. Với phạm vi bao trùm ở diện rộng, TPP sẽ giúp cho hệ thống pháp
luật, thể chế của của các nước trở nên nhất quán hơn, hài hòa với các quy định,
luật pháp quốc tế. Điều này sẽ mang ý nghĩa kinh tế lâu dài to lớn cho cả nền
kinh tế.
• Về sự minh bạch trong mua sắm công: TPP cũng có yêu cầu về mở cửa thị
trường mua sắm công. Một khi điều khoản này được thống nhất và thực thi, các
khoản mua sắm công của các nước đang phát triển, đặc biệt là Việt Nam trước
nay vẫn thường bị coi là thiếu minh bạch sẽ trở nên công bằng, minh bạch hơn.
• Về bảo vệ môi trường và người lao động: các yêu cầu về môi trường và lao
động trong TPP cũng là cơ hội để các nước này bảo vệ tốt hơn chất lượng môi
trường và cuộc sống của người lao động, tránh khỏi những tác động tiêu cực mà
hợp tác kinh tế đem lại như nhập phải dây chuyền hoặc được đầu tư dây chuyền
sản xuất lạc hậu gây ô nhiễm môi trường, hay chất lượng đời sống lao động làm
thuê quá thấp, bị bóc lột nặng nề gây bất ổn về chính trị xã hội...
4. Dự đoán sự ảnh hưởng đến 1 số quốc gia trên thế giới
a. Một số quốc gia Châu A
• Đánh giá kẻ thắng, người bại ở châu Á, tờ Bloomberg News cho rằng ngành
công nghiệp tự động của Nhật Bản sẽ thu lợi tăng cường tiếp cận thị trường Mỹ,
trong khi nông dân Nhật phải đối mặt với sự cạnh tranh ngày càng khắc nghiệt do
hạ hàng rào nhập khẩu thịt bò, thịt lợn và gạo. Mặc dù vậy, hiệp định tác động


28% thương mại của Nhật Bản và Tokyo cũng coi đây như một nhân tố quan
trọng thúc đẩy chính sách Abenomics.
• Úc và New Zealand được coi là những nước thu lợi lớn trọng xuất khẩu
nông sản, trong khi các nước này vẫn cố thuyết phục Mỹ giảm hạn bảo vệ quyền
sở hữu trí tuệ đối với dược phẩm từ 12 xuống 5 năm. TPP sẽ xóa bỏ 9 tỷ đô Úc
(6,6 tỷ USD) thuế nhập khẩu của Australia trong khi đó, New Zealand lại tiết
kiệm được khoảng 259 triệu đô đô New Zealand (173 triệu USD).
• Việt Nam được cho là một trong những nước thu nhiều lợi nhất với mức
tăng trưởng GDP tiềm năng 11% đến 2025 nhờ xuất khẩu ước tính tăng 28%.
Malaysia cũng được cho là thu lợi từ việc giảm rào cản thương mại xuất khẩu
hàng điện tử, hóa chất và cao su, còn Singapore nhìn nhận hiệp định sẽ tạo ra sự
thịnh vượng và nhiều việc làm hơn.
• Tuy nhiên, Trung Quốc lại bị thiệt hại vì thất bại trong việc tham gia TPP
nhằm thúc đẩy một hiệp định Đối tác Kinh tế toàn diện khu vực (RCEP) ở châu
Á. Theo nhà kinh tế học Fielding Chen, nền kinh tế lớn thứ hai thế giới có thể
mất thị phần ở các nước đang phát triển như Việt Nam vào tay Mỹ và Nhật trong
khi chính quyền Obama đang được đà trong chính sách xoay trục sang châu Á.

b. Hoa Kỳ và Hàn Quốc
• Hoa Kỳ sẽ được hưởng lợi là sự gia tăng 0,01% GDP thực tế theo kịch bản
về giảm toàn bộ thuế quan + 7% hàng rào phi thuế quan một khi hiệp định TPP
được đàm phán và thực thi thành công. Cũng theo kịch bản này, đầu tư của Hoa
Kỳ sẽ tăng 0,26% với trị giá là 7,4 tỷ USD...
• Theo một nghiên cứu cách đây không lâu của Viện chính sách kinh tế quốc
tế Hàn Quốc (KIEP), nếu tham gia TPP thì sau 10 năm, GDP của Hàn Quốc có
thể tăng 1,7-1,8%, trong khi nếu đứng ngoài TPP thì GDP nước này có thể giảm
0,12%. Cụ thể hơn, chỉ riêng trong công nghiệp chế biến, việc tham gia TPP có
thể giúp Hàn Quốc tăng kim ngạch mỗi năm lên 200-300 triệu đô la Mỹ còn
không tham gia sẽ mất 100 triệu đô la Mỹ. Quan trọng hơn, tính cạnh tranh của
các sản phẩm Hàn Quốc có thể bị đe dọa.
• Trước tác động đó, trên thực tế Chính phủ Hàn Quốc đã có những bước
chuẩn bị âm thầm để có thể gia nhập TPP khi thích hợp. Hồi tháng 4-2015, Bộ
trưởng Chiến lược và Tài chính Hàn Quốc, Choi Kyung-hwan cho biết nước này
đã có kế hoạch đàm phán với các thành viên TPP ngay khi thỏa thuận này được
hoàn tất. Bộ Thương mại, Công nghiệp và Năng lượng Hàn Quốc cũng vừa tổ
chức “Diễn đàn chiến lược về TPP” để phân tích cụ thể những tác động của TPP
đến nền kinh tế Hàn Quốc.


III. Tác động của TPP đến Việt Nam
* Dự toán có 5 tác động chính:
- Xuất nhập khẩu.
- Đầu tư nước ngoài.
- Năng lực cạnh tranh.
- Thể chế, chính sách.
- Môi trường kinh doanh.
1. Tác động của TPP đến xuất nhập khẩu:
Các nước TPP chiếm tới 40% GDP và 30% thương mại toàn cầu, lại bao gồm
các thị trường lớn như Hoa Kỳ, Nhật Bản, chắc chắn sẽ mở ra rất nhiều cơ hội
khi chuỗi cung ứng mới hình thành. Vì thế mà tác động của TPP đến xuất nhập
khẩu của Việt Nam rất lớn. Một trong những mục tiêu lớn nhất khi gia nhập TPP
của Việt Nam là tăng cường lợi thế xuất khẩu sang các nước thành viên TPP khi
các quốc gia này miễn giảm thuế cho hàng hoá Việt Nam. Hàng rào thuế quan và
hạn ngạch được dỡ bỏ là cơ hội để hàng hoá xuất khẩu mở rộng và thâm nhập sâu
vào các thị trường trong khối TPP, đặc biệt là các thị trường lớn như Mỹ, Nhật
Bản, Úc,... Việc ký kết hiệp định sẽ là bước ngoặt để Việt Nam mở rộng xuất
khẩu tại các thị trường lớn này./
Tính đến hết 8 tháng/2016 tổng kim ngạch xuất nhập khẩu cả nước đạt
223,55 tỷ USD, tăng 3,3% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, xuất khẩu
đạt 113,21 tỷ USD, tăng 6,4% và nhập khẩu là 110,34 tỷ USD, tăng 0,3% so
với cùng kỳ năm 2015. Cán cân thương mại hàng hóa cả nước tháng 8/2016
thặng dư 572 triệu USD, nâng mức thặng dư thương mại 8 tháng/2016 lên
2,87 tỷ USD.
Về nhập khẩu, các doanh nghiệp có thể tận dụng nguyên vật liệu nhập khẩu từ
các nước TPP với chi phí thấp giúp giảm chi phí sản xuất, tăng khả năng cạnh
tranh về giá của hàng hoá Việt Nam khi tiếp cận thị trường các nước đối tác, đặc
biệt khi phải cạnh tranh với hàng hoá của Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan. Năm
2014, quy mô nhập khẩu từ các nước TPP đạt 34 tỷ USD, chiếm 23% tổng kim
ngạch nhập khẩu của Việt Nam. Với trên 65% số dòng thuế được xoá bỏ thuế
nhập khẩu ngay khi Hiệp định có hiệu lực và gần 98% số dòng thuế sau 10 năm,
đây là cơ hội lớn cho các doanh nghiệp cắt giảm chi phí đầu vào.
Nhập khẩu của Việt Nam tăng lên đến 15800 triệu USD trong tháng từ 14.550
USD Triệu vào tháng 9 năm 2016. Nhập khẩu tại Việt Nam trung bình 5.658,88
triệu USD từ năm 1990 đến năm 2016, đạt mức cao nhất mọi thời đại của 15800
triệu USD vào tháng Mười năm 2016 và mức thấp kỷ lục của 740 triệu USD vào


tháng Hai năm 1999..
Nhập khẩu có xu hướng tăng cao.
Các sản phẩm quốc nội Gross bình quân đầu người ở Việt Nam đã ghi nhận tại
1.684,87 USD trong năm 2015. GDP bình quân đầu người ở Việt Nam là tương
đương với 13 phần trăm trung bình của thế giới cuối cùng. GDP bình quân đầu
người ở Việt Nam trung bình 859,36 USD từ năm 1984 đến năm 2015, đạt mức
cao nhất của 1.684,87 USD tất cả thời gian trong năm 2015 và mức thấp kỷ lục
của 389,42 USD vào năm 1984. GDP bình quân đầu người ở Việt Nam được báo
cáo của Ngân hàng Thế giới.
2. Tác động đến đầu tư từ nước ngoài:
FDI có khởi sắc:
FDI đóng vai trò trụ cột trong nền kinh tế, những năm gần đây Việt Nam đã có
nhiều nỗ lực để cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, trong đó nổi bật là Luật
đầu tư năm 2014 nhằm đơn giản hoá thủ tục đầu tư và tạo môi trường bình đẳng
hơn cho các thành phần kinh tế. Với tác động từ TPP, dòng vốn đầu tư dự báo
tiếp tục tăng mạnh vào Việt Nam như đã xảy ra trong giai đoạn đầu khi mới gia
nhập WTO. Nhật Bản, Singapore, Malaysia, Mỹ - các quốc gia thuộc TPP - đều
là các nhà đầu tư hàng đầu hiện nay tại Việt Nam và các doanh nghiệp thuộc các
nước này sẽ tiếp tục đầu tư vốn vào Việt Nam để tận dụng lợi thế nhân công rẻ,
chi phí thấp.
3. Tác động đến năng lực cạnh tranh của các DN và người lao động:
Việt Nam gia nhập vào TPP kéo theo đó là rất nhiều nhà đầu tư vào Việt Nam
bởi vì họ tránh được một lượng tiền thuế lớn không những vậy họ còn được
hưởng các quyền ưu đãi như chính các doanh nghiệp trong nước. Do đó nó sẽ
làm tăng năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nước lên. Tuy nhiên
cái gì nó cũng sẽ có hai mặt của nó, đó là nhiều nhà đầu tư dẫn đến tăng cạnh
tranh và phụ thuộc nhiều vào các doanh nghiệp FDI. Và cũng sẽ ảnh hưởng rất
nhiều đến các doanh nghiệp trong nước.
Cạnh tranh tăng lên khi tham gia TPP có thể làm cho một số doanh nghiệp,
trước hết là các doanh nghiệp vẫn dựa vào sự bao cấp của Nhà nước, các doanh
nghiệp có công nghệ sản xuất và kinh doanh lạc hậu rơi vào tình trạng khó khăn
(thậm chí phá sản), kéo theo đó là khả năng thất nghiệp trong một bộ phận lao
động sẽ xảy ra.
4. Tác động đến thể chế, chính sách:
Theo chương 27 của Hiệp định TPP có quy định về thể chế, chính sách đối với
các nước khi gia nhập vào TPP.
Hiệp định TPP với các tiêu chuẩn rất cao về quản trị minh bạch và hành xử
khách quan của bộ máy Nhà nước sẽ giúp chúng ta tiếp tục hoàn thiện Nhà nước
pháp quyền XHCN; thúc đẩy hoàn thiện bộ máy theo hướng tinh gọn, trong sạch,


vững mạnh; đẩy mạnh cải cách hành chính; tăng cường trách nhiệm, kỷ luật, kỷ
cương và phòng chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu…
Theo báo cáo năng lực cạnh tranh toàn cầu 2015-2016 của Diễn đàn kinh tế thế
giới (WEF), Việt Nam thuộc nhóm các quốc gia có năng lực cạnh tranh thấp nhất
trong TPP, với các yếu tố đang còn ở mức thấp như Trình độ công nghệ; Giáo
dục và đào tạo; Cơ sở hạ tầng và Thị trường tài chính. Các vấn đề trên đều được
đề cập tới trong hiệp định TPP, đặc biệt trong chương Phát triển và chương về
Dịch vụ tài chính. Vì vậy, TPP sẽ tạo cơ hội, động lực để Việt Nam thúc đẩy cải
cách thể chế, hoàn thiện các quy định pháp lý, cải thiện môi trường kinh doanh,
nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, cải cách doanh nghiệp, đặc biệt là khối
doanh nghiệp nhà nước, minh bạch và công khai mua sắm chính phủ, nâng cao
các tiêu chuẩn về môi trường, lao động,...
5. Tác động đến môi trường kinh doanh:
Dự báo kinh tế Việt Nam sẽ thu hút thêm nhiều vốn đầu tư nước ngoài, doanh
nghiệp trong nước có cơ hội học hỏi chính sách quản lý hiệu quả và ứng dụng
khoa học công nghệ vào sản xuất để nâng cao năng lực cạnh tranh. Khi gia nhập
TPP, môi trường kinh doanh sẽ ngày càng khắt khe hơn vì vậy cũng sẽ thúc đẩy
các doanh nghiệp luôn phải tự nâng cao chuyên môn của bản thân và luôn phải
cải tiến lại công nghê, khoa học.
V. Tổng kết và giải pháp
1. Tổng kết
• Cơ hội:
• Lợi thế xuất khẩu: hàng rào thuế quan được loại bỏ, tăng sức cạnh tranh của
hàng hóa.
• Lợi ích nhập khẩu: tiếp cận nguồn cung giá rẻ.
• Kỳ vọng đầu tư: thu hút lượng lớn vốn FDI.
• Điều kiện/ sức ép thay đổi/ cái cách: thúc đẩy các doanh nghiệp cải thiện
năng lực cạnh tranh, công nghệ, kỹ năng quản lí.
• Thách thức:
• Chịu sự cạnh tranh gay gắt trên chính “sân nhà”.
• Có nguy cơ trở thành thị trường, nguồn cung lao động giá rẻ cho các nước
khác.
• Các DN yếu kém bị thâu tóm và chi phối.
• Đe dọa nguồn tài nguyên đất nước.
2. Giải pháp
2.1 Đối với Nhà nước Việt Nam


* Khẩn trương kiện toàn hệ thống luật pháp. Quốc hội đã thông qua Hiến pháp
năm 2013, và xác định từ nay đến năm 2020, Quốc hội tiếp tục phải sửa 87 đạo
luật nữa để phù hợp với những cam kết quốc tế.
* Tăng cường hợp tác quốc tế, đề nghị các nước, các tổ chức quốc tế hỗ trợ kỹ
thuật nhằm nâng cao năng lực của Việt Nam trong quá trình chuẩn bị và thực thi
các cam kết khi hội nhập quốc tế nói chung và TPP nói riêng
* Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện các cam kết cải cách, tái cơ cấu nền kinh tế, tái cơ
cấu hệ thống ngân hàng, và xây dựng, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường. Phối
hợp đồng bộ giữa chính sách tài khoá với chính sách tiền tệ, chính sách tỷ giá.
Việt Nam cần thực hiện mở cửa có giới hạn các giao dịch vốn, thẩm định kỹ
lưỡng các dự án sử dụng vốn nước ngoài, giám sát chặt chẽ sự chu chuyển của
các dòng vốn ngắn hạn và các giao dịch vốn trên thị trường chứng khoán. Cần
thực hiện mở cửa từng bước thị trường vốn cho nhà đầu tư nước ngoài theo lộ
trình hội nhập, đảm bảo dựa trên cam kết quốc tế và cần phù hợp với khả năng
giám sát và quản lý nguồn vốn đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài.
* Làm tốt công tác tuyên truyền để cộng đồng doanh nghiệp nắm bắt thật kỹ
càng các nội dung của TPP, qua đó nhận biết được các cơ hội lợi thế cần khai
thác triệt để cũng như các thách thức để có biện pháp ứng phó phù hợp với điều
kiện cụ thể của Việt Nam
* Chính phủ và các cơ quan quản lý nhà nước, các Bộ ngành liên quan cần
nghiên cứu để đưa ra được các bộ tiêu chuẩn, các tiêu chí để vừa đảm bảo chất
lượng sản phẩm được phép lưu thông tại Việt Nam và ngăn chặn các sản phẩm
không đủ tiêu chuẩn xuất khẩu vào Việt Nam, qua đó, tạo điều kiện cho doanh
nghiệp Việt Nam vươn lên
* Cần có chính sách phù hợp đúng đắn việc cấp phép và quản lý chặt chẽ đúng
đắn các doanh nghiệp FDI. Sản xuất hàng xuất khẩu mà Việt Nam đang có lợi
thế. Nếu cấp phép tràn lan, quản lý không chặt chẽ thì chỉ có được lợi thế thu hút
lao động mà còn triệt tiêu năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong nước, cùng
với phù phép chuyển giá, trốn thuế… thì Việt Nam chỉ là nơi họ mượn đất thuê
lao động và lợi dụng lợi thế ưu tiên mà Việt Nam được hưởng mà thôi.
* Với những quốc gia lấy xuất khẩu để đẩy mạnh tăng trưởng như Việt Nam,
cần phải có chính sách thỏa đáng và tập trung đầu tư vào những ngành có năng
lực tiềm năng xuất khẩu lớn như: dầu thô, hải sản. Các sản phẩm nông nghiệp
như cao su, gạo, cafê. Hàng dệt may cần được quan tâm và phát triển đúng
hướng. Mặt hàng thuộc sản phẩm công nghiệp như điện tử, sắt thép (đang tồn
kho lớn)
• Có chính sách ưu đãi phát triển nguyên liệu trong nước như trồng bông, kéo
sợi cho dệt may. Thức ăn gia súc, phân bón, thuốc phòng trừ dịch bệnh… cho sản


phẩm nông nghiệp xuất khẩu, sản phẩm sau chế xuất dần, buôn đỏ trong sản xuất
bô xít, đất hiếm… cho sản xuất sản phẩm công nghiệp xuất khẩu.
2.2 Đối với các doanh nghiệp
Để thực hiện theo quy định của hiệp định TPP các doanh nghiệp tham gia xuất
khẩu hoàn thiện các nội dung sau đây
- Từng bước thoát khỏi tình trạng làm gia công đặt hàng chờ công ty nước
ngoài bao tiêu sản phẩm bằng liên kết các doanh nghiệp trong nước và liên doanh
với các tập đoàn, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài để khép kín chu trình
sản xuất mặt bằng xuất khẩu
- Liên doanh với các tập đoàn, doanh nghiệp nước ngoài tạo năng lực về vốn,
công nghệ để sản xuất và xuất khẩu trực tiếp sang các thị trường lớn.
- Các doanh nghiệp xuất khẩu cần chủ động kết hợp với các địa phương tổ
chức sản xuất và khai thác nguyên liệu trở thành những vùng, những cụm công
nghiệp để phát huy thế mạnh, tập trung vào các sản phẩm mà Việt Nam có lợi thế
hình thành các chuỗi cung ứng để có thể tạo được chỗ đứng vững chắc trong các
chuồi giá trị khu vực và toàn cầu
- Củng cố và tạo sản phẩm cho hoạt động chứng khoán thông qua việc kiên
quyết thực hiện cổ phần hóa DNNN, tạo khả năng huy động vốn dài hạn cho
doanh nghiệp sản xuất kinh doanh đủ vốn và năng lực cạnh tranh ngay trên sân
nhà.
- Tiếp cận và cập nhật thông tin, xây dựng hệ thống tiêu chuẩn chất lượng đáp
ứng các yêu cầu về chất lượng, an toàn thực phẩm, chuẩn bị nguồn cung cấp để
đảm bảo nguyên liệu đầu vào có nguồn gốc hợp pháp và chất lượng tốt
- Doanh nghiệp nhà nước phải công khai, minh bạch hoạt động và cạnh tranh
công bằng với doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác, nên chúng ta
phải đẩy nhanh tiến trình tái cơ cấu, nâng cao hiệu quả của doanh nghiệp nhà
nước đồng thời khuyến khích phát triển mạnh doanh nghiệp Việt Nam, nhất là
doanh nghiệp tư nhân làm động lực nâng cao sức cạnh tranh và tính tự chủ của
nền kinh tế.
- Đổi mới công nghệ, tạo ra nhiều sản phẩm-dịch vụ hiện đại phục vụ cho các
hoạt động xuất-nhập khẩu, đầu tư, ngân hàng bán lẻ; Nâng cao khả năng hội
nhập, mở rộng màng lưới và tăng cường kết nối với hệ thống ĐCTC trong khu
vực và trên thế giới; và nghiên cứu sâu các FTAs nhằm tư vấn cho doanh nghiệp


về mô hình hoạt động, chiến lược kinh doanh, xúc tiến đầu tư-thương mại, quản
lý rủi ro...
==> Tất cả các giải pháp trên cần nhanh chóng được thực hiện ngay từ lúc
này, tuy nhiên biện pháp đầu tiên và quan trọng nhất là công tác tuyên truyền
để cộng đồng doanh nghiệp nắm bắt thật kỹ càng các nội dung của TPP, qua
đó nhận biết được các cơ hội lợi thế cần khai thác triệt để cũng như các thách
thức để có biện pháp ứng phó phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam.
V. Dự kiến thay đổi của Mỹ đến TPP sau kì bầu cử tổng thống thứ 45
Tại cuộc vận động vào cuối tháng 10, ông Trump cho biết vào ngày làm việc đầu
tiên của mình, ông sẽ thông báo việc Mỹ có ý định rút khỏi TPP. Ông cho rằng
đó là việc quan trọng để làm.
Chính quyền Mỹ ngày 3.11 đã đưa ra cảnh báo mới nhất liên quan tới Hiệp định
đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) . Theo đó, Hội đồng Cố vấn kinh tế Nhà
Trắng (CEA) cho rằng hàng triệu việc làm của công dân Mỹ sẽ mất đi nếu TPP
không được thông qua, đặc biệt khi Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực
(RCEP) sẽ khiến các đối thủ trên bình diện kinh tế như Trung Quốc nắm giữ lợi
thế cạnh tranh. Tuy nhiên thì tỷ phú Donal Trump vẫn kiên quyết bảo vệ lập
trường của mình trong việc phản đối Hiệp định Đối tác xuyên TBD (TPP).
Nếu ông Trump chính thức lên làm tổng thống thì sẽ là một cú sốc lớn đối với
Thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng. Do các quan điểm cứng rắn và không
có lợi cho kinh tế toàn cầu. Chủ nghĩa bảo hộ sẽ lên ngôi sau cuộc bầu cử này.
Khi Mỹ đóng vai trò kích hoạt, tiến trình toàn cầu hóa do đó sẽ bị chậm lại, ảnh
hưởng đến thương mại toàn cầu. Đồng thời dưới góc độ tài chính thì khả năng
nhà đầu tư sẽ chuyển hướng về các tài sản rủi ro ( vàng, trái phiếu..) nên kéo theo
thị trường chứng khoán của TG và Việt Nam sẽ có nhịp điệu điều chỉnh giảm.
Ngoài ra nếu Donal Trump đắc cử sẽ có thể tăng thuế nhập khẩu và ảnh hưởng
đến nhiều mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam như dệt may, giày dép, thủy
sản… Đây đêu là những ngành có kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD sang Mỹ
trong những tháng đầu năm nay. Và nếu thiếu đi TPP sẽ là mất mát lớn cho Việt
Nam.


Tài liệu tham khảo:
http://news.zing.vn/y-nghia-sau-nhung-tac-dong-cua-hiep-dinh-the-ky-tpppost587259.html
http://nghiencuubiendong.vn/toan-cau-hoa-hoi-nhap-kinh-te/5920-tpp-va-nhungtac-dong-doi-voi-chau-a-thai-binh-duong
http://nistpass.gov.vn:81/tin-chien-luoc-chinh-sach/1610-tac-dong-cua-hiep-dinhtpp-den-nen-kinh-te-cac-nuoc-thanh-vien.html
http://www.thesaigontimes.vn/136732/Tac-dong-cua-TPP.html
http://www.vietnamplus.vn/hiep-dinh-tpp-va-nhung-tac-dong-toi-kinh-te-chauau-the-gioi/347882.vnp
https://www.facebook.com/davmun.vn/posts/932779773483667:0
https://vi.m.wikipedia.org/wiki/Hiệp_định_Đối_tác_xuyên_Thái_Bình_Dương
http://www.ezlawblog.com/2015/05/lich-su-hinh-thanh-cac-cot-moc-quan.html?
m=0
http://www.customs.gov.vn/Lists/ThongKeHaiQuan/ViewDetails.aspx?
ID=914&Category=Ph%C3%A2n%20t%C3%ADch%20%C4%91%E1%BB%
http://www.tradingeconomics.com/vietnam/imports



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×