Tải bản đầy đủ

thực trạng đô la hóa của việt nam trong những năm gần đây

HỌC VIỆN CHÍNH SÁCH VÀ PHÁT TRIỂN

MÔN HỌC - KINH TẾ QUỐC TẾ
----------

TIỂU LUẬN MÔN KINH TẾ QUỐC TẾ:

“THỰC TRẠNG ĐÔ LA HÓA CỦA VIỆT NAM
TRONG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY”
Giảng viên bộ môn:

Phan Thị Thanh Huyền

Thành viên nhóm 7: Nguyễn Thị Thu Uyên – QLĐT5 (5053101342)
Nguyễn Việt Anh – QLĐT5 (5053101303)
Lê Thị Ngân – TCC5A (5053402046)
Lô Văn Tào – QHPT5 (5053101234)
Trần Mạnh Khương – TCC5B (5053105021)
Phạm Khánh Chi – QHPT4(5043101104)

Hà Nội, 20/11/ 2016


1


LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Với xu hướng toàn cầu hóa, quan hệ thương mại quốc tế, đầu tư quốc tế
ngày càng được củng cố và phát triển mạnh mẽ. Việc tham gia vào phân công
lao động quốc tế đem lại cho những nước đang phát triển như Việt Nam cơ hội
lớn để thúc đẩy phát triển kinh tế trong nước, nâng cao đời sống của nhân dân.
Thông qua hoạt động thương mại, thu hút đầu tư nước ngoài, Việt Nam có cơ
hội tích lũy nguồn ngoại tệ lớn, đảm bảo nhu cầu nhập khẩu, tăng cường quỹ dự
trữ ngoại hối quốc gia. Nhưng đồng thời, nó cũng làm cho nền kinh tế nước nhà
nhạy cảm hơn bao giờ hết với những biến động của nền kinh tế thế giới, và
không tránh khỏi những tác động tiêu cực. Một trong những đe dọa từ xu hướng
toàn cầu hóa chính là tình trạng đô la hóa nền kinh tế - khi mà đồng bản tệ mất
đi vị trí trọng tâm của nó trong thanh toán, cất trữ giá trị. Đây là vấn đề chung
của những nước đang phát triển, nhưng đối với Việt Nam thì vấn đề này còn
trầm trọng hơn. Tình trạng lạm phát cao trong quá khứ đã làm xói mòn lòng tin
của nhân dân vào VND. Người dân trở nên sùng bái USD trong giao dịch các
hàng hóa có giá trị và cất trữ. Để tìm hiểu sâu sắc hơn về thực trạng, nguyên
nhân, những tác động và từ đó đưa ra giải pháp cho tình trạng đô la hóa, đề tài
“THỰC TRẠNG ĐÔ LA HÓA CỦA VIỆT NAM TRONG NHỮNG NĂM
GẦN ĐÂY” được thực hiện. Trong phạm vi nghiên cứu, đề tài sẽ chỉ tập trung
xem xét đô la hóa bằng đồng USD đến nền kinh tế Việt Nam từ năm 2011 cho
đến nay
2. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, đề tài sử dụng phương pháp phân tích định
tính dựa trên cơ sở lý thuyết kinh tế học đã được chấp nhận rộng rãi, kết hợp với
việc phân tích, suy luận để ứng dụng cho thực tế Việt Nam. Nguồn dữ liệu sử
dụng trong đề tài là nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập từ NHNN, Tổng cục
thống kê, ADB, IMF …

2


3. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài sẽ chỉ tập trung xem xét đô la hóa bằng đồng USD đến nền kinh tế
Việt Nam từ năm 2011 cho đến nay. Trọng tâm nghiên cứu là thực trạng,
nguyên nhân đô la hóa ở Việt Nam hiện nay, từ đó đưa ra đánh giá và kiến nghị

giải pháp khắc phục hiện tượng trên.
4. Kết cấu đề tài:
Đề tài gồm 4 chương
Chương 1: Khái niệm của Đô la hóa
Chương 2: Tác động của Đô la hóa
Chương 3: Thực trạng của Đô la hóa ở Việt Nam giai đoạn 2011 đến nay
Chương 4: Những giải pháp chống Đô la hóa ở Việt Nam trong những
năm tới

3


CHƯƠNG I: KHÁI NIỆM VỀ ĐÔ LA HÓA
1.1. Khái niệm về Đô la hóa
Đô la hóa là tình trạng ngoại tệ được sử dụng rộng rãi thay thế cho đồng
bản tệ trong toàn bộ hoặc 1 số chức năng tiền tệ.
1.2. Phân loại Đô la hóa
1.2.1. Căn cứ vào hình thức đô la hóa được thể hiện dưới 3 hình thức sau:
1.2.1.1. Đô la hóa thay thế tài sản:
- Thể hiện qua tỉ lệ tiền gửi ngoại tệ trên tổng phương tiện thanh toán.
Theo IMF tỉ lệ này trên 30% thì nền kinh tế đó được cho là có tình trạng đola
hóa cao, tạo ra các lẹch lạc trong điều hành tài chính tiền tệ vĩ mô.
- Biểu hiện của tình trạng này là người dân rất thích nắm giữ trái phiếu
ngoại tệ, gửi tiết kiệm bằng ngoại tệ để bảo vệ tài sản của họ trước tình hình lạm
phát trong nước.
1.2.1.2. Đô la hóa phương tiện thanh toán:
-Thể hiện qua mức độ sử dụng ngoại tệ trong thanh toán. Các giao dịch
bất hợp pháp bằng ngọi tệ rất khó đánh giá nhất la đối với những nền kinh té tiền
mặt như việt nam.
- Biểu hiện: người dân nắm giữ một lượng lớn tiền gửi bừng ngoại tệ
trong hệ thống ngân hàng (nếu được pháp luật cho phép), chi trả bằng ngoại tệ
những hàng hóa co giá trị cao như ôtô, bất động sản
1.2.1.3. Đô la hóa định giá, niêm yết giá:
-Là việc niêm yết, quảng cáo, định giá bằng ngoại tệ.
-Người dân có xu hứng neo giữ tất cả các loại mặt hàng vào một đồng
ngoại tệ mạnh để quy đổi ra đồng nội tệ.
1.2.2. Căn cứ vào phạm vi đô la hóa được chia thành 3 loại:
1.2.2.1. Đô la hóa chính thức hay còn goi là đô la hóa hoàn toàn xảy ra khi đồng
ngoại tệ là đông tiền hợp pháp duy nhất được lưu hành. Nó được sử dụng hợp
pháp trong hợp đồng tu nhân và các khảo thanh toán chính phủ. Một số nước bị
đô la hóa chính thức như: panama, Ecuado, Salvador.
4


1.2.2.2. Đô la hóa bán chính thức là đô la hóa từng phần là tình trạng đồng
ngoại tệ có chức năng như một đồng tiền hợp pháp thứ hai của nền kinh tế. Một
số nước đang bị đô la hóa bán chính thứcc như: Bahamas, Campuchia, Haiti, Lào.
1.2.2.3. Đô la hóa không chính thức là trường hợp đồng ngoại tệ được sủ
dụng rộng rãi trong nền kinh tế, mặc dù không được quốc gia đó chính thức
thừa nhận. Phần lớn người dân đã quen với việc sử dụng ngoại tệ nhưng Chính
phủ vẫn nghiêm cấm niêm yết giá hàng hóa bằng ngoại tệ và cấm sủ dụng ngoại
tệ đối với hầu hết các giao dịch trong nước. Một số nước xếp trong nhóm này là
hầu hết các nước ở châu Mỹ Latin, phần lớn các nước thuộc liên bang Xô viết cũ
và Việt Nam cũng được xếp vào nhóm này.
1.3. Nguyên nhân đô la hóa ở Việt Nam
Thứ nhất, tỷ lệ lạm phát cao ở Việt Nam khiến sức mua của đồng bản tệ
giảm sút thì người dân phải tìm các công cụ dự trữ giá trị khác, trong đó có đồng
ngoại tệ có uy tín như USD. Song song với chức năng làm phương tiện cất giữ
giá trị, dần dần đồng ngoại tệ sẽ cạnh tranh với đồng nội tệ trong chức năng làm
phương tiện thanh toán hay làm thước đo giá trị.
Thứ hai, hiện tượng đô la hoá bắt nguồn từ cơ chế tiền tệ thế giới hiện đại,
trong đó tiền tệ của một số quốc gia phát triển, đặc biệt là đô la Mỹ, được sử dụng
trong giao lưu quốc tế làm vai trò của "tiền tệ thế giới". Nói cách khác, đô la Mỹ
là một loại tiền mạnh, ổn định, được tự do chuyển đổi đã được lưu hành khắp thế
giới và từ đầu thế kỷ XX đã dần thay thế vàng, thực hiện vai trò tiền tệ thế giới.
Thứ ba, khi thực thi cơ chế kinh tế thị trường mở cửa làm cho quá trình
quốc tế hoá giao lưu thương mại, đầu tư và hợp tác kinh tế ngày càng tác động
trực tiếp vào nền kinh tế và tiền tệ của nước ta nên xuất hiện nhu cầu khách quan
sử dụng đơn vị tiền tệ thế giới để thực hiện một số chức năng của tiền tệ.
Thứ tư, tình trạng buôn lậu, nhất là buôn bán qua biên giới và trên biển
khá phát triển và sự quản lý lỏng lẻo của chính quyền các cấp. Tình trạng các
doanh nghiệp, các cửa hàng kinh doanh... bán hàng thu bằng ngoại tệ còn tuỳ
tiện và diễn ra phổ biến.
5


Thứ năm, thu nhập bằng đô la Mỹ trong các tầng lớp dân cư ngày càng
được mở rộng và tăng lên. Đó là thu nhập của những người Việt Nam làm việc
cho các công ty nước ngoài và các tổ chức quốc tế ở Việt Nam; tiền cho người
nước ngoài thuê nhà và kinh doanh du lịch; khách quốc tế đến và chi tiêu đô la
bằng tiền mặt ở Việt Nam; người nước ngoài sinh sống và làm việc ở Việt Nam
tiêu dùng; tiền của người Việt Nam định cư ở nước ngoài gửi về; tiền của những
người đi xuất khẩu lao động, đi học tập, hội thảo, làm việc ngắn ngày mang về.

6


CHƯƠNG II: TÁC ĐỘNG CỦA ĐÔ LA HÓA
2.1. Tác động tích cực
Lợi ích lớn nhất của đô la hóa có lẽ là nó mang lại sự ổn định kinh tế, tỉ lệ
lạm phát cao sẽ được kiềm chế xuống mức kiểm soát được. Với các nước đô la
hóa chính thức, do có một lượng lớn đô la Mỹ trong hệ thống ngân hàng nên
ngân hàng trung ương sẽ không còn khả năng phát hành thêm tiền và gây ra lạm
phát. Đồng thời ngân sách nhà nước do không thể phát hành thêm tiền để bù đắp
thâm hụt nên việc sử dụng ngân sách sẽ mang tính tích cực hơn.
Đô la Mỹ là đồng tiền đáng tin cậy trên thế giới, cho nên đô la hóa sẽ giảm
thiểu các rủi ro về khả năng mất giá tiền tệ, loại bỏ rủi ro cán cân thanh toán và
đồng thời sẽ giúp hạ lãi suất khuyến khích tự do thương mại và đầu tư quốc tế.
Đô la hóa sẽ giúp thu hút đầu tư nước ngoài một khi họ biết là giá trị tài sản quy
ra tiền của họ sẽ không thay đổi, những điều này sẽ đưa đến tốc độ phát triển
nhanh và đầu tư tăng.
Ở các nước có hiện tượng đô la hóa chính thức thì chi phí giao dịch sẽ được
hạ thấp vì các chi phí như chênh lệch tỷ giá mua và bán khi chuyển đổi từ đồng
tiền này sang đồng tiền khác được xóa bỏ.
Hạn chế việc vay nợ nước ngoài và tăng cường khả năng cho vay của ngân
hàng cũng như khả năng hội nhập kinh tế quốc tế. Điều này là bởi vì ngân hàng
huy động được một lượng lớn ngoại tệ thu được từ tiền gửi của người dân vào
hệ thống khi mà lãi suất ngoại tệ hấp dẫn. Từ nguồn ngoại tệ đó NHTM cho các
doanh nghiệp vay nên hạn chế được việc phải đi vay nợ nước ngoài.
Thu hẹp chênh lệch tỷ giá trên hai thị trường chính thức và phi chính thức.
Tỷ giá chính thức càng gần với thị trường thi chính thức thì sẽ tạo động cơ để
chuyển các hoạt động từ thị trường phi chính thức (bất hợp pháp) sang thị
trường chính thức (thị trường hợp pháp)
2.2. Tác động tiêu cực
Ảnh hưởng đến việc hoạch định các chính sách kinh tế vĩ mô. Một nền kinh
tế có tỷ trọng ngoại tệ lớn sẽ làm cho các chính sách kinh tế vĩ mô, đặc biệt là
7


chính sách tiền tệ bị mất đi tính độc lập mà lại chịu nhiều ảnh hưởng bởi diễn
biến kinh tế quốc tế, nhất là khi xảy ra các cuộc khủng hoảng kinh tế.
Tuy đô la hóa mang lại sự ổn định cho cả nước, nó cũng đồng thời làm cho
nền kinh tế dễ bị tổn thương và nhạy cảm ơn với những thay đổi liên quan đến
giá trị của đồng đô la cho dù sự dao động ấy bắt nguồn từ các thay đổi trong nội
bộ nền kinh tế Mỹ.
Quốc gia thực hiện đô la hóa sẽ không thể đối phó với các cú sốc kinh tế, ví
dụ như dao động của giá dầu trên thị trường thế giới, bằng cách thay đổi tỉ giá
hối đoái. Đô la hóa sẽ vô hiệu hóa cách sử dụng chính sách tỉ giá hối đoái.
Ngoài việc đánh mất khả năng in tiền, là một trong những biện pháp tài
chính cực kỳ quan trọng, nước thực hiện đô la hóa sẽ mất ưu quyền tiền tệ. Về
cơ bản ưu quyền tiền tệ là lợi nhuận thu được từ việc phát hành tiền. Đây là một
hình thức kinh doanh rất có lãi. Chính phủ Mỹ thu được khoảng 25 tỷ USD một
năm từ ưu quyền tiền tệ, và khi người dân các nước khác giữ tờ USD trong tay
thì họ đã góp phần làm giàu cho Bộ Tài chính Mỹ.
Một hạn chế nữa của đô la hóa là nỗi lo sợ tiền giả (ngay cả Mỹ cũng khó
phân biệt được tiền giả khi mà công nghệ làm tiền giả hiện nay ngày càng tinh vi
và các máy móc có khi còn khó có thể phát hiện ra được).
Đô la hóa chính thức sẽ làm mất đi chức năng của ngân hàng trung ương là
người cho vay cuối cùng của các ngân hàng. Trong các nước đang phát triển
chưa bị đô la hóa hoàn toàn, mặc dù các ngân hàng có vốn tự có thấp, song
người dân vẫn tin tưởng vào sự an toàn đối với các khoản tiền gửi của họ tại các
ngân hàng. Nguyên nhân là do có sự bảo lãnh ngầm của Nhà nước với các khoản
tiền này. Điều này chỉ có thể làm được đối với đồng tiền nội tệ, chứ không thể
áp dụng được đối với đô la Mỹ. Đối với các nước đô la hóa hoàn toàn, khu vực
ngân hàng sẽ trở nên bất ổn hơn trong trường hợp ngân hàng thương mại bị phá
sản và sẽ phải đóng cửa khi chức năng người cho vay cuối cùng của ngân hàng
trung ương đã bị mất.

8


CHƯƠNG III: THỰC TRẠNG ĐÔ LA HÓA Ở VIỆT NAM
GIAI ĐOẠN 2011 ĐẾN NAY
3.1. Giai đoạn 2011 - 2015
3.1.1. Thực trạng đô la hóa từ năm 2011 - 2015
Trước năm 2011, tỷ lệ tiền gửi ngoại tệ USD ở Việt Nam giữ ở mức cao,
đỉnh điểm là năm 1992 với hơn 41% tỷ lệ tiền gửi bằng đồng USD.
Sau đó con số này có xu hướng giữ ổn định từ 20-30% đến cuối năm
2010. Để giải quyết thực trạng trên, NHNN đã thực hiện các biện pháp tăng
cường dự trữ ngoại hối, áp đặt trần lãi suất bằng ngoại hối dưới 3% trong năm
2011 với mục tiêu là làm giảm sự hấp dẫn việc nắm giữ ngoại tệ tại các ngân
hàng và hoạt động vay mượn đô la Mỹ của các doanh nghiệp lúc bấy giờ; đồng
thời giúp cung bằng ngoại tệ rồi rào hơn.
Nhờ các biện pháp trên, tỷ lệ dự trữ ngoại hối của các ngân hàng sau đó
đã tăng đáng kể. Từ năm 2011 với 4% đã tăng đến 8% vào năm 2015. Diễn biến
đô la hóa ở Việt Nam đi vào ổn định hơn với xu hướng giảm dần từ 30%(1990)
đến 12,3%(2012) và giữ ổn định ở mức 12% từ T8/2013 đến năm 2015.
Trong hai năm 2013 và 2014 ngân hàng nhà nước giữ cam kết không phá
giá quá 2% nhằm ổn định tâm lý thị trường và người dân hướng tới mục tiêu
chống đô la hóa thì trong năm 2015 cam kết này đã chính thức phá vỡ:
+7/1 đến 7/5/2015: NHNN tăng hết biên độ 2% cho cả năm
+12/8/2015: dưới sức ép đồng NDT, NHHN tiếp tục nâng biên độ từ
±1% lên ±3%
Như vậy NHNN đã tăng tỷ giá lên 5% cho cả năm 2015
3.1.2. Ảnh hưởng từ việc Trung Quốc phá giá đồng Nhân dân tệ
a. Vài nét trước thực trạng Trung Quốc phá giá đồng NDT
Trong những này đầu tháng 8 năm 2015, thông tin việc Trung Quốc phá giá
đồng nhân dân tệ đã khiến cho cả thế giới chấn động. Bản chất của việc phá giá
tiền tệ là việc giảm giá trị của đồng nội tệ so với các đồng ngoại tệ, mức mà

9


chính phủ đã cam kết duy trì trong chế độ tỷ giá hối đoái cố định. Việc phá giá
đồng Nhân Dân Tệ (NDT) nghĩa là việc giảm giá trị của nó so với các đồng
ngoại tệ khác như USD, EURO, VNĐ,... Hay nói cách khác việc đồng NDT bị
mất giá so với đồng ngoại tệ nghĩa là 1 đồng ngoại tệ giờ đây đổi được nhiều
NDT hơn và đồng NDT sẽ “rẻ” hơn tương đối so với các ngoại tệ khác. Bởi vậy,
hàng hóa Trung Quốc sẽ rẻ hơn đối với thị trường nước ngoài (thanh toán bằng
ngoại tệ). Ngược lại hàng hóa nước ngoài (tính bằng ngoại tệ) trở nên đắt đỏ hơn
đối với túi tiền của người Trung Quốc (thanh toán bằng NDT)
 Trung Quốc được hưởng lợi từ việc này?
• Hàng hóa dịch vụ xuất khẩu trở nên rẻ hơn nên tăng xuất siêu trong
cán cân thương mại quốc tế
• Xuất khẩu nhiều hơn nên thu được nhiều ngoại tệ hơn tăng dự trữ
ngoại hối để kiểm soát tình hình trong nước
• Các nước doanh nghiệp Trung Quốc bán hàng ra nước ngoài được
hưởng lợi vì trả lương bằng NDT mà thu về doanh thu bằng USD.
 Đối tác thương mại của Trung Quốc bất lợi
• Các nước chịu tác động lớn nhất từ việc giảm giá bao gồm Brazil,
Úc, New Zealand, có quan hệ kinh tế với Trung Quốc là mạnh nhất.
• Trung quốc phá giá đồng NDT khiến tình hình kinh tế bất ổn,
chứng khoán, bất động sản giảm giá. Chứng khoán giảm tác động
làm cổ phiếu giảm giá khiến cho các tài sản của cá tỷ phú khi qui ra
USD giảm.
 Việt Nam gặp bất lợi gì từ việc này?
Là quốc gia láng giềng, đồng thời lại là đối tác thương mại lớn nhất
của Việt Nam, việc Trung Quốc phá giá đồng NDT chắc chắn ảnh hưởng
tới nền kinh tế Việt Nam. Ảnh hưởng đầu tiên là cán cân thương mại Việt
Nam - Trung Quốc có thể thâm hụt nặng hơn. Chỉ tính riêng trong 7 tháng
đầu năm 2015, Trung Quốc vẫn là thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt
Nam, với kim ngạch ước tính đạt 28,8 tỷ USD, tăng 22,5% so với cùng kỳ
năm trước. Do đó lượng hàng giá rẻ hơn từ Trung Quốc sang thị trường
Việt Nam sẽ là sức ép với doanh nghiệp nội địa. Hiện nay, thâm hụt cán

10


cân thương mại của Trung Quốc đối với Việt Nam là rất lớn (gần 17 tỷ
USD). Ở góc độ vĩ mô, trong cán cân thương mại chung, xuất khẩu của
Việt Nam sang Trung Quốc chỉ chiếm 10% tỷ trọng, nhưng ở chiều nhập
khẩu là 30%. Với tình hình trên, nếu cơ quan điều hành không có những
phòng vệ thích đáng thì nhập siêu từ Trung Quốc sẽ tăng mạnh, vì đồng
NDT mất giá thì hàng hoá của Trung Quốc vào Việt Nam sẽ rất rẻ, gây
khó khăn cho sự cạnh tranh của các sản phẩm trong nước. Vì vậy, việc
phá giá đồng NDT, hàng hóa Trung Quốc sẽ rẻ hơn và thâm nhập sâu hơn
vào thị trường Việt Nam. Ở chiều ngược lại, hàng hóa Việt Nam trở nên
đắt hơn tại Trung Quốc, sức cạnh tranh của hàng Việt Nam tại Trung
Quốc giảm, ảnh hưởng nhất định đến xuất khẩu của Việt Nam.

b. Một số giải pháp của NHNN Việt Nam trước thực trạng trên
 Điều chỉnh tỷ giá là bắt buộc
Với đặc thù TQ là đối tác chiếm tỷ trọng thương mại lớn của VN thì
việc điều chỉnh tỷ giá đồng nhân dân tệ sẽ có tác động bất lợi tới nền kinh
tế VN. Vì vậy, để tạo chủ động, linh hoạt cho tỷ giá trước các tác động bất
lợi trên thị trường quốc tế, đảm bảo khả năng cạnh tranh của hàng hóa VN,
NHNN quyết định nới biên độ tỷ giá như trên.
• Ngày 12/8, NHNN quyết định điều chỉnh tăng biên độ tỉ giá từ mức
+/-1% lên +/-2%, áp dụng từ ngày 12/8. Ngay sau khi có quyết định
từ NHNN, các ngân hàng thương mại đã đồng loạt điều chỉnh giá
mua bán USD. Vietcombank công bố giá bán USD tăng 206 đồng
lên 22.046 đồng; mua vào tăng 180 đồng, lên 21.960 đồng. Trên thị
trường tự do, giá USD biến động mạnh ở mức mua vào và bán ra
11


21.950 – 22.150 đồng. Trong khi đó, ngay sau khi có thông tin
NHNN điều chỉnh tỷ giá, giá vàng miếng đã tăng mạnh, cao nhất
đạt 33,3 triệu đồng/lượng, tăng 240.000 đồng/lượng so với cuối
ngày hôm qua.
• Tuy nhiên, trước bối cảnh đồng Nhân dân tệ tiếp tục phá giá mạnh,
ngày 19/8, NHNN đã quyết định điều chỉnh kép tăng tỷ giá thêm
1% lên mức 21.890 VND/USD và nới biên độ từ +/-2% lên +/-3%,
theo đó giá mua bán USD của các ngân hàng có thể biến động trong
phạm vi từ 21.233 đồng/USD (sàn) đến 22.547 đồng/USD
(sàn).Trước đó, NHNN tái khẳng định sẽ không phá giá VND quá
2% trong năm nay. Mức biên độ phá giá này đến nay đã được sử
dụng hết trong hai lần phá giá tháng 1 và tháng 5 vừa qua. Việc
giảm giá của nhiều đồng tiền khu vực đang gây áp lực lớn về phá
giá VND. Động thái của NHNN là phản ứng kịp thời để giải tỏa áp
lực thị trường, cho phép tỷ giá có thể tăng nhiều hơn trước đây mà
vẫn duy trì được tỷ giá hối đoái chính thức. Chỉ số VN-Index trong
3 ngày sau khi Trung Quốc phá giá đồng NDT đã sụt giảm tổng
cộng 20,27 điểm, tương ứng 3,3%. Ngày 13/8/2015, 26 trong tổng
số 30 cổ phiếu thuộc chỉ số VN-30 giảm điểm…
Với thông tin này, thị trường ngoại hối lập tức nóng lên. Giá USD
ngân hàng thiết lập mặt bằng mới, có lúc lên 22.400 đồng. Giá vàng SJC
bán ra gần chạm ngưỡng 35 triệu đồng một lượng vào sáng nay, cao hơn 2
triệu đồng so với đầu tuần.

12


Trước tình hình biến động về tỷ giá như vậy khiến cho người dân có
tâm lý găm giữ ngoại tệ nhằm hưởng lợi từ việc chênh lệch này.Song song
với đó thì theo thống kê cuả ngân hàng nhà nước bình quân tiền gửi tại các
tổ chức tín dụng từ đầu năm cho đến cuối tháng 6 chỉ tăng từ 0,4-0,7%/
tháng. Nhưng riêng tháng 9 tiền gửi tiết kiệm đô la mỹ lại tăng tới 5% , tiền
gửi thanh toán của doanh nghiệp tăng tới 9%.
 Hạ lãi suất tiền gửi ngoại tệ về 0%
Trước tình hình đó, để tiếp tục thực hiện các giải pháp đồng bộ nhằm thực
hiện chủ trương chống đô la hóa của Chính phủ, chuyển từ quan hệ huy động cho vay bằng ngoại tệ sang quan hệ mua - bán bằng ngoại tệ, Ngân hàng Nhà
nước Việt Nam ban hành Quyết định số 2589/QĐ-NHNN ngày 17/12/2015 về
mức lãi suất tối đa đối với tiền gửi bằng Đô la Mỹ trong đó mức lãi suất áp dụng
đối với tiền gửi của tổ chức (trừ tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước
ngoài) là 0%/năm; Mức lãi suất áp dụng đối với tiền gửi của cá nhân là 0%/năm.
Đây là lần thứ 2 liên tiếp trong gần 3 tháng lãi suất tiết kiệm USD được
điều chỉnh giảm. Trước đó, ngày 28/9, lãi suất tiền gửi bằng USD áp dụng đối
với tiền gửi của tổ chức (trừ tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài)
giảm từ 0,25% xuống còn 0%/năm; mức lãi suất tối đa áp dụng đối với tiền gửi
của cá nhân là 0,25%/năm, giảm tới 0,5%/năm. Rõ ràng việc hạ lại suất xuống
0% vào năm 2015 đã phần nào tác động nên thị trường. Khi người dân cũng

13


như doanh nghiệp có xu hướng tính toán chuyển từ đồng đô la sang VNĐ để gửi
tiết kiệm và đi đúng định hướng chống đô la hóa của ngân hàng nhà nước.
Như vậy mặc dù trong năm 2015 ngân hàng nhà nước không giữ vững cam
kết ổn định tỷ giá như trong năm 2013-2014 nhưng việc đưa ra nhiều biện pháp
đồng bộ cũng cho thấy sự quyết liệt và mạnh mẽ trong chặng đường chống đô
la hóa của ngân hàng nhà nước.
3.2. Từ năm 2016 đến nay
Năm 2016 và những năm tiếp theo, tổng ngoại tệ vào Việt Nam vẫn lớn
hơn tổng ngoại tệ ra khỏi Việt Nam. Tỉ lệ mất giá của VNĐ trong năm 2016
chắc chắn cao hơn mức điều chỉnh tỉ giá thông thường hàng năm từ 1-2% như
trước đây. Dự báo tỉ giá USD/ VNĐ năm 2016 tăng không quá 4%.
3.2.1. Thực trạng đô la hóa quý I năm 2016 :
Ngay từ đầu năm, NHNN đã áp dụng cơ chế tỉ giá trung tâm được niêm yết
theo ngày. Cơ chế này giúp ngăn chặn hoạt động đầu cơ lướt sóng, ổn định thị
trường ngoại hối cũng như tăng cường giải pháp chống đô la hóa nền kinh tế. từ
đó sẽ giúp thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Khi các nhà đâu tư khi quyết định
đầu tư ở một quốc gia bao giờ cũng mong muốn có một nền kinh tế vĩ mô ổn
định. Đô la hóa là một trong những nguyên nhân gây bất ổn thị trường ngoại hối
cũng như tỉ giá. Khi NHNN thực thi biện pháp chống đô la hóa sẽ góp phần ổn
định thị trường ngoại hối và tỉ giá được chứng minh từ 2011-2015. Khi đô
la hóa giảm , bất ổn sẽ giảm theo.
Kết quả quý I cho thấy tỉ giá trên thị trường giao dịch giảm nhanh xuống
mặt bằng mới thấp xa so với mặt bằng tỉ giá cuối năm 2015. Tính đến đầu tháng
4 năm 2016, tỉ giá trung tâm đã giảm khoảng 200 đồng / USD so với ngày công
bố đầu tiên ( 4/1/2016 ).
3.2.2. Thực trạng đô la hóa quý III so với quý II năm 2016 :
Dư nợ cho vay ngoại tệ tăng đáng kể so với quý II. Điều này phản ánh việc
vay ngoại tệ đã sôi động trở lại sau 3 tháng bị đứt quãng vào tháng 4 và tháng 5
năm 2016. Vietcombank sau khi đã giảm 6 tháng đầu năm thì trong quý III đã
14


tăng trở lại với mức tăng 12,2 % so với quý II, cao hơn nhiều so với mức tăng 34 % của VNĐ quý III so với quý II. Nhiều ngân hàng giảm mạnh lãi suất tiền
gửi VNĐ vào cuối tháng 9 và đầu tháng 10. Trong khi đó chỉ số giá tiêu dùng
đến tháng 10 đã tăng 4% so với đầu năm làm cho kênh tiền gửi ngân hàng có thể
giảm dần sức hấp dẫn. Nhất là khi nhiều dự báo cũng cho rằng khả năng FED sẽ
tăng lãi suất cơ bản vào cuối năm, giúp đồng USD tăng mạnh so với các loại
tiền khác.
3.2.3. Thực trạng đô la hóa quý IV năm 2016 :
Tỉ giá USD/VNĐ đã có nhiều diễn biến đáng chú ý trong tuần cuối tháng
10 vừa qua. Tỉ giá trung tâm niêm yết ngày 29/10 là 22.045 đồng tăng 26 đồng
so với tháng 9/2016. Nhu cầu vay vốn ngoại tệ đang tăng trở lại kể từ giữa quý
III đến nay và dự kiến sẽ tiếp tục cao trong những tháng còn lại của năm. Nhất
là khi quy định cho phép doanh nghiệp xuất khẩu vay vốn ngoại tệ sẽ kết thúc
vào 31/12/2016 theo thông tư 07/2016/TT- NHNN của ngân hàng nhà nước. Với
chênh lệch lãi suất USD và VNĐ ở mức quanh 3% nên doanh nghiệp vẫn
chuộng vay USD hơn. Do đó mục tiêu Việt Nam sẽ xử lí dứt điểm đô la hóa
trước 2020 vẫn còn xa vời.

15


CHƯƠNG IV: NHỮNG GIẢI PHÁP CHỐNG ĐÔ LA HÓA
Ở VIỆT NAM TRONG NHỮNG NĂM TỚI
Thứ nhất, cần thực hiện các biện pháp vĩ mô để tăng dự trữ Đô la Mỹ
(USD); chủ động trong điều hành tỷ giá, tránh tăng tỷ giá quá mạnh gây kích
thích tâm lý dự trữ USD; thực hiện đa dạng hóa ngoại tệ, tránh phụ thuộc vào
USD; tiến tới mua bán ngoại tệ theo nhu cầu của người dân, sớm có chủ trương
bán ngoại tệ cho người dân có nhu cầu chính đáng như du học, chữa bệnh, đi
công tác…
Thứ hai, điều chỉnh cơ cấu sản xuất theo hướng tránh lệ thuộc vào nguồn
nhập khẩu, nhất là nguyên liệu đầu vào để hạn chế cầu USD.
Thứ ba, nâng cao chất lượng dịch vụ của các tổ chức tín dụng, mở rộng
thêm các tiện ích gắn với việc giao dịch bằng tiền VND như dịch vụ thẻ, điểm
thanh toán, cho vay tiêu dùng.
Thứ tư, có giải pháp thu hút triệt để ngoại tệ từ các doanh nghiệp, cá nhân,
người Việt Nam ở nước ngoài khi mang ngoại tệ vào Việt Nam như mở thêm
nhiều điểm thu đổi ngoại tệ tại các sân bay, cửa khẩu, khuyến khích tăng tỷ lệ
quy đổi sang tiền VND với số lượng USD lớn.
Thứ năm, sửa đổi các văn bản và quản lý chặt chẽ việc niêm yết hàng hóa
trong nước bằng VND, chẳng hạn ban hành một pháp lệnh

16


KẾT LUẬN
Đô la hóa là hiện tượng không thể tránh khỏi đối với các nước có nền kinh
tế đang phát triển trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Nó xuất phát từ sự tất
yếu của xu hướng toàn cầu hóa khi một đồng tiền mạnh có giá trị được sử dụng
rộng rãi trong thương mại và đầu tư quốc tế. Tuy nhiên, nguyên nhân chủ yếu
của hiện tượng này lại xuất phát từ chính thực trạng nội tại yếu kém của các
quốc gia đang phát triển, trong đó có Việt Nam như : tình trạng lạm phát cao,
thâm hụt NSNN và cán cân thanh toán, đồng nội tệ mất giá … Từ đó, đề tài
cũng chỉ ra những tác động, cả tiêu cực lẫn tích cực, mà hiện tượng đô la hóa
ảnh hưởng đến Việt Nam. Có thể nói Việt Nam chịu nhiều tác động tiêu cực từ
hiện tượng này hơn là tác động tích cực. Những tác động nghiêm trọng nhất phải
kể đến : sự mất cân đối trong cung – cầu ngoại tệ của hệ thống NHTM do người
dân lúc nào cũng có tâm lý găm giữ ngoại tệ, tính độc lập trong hoạch định
chính sách tiền tệ của NHNN bị giảm sút vì không thể dự đoán chính xác mức
cung tiền, thị trường ngoại hối chịu sự đầu cơ … Để khắc phục hiện tượng này,
đề tài đưa ra đề xuất giải pháp nhằm nâng cao vị thế của VND trong thanh toán
và cất trữ bằng cách duy trì tỷ lệ lạm phát ở mức chấp nhận được, tránh phá giá
mạnh VND như giai đoạn 2008 đến nay. Đồng thời, cần thiết phải duy trì mức
lãi suất huy động dương giữa tiền gửi VND và USD, kết hợp với các biện pháp
quản lý thị trường ngoại hối chặt chẽ để dần tập trung lượng USD trôi nổi trên
thị trường vào hệ thống ngân hàng; sau đó mới từng bước giảm tỷ lệ đô la hóa
tiền gửi.

17


TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Báo cáo thường niên Ngân hàng nhà nước các năm từ 2007 đến 2010
2. Nguyễn Thị Hồng (2010), “Đô la hóa và điều hành chính sách tiền tệ ở Việt
Nam”, Ngân hàng nhà nước
3. Các website: www.vneconomy.vn, www.saga.vn, www.thesaigontimes.vn,
www.adb.org
4. Thống kê tài chính thế giới IMF năm 2009, 2010

18


MỤC LỤC

19


DANH MỤC HÌNH VẼ, BIỂU ĐỒ
Hình 1. Việt Nam nhập siêu từ Trung Quốc giai đoạn 2013 - 6T/2015......10
Hình 2. Tỷ giá UDS/VND giai đoạn 2014 - 9T/2015..................................12

20


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
FED

: Cục dự trữ liên bang Hoa Kỳ



: Giám đốc

NDT

: Nhân dân tệ

NHNN : Ngân hàng nhà nước
TGHĐ : Tý giá hối đoái
USD

: Đô la Mỹ

VND : Việt Nam đồng

21



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×