Tải bản đầy đủ

TÀI LIỆU THAM KHẢO GIÁO dục VIỆT NAM THỜI độc lập HIỆN đại (1945 2005)

1

Giáo dục Việt Nam thời độc lập hiện đại (1945 - 2005)

Giáo dục là hiện tượng xã hội đặc biệt và cũng là chức năng xã hội.
Giáo dục là một hệ thống lớn trong hệ thống xã hội, có liên quan mật thiết đến
việc hình thành và phát triển con người, nhân tố quyết định sự phát triển của
xã hội loài người. Giáo dục có tính phổ biến và tính vĩnh hằng cùng với sự ra
đời, tồn tại và phát triển cùng với con người. Vì vậy, bất cứ một quốc gia, dân
tộc nào cũng có lịch sử một nền giáo dục của riêng mình.
Trải qua hàng nghìn năm lịch sử , Việt Nam đã có một nền văn hiến rực
rỡ với hệ thống giáo dục quốc dân như một trụ cột cơ bản. Trong tầng sâu văn
hóa Việt Nam hàm chứa những hoạt động giáo dục mạnh mẽ để có thể lưu
truyền và phát triển những kinh nghiệm lịch sử, xã hội từ đời này qua đời
khác, từ địa phương nọ qua địa phương kia. Giáo dục Việt Nam có cội nguồn
sâu xa từ sự hình thành các cộng đồng dân cư trên vùng lãnh thổ của đất nước
ta. Ngay từ buổi ban đầu, cư dân nước ta đã lấy nông nghiệp lúa nước làm
sinh kế chính. Đặc điểm này đã dẫn đến hình thành nên các cộng đồng làng
xã, tạo ra một nền văn hóa riêng, một cách ứng xử riêng, một tâm lý xã hội
khác với phương Bắc và nhiều nước khác. Tổ tiên người Việt Nam chúng ta
đã sớm tạo nên một nền văn hóa, văn minh rực rỡ, mang bản sắc riêng của

dân tộc. Nền văn hóa, văn minh sớm này đã tạo cho người Việt Nam chúng ta
một bản lĩnh văn hóa riêng vững vàng, chứng minh vì sao các dân tộc Bách
Việt khác ở phía nam sông Dương Tử lần lượt bị Hán hóa mà riêng Việt Nam
vẫn trụ vững, không những thoát khỏi được sự đồng hóa của phương Bắc mà
còn “Việt hóa các giá trị ngoại nhập từ phương Bắc và bảo toàn các giá trị
thuần Việt” mặc dù phải trải qua hàng ngàn năm trong đêm trường lệ thuộc;
không những thế mà dân tộc nhỏ bé này còn đấu tranh kiên cường, bền bỉ để
trở thành một dân tộc độc lập, tự chủ hơn 65 năm qua.


2

Theo, lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, dưới sự lãnh đạo của Đảng
Cộng sản Việt Nam trải qua 65 năm nhân dân và Nhà nước ta đã vượt qua
muôn vàn khó khăn, thử thách, đổ máu hy sinh đặc biệt là đánh thắng hai
cuộc chiến tranh xâm lược của hai đế quốc hùng mạnh nhất của thời hiện đại
là Thực dân Pháp và Đế quốc Mỹ để giải phóng dân tộc; đổi mới đẩy mạnh
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Cùng với tiến trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc sáu mươi lăm năm qua trên
đất nước ta đã hình thành một nền giáo dục hiện đại với cấu trúc hệ thống
hoàn chỉnh, với mục tiêu đào tạo tiên tiến, với nội dung, chương trình và
phương pháp giáo dục ngày càng hoàn thiện hướng tới những xu thế giáo dục
hiện đại của thời đại. Nền giáo dục Việt Nam mặc dù còn có những vấn đề
chưa đáp ứng được những mong muốn của xã hội cũng như chưa đáp ứng
được sự đòi hỏi của sự phát triển đất nước nhưng nền giáo dục Việt Nam đã
có một vị trí xứng đáng trên bản đồ giáo dục thế giới.
Để cho bạn đọc (nhất là những người hoạt động trong lĩnh vực giáo dục
- đào tạo) có cái nhìn toàn cảnh sự phát triển của nền giáo dục nước nhà từ khi
giành được độc lập đến nay, so sánh sự giống nhau và khác nhau của quá
trình phát triển lý luận và thực tiễn nền giáo dục Việt Nam qua các thời kỳ (từ
năm 1945 - 2005); Nghiên cứu rút ra những quy luật, những vấn đề có tính
quy luật và quy luật đặc thù của nền giáo dục Việt Nam từ đó đề xuất những
phương hướng, giải pháp khả thi nhằm đổi mới giáo dục nhằm xây dựng nền
giáo dục nước ta phát triển đáp ứng với yêu cầu và nhiệm vụ của đất nước
trong thời kỳ mới. Nhóm tác giả Nguyễn Quang Kính - Nguyễn Quốc Chí Đặng Quốc Bảo đã viết cuốn sách “Giáo dục Việt Nam 1945 - 2005”.
Bố cục cuốn sách có bốn phần lớn:
I. Tổng luận lịch sử phát triển giáo dục Việt Nam.
II. Giáo dục Việt Nam trong thời kỳ 1945 - 1986.



3

III. Giáo dục Việt Nam trong thời kỳ đổi mới.
IV. Số liệu thống kê qua các thời kỳ.
Cuốn sách do nhà xuất bản Chính trị Quốc gia xuất bản năm 2005 tại Hà Nội.
Nội dung

Căn cứ vào bố cục cuốn sách ngoài phần I: Tổng luận lịch sử phát triển
giáo dục Việt Nam và phần IV: Số liệu thống kê qua các thời kỳ, chúng ta có
thể thấy “Giáo dục Việt Nam 1945 - 2005” có hai thời kỳ chính đó là: Giáo
dục Việt Nam thời kỳ 1945 - 1986 và Giáo dục Việt Nam thời kỳ đổi mới,
đây chính là nội dung trọng tâm của tác phẩm.
Phần Tổng luận lịch sử phát triển giáo dục Việt Nam.
Mặc dầu các khoa học lịch sử và khoa học khảo cổ chưa đủ chứng tích
để phác họa nên quá trình phát triển của nền giáo dục Việt Nam một cách thật
toàn diện, thật đầy đủ. Nhưng căn cứ vào những gì hiện có các tác giả đã
khẳng định và khái quát một cách cô đọng nhất tiến trình lịch sử giáo dục Việt
Nam đã tồn tại và phát triển cùng với sự tồn tại và phát triển của dân tộc Việt
Nam từ nhiều ngàn đời nay. Đồng thời các tác giả đã phân kỳ lịch sử sự phát
triển giáo dục Việt Nam thành các thời kỳ lớn là: Thời kỳ tiền sử: tính bản
địa; Thời kỳ trước bắc thuộc: tính bản địa và tính giao lưu, hội nhập (thời kỳ
An Dương Vương - Triệu Đà); Thời kỳ bắc thuộc (Phật - Lão - Nho): Hán
hóa và chống Hán hóa; Thời độc lập trung đại và cận đại: đồng hóa, dung nạp,
du nhập Hán học; Thời thuộc Pháp và Thời độc lập hiện đại (thời kỳ này đã
được các tác giả làm rõ trong nội dung tác phẩm).
Trong phần Tổng luận lịch sử phát triển giáo dục Việt Nam, các tác giả
đã lược sử sự phát triển giáo dục nước ta từ thời Tiền sử đến Thời thuộc Pháp,
mặc dầu ngắn gọn nhưng đã làm nổi bật lên sức sống mãnh liệt của nền văn
hóa Việt Nam trải qua bao nhiêu thăng trầm của lịch sử đấu tranh dựng nước
và giữ nước. Chúng ta tự hào rằng Việt Nam học tập văn hóa Trung Hoa
nhưng chống lại phong kiến Trung Hoa; học tập văn hóa phương Tây nhưng


4

đánh đuổi thực dân Pháp, đế quốc Mỹ; học tập văn hóa thời hiện đại nhưng
tiến hành đổi mới công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo định hướng
XHCN, phát huy bản sắc văn hóa Việt Nam với đặc điểm và sức mạnh thời
đại, là bài học quan trọng để đi đến thành công.
Phần thứ nhất
Giáo dục Việt Nam trong thời kỳ 1945 - 1986

Trong thời kỳ này các tác giả đã chia giáo dục nước ta thành năm giai
đoạn: Giai đoạn 1945 - 1950; cải cách giáo dục lần thứ nhất năm 1950; cuộc
cải cách giáo dục lần thứ hai năm 1956; giáo dục Việt Nam 1957 - 1975; và
giai đoạn thứ năm là phân tích tình hình giáo dục Việt Nam 1975 - 1985.
I. Giáo dục Việt Nam giai đoạn 1945 - 1950
Ngay sau khi nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa được thành lập,
ngày 3 tháng 9 năm 1945 trong phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ
đã thông qua đề nghị mở chiến dịch chống nạn mù chữ của Chủ tịch Hồ Chí
Minh. Ngày 8 tháng 9 năm 1945 Chính phủ ký 3 sắc lệnh quan trọng về bình
dân học vụ; tháng 10 năm 1945, Hồ Chủ tịch ra lời kêu gọi chống nạn thất
học, Người đặc biệt chú ý đến phụ nữ và thanh niên. Chỉ trong một thời gian
ngắn phong trào chống nạn mù chữ đã lan rộng khắp cả nước, tạo nên một
chiến dịch với sự tham gia của đông đảo đồng bào.
Trong những điều kiện cực kỳ khó khăn phức tạp của năm đầu tiên
dưới chính quyền cách mạng, chiến dịch chống nạn mù chữ chưa đạt được
mục tiêu mong muốn. Nhưng những bài học thu được là vô cùng quý báu và
chúng ta có quyền tự hào về những kinh nghiệm có được từ chiến dịch chống
nạn mù chữ năm 1945 - 1946 sau này đã trở thành những kinh nghiệm quốc tế
đến tận cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XI.
Cùng với chống nạn mù chữ Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa
đã có những chủ trương cải tổ và xây dựng bước đầu đối với toàn bộ hệ
thống quốc dân.


5

Nhiệm vụ của giáo dục là “mở đại học và trung học, cải cách việc học
theo tinh thần mới, bài trừ cách học nhồi sọ”.
Mục đích của nền giáo dục mới là: “tôn trọng nhân phẩm, rèn luyện chí
khí, phát triển tài năng” của mọi người để “phụng sự đoàn thể và góp phần
vào cuộc tiến hóa chung của nhân loại.
Phương pháp của nền giáo dục mới là xóa bỏ lối học nhồi sọ, lối học
hình thức, chú trọng phần thực học, đề cao tinh thần khoa học.
Về cơ sở pháp lý, Chính phủ triển khai chính sách giáo dục mới bằng
các sắc lệnh số 146/SL; số 147/SL ngày 10/8/1946 khẳng định các nguyên tắc
căn bản của nền giáo dục mới: đại chúng hóa, dân tộc hóa và khoa học hóa và
theo tôn chỉ phụng sự lý tưởng quốc gia và dân chủ và các bậc học trong hệ
thống giáo dục quốc dân, ấn định thêm những điều khoản pháp lý để thực
hiện bậc học cơ bản: không phải trả tiền, các môn học dạy bằng tiếng Việt, kể
từ năm 1950 trở đi tất cả trẻ em từ 7 đến 13 tuổi đều có thể vào các trường
học.
Những sắc lệnh nói trên có ý nghĩa lịch sử lớn lao, khẳng định tính ưu
việt của chế độ mới “ai cũng được học hành”, là cơ sở định hướng, điều chỉnh
các hoạt động giáo dục nước ta và vẫn còn giá trị đến ngày nay.
Nhà trường trong chế độ mới bắt đầu chuyển hướng từ nền sư phạm
quyền uy sang nền sư phạm dân chủ, cùng sự đổi mới về phương pháp giáo
dục, dạy học của các nhà giáo, bước đầu hình thành ý thức tự quản của học
sinh thông qua thành lập các tổ chức đoàn thể của học sinh. Trong chế độ mới
nhà giáo được quan tâm đặc biệt.
Các tác giả đã khái quát tình hình giáo dục của nước ta khi toàn quốc
bước vào cuộc chiến tranh chống thực dân Pháp quay lại xâm lược nước ta
một lần nữa, thông qua các chính sách của Đảng và Nhà nước ta về giáo dục
trong thời kỳ cách mạng mới, thể hiện qua các Nghị quyết Hội nghị Trung


6

ương lần thứ tư (tháng 4 năm 1947); Nghị quyết của Hội nghị Ban chấp hành
Trung ương Đảng mở rộng tháng 1 năm 1948. Với tinh thần vừa kháng chiến
vừa kiến quốc, thành lập hệ thống trường học, lớp học kháng chiến; xây dựng
đội ngũ giáo viên...công tác giáo dục của nước ta đã có những chuyển biến
làm thay đổi rõ rệt tình trạng giáo dục thấp kém do chế độ giáo dục thực dân
để lại. Năm 1948 Bộ Giáo dục mở “Hội nghị giáo dục toàn quốc” để tăng
cường thống nhất trong toàn ngành về cải tổ chương trình, xây dựng nền nếp
và phương pháp giảng dạy phù hợp với thời chiến và theo đúng tinh thần dân
chủ mới. Đây là cuộc họp đầu tiên của ngành giáo dục trong thờ kỳ kháng
chiến và hội nghị đã vinh dự đón nhận đồng thời quán triệt những chỉ thị
trong thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ đạo đường lối giáo dục nước ta trong
thời kỳ kháng chiến. Những chỉ thị của Người thực sự đã chỉ ra phương
hướng cho một cuộc cải cách giáo dục sẽ diễn ra vào đầu những năm 1950.
I. Cải cách giáo dục lần thứ nhất năm 1950
* Bối cảnh chính trị - xã hội
Đầu năm 1950 nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã phá được thế bao
vây của kẻ địch, thiết lập quan hệ ngoại giao với các nước xã hội chủ nghĩa.
Chiến tranh biên giới năm 1950 mở ra cục diện mới về chính trị, quân sự.
Những tiến bộ về kinh tế, tài chính tăng thêm sức mạnh của chính quyền dân
chủ nhân dân. Toàn dân tộc bước vào một thời kỳ mới của cuộc kháng chiến
chống xâm lược. Trong đã chung đó ngành giáo dục phải được phát triển cho
phù hợp với bước tiến của dân tộc.
* Quan điểm và những chủ trương lớn của cuộc cải cách giáo dục năm
1950.
Bản chất của nền giáo dục mới là: giáo dục mang bản chất giai cấp sâu
sắc. Nhân dân Việt Nam nhất thiết phải xây dựng dược nền giáo dục dân chủ


7

nhân dân phù hợp với lới ích cơ bản của mình sau khi đã giành được quyền
làm chủ của mình về chính trị.
Mục đích của cải cách giáo dục lần này là phải hủy bỏ triệt để nền giáo
dục nô lệ cùng với những tàn dư của nó về nội dung lẫn phương pháp, phải
xây dựng cơ sở tư tưởng mới về nền giáo dục dân chủ nhân dân theo những
thiết chế giáo dục và hệ thống tổ chức giáo dục tương ứng.
Tính chất nền giáo dục là của dân, do dân, vì dân.
Nguyên tắc nền giáo dục: dân tộc, khoa học, đại chúng phục vụ lợi ích
của nhân dân Việt Nam, đấu tranh chống đế quốc và phong kiến, giành độc
lập cho dân tộc và ruộng đất cho dân cày.
Mục tiêu đào tạo của nhà trường là giáo dục bồi dưỡng thế hệ trẻ thành
những người “công dân lao động tương lai” trung thành với chế độ dân chủ
nhân dân và có đủ phẩm chất năng lực phục vụ kháng chiến, phục vụ nhân dân.
Nội dung giáo dục nhằm vào việc bồi dưỡng người học có tinh thần dân
tộc, lòng yêu nước, chí căm thù giặc, tinh thần yêu chuộng lao động, tôn trọng của
công, tinh thần tập thể, phương pháp suy luận và thói quen làm việc khoa học.
Như vậy, so với giai đoạn từ khi thành lập nước cho đến trước năm
1950 thì giáo dục nước ta đã có sự phát triển về mọi mặt, không chỉ là chống
nạn mù chữ mà còn là giáo dục, đào tạo những con người mới có đủ đức, tài
vừa kháng chiến vừa kiến quốc, phục vụ nhân dân...
Các tác giả cũng đã khái quát tình hình xây dựng cơ cấu hệ thống giáo
dục và nhà trường mới, qua đó cho chúng ta thấy cơ cấu hệ thống giáo dục và
nhà trường mới có sự phát triển rõ rệt hơn so với giai đoạn trước, cơ bản hơn,
chính quy hơn. Có hệ thống giáo dục phổ thông; có hệ thống bình dân học vụ
phục vụ người lớn; hệ thống giáo dục chuyên nghiệp. Công tác quản lý giáo
dục cũng đã được quan tâm tổ chức nhân sự quản lý, tổ chức xây dựng ban
hành chương trình mới, kế hoạch giảng dạy, biên soạn sách giáo khoa.


8

Cuộc cải cách giáo dục lần thứ nhất được tiến hành một cách khẩn
trương, sâu rộng cả ở vùng giải phóng, có ảnh hưởng lớn đến cả những vùng
bị địch tạm chiếm từ thành thị đến nông thôn từ miền xuôi đến miền rừng
núi...và đã được Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm sâu sắc, lãnh
đạo, chỉ đạo thường xuyên cùng với nỗ lực của các cấp, các ngành và toàn thể
nhân dân đã đạt được những thành tựu góp phần phát triển nền giáo dục dân
chủ nhân dân và thắng lợi của cuộc kháng chiến Pháp.
III. Cuộc cải cách giáo dục lần thứ hai (1956)
* Bối cảnh chính trị - xã hội
Tháng 3 năm 1956 Đại hội giáo dục phổ thông toàn quốc họp bàn việc
triển khai Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 7 của Ban chấp hành
Trung ương Đảng khóa II. Đại hội đã thông qua đề án do Bộ Giáo dục khởi
thảo nêu nhiệm vụ sáp nhập hai hệ thống giáo dục 9 năm của vùng tự do và
12 năm của vùng mới giải phóng. Đó chính là cuộc cải cách giáo dục lần thứ
hai. Cuộc cải cách đặt cơ sở cho việc thành lập hệ thống giáo dụcphổ thông
10 năm theo tính chất nền giáo dục xã hội chủ nghĩa.
* Mục tiêu và những nội dung cơ bản của cuộc cải cách giáo dục năm 1956
Tính chất nền giáo dục trong giai đoạn này được khẳng định rõ hơn giai
đoạn trước, đó là giáo dục mang tính chất xã hội chủ nghĩa, lấy chủ nghĩa
Mác - Lênin làm nền tảng tư tưởng nhằm phục vụ nhân dân lao động.
Mục đích nền giáo dục cũng có sự phát triển hợp với xu thế của thời đại
đó là tiến lên xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa đồng thời nhằm mục đích
thiết thực thể hiện khát vọng của dân tộc là thực hiện thống nhất nước nhà
trên cơ sở độc lập và dân chủ.
Nội dung giáo dục cũng toàn diện hơn gồm đức, trí, thể mỹ.
Phương châm giáo dục là “Liên hệ lý luận với thực tiễn, gắn nhà
trường với đời sống xã hội”, phù hợp với quy luật khách quan và thực tiễn
giáo dục của nước ta.


9

Hệ thống giáo dục phổ thông được xác định rõ ràng và khoa học hơn kể
cả cấp học, thời gian học, đánh giá kết quả từng cấp học phù hợp với quy luật
khách quan của nhận thức.
IV. Giáo dục Việt Nam thời kỳ 1957 - 1975
Đây là một thời kỳ dài, chồng chất những khó khăn thử thách đối với
sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta nói chung và của sự nghiệp giáo dục đào tạo nói riêng. Chúng ta phải tiến hành đấu tranh quyết liệt trên mặt trận
chính trị, tư tưởng chống lại các quan điểm, tư tưởng phản động, sai trái của
chủ nghĩa đế quốc và bè lũ tay sai. Cả nước vừa phải đối phó với sự leo thang
chiến tranh ngày càng ác liệt của chủ nghĩa đế quốc do đế quốc Mỹ đứng đầu
và bè lũ tay sai phản động. Kẻ thù đã sử dụng mọi chiến lược, mọi học thuyết
chiến tranh, huy động mọi lực lượng, tiền của của một quốc gia giàu có và
hùng mạnh bậc nhất thế giới nhằm xâm lược bằng được nước ta. Nhưng dưới
sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí
Minh quân và dân ta đã đoàn kết một lòng tiến hành thắng lợi cuộc chiến
tranh giải phóng dân tộc. Chúng ta đã chiến thắng một cuộc chiến tranh
được coi là tàn khốc nhất trong lịch sử đấu tranh chống ngoại xâm của
nhân dân ta, đồng thời đó cũng là thắng lợi vĩ đại nhất trong lịch sử các
cuộc chiến tranh bảo vệ tổ quốc của dân tộc Việt Nam. Cùng với nhiệm
vụ khẩn trương của công cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Đảng và
Nhà nước ta vẫn thường xuyên quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo tiến hành sự
nghiệp giáo dục - đào tạo, xây dựng, củng cố, hoàn thiện hệ thống giáo
dục quốc dân để vừa cung cấp nguồn nhân lực cho tiền tuyến vừa xây
dựng đất nước phù hợp với điều kiện đất nước vừa có hòa bình vừa có
chiến tranh, đồng thời chuẩn bị nguồn nhân lực cho công cuộc xây dựng
lại đất nước sau khi chiến tranh kết thúc.
* Phương hướng phát triển sự nghiệp giáo dục


10

Tháng 9 năm 1960 Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng
Lao động Việt Nam khai mạc tại Hà Nội. Đại hội đã đánh giá chính xác
những thành tựu mà ngành giáo dục cùng nhân dân cả nước đạt được
trong những năm qua, Lúc này trên miền Bắc nạn mù chữ đã được thành
toán. Số người đi học bổ túc văn hóa là trên một triệu người, số học sinh
các cấp tăng gấp 7 lần; số sinh viên đại học tăng gấp 20 lần so với cả
nước năm 1939 - 1940. Đây là một thành tựu rất to lớn của nhân dân ta
nói chung và của ngành giáo dục nói riêng nếu so với sáu năm trước đó
năm 1945 nước ta còn hơn 95% dân là còn mù chữ; Nội dung, phương
pháp dạy học ở các nhà trường đã có những bước chuyển biến tốt, nhất là
việc bước đầu quán triệt việc kết hợp giáo dục và lao động sản xuất.
Nghị quyết Đại hội đã đề ra phương hướng phát triển giáo dục nước
nhà trong tình hình mới.
Công tác giáo dục văn hóa phải được phát triển theo quy mô lớn và
phải phục vụ đường lối và nhiệm vụ cách mạng của Đảng. Sự nghiệp giáo dục
của chúng ta phải nhằm bồi dưỡng thế hệ trẻ thành những người lao động làm
chủ đất nước, có giác ngộ xã hội chủ nghĩa, có văn hóa và kỹ thuật, có sức
khỏe, những người phát triển toàn diện để xây dựng xã hội mới, đồng thời
phải phục vụ đắc lực cho việc đào tạo cán bộ, xây dựng kinh tế và văn hóa xã
hội chủ nghĩa và việc nâng cao không những trình độ văn hóa của nhân dân
lao động.
So với phương hướng, nhiệm vụ giáo dục - đào tạo giai đoạn trước thì ở
đây có sự cụ thể hóa nhiệm vụ là giáo dục - đào tạo cho thế hệ trẻ, cho nhân dân
lao động mà còn đào tạo cán bộ xây dựng kinh tế và văn hóa xã hội chủ nghĩa.
Nguyên lý giáo dục, phương châm giáo dục một cách hệ thống và toàn
diện hơn so với các chỉ thị trước đây. Đó là: phải nằm vững nguyên lý giáo
dục kết hợp với lao động sản xuất và các phương châm: lý luận gắn liền vơi
thực tế, học đi đôi với hành, giáo dục của nhà trường kết hợp với giáo dục của


11

xã hội. Đây là bước phát triển mới của của nguyên lý giáo dục của Đảng ta và
đến ngày nay vẫn còn giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc.
Về phương thức giáo dục, Đảng ta chỉ ra phát triển giáo dục theo
quy mô lớn, phát triển vừa nhiều, vừa nhanh (đáp ứng yêu cầu thực tiễn
của chiến tranh) nhưng đồng thời phải luôn coi trọng việc nâng cao chất
lượng giáo dục...đi đôi với giáo dục văn hóa phải thực hiện giáo dục kỹ
thuật (đáp ứng yêu cầu xây dựng đất nước).
Đại hội lưu ý việc phải tăng cường công tác đoàn thanh niên trong nhà
trường và trong giai đoạn này Đảng ta nhấn mạnh cần đặc biệt coi trọng công
tác “đào tạo bồi dưỡng thầy giáo về các mặt chính trị và tư tưởng cũng như về
mặt nghiệp vụ và văn hóa công tác”. Cũng trong giai đoạn này vai trò của
giáo dục cũng được nhấn mạnh trong tương quan với phát triển kinh tế, đây là
nét mới thể hiện sự phát triển tư duy về giáo dục của Đảng ta đã đánh giá toàn
diện hơn về các chức năng của giáo dục so với thời kỳ đầu.
Các tác giả đã trình bày cụ thể những thành tựu giáo dục phục vụ sự
nghiệp chống Mỹ, cứu nước thực thiện cuộc đấu tranh thống nhất nước
nhà và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc; phát triển sự nghiệp giáo
dục ở miền Nam Việt Nam và sự chi viện của giáo dục xã hội chủ nghĩa ở
miền Bắc cho miền Nam.
Trong giai đoạn này, cùng với việc thực hiện nhiệm vụ chiến lược
chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, xây dựng xã hội chủ nghĩa ở
miền Bắc tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân giải phóng miền
Nam thống nhất tổ quốc. Giáo dục nước ta cũng có sự phát triển đáp ứng yêu
cầu của công cuộc kháng chiến, kiến quốc. Các loại hình nhà trường được mở
rộng, ngành giáo dục đã tìm mọi biện pháp vừa chống chiến tranh phá hoại
của địch vừa tổ chức tốt công tác giáo dục - đào tạo trong mọi điều kiện hoàn
cảnh, thực hiện tốt lời Bác Hồ dạy đẩy mạnh phong trào thi đua “Hai tốt”;
thực hiện tốt, mục tiêu, phương châm, nguyên lý, các quan điểm, đường lối


12

giáo dục của Đảng. Đồng thời tích cực chi viện cho sự nghiệp giáo dục cách
mạng ở miền Nam từ miền Bắc xã hội chủ nghĩa. Sự chi viện của giáo dục
Bắc xã hội chủ nghĩa đối với giáo dục cách mạng ở miền Nam đã được đảm
bảo liên tục và thường xuyên tạo điều kiện cho ngành giáo dục cách mạng
miền Nam đứng vững trong những thời điểm gay go nhất. Tính từ năm 1961,
năm đầu tiên có cán bộ ngành giáo dục đi B, đến ngày 30/4/1975 đã có 4000
cán bộ giáo dục miền Bắc chi viện cho miền Nam. Trong số cán bộ, giáo viên
lên đường vào Nam công tác, một số đã anh dũng hy sinh, số còn lại phần lớn
đều trở thành những người gương mẫu, được tôi luyện chắc chắn và đã trở
thành cán bộ nòng cốt của giáo dục miền Nam sau ngày miền Nam hoàn toàn
giải phóng. Phải nói rằng thời kỳ 1957 - 1975 là một trong những thời kỳ khó
khăn, gian khổ, phức tạp nhất, nhưng cũng là một trong những thời kỳ sôi nổi,
đặc biệt nhất và để lại dấu ấn tốt đẹp cũng như những thành tích vẻ vang nhất
trong lịch sử nền giáo dục của nước Việt Nam ta.
V. Tình hình giáo dục xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam 1975 - 1985
* Bối cảnh chính trị xã hội
ở Việt Nam, thời kỳ 1975 - 1985 được mở đầu bằng sự toàn thắng của
dân tộc Việt Nam trong cuộc chiến tranh giải phóng kéo dài trong suốt 30
năm. Thắng lợi vĩ đại đó đã mở ra kỷ nguyên độc lập, thống nhất và chủ nghĩa
xã hội trên toàn đất nước Việt Nam. Đây là thời kỳ mà nước ta đang trong
tình thế vừa có hòa bình vừa phải đương đầu với một kiểu chiến tranh phá
hoại nhiều mặt của kẻ thù; cách mạng Việt Nam có hai nhiệm vụ chiến lược:
“Một là xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội; Hai là sẵn sàng chiến đấu, bảo
vệ vững chắc tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”.
Các tác giả đã khái quát những thành tựu mà nhân dân ta đã đạt được
trong thời kỳ này thể hiện xu thế phát triển có tính xã hội chủ nghĩa trong
lực lượng sản xuất ở Việt Nam, đồng thời cũng nêu lên những mặt tồn tại,
yếu kém, mất cân đối nghiêm trọng trong toàn bộ cơ cấu kinh tế ...Những


13

thiếu sót và sai lầm chủ quan trong quản lý kinh tế - xã hội giữa hai kỳ Đại
hội IV và V của Đảng Cộng sản Việt Nam đã được Ban chấp hành Trung
ương Đảng kiểm điểm nghiêm khắc, đồng thời Ban bí thư, Hội đồng Bộ
trưởng đã đề ra những Nghị quyết, chỉ thị đã tháo gỡ những vưỡng mắc
trong sản xuất, phát huy năng lực sáng tạo trong sản xuất của đông đảo
quần chúng lao động. Việc thực hiện cơ chế “khoán” sản phẩm đến nhóm
và người lao động đã mở một hướng mới trong quản lý sản xuất trong
công nghiệp cũng như nông nghiệp. Đây chính là bước đột phá trong việc
đổi mới tư duy của Đảng ta, mở đầu cho công cuộc đổi mới đất nước theo
định hướng xã hội chủ nghĩa mà chúng ta đang thực hiện từ đó đến nay.
* Phương hướng cơ bản của đường lối xây dựng và phát triển giáo dục
xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
Đảng cộng sản Việt Nam khẳng định giáo dục là một bộ phận quan
trọng của cách mạng tư tưởng và văn hóa, một nhân tố thúc đẩy sự phát triển
kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật của đất nước. Bằng những thành tựu của
mình, nền giáo dục quốc dân Việt Nam cung cấp cho xã hội một lực lượng lao
động có văn hóa, có giác ngộ xã hội chủ nghĩa, có những năng lực cần thiết
cho công cuộc lao động xây dựng đất nước cũng như bảo vệ tổ quốc. Giáo
dục không những đảm đương được những chức năng văn hóa - xã hội mà còn
ở những mức độ khác nhau, thể hiện rõ chức năng chính trị, kinh tế của mình.
Với vai trò ngày càng tăng của giáo dục trong cách mạng xã hội chủ
nghĩa, Đảng, Nhà nước chăm lo xây dựng và phát triển nền giáo dục dựa
trên những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin; Nền giáo dục
Việt Nam không những được phát triển và cải tiến theo nguyên lý học đi
đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nhà trường gắn liền
với xã hội, nhằm đào tạo có chất lượng những người lao động xã hội chủ
nghĩa và bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau.


14

Nền giáo dục Việt Nam là một nền giáo dục mang tính chất xã hội chủ
nghĩa, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm hệ tư tưởng chủ đạo và làm cốt lõi của
nội dung giáo dục, lấy việc đào tạo những người lao động kiểu mới, phát triển
toàn diện làm mục đích, lấy việc kết hợp giáo dục với lao động sản xuất, học
với hành, nhà trường với đời sống làm phương thức đào tạo. Hiến pháp nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam quy định “học tập là quyền lợi và
nghĩa vụ của công dân”, đây là tư tưởng “ai cũng được học hành” của Chủ
tịch Hồ Chí Minh đã được luật hóa và trở thành tôn chỉ của mọi công dân Việt
Nam nói chung và mục đích phấn đấu của ngành giáo dục nói riêng.
Đứng trước những yêu cầu mới của nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hệ thống giáo dục được cải cách từ năm
1954 đã bộc lộ những thiếu sót mà những cải tiến cục bộ không thể bổ sung
được. Cải cách toàn bộ hệ thống giáo dục trở thành một đòi hỏi khách quan.
Tháng 1 năm 1979, Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản
Việt Nam đã ban hành Nghị quyết về cải cách giáo dục. Hai cuộc cải cách
giáo dục trước đây xác định bản chất, mục đích; xác lập tính chất, nguyên tắc,
phương châm, mục tiêu, nội dung giáo dục - đào tạo của nền giáo dục mới thì
cuộc cải cách giáo dục lần thứ ba này có bước phát triển phù hợp với tình
hình cách mạng trong thời kỳ mới thời kỳ cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội,
nên có mục tiêu, nhiệm vụ lớn hơn, rộng hơn, toàn diện hơn, nhưng cũng cụ
thể hơn đó là: Làm tốt việc chăm sóc và giáo dục thế hệ trẻ ngay từ thủa ấu
thơ cho đến lúc trưởng thành nhằm tạo cơ sở ban đầu rất quan trọng của con
người Việt Nam mới, người lao động, người làm chủ tập thể và phát triển toàn
diện; thực hiện phổ cập giáo dục toàn dân, góp phần xây dựng quyền làm chủ
tập thể của nhân dân lao động, tạo điều kiện cho việc tiến hành ba cuộc cách
mạng; đào tạo và bồi dưỡng với quy mô ngày càng lớn, đội ngũ lao động mới
có phẩm chất cách mạng, có trình độ khoa học kỹ thuật và quản lý phù hợp
với yêu cầu phân công lao động trong nền sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa. Cải


15

cách giáo dục dựa trên những nguyên lý cơ bản của nền giáo dục xã hội chủ
nghĩa: học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nhà trường
gắn liền với xã hội. Các tác giả cũng đã khái quát các chủ trương, chính sách
cụ thể của Đảng và nhà nước nhằm triển khai, tổ chức thực hiện công cuộc cải
cách giáo dục sau khi nghị quyết cải cách giáo dục được ban hành; đồng thời
trình bày những hoạt động cụ thể việc thực hiện nhiệm vụ cải cách giáo dục
trên các mặt như: Phân tích các chỉ tiêu giáo dục phổ thông và mẫu giáo;
thống kê những hoạt động cụ thể nhằm mở rộng khả năng học tập của thanh
niên; những phương hướng, nguyên tắc cơ bản của việc thực hiện nội dung
giáo dục trong cải cách giáo dục; phương hướng cải tiến tổ chức giáo dục và
phương pháp giáo dục; giáo dục lao động, tổ chức học sinh tham gia lao động
sản xuất và công tác hướng nghiệp trong trường phổ thông; giáo dục ngoài
nhà trường; xây dựng, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo
dục; cải tiến tổ chức quản lý giáo dục; tổ chức và phương hướng nghiên cứu
khoa học giáo dục. Qua nghiên cứu thời kỳ này các tác giả đã cho chúng ta
thấy nền giáo dục Việt Nam đã phát triển song hành cùng với sự phát triển
của đất nước. Đây là thời kỳ nước ta gặp nhiều khó khăn nhất kể từ khi thống
nhất Tổ quốc đến nay như bối cảnh lịch sử đã nêu trong tác phẩm. Nền giáo
dục nước nhà cũng đã bị ảnh hưởng rất lớn bởi điều kiện kinh tế - xã hội khó
khăn. Nhưng dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng ta với sự đoàn kết một
lòng và truyền thống hiếu học của nhân dân ta đã nỗ lực hết sức mình hàn gắn
những vết thương chiến tranh vừa phát triển kinh tế, xây dựng nền giáo dục
xã hội chủ nghĩa và đã đạt được những thành tựu đáng tự hào, so với các thời kỳ
trước.
Bước đầu, hệ thống giáo dục đã được xác lập và xây dựng tương đối
hoàn chỉnh, thống nhất trong cả nước từ mần non đến đại học và sau đại học.
Hệ thống giáo dục phổ thông 12 năm được thiết kế thống nhất cho chương
trình đào tạo chung trên toàn quốc. Bộ Giáo dục và đào tạo đã xây dựng hoàn


16

chỉnh bộ sách giáo khoa mới theo tinh thần cải cách cho cả hệ thống 12 năm.
Đặc biệt, từ sau năm 1976, việc xây dựng hệ thống đào tạo sau đại học được
coi là một bước phát triển quan trọng của ngành giáo dục Việt Nam.
Thời kỳ 1975 - 1985 có tầm quan trọng đặc biệt trong cách mạng xã hội
chủ nghĩa ở Việt Nam. Một thời kỳ được ghi vào lịch sử như một đoạn đường
thắng lợi vẻ vang của cách mạng Việt Nam, và cũng là thời kỳ mà các giá trị
đặc biệt của nó còn ở những kinh nghiệm rất bổ ích mà Đảng ta đã tích lũy
được. Một thời kỳ có những khó khăn phức tạp của con đường đi lên chủ nghĩa
xã hội từ một nền kinh tế mà sản xuất nhỏ còn phổ biến, một thời kỳ có những
đảo lộn kinh tế và xã hội sau một cuộc chiến tranh lâu dài. Trong muôn vàn
khó khăn của đất nước nền giáo dục Việt Nam đã hoàn thành được sứ mệnh
của mình, đã gắn chặt với sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa, trở thành một
bộ phận quan trọng của cách mạng tư tưởng văn hóa, một nhân tố quan trọng
thúc đẩy sự phát triển kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật của đất nước.
Phần thứ Hai
Giáo dục Việt Nam trong thời kỳ đổi mới

I. Giáo dục Việt Nam 1986 - 1995
* Giáo dục Việt Nam với chủ trương đổi mới toàn diện
Các tác giả đã khái quát bối cảnh chính trị - xã hội và thực trạng của
ngành giáo dục trong giai đoạn này trước yêu cầu đổi mới cùng với sự đổi
mới của đất nước. Từ sau Đại hội VI của Đảng, ngành giáo dục - đào tạo đã
thực hiện đổi mới theo hướng đồng bộ, toàn bộ, toàn diện, sâu sắc. Ngành đã
tích cực điều chỉnh cuộc cải cách giáo dục nhằm đưa nền giáo dục và đào tạo
vào quy mô mới phù hợp với định hướng đổi mới kinh tế - xã hội của nước ta,
hợp với xu thế phát triển giáo dục của các nước phát triển trên thế giới.


17

Tư tưởng chỉ đạo của Đảng trong giai đoạn mới, ngành giáo dục cần đa
dạng hóa các loại hình trường, lớp, các hình thức đào tạo, ban hành quy chế
của các trường, lớp dân lập, tư thục. Mở một số trường năng khiếu với sự đầu
tư đặc biệt và hệ thống trường dành cho trẻ em khuyết tật và con em các dân
tộc thiểu số. Bên cạnh đó, ngành giáo dục cần hết sức quan tâm đến việc
chuẩn bị lao động cho xã hội. Do đó, cần mở rộng các hình thức phổ cập nghề
nghiệp cho thanh niên, chú trọng đội ngũ công nhân lành nghề, tổ chức lại các
loại hình đào tạo dài hạn, phát triển các trường học vừa học vừa làm...Đồng
thời, ngành cần nâng cao chất lượng giáo dục, cải cách chế độ đánh giá, thi
cử, hoàn thiện công tác tuyển sinh ở các cấp học, bậc học.
Đổi mới quản lý giáo dục, chăm lo đời sống của giáo viên cũng như
các điều kiện giảng dạy, để công tác giảng dạy đạt kết quả tốt nhất; vấn đề
về ngân sách cho giáo dục, mức học phí, chính sách học bổng, chính sách
khuyến khích những học sinh xuất sắc...nhằm tạo những điều kiện cần
thiết cho sự nghiệp phát triển giáo dục một cách đúng hướng, để thu được
những kết quả tốt nhất.
Trước những yêu cầu đổi mới, ngành giáo dục đã xây dựng một chương
trình phát triển giáo dục 3 năm (1987 - 1990) với một hệ thống đề án gồm 38
chỉ tiêu. Chương trình phát triển này gồm 10 tư tưởng chỉ đạo. Ngành đại học
đề ra 4 tiền đề đổi mới nhằm xây dựng một hệ thống giáo dục - đào tạo linh
hoạt, đa dạng, đáp ứng được nhu cầu đa dạng của xã hội cũng như người học,
động viên được nhiều nguồn lực ngoài nguồn ngân sách nhà nước để tạo điều
kiện phát triển giáo dục đại học cả về quy mô lẫn chất lượng, đồng thời ngành
đại học đề ra 3 chương trình hành động nhằm thực hiện quy trình đào tạo mới,
tăng quy mô, đa dạng hóa các loại hình đào tạo, gắn giảng dạy với nghiên cứu
thực nghiệm khoa học sản xuất, cải thiện điều kiện vật chất, kỹ thuật của đào
tạo, phân cấp và dân chủ hóa việc quản lý ngành. Đây là một sự đổi mới rõ
nét, táo bạo nhất của ngành giáo dục nước ta so với các giai đoạn trước đây,
mà ngành đại học đã tiên phong đột phá, là tiền đề quan trọng cho công tác xã


18

hội hóa giáo dục, xây dựng xã hội học tập của nước ta bắt đầu từ cuối thập
niên 90 của thế kỷ XX đến nay.
Tháng 4 năm 1990, Chính phủ quyết dịnh thành lập Bộ Giáo dục và
Đào tạo nhằm quản lý thống nhất hệ thống giáo dục quốc dân từ giáo dục
mầm non đến giáo dục đại học và sau đại học. Đây chính là bước ngoặt quan
trọng trong sự phát triển của ngành giáo dục Việt Nam, đánh dấu bước trưởng
thành của nền giáo dục cùng với sự phát triển chung của lịch sử.
Tháng 6 năm 1991 Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII đã đề ra mục
tiêu cho ngành giáo dục là: Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng
nhân tài, hình thành đội ngũ lao động có tri thức và có tay nghề, có năng lực
thực hành, tự chủ, năng động và sáng tạo, có đạo đức cách mạng, tinh thần
yêu nước xã hội chủ nghĩa. Nhà trường đào tạo thế hệ trẻ theo hướng toàn
diện, có năng lực chuyên môn, có ý thức và khả năng tự tạo việc làm trong
nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần.
Nhiệm vụ của ngành giáo dục 1991 - 1995 là: tiếp tục đổi mới, ổn định
phát triển và nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo. Coi trọng chất lượng
giáo dục chính trị, đạo đức cho học sinh và sinh viên ; hiện đại hóa một bước
nội dung, phương pháp giáo dục; dân chủ hóa nhà trường và quản lý giáo dục;
đa dạng hóa loại hình đào tạo và loại hình trường lớp, từng bước hình thành
những trường bán công, dân lập, tư thục (dạy nghề), phát triển loại hình vừa
học vừa làm. Mở rộng đào tạo nghề; bồi dưỡng nhiều người giỏi về khoa học,
công nghệ, kinh doanh, quản lý kinh tế, xã hội và nhiều công nhân lành nghề.
Tháng 1 năm 1993, Ban chấp hành Trung ương Đảng họp Hội nghị
lần thứ 4 ra nghị quyết về tiếp tục đổi mới sự nghiệp giáo dục và đào tạo.
Văn kiện Đại hội Đảng VII và Nghị quyết Trung ương 4 đã xác định
những quan điểm chiến lược và phương hướng tiếp tục đổi mới sự nghiệp
giáo dục nước nhà trong giai đoạn mới.
Các tác giả đã trình bày những thành tựu phát triển nền giáo dục Việt
Nam trong giai đoạn 1986 - 1995 như: phát triển giáo dục mầm non; giáo dục
phổ thông; giáo dục chuyên nghiệp; giáo dục đại học; giáo dục thường xuyên.


19

Quy mô đào tạo trong giai đoạn này đã có bước phát triển mới so với
trước đây. Được thể hiện qua bảng số liệu thống kê sau: (chỉ thống kê Cao
đẳng và Đại học).
Số cán
Năm học

1975-1976
1979-1980
1984-1985
1989-1990
1990-1991
1991-1992
1992-1993
1993-1994
1994-1995

Hệ dài

Hệ

Số

bộ

Số sinh

hạn

Chuyên

Hệ

Hệ khác

Trường

QLGD

viên

tập

tu

tại chức

59
79
93
102
105
105
105
104
96

9.642
16.386
18.717
20.890
20.871
20.637
20.456
20.648
21.484

92.097
152.327
124.120
138.566
121.570
160.196
204.638
225.274
356.316

trung
78.637
124.971
88.921
93.248
94.447
95.989
108.323
118.589
136.940

3.493
5.831
7.940
2.479
2.945

9.976
51.525
27.259
38.842
14.942
15.800

3.997
9.236
12.803

7.320
5.940

68.235
96.285

31.120
117.145

Bảng thống kê Trường - cán bộ giảng dạy - sinh viên (Cao đẳng và Đại
học) Giai đoạn 1990 - 1994.

Năm học

1990-1991
1991-1992
1992-1993
1993-1994
1994-1995

Trườn

Cán

g phân

bộ

hiệu

giảng

105
105
105
104
101

20871
20637
20456
20648
21484

Số sinh viên

Số sinh viên

Sinh viên

tuyển mới

đang đào tạo tại

tốt nghiệp

Trong

trường
Trong

Trong

Tổng

đó:Hệ

Tổng

đó:Hệ

Tổng

đó:Hệ

số
48433
59525
73471
80747
78461

DHTT
22786
23472
26733
37341
50432

số
144495
160196
210216
242155
357011

DHTT
94447
95989
108323
118589
137641

số

DHTT
21094
20705
18828
20908
13327

Các tác giả cũng đã nêu lên một số hạn chế trong quá trình đổi mới giáo
dục trong giai đoạn này, đồng thời đưa ra những bài học kinh nghiệm để phát
triển sự nghiệp giáo dục trong những giai đoạn tiếp theo.
II. Giai đoạn 1996 - 2003: chặng đường mới của nền giáo dục và
đào tạo Việt Nam


20

Giai đoạn 1996 - 2003 là giai đoạn phát triển mang thính bản lề của nền
giáo dục và đào tạo Việt Nam. Các mục tiêu, chiến lược phát triển giáo dục
trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã được đặt ra trong
nhiều văn kiện quan trọng của Đảng và Nhà nước. Tháng 12 năm 1996 Nghị
quyết Trung ương 2 khóa VIII chuyên đề về giáo dục và đào tạo ra đời. Tháng
12 năm 1998, Luật Giáo dục được Quốc hội thông qua. Đó là những thời
điểm quan trọng đánh dấu bước tiến mới của nền giáo dục nước nhà.
Hệ thống giáo dục quốc dân hiện có đủ các cấp học, bậc học ngành học
và phương thức giáo dục; Trong tất cả các bậc học, ngoài hệ thống các trường
công lập còn có các trường bán công, dân lập và tư thục. Bên cạnh hệ thống
các trường lớp chính quy, ở tất cả các địa phương còn phát triển các trung
tâm, cơ sở giáo dục không chính quy, đáp ứng nhu cầu của người học từ xóa
mù chữ, nâng cao trình độ đến học nghề, tin học, ngoại ngữ.
Số lượng học sinh, sinh viên ngày càng tăng; các mục tiêu chiến lược
như nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài đã đạt được một
số kết quả quan trọng; ngân sách dành cho công tác đào tạo cán bộ trình độ
cao ở nước ngoài ngày càng tăng; Các chính sách xã hội về giáo dục đã được
thực hiện tốt hơn và có hiệu quả hơn; giáo dục ở vùng sâu, vùng xa, vùng
đồng bào dân tộc thiểu số có tiến bộ rõ rệt; chất lượng giáo dục nhìn chung đã
có những chuyển biến đáng kể; các điều kiện đảm bảo phát triển giáo dục như
đội ngũ giáo viên, hệ thống cơ sở vật chất ngày càng được tăng cường. Tác
giả trình bày cụ thể sự phát triển của quy mô giáo dục đồng thời nêu ra những
mặt hạn chế trong đó nổi bật và chung nhất là trình độ quản lý nhà nước về
giáo dục nói chung, công tác quản lý giáo dục trong các cơ sở giáo dục nói
riêng còn hạn chế, chưa theo kịp với sự phát triển của quy mô giáo dục.
Các tác giả đã trình bày sự phát triển của các điều kiện đảm bảo cho
phát triển giáo dục nước nhà trong giai đoạn này đó là đội ngũ nhà giáo,


21

chương trình sách giáo khoa, cơ sở vật chất, các chính sách quản lý và đầu tư
cho giáo dục, hợp tác quốc tế. Những năm qua, các điều kiện này đã dược cải
thiện đáng kể góp phần không nhỏ vào nâng cao chất lượng giáo dục, giúp
chúng ta tiếp cận với trình độ tiên tiến trong khu vực và trên thế giới.
Về tình hình thực hiện một số chủ trương lớn về giáo dục trong giai
đoạn này, đáng chú ý là ngành giáo dục cùng cả nước đã thực hiện tốt chủ
trương xã hội hóa giáo dục. Đây là chủ trương lớn của Đảng, Nhà nước ta, có
ý nghĩa chiến lược và tác động tích cực đến sự nghiệp giáo dục. Các hoạt
động xã hội hóa giáo dục đã huy động được tiềm năng và nguồn lực lớn của
xã hội, mở rộng quy mô, đa dạng hóa loại hình trường lớp, tăng cường cơ sở
vật chất, đáp ứng nhu cầu học tập của nhân dân, tạo công ăn việc làm, ổn định
cuộc sống cho hàng vạn người. Công tác xã hội hóa giáo dục đã huy động
được các nguồn lực trong và ngoài nước để phát triển giáo dục như thành lập
các quỹ học bổng, khuyến học, trợ giúp học sinh, sinh viên khó khăn, nhiều
doanh nghiệp, các cá nhân cũng tích cực hưởng ứng phong trào này với cả
tinh thần trách nhiệm và lòng hảo tâm vì sự phát triển của nền giáo dục nước
nhà. Phải nói đây là một chủ trương đã có từ lâu, trong các giai đoạn trước
chúng ta cũng đã tổ chức thực hiện ở những mức độ khác nhau, ở các bậc học
khác nhau (Phong trào Bình dân học vụ những năm 1945 đến những năm
1960 hay đổi mới giáo dục đại học từ những năm 1987...) và đến giai đoạn
này sự nghiệp xã hội hóa giáo dục đã phát triển mạnh mẽ và đạt được những
thành tựu to lớn góp phần thực hiện thắng lợi tư tưởng của Bác Hồ, quan
điểm của Đảng ta “ai cũng được học hành”, “xây dựng một xã hội học tập”,
“đào tạo liên tục, giáo dục thường xuyên, học tập suốt đời”.
Các số liệu thống kê dưới đây cho ta thấy sự phát triển của giáo dục
Việt Nam giai đoạn 2000 - 2003 so với giai đoạn 1995 - 2000; và giai đoạn


22

1990 - 1994 (chỉ thống kê so sánh vấn đề Trường - Cán bộ giảng dạy - sinh
viên cấp Cao đẳng và Đại học).
Bảng thống kê Trường - cán bộ giảng dạy - sinh viên (Cao đẳng và Đại
học) Giai đoạn 1995 - 2000.

Năm học

Trườn

Cán

g phân

bộ

hiệu

1995-1996
1996-1997
1997-1998
1998-1999
1999-2000

101
109
126
139
153

Số sinh viên

Số sinh viên

Sinh viên

tuyển mới

đang đào tạo tại

tốt nghiệp

Trong

giảng

22313
23514
25774
28035
30309

trường
Trong

Trong

Tổng

đó:Hệ

Tổng

đó:Hệ

Tổng

đó:Hệ

số
138572
181990
206616
216131
195160

DHTT
83334
112096
137218
140265
146688

số
437506
593884
715231
198857
893754

DHTT
188250
298107
390123
469686
509637

số
43025
49993
73736
102630
121693

DHTT
23108
26831
34482
59232
73743

Bảng thống kê Trường - cán bộ giảng dạy - sinh viên (Cao đẳng và Đại
học) Giai đoạn 2000 - 2003.

Năm học

Trườn
g phân

Cán

Số sinh viên

Số sinh viên

Sinh viên

bộ

tuyển mới

đang đào tạo tại

tốt nghiệp

giảng
Trong

dạy
Tổng

2000 -2001
2001 -2002
2002 -2003

178
191
202

32205
35938
38608

số
215281
239584
256935

đó:Hệ

trường
Trong
Tổng

DHTT
số
151294 918228
163643 974119
168018 1020667

đó:Hệ

Trong
Tổng

đó:Hệ

DHTT
số
DHTT
552461 163110 100377
579197 168937 105181
604396 163960 111536

Sau gần 10 năm liên tục đổi mới và tự hoàn thiện, giáo dục Việt
Nam đã tiến một bước dài trên đường phát triển. Đạt được điều này là nhờ
sự lãnh dạo của Đảng, Nhà nước, sự điều hành của Chính phủ và chính
quyền các cấp, sự tham gia đóng góp của toàn xã hội. Nhiều văn bản pháp
luật quan trọng về giáo dục đã được ban hành, tạo cơ sở pháp lý cho


23

những cải cách mang tính đột phá sau này. Truyền thống hiếu học của dân
tộc, lòng yêu nghề của đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục đã được
phát huy cao độ, đóng góp vào sự nghiệp trồng người, tiến tới một nền
giáo dục Việt Nam tiên tiến, hiện đại và hội nhập quốc tế.
IV. Số liệu thống kê qua các thời kỳ
Trong phần này các tác giả đã dày công sưu tầm, thống kê các số liệu
về giáo dục Việt Nam từ 1945 - 2005, để chúng ta có cái nhìn tổng quát về sự
phát triển của giáo dục nước ta qua các thời kỳ, đồng thời để các nhà quản lý
dự báo xu thế phát triển, hoạch định chiến lược phát triển giáo dục trong tổng
thể sự phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam trong thời kỳ mới.
ý nghĩa của tác phẩm

Xu thế phát triển giáo dục của thế giới đang tác động sâu sắc đến giáo
dục Việt Nam, yêu cầu hội nhập quốc tế và khu vực đang đặt ra những yêu
cầu mới về đổi mới, phát triển nền giáo dục, cải cách nội dung chương trình
giáo dục, thay đổi phương pháp dạy học, quản lý giáo dục... trong nhà trường
các cấp để xây dựng một nền giáo dục chất lượng đáp ứng yêu cầu cao trong
sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới.
Quán triệt các quan điểm, Nghị quyết của Đảng cộng sản Việt Nam
thực sự coi giáo dục - đào tạo, là quốc sách hàng đầu. Nhận thức sâu sắc giáo
dục - đào tạo cùng với khoa học và công nghệ là nhân tố quyết định tăng
trưởng kinh tế và phát triển xã hội, đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển.
Hơn lúc nào hết việc tổng kết lịch sử, so sánh các thời kỳ, các giai đoạn
phát triển giáo dục có ý nghĩa hết sức quan trọng để chúng ta nhìn lại, phân
tích cụ thể, khách quan hơn những thành tựu đã đạt được, những mặt còn
tồn tại hạn chế, rút ra những quy luật phổ biến, những quy luật đặc thù của
sự phát triển nền giáo dục Việt Nam để chúng ta biết được nền giáo dục
chúng ta đang “ở đâu”, để chúng ta nhìn nhận lại một cách nghiêm túc


24

những tồn tại, hạn chế, phân tích rõ những nguyên nhân chủ quan và khách
quan rút ra những bài học kinh nghiệm để phát triển sự nghiệp giáo dục
trong những giai đoạn tiếp theo, tránh sự chủ quan, sự rập khuôn, máy móc
trong nhận định, đánh giá, trong hoạch định chiến lược phát triển giáo dục
nước nhà. Từ đó đề ra chiến lược phát triển nền giáo dục đi đúng hướng
mang lại hiệu quả thiết thực, phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội của
đất nước và tiến trình phát triển chung của nhân loại. Chính vì vậy, Giáo
dục Việt Nam nói chung, nhất là giáo dục Việt Nam thời kỳ đất nước ta
giành được độc lập năm 1945 đến nay trong “Giáo dục Việt Nam 1945 2005” của nhóm tác giả Nguyễn Quang Kính - Nguyễn Quốc Chí - Đặng
Quốc Bảo có ý nghĩa thời sự sâu sắc, giá trị lý luận và thực tiễn to lớn.
Tiền đề phát triển đất nước trong thời kỳ mới chính là do sức mạnh của
con người Việt Nam quyết định. Giáo dục - đào tạo là con đường quan trọng
nhất để xây dựng nguồn nhân lực và làm nên sức mạnh ấy. Từ những thành
tựu đã đạt được của nền giáo dục nước nhà từ năm 1945 đến nay, trong giai
đoạn tiếp theo toàn ngàng giáo dục tiếp tục đổi mới theo quan điểm và định
hướng của Đảng cộng sản Việt Nam chúng ta tin tưởng cùng với sự nỗ lực
của toàn Đảng, toàn dân cùng với truyền thống hiếu học của dân tộc sẽ đưa
nền giáo dục nước ta phát triển ngang tầm thời đại góp phần thực hiện mong
ước của Bác Hồ kính yêu: “đưa dân tộc Việt Nam bước tới đài vinh quang để
sánh vai với các cường quốc năm châu”.


25

Đất nước ta đang trong thời kỳ đổi mới đẩy mạnh công nghiệp hoá,
hiện đại hoá, giáo dục giữ một vị trí quan trọng trong việc nâng cao dân trí,
đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần vào việc xây dựng một nền
kinh tế tri thức.


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×