Tải bản đầy đủ

TÀI LIỆU THAM KHẢO đề CƯƠNG ôn THI môn TRIẾT học TRONG tác PHẨM KINH điển SAU đại học

MÔN TRIẾT HỌC TRONG TÁC PHẨM KINH ĐIỂN
1. Tư tưởng của C.Mác - Ph.Ăngghen về chủ nghĩa duy vật lịch sử qua một số tác
phẩm tiêu biểu giai đoạn 1844-1848? Ý nghĩa của vấn đề nghiên cứu?
- Giai đoạn 1841-1844: Chuyển lập trường từ CNDT sang CNDV, từ DCCM sang CNCS
- Giai đoạn 1844-1848: Đề xuất những nguyên lý triết học DVBC và duy vật lịch sử.
- Giai đoạn 1848-1895: Bổ sung, phát triển, hoàn thiện học thuyết triết học mácxít và
đưa học thuyết này vào thực tiễn PTCN, trở thành hạt nhân lý luận trong hệ tư tưởng của
phong trào công nhân.
*Điều kiện lịch sử giai đoạn 1844 - 1848
- Về kinh tế: CNTB phát triển mạnh ở Anh, Pháp và một số nước Tây Âu. Cách mạng
công nghiệp lần thứ nhất đã cơ bản hoàn thành ở Anh, Pháp và lan ra các nước Châu Âu,
làm thay đổi công cụ sản xuất từ thủ công thành cơ khí máy móc. Năng suất lao động tăng
cao, công xưởng, nhà máy ra đời, kéo theo một loạt ngành nghề mới xuất hiện. Làm gia
tăng mâu thuẫn của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa
- Về xã hội: Phong trào công nhân ở Châu Âu phát triển mạnh mẽ, giai cấp công nhân
trưởng thành nhanh chóng cả về số lượng và chất lượng.
- Về chính trị: Nước Đức lúc này vẫn là nước phong kiến lạc hậu, trong khi ở Anh,
Pháp...CNTB đã phát triển. Vì vậy, nước Đức trở thành trung tâm của phong trào cách
mạng thế giới. GCVS Đức làm cuộc cách mạng chống lại GCTS và chế độ phong kiến song
đều thất bại (tự phát).
- Hoạt động của C.Mác và Ph.Ăngghen: tích cực hoạt động trong phong trào công

nhân. Bằng thiên tài, trí tuệ, thông qua thực tiễn hoạt động trong phong trào công nhân, uy
tín của hai ông đã lan rộng, có ảnh hưởng lớn đến phong trào công nhân và những người
hoạt động chính trị nổi tiếng ở Châu Âu. Từ đó, đồng minh những người chính nghĩa đã
mời hai ông tham gia và cải tổ tổ chức này.
+ Mác, Ăngghen vừa chỉ đạo phong trào công nhân vừa tổng kết khái quát lý luận để
viết nhiều tác phẩm mới.
+ Mác, Ăngghen hoàn toàn đứng trên lập trường DVBC để sáng tạo lý luận khoa học
(từ 1844).
Nhu cầu thực tiễn đặt ra: Phải có một lý luận mới, cách mạng, khoa học soi đường cho
PTCN chuyển từ đấu tranh tự phát lên tự giác mà triết học là hạt nhân thế giới quan. Hai
ông đã khái quát lý luận thông qua rất nhiều tác phẩm, một mặt phát triển về triết học, một
mặt lãnh đạo phong trào công nhân.
Trước tình hình đó, các ông đã viết một loạt tác phẩm để xây dựng những nguyên lý
triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử. Tiêu biểu là các tác phẩm: Bản thảo kinh tế
- triết học, C.Mác viết năm 1844; Tình cảnh giai cấp công nhân Anh, Ph.Ăngghen viết
1844, xuất bản 1845; Gia đình thần thánh, C.Mác và Ph.Ăngghen viết 1844, xuất bản 1845;
Luận cương về Phoiơbắc, C.Mác viết năm 1845; Hệ tư tưởng Đức, C.Mác và Ph.Ăngghen
viết 1845-1846; Sự khốn cùng của triết học, C.Mác viết năm 1847; Tuyên ngôn của Đảng
Cộng sản, C.Mác và Ph.Ăngghen viết 1847, xuất bản 1848.
Giai đoạn 1844-1848 là quá trình C.Mác và Ph.Ăngghen từng bước xây dựng những
nguyên lý triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử. Nghiên cứu dưới khía cạnh chủ
nghĩa duy vật lịch sử, C.Mác và Ph.Ăngghen đã tập trung làm rõ những vấn đề sau đây:
1. Quan niệm về sản xuất vật chất
*Tác phẩm Bản thảo kinh tế - triết học


Vai trò của sản xuất vật chất đối với sự tồn tại, phát triển con người và xã hội loài
người. (Khái niệm quan hệ sản xuất: Hình thức giao tiếp).
*Tác phẩm Hệ tư tưởng Đức
Hai ông đã vạch ra cơ sở của toàn bộ đời sống xã hội đó là sản xuất vật chất.
- Khẳng định: “tiền đề đầu tiên của mọi sự tồn tại của con người, và do đó là tiền đề
của mọi lịch sử, đó là: người ta phải có khả năng sống đã rồi mới có thể “làm ra lịch sử”.
Nhưng muốn sống được thì trước hết cần phải có thức ăn, thức uống, nhà ở, quần áo và một
vài thứ khác nữa. Như vậy, hành vi lịch sử đầu tiên là việc sản xuất ra những tư liệu để thoả
mãn những nhu cầu ấy, việc sản xuất ra bản thân đời sống vật chất.
- Việc sản sinh những nhu cầu và việc thoả mãn những nhu cầu do sản xuất vật chất
đem lại, đó lại là động lực phát triển của sản xuất vật chất, động lực phát triển của xã hội.
C.Mác-Ph.Ăngghen khẳng định: khi “nhu cầu đầu tiên đã được thỏa mãn, hành động
thỏa mãn và công cụ để thỏa mãn mà người ta đã có được - đưa tới những nhu cầu mới; và
sự sản sinh ra những nhu cầu mới này là hành vi lịch sử đầu tiên”.

- Thông qua hoạt động sản xuất, con người tạo ra những tư liệu sinh hoạt cho con
người mà còn tái tạo ra đời sống của bản thân mình, “con người bắt đầu tạo ra những người
khác, sinh sôi nẩy nở - đó là quan hệ giữa chồng và vợ, cha mẹ và con cái, đó là gia đình”.
2. Về mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất
*Tác phẩm Hệ tư tưởng Đức
- Lần đầu tiên các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác, đã giải thích sự biện chứng của
mối quan hệ tác động qua lại và phát triển giữa lực lượng sản xuất với hình thức giao tiếp
(quan hệ sản xuất).
- Các ông không những chỉ rõ tính khách quan của lực lượng sản xuất và quan hệ sản
xuất; sự phụ thuộc của quan hệ sản xuất vào lực lượng sản xuất, mà còn chỉ rõ mối quan hệ
biện chứng giữa chúng. Sự tác động giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất diễn ra
tuân theo quy luật - quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.
Các ông viết: “Trong toàn bộ sự tiến triển của lịch sử, một chuỗi chặt chẽ những hình
thức giao tiếp mà mối liên hệ là ở chỗ người ta thay thế hình thức giao tiếp cũ đã trở thành
một trở ngại bằng một hình thức mới phù hợp với những lực lượng sản xuất đã phát triển
hơn, và do đó phù hợp với phương thức hoạt động tiên tiến hơn của các cá nhân; hình thức
mới này lại trở thành trở ngại và lại được thay thế bằng một hình thức khác…” cứ như thế xã
hội phát triển không ngừng, đi từ sự vận động, phát triển của phương thức sản xuất xã hội.
3. Về mối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng
*Tác phẩm Hệ tư tưởng Đức
Trong tác phẩm này, lần đầu tiên các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác dùng thuật ngữ
kiến trúc thượng tầng, còn cơ sở hạ tầng vẫn được gọi là cơ sở hoặc cơ sở kinh tế, xã hội
công dân. Các ông chỉ rõ, kiến trúc thượng tầng nhà nước là sản phẩm của cơ sở sản xuất,
xã hội công dân là cơ sở của nhà nước. “Xã hội công dân bao trùm toàn bộ sự giao tiếp vật
chất của các cá nhân trong một giai đoạn phát triển nhất định của lực lượng sản xuất. Nó
bao trùm toàn bộ đời sống thương nghiệp và công nghiệp trong giai đoạn đó và do đó, vượt
ra ngoài phạm vi quốc gia và dân tộc… Thuật ngữ “xã hội công dân” xuất hiện trong thế kỷ
XVIII khi những quan hệ sở hữu thoát khỏi thể cộng đồng cổ đại và trung cổ… tuy nhiên,
tổ chức xã hội trực tiếp sinh ra từ sản xuất và giao tiếp và trong mọi thời đại đều cấu thành
cơ sở của nhà nước và của kiến trúc thượng tầng tư tưởng, vẫn luôn luôn được gọi bằng
danh từ đó .Với quan niệm như vậy, C.Mác và Ph.Ăngghen tiến tới xem xét lịch sử xã hội
theo quy luật biện chứng của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất. Từ đó, các ông vạch
ra sự vận động của xã hội từ cổ đại đến chủ nghĩa tư bản là một quá trình hợp quy luật (như


sau này C.Mác nói đó là quá trình lịch sử tự nhiên). Đặc biệt, các ông đã vận dụng quan
điểm đó vào xem xét sự ra đời và phát triển của chủ nghĩa tư bản và rút ra được những hệ
quả của lý luận triết học của mình. Đó chính là lý luận về cách mạng vô sản và xây dựng
chủ nghĩa cộng sản.
*Tác phẩm gia đình thần thánh
C.Mác và Ph.Ăngghen đã phân tích sâu sắc mối quan hệ qua lại giữa nhà nước và xã
hội dân sự để hình thành cơ sở đề xuất học thuyết về cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng.
Hai ông nhận định: Giống như cơ sở tự nhiên của nhà nước cổ đại là chế độ nô lệ, cơ sở tự
nhiên của nhà nước hiện đại là xã hội thị dân....
*Tác phẩm Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản
Sự phát triển của lực lượng sản xuất phải đạt đến một trình độ nhất định mới tạo ra
những điều kiện cho giai cấp ra đời. “Tất cả các giai cấp khác đều suy tàn và tiêu vong cùng
với sự phát triển của đại công nghiệp, còn giai cấp vô sản lại là sản phẩm của bản thân nền
đại công nghiệp”.
4. Giai cấp và đấu tranh giai cấp
*Tác phẩm Bản thảo kinh tế - triết học
Giai cấp vô sản là lực lượng quyết định trong cuộc đấu tranh chống mội áp bức, bóc
lột của CNTB để giải phóng con người.
*Tác phẩm Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản
- Xem xét sự hình thành, phát triển, diệt vong của giai cấp phải xuất phát từ điều kiện
kinh tế.
- Đánh giá rất cao thành tựu mà giai cấp tư sản tạo ra, đó là “Giai cấp tư sản, trong quá
trình thống trị giai cấp chưa đầy một thế kỷ, đã tạo ra những lực lượng sản xuất nhiều hơn
và đồ sộ hơn lực lượng sản xuất của tất cả các thế hệ trước kia gộp lại”.
- Chỉ ra mâu thuẫn cơ bản trong xó hội tư bản và sự tất yếu diệt vong của giai cấp tư
sản: “Giai cấp tư sản sản sinh ra những người đào huyệt chôn chính nó. Sự sụp đổ của giai
cấp tư sản và thắng lợi của giai cấp vô sản đều là tất yếu như nhau”.
- Vị trí, vai trò và sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản: Là sản phẩm của nền đại công
nghiệp, Giai cấp vô sản có sứ mệnh thủ tiêu chế độ tư bản và xây dựng thành công chủ
nghĩa cộng sản.
- Chỉ rừ tính chất nhiệm vụ, mục đích và biện pháp cách mạng cho giai cấp vô sản.
5. Lý luận về cách mạng xã hội
*Tác phẩm Hệ tư tưởng Đức
- C.Mác, Ph.Ăng ghen phê phán phái Hê ghen trẻ cho rằng: động lực thúc đẩy lịch sử
phát triển là sự suy diễn lý luận, là sự phê phán coi quần chúng chỉ là những chất liệu thiếu
sức sống, yếu đuối và bất lực, thậm chí là vật cản trở quá trình phát triển của lịch sử; cho
rằng công việc của công nhân bao giờ cũng vẫn là một cái đơn chất nào đó họ chẳng tạo ra
cái gì hết ngoài việc nhằm thoả mãn nhu cầu của chính họ và vì thế, họ có đấu tranh cũng
chẳng để làm gì.
- C.Mác và Ph.Ăng ghen cho rằng: Cách mạng là kết quả của sự vận động biến đổi
khách quan, là động lực thúc đẩy lịch sử phát triển, chứ không phải là sự suy diễn lý luận,
không phải sự phê phán. C.Mác, Ph.Ăng ghen nhấn mạnh "không phải sự phê phán mà cách
mạng mới là động lực thúc đẩy lịch sử phát triển".
- Nguyên nhân của cách mạng xã hội là từ kinh tế (mâu thuẫn giữa LLSX và QHSX);
kết luận về tính tất yếu của CMVS; xác định nhiệm vụ của GCVS trong cuộc cách mạng đó:
phải cải tạo xã hội để cải tạo mình, xây dựng chế độ xó hội cộng sản chủ nghĩa; phải xóa bỏ


tư hữu xác lập công hữu; tính chất quốc tế của CMVS và xây dựng CNCS do LLSX đó
quốc tế hóa.
C.Mác, Ph.Ăng ghen cho rằng: quần chúng là người sáng tạo, công nhân là người sáng
tạo ra tất cả. Phong trào quần chúng là phong trào hoạt động vật chất sinh động và có sức
mạnh to lớn trong cải tạo xã hội. Công nhân và quần chúng không chỉ sáng tạo ra vật chất,
tinh thần mà còn sáng tạo ra con người, chủ thể của mọi sự sáng tạo. Sức sáng tạo của công
nhân ở chỗ có tổ chức, nghĩa là khi giai cấp công nhân giác ngộ được nguồn gốc bóc lột và
tư hữu, ý thức được sức mạnh đoàn kết, ý thức được con đường đấu tranh, tự giác hoạt động
liên minh, liên kết trong hoạt động và có hoạt động chính trị độc lập, không theo đuôi giai
cấp tư sản.
6. Mối quan hệ giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội
*Tác phẩm Luận cương về Phoiơbắc
- Ý thức cá nhân và ý thức xã hội quan hệ với nhau rất chặt chẽ, ý thức cá nhân mang
bản chất xã hội, do ý thức xã hội quy định và quyết định: "Ngay từ đầu ý thức là một sản
phẩm xã hội và vẫn là như vậy chừng nào con người còn tồn tại”.
- Tồn tại xã hội và ý thức xã hội có mối quan hệ biện chứng, trong đó tồn tại xã hội
quyết định ý thức xã hội. C.Mác Ph.Ăng ghen chỉ rõ: "Không phải ý thức quyết định đời
sống mà chính đời sống quyết định ý thức". Nhìn chung, tồn tại xã hội nào thì ý thức xã hội
ấy, khi tồn tại xã hội đã thay đổi thì sớm muộn ý thức xã hội cũng thay đổi theo. Tồn tại xã
hội quyết định nội dung, xu hướng vận động, phát triển của ý thức xã hội.
- Tính giai cấp của ý thức xã hội: Trong xã hội có giai cấp, ý thức xã hội bao giờ cũng
mang bản chất giai cấp sâu sắc, hai ông chỉ rõ: "Giai cấp nào là lực lượng vật chất thống trị
trong xã hội thì cũng là lực lượng tinh thần thống trị trong xã hội".
*Tác phẩm Hệ tư tưởng Đức
- Mác và Ăngghen khẳng định bản chất của ý thức xã hội: "Ý thức không bao giờ có
thể là cái gì khác hơn là sự tồn tại được ý thức và tồn tại của con người là quá trình đời sống
hiện thực của con người".
- Mác và Ăngghen đề cập sự thay đổi của ý thức xã hội dẫn đến sự thay đổi của ý thức
xã hội: "Tất cả những cái đó không có lịch sử, không có sự phát triển: chính con người, khi
phát triển sự sản xuất vật chất và sự giao tiếp vật chất của mình đã làm biến đổi, cùng với
sự tồn tại hiện thực của mình cả tư duy lẫn sản phẩm tư duy của mình".
- Mác và Ăngghen khẳng định tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội: "không phải ý
thức quyết định đời sống, mà chính đời sống quyết định ý thức".
- Về ý thức cá nhân, Mác và Ăngghen cho rằng "sự phong phú thực sự về tinh thần của
cá nhân là hoàn toàn phụ thuộc và sự phong phú của những liên hệ hiện thực của họ".
- Mác và Ăngghen khẳng định tính giai cấp của ý thức xã hội: "trong mọi thời đại,
những tư tưởng của giai cấp thống trị là những tư tưởng thống trị, nói cách khác giai cấp
nào là lực lượng vật chất thống trị trong xã hội thì cũng là lực lượng tinh thần thống trị"
*Tác phẩm tuyên ngôn của Đảng Cộng sản
- Mác và Ăngghen khẳng định TTXH quyết định YTXH, đồng thời chứng minh sâu
sắc quan điểm đó bằng hiện thực lịch sử: "Liệu có cần phải sáng suốt lắm mới hiểu được
rằng những tư tưởng, những quan điểm và những khái niệm của người ta, tóm lại là ý thức
của người ta, đều thay đổi cùng với mọi sự thay đổi xảy ra trong điều kiện sinh hoạt, trong
quan hệ xã hội, trong đời sống xã hội của người ta chăng?".
- Mác và Ăngghen đề cập về sự phản ánh vượt trước của những tư tưởng khoa học,
cách mạng: "khi người ta nói đến những tư tưởng đang cách mạng hoá cả một xã hội tìh
như thế là người ta chỉ nêu ra sựt hật này là trong lòng xã hội cũ, những yếu tố của một xã


hội mới đã hình thành và sự tan rã của những tư tưởng cũ là đi đôi với sự tan rã của những
điều kiện sinh hoạt cũ".
- Về tính giai cấp và các hình thái chung của ý thức xã hội qua các thời đại: "lịch sử
của toàn bộ, từ trước đến nay, đều diễn ra trong những đối kháng giai cấp, những đối kháng
mang hình thức khác nhau tuỳ từng thời đại. Nhưng dù những đối kháng ấy mang hình thức
nào đi nữa thì hiện tượng một bộ phận này của xã hội bóc lột một bộ phận khác cũng vẫn là
một hiện tượng chung cho tất cả các thế kỷ trước kia. Vậy không có gì đáng lấy làm lạ, khi
thấy rằng ý thức xã hội của mọi thế kỷ, mặc dầu có muôn màu muôn vẻ và hết sức khác
nhau, vẫn vận động trong một số hình thức chung nào đó, trong những hình thức ý thức chỉ
hoàn toàn tiêu tan khi hoàn toàn không còn có đối kháng giữa các giai cấp nữa".
7. Quan niệm về con người
*Tác phẩm Bản thảo kinh tế - triết học
- C.Mác đã đánh giá cao cách tiếp cận giá trị về con người ở Phoiơbắc, thừa nhận
nguyên tắc “con người là một bộ phận của giới tự nhiên”, nhưng vì cách tiếp cận đó chỉ đề
cập đến con người nói chung, con người như kết quả của sự tiến hoá tự nhiên, nên theo
C.Mác nó cần được phân tích sâu sắc hơn, cần được đặt trong hoạt động, mà trước hết là
hoạt động thực tiễn, hoạt động sản xuất vật chất.
- C.Mác đã nêu lên nhiều quan điểm mới, khác hẳn về chất so với các quan điểm triết
học trước đây về con người như “con người là một sinh vật có tính loài” con người không
chỉ đơn thuần là thực thể tự nhiên, mà còn là “thực thể tộc loại đối với mình”. Như vậy, con
người mà C.Mác đề cập đến là một thực thể sinh vật mang tính xã hội, “xét về mặt thể xác
thì con người cũng như con vật, đời sống có tính loài là ở chỗ con người (cũng như con vật)
sống bằng giới tự nhiên vô cơ, và con người càng có tính phổ biến so với con vật thì phạm
vi của giới tự nhiên vô cơ mà nó dựa vào để sống càng có tính phổ biến”.
- Chỉ ra sự khác biệt giữa con người với con vật, theo Mác con người là động vật có ý
thức, có lao động và có ngôn ngữ riêng.
- Quan niệm về bản chất con người “bản chất con người của tự nhiên chỉ tồn tại đối với
con người xã hội; vì chỉ có trong xã hội, tự nhiên đối với con người mới là một khâu liên hệ
con người với con người, mới là tồn tại của con người đối với người khác và tồn tại của
người khác đối với người đó, mới là nhân tố sinh hoạt của hiện thực con người; chỉ có trong
xã hội, tự nhiên mới biểu hiện ra là cơ sở của tồn tại có tính người của bản thân con người”.
- Khẳng định các mối quan hệ của con người được hình thành trong quá trình hoạt
động thực tiễn, đặc biệt là trong lao động sản xuất, vì theo ông “con người không chỉ sản
sinh ra quan hệ cuả mình với đối tượng và hành vi sản xuất, như với những lực lượng xa lạ
và đối địch với mình, - con người còn sản sinh ra mối quan hệ của những người khác với sự
sản xuất của mình và với sản phẩm của mình và mối quan hệ của bản thân mình với những
người khác ấy”.
- Vai trò sáng tạo lịch sử của quần chúng nhân dân; Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công
nhân; Xu hướng phát triển của xã hội đến chủ nghĩa cộng sản.
*Tác phẩm Luận cương về Phoiơbắc
Trên cơ sở phê phán quan niệm về con người của Phoiơbắc là chung chung, trừu
tượng, phi lịch sử, phi thực tiễn. C.Mác đã khái quát bản chất con người: “Bản chất con
người không phải là một cái gì trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt. Trong tính hiện
thực của nó, bản chất con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội”.
*Tác phẩm Hệ tư tưởng Đức
- Khẳng định con người và vấn đề con người là tiền đề, là điểm xuất phát của việc
nghiên cứu lịch sử - xã hội. C.Mác và Ph.Ăngghen đã khẳng định: “Tiền đề đầu tiên của


toàn bộ lịch sử nhân loại thì dĩ nhiên là sự tồn tại của những cá nhân con người sống”. Đây
chính là điểm khác nhau căn bản giữa quan điểm của chủ nghĩa Mác với tất cả quan điểm
trước đó về con người.
- Chỉ ra hạn chế cơ bản của Phoiơbắc nằm trong quan niệm về con người. Phoiơbắc
dựa vào khái niệm "con người cộng đồng" để tự tuyên bố mình là người cộng sản. Con
người, theo Phoiơbắc, chỉ là "con người trừu tượng" mà không phải là con người hiện thực
của lịch sử. Đối với những người cộng sản, con người là sản phẩm của tự nhiên và vấn đề
cần xem xét ở con người hiện thực của lịch sử là hành động thực tiễn của con người nhằm
thay đổi thế giới hiện có.
- Khẳng định, muốn nhận thức đúng đắn bản chất con người phải xuất phát từ quan
điểm thực tiễn, theo Mác “con người là sản phẩm của tự nhiên, vì thế để hiểu con người cần
nghiên cứu quan hệ của nó với bộ phận tự nhiên còn lại”.
Ý nghĩa của vấn đề nghiên cứu
- Với quan niệm duy vật về lịch sử, Mác - Ănghen đã vạch ra quy luật phát triển của xã
hội, đem lại “chìa khóa" để nhận thức một cách khoa học tòan bộ tiến trình lịch sử và phân
chia một cách thật sự khoa học các thời kỳ trong lịch sử; chấm dứt sự thống cũng như
những giải thích sai lầm về các hiện tượng lịch sử và xã hội của quan điểm duy tâm, tôn
gíao về vai trò sáng tạo thế giới của Chúa trời, Thượng đế.
- Đây là giai đoạn quan trọng trong quá trình hình thành và phát triển của triết học Mác
và thành tựu vĩ đại nhất của lịch sử tư tưởng nhân loại.
+ Đã giải quyết đúng đắn vấn đề cơ bản của triết học trong lĩnh vực xỉã hội và lịch sử,
khẳng định: TTXH quyết định YTXH, YTXH là sự phán ánh TTXH.
+ Khẳng định sản xuất vật chất - cơ sở quyết định sự tổn tại và phái triển của xã hội.
+ Chi ra quy luật vận động, phát triển và thay thế của các hình thái kinh tế - xã hội là
quy luật QHSX phù hợp với trình độ phát triển của LLSX; quy luật về mối quan hệ biện
chứng giữa CSHT và KTTT; quy luật về đấu tranh giai cấp trong xã hội có giai cấp đối
kháng - quy luật về vai trò quyết định của quần chúng nhân dân trong lịch sử.
- Đối với triết học: Đánh dấu sự biến đổi về chất trong quá trình phát triển tư tưởng
nhân loại, làm cho triết học trở thành khoa học, là sự thống nhất không tách rời giữa chủ
nghĩa duy vật và phép biện chứng.
- Đối với giai cấp vô sản: Triết học Mác là vũ khí tinh thần, cơ sở khoa học cho các
Đảng cộng sản đề ra đường lối, chiến lược, sách lược của cách mạng vô sản trong đấu tranh
cải tạo hiện thực.
- Đối với khoa học: Trang bị thế giới quan, phương pháp luận khoa học cho các khoa
học cụ thể, các nhà khoa học đi sâu nghiên cứu tìm ra những thuộc tính mới của vật chất,
mở đường cho khoa học phát triển.


2. Tư tưởng của C.Mác - Ph.Ăngghen về phép biện chứng qua một số tác phẩm
tiêu biểu giai đoạn 1848-1895. Ý nghĩa của vấn đề nghiên cứu?
Sau năm 1848, phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động
chống chủ nghĩa tư bản đã trở thành làn sóng mạnh mẽ ở châu Âu.
*Điều kiện kinh tế
- QHSX tư bản chủ nghĩa thống trị ở các nước Đông Âu; CNTB Mỹ phát triển nhanh,
cuộc nội chiến (1861 - 1865) làm cho Mỹ trở thành một nước tư bản hùng mạnh. CNTB ở
Nhật Bản cũng phát triển nhanh.
*Điều kiện xã hội
- Sau khi tuyên ngôn Đảng cộng sản ra đời, cách mạng tư sản ở châu Âu có sự phát
triển mạnh mẽ và rộng khắp ở các nước. (Cách mạng 1848 - 1849 ở Đức, Pháp; Công xã
Pari năm 1871; từ năm 1861 Nga bắt đầu phát triển chủ nghĩa tư bản, đầu năm 1870 nước
Đức được thống nhất).
- PTCN đã có sự phát triển mạnh mẽ, chuyển dần từ tự phát lên tự giác và xuất hiện sự
ra đời của các Đảng cộng sản; cuộc đấu tranh của GCVS để đòi dân chủ có xu hướng
chuyển thành cuộc đấu tranh cho chủ nghĩa xã hội.
*Điều kiện về văn hóa, khoa học
- Chủ nghĩa cơ hội xét lại, chống chủ nghĩa Mác phát triển, nhiều học thuyết mới ra
đời nhằm chống lại và phủ nhận học thuyết Mác.
Trước tình hình đó, Mác và Ăngghen đang sống ở Anh đã trở về Pháp trực tiếp lãnh
đạo, bổ sung, khái quát và phát triển lý luận để cổ vũ và chỉ đạo phong trào cách mạng. Các
ông đã viết một loạt tác phẩm để bổ sung, phát triển chủ nghĩa Mác và triết học mácxít.
Tiêu biểu là các tác phẩm: Đấu tranh giai cấp ở Pháp, 1848-1850; Cách mạng và phản cách
mạng ở Đức, 1851-1852; Ngày 18 tháng sương mù của Lui Bô na pác, 1851-1852; Tư bản
(Tập 1, xuất bản 1867, tập 2-1885, tập 3-1894); Nội chiến ở Pháp, 1871; Phê phán cương
lĩnh Gôta, 1875; Biện chứng của tự nhiên, 1873-1883; Chống Đuy rinh, 1876-1878; Nguồn
gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước, 1884; Lút vích Phoi ơ bắc và sự cáo
chung của triết học cổ điển Đức, 1884.
Giai đoạn 1848-1895 là quá trình C.Mác và Ph.Ăngghen bổ sung và phát triển lý luận
triết học. Nghiên cứu dưới khía cạnh chủ nghĩa duy vật biện chứng, C.Mác và Ph.Ăngghen
đã tập trung làm rõ những vấn đề sau đây:
1. Tác phẩm: Tư bản, tập một (1867)
*C.Mác đã phê phán phương pháp siêu hình của kinh tế học tư bản, qua đó đưa ra
phương pháp biện chứng. C.Mác cũng đó chứng minh sự khác nhau căn bản giữa phương
pháp biện chứng của mình với phương pháp của Hêghen “Phương pháp biện chứng của tôi
không những khác với phương pháp của Hêghen về cơ bản, mà còn đối lặp hẳn với phương
pháp ấy nữa”. Theo Mác “Ở Hê ghen, phép biện chứng bị lộn ngược đầu xuống đất. Chỉ cần
dựng nó lại là sẽ phát hiện được cái hạt nhân hợp lý của nó đằng sau lớp vỏ thần bí”.
*C.Mác đã trình bày các quy luật của phép biện chứng duy vật thông qua việc phân
tích hình thái kinh tế - xã hội tư bản chủ nghĩa.
- C.Mác C.Mác đã trình bày quy luật từ những thay đổi về lượng dẫn đến những thay
đổi về chất và ngược lại. Mác xem xét phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa trong sự vận
động, phát triển của chúng. Sự phát triển của xã hội tư bản chuẩn bị những tiền đề vật chất
cho một chế độ mới về chất, đó là chủ nghĩa xã hội.
- C.Mác đã trình bày những tư tưởng rất phong phú về vấn đề mâu thuẫn. Theo Mác,
Trong “Tư bản” mâu thuẫn bên trong của sự thống nhất hiểu như là sự xung đột “chính đề”
và “phản đề” và được dành cho sự nghiên cứu như nhau, bởi lẽ chúng thể hiện một cơ thể


đang hoạt động. Những mâu thuẫn của hệ thống tư bản chủ nghĩa như những tương phản về
chất. Không nên hiểu những đối cực cô lập, mà là tính chất hai mặt của một quá trình.
+ Trong “Tư bản”, Mác đã chỉ ra mâu thuẫn đó là “mâu thuẫn giữa giá trị và giá trị sử
dụng sức lao động là mâu thuẫn của toàn bộ nền sản xuất hàng hóa tư bản chủ nghĩa, và của
chủ nghĩa tư bản nói chung”; “mâu thuẫn giữa tính chất xã hội của sản xuất của xã hội và sự
chiếm hữu tư nhân đối với tư liệu sản xuất”.
+ Mác chỉ ra cách giải quyết mâu thuẫn dưới chủ nghĩa tư bản có cơ sở sâu xa ở sự
giải quyết các vấn đề chiếm hữu tư liệu sản xuất.
+ C.Mác đã luận chứng mối quan hệ giữa hai mặt đối lập trong mâu thuẫn biện chứng
khi phân tích hàng hóa cũng như chế độ tư bản chủ nghĩa nói chung. Từ sự phân tích hàng
hóa trở thành sự phân tích quan hệ xã hội, quan hệ giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản,
vấn đề đấu tranh giai cấp trong xã hội tư bản chủ nghĩa.
- Thông qua phân tích sự phát triển của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, Mác đã trình
bày quy luật phủ định của phủ định. Theo Mác, sự phủ định bao hàm mối liên hệ giữa các
hình thức vận động sau và trước của sự vật; trong mối liên hệ ấy, nội dung thực thể của nó
không những được bảo tồn mà còn tang lên, biến đổi.
+ Mác đề cập đến sự chuyển hóa liên tục của sự vận động mà theo Mác phủ định của
phủ định như hình thức vận động nhằm giải quyết mâu thuẫn.
+ Trên cơ sở nhận định Tư bản, Mác thừa nhận rằng: Phủ định là hình thức tất yếu của
biến đổi về chất trong quá trình phát triển; Phủ định như phủ định cụ thể, nghĩa là không loại
bỏ giai đoạn phát trienr trước nó, mà tiếp tục nó trong hình thức mới; Phủ định của phủ định
như sự thống nhất các mặt đối lặp và sự hoàn thành một chu kỳ phát triển lịch sử nhất định.
2. Tác phẩm “Chống Đuyrinh”
- Phép biện chứng là hình thức cao nhất của tư duy khoa học; là phương pháp “xem xét
những sự vật và những phản ánh của chúng trong tư tưởng, trong mối liên hệ qua lại lẫn
nhau của chúng, trong sự ràng buộc, sự vận động, sự phát sinh và sự tiêu vong của chúng”.
- Phép siêu hình là xem xét những sự vật và phản ánh của chúng vào tư duy đều là
những đối tượng nghiên cứu riêng biệt, cố định, chết cứng, vĩnh viễn, phải được xem xét cái
này sau cái kia, cái này độc lập với cái kia.
- Sự xuất hiện phép siêu hình là tất yếu; vai trò của phép siêu hình trong lịch sử.
- Khái quát lịch sử phép biện chứng, chỉ ra mặt tích cực và hạn chế của PBC trước
Mác; làm rừ sự đối lập giữa PBC mácxít với PBC của Hêghen.
- Ăngghen đã chỉ ra những thành tựu vĩ đại, vạch thời đại mà khoa học tự nhiên lúc
bấy giờ đã đạt được. Thông qua đó, Ph. ăngghen đã chỉ ra ý nghĩa to lớn của những thành
tựu đó đối với sự ra đời của phép biện chứng duy vật. Ph. Ăngghen viết: “Giới tự nhiên là
hòn đá thử vàng đối với phép biện chứng, và cần phải nói rằng khoa học tự nhiên hiện đại
đã cung cấp cho cuộc thử nghiệm đấy những vật liệu hết sức phong phú và mỗi ngày một
tăng thêm, và do đó đã chứng minh rằng trong tự nhiên, rút cục lại, mọi cái đều diễn ra một
cách biện chứng chứ không phải siêu hình”.
- Ăngghen đã đưa ra định nghĩa phép biện chứng và khẳng định phép biện chứng duy
vật là khoa học. Ph.Ăngghen cho rằng, phép biện chứng không chỉ là khoa học về tư duy,
mà là “khoa học về những quy luật phổ biến của sự vận động về sự phát triển của tự nhiên,
của xã hội loài người và của tư duy”.
- Ăngghen vạch ra bản chất của phép biện chứng duy vật. Theo ông, “điều căn bản”
của phép biện chứng duy vật đó là: “xem xét những sự vật và những phản ánh của chúng
trong tư tưởng trong mối liên hệ qua lại lẫn nhau của chúng, trong sự ràng buộc, sự vận
động, sự phát sinh và sự tiêu vong của chúng”. Ăngghen cho rằng, tư duy biện chứng thừa


nhận trong những trường hợp cần thiết, bên cạnh cái “hoặc là…hoặc là…” còn có cả cái
“vừa là…vừa là…” nữa.
- Ăngghen cũng chỉ ra nhiệm vụ của phép biện chứng, đó là phải theo dõi quá trình
vận động tất yếu, chứng minh tính tất yếu thông qua cái ngẫu nhiên, bên ngoài, xem xét nó
không phải chỉ ở trong tự nhiên mà chủ yếu là ở trong xã hội để chứng minh tính tất yếu
diệt vong của chủ nghĩa tư bản.
- Lần đầu tiên, trình bày khá toàn diện và đầy đủ ba quy luật cơ bản của phép biện
chứng duy vật. Quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập (quy luật mâu thuẫn);
quy luật chuyển hoá từ những biến đổi về lượng thành những biến đổi về chất và ngược lại;
quy luật phủ định của phủ định. Là sự phản ánh những mối liên hệ cơ bản và phổ biến trong
giới tự nhiên và lịch sử. “Vậy là từ trong lịch sử của tự nhiên và lịch sử của xã hội loài
người mà người ta đã rút ra được các quy luật của phép biện chứng… Những quy luật biện
chứng là những quy luật thực sự của sự phát triển của giới tự nhiên…”
Khi xem xét quy luật mâu thuẫn, Ăngghen chỉ rõ “sự di động một cách máy móc và
đơn giản sở dĩ có thể thực hiện được, cũng chỉ là vì một vật trong cùng một lúc vừa ở nơi
này lại vừa ở nới khác, vừa ở cùng một chổ lại vừa không ở chổ đó”. Ngay bản thân “sự
sống cũng là một mâu thuẫn tồn tại trong bản thân các sự vật và các quá trình, một mâu
thuẫn thương xuyên nảy sinh và tự giải quyết, và khi mâu thuẫn chấm dứt thì sự sống cũng
không còn nữa và cái chết xảy đến”.
Quy luật lượng - chất được Ăngghen luận chứng thông qua sự phát triển của các môn
khoa học và đời sống xã hội. Ông khẳng định “vô sô trường hợp thay đổi về lượng làm cho
chất của sự vật biến đổi, cũng như thay đổi về chất làm cho lượng của sự vật biến đổi”.
Quy luật phủ định của phủ định “là một quy luật vô cùng phổ biến và chính vì vậy nó
có một tầm quan trọng và có tác dụng vô cùng to lớn về sự phát triển của tự nhiên, của lịch
sử và của tư duy”. Bản chất của quy luật thể hiện khuynh hướng phát triển tiến lên theo
đường xoáy ốc của tất cả các sự vật, hiện tượng từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp,
từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện, trong đó cái mới ra đời.
3. Trong tác phẩm “Biện chứng của tự nhiên”
- Ăngghen lần lượt nêu lên ba hình thức phát triển của phép biện chứng và khẳng định
công lao của C.Mác trong vấn đề này: “Công lao của C.Mác là ở chỗ ông là người đầu tiên
đã phục hồi lại phép biện chứng đã bị bỏ quên, nêu rõ những mối liên hệ và sự khác nhau
của phương pháp đó với phép biện chứng của G.Ph.Hêghen, và đồng thời, trong bộ “Tư
bản”, ông đã áp dụng phương pháp đó vào những sự kiện của một khoa học thực nghiệm,
khoa kinh tế chính trị”.
- Khẳng định vai trò của phép biện chứng: Phép biện chứng là một hình thức tư duy
quan trọng nhất đối với khoa học tự nhiên hiện đại, bởi vì chỉ có nó mới có thể đem lại sự
tương đồng và do đó đem lại phương pháp giải thích những quá trình phát triển diễn ra
trong giới tự nhiên, giải thích những mối liên hệ phổ biến, những bước quá độ từ một lĩnh
vực nghiên cứu này sang một lĩnh vực nghiên cứu khác.
- Chỉ ra 3 QL cơ bản của PBCDV và luận giải từng quy luật
+ Quy luật về sự chuyển hoá từ số lượng thành chất lượng và ngược lại: Mối quan hệ
giữa chất và lượng, sự tăng hay giảm về lượng sẽ dẫn đến sự thay đổi về chất; điểm tới hạn
(hằng số vật lý hay những điểm nút) mà tại đó sự thay đổi về lượng sẽ dẫn đến sự thay đổi
về chất; quy luật lượng chất trong lĩnh vực hóa học “hoá học là khoa học của sự biến đổi về
chất của vật thể sinh ra do sự thay đổi về thành phần số lượng”; sự chuyển hóa lượng - chất;



+ Quy luật về sự xâm nhập lẫn nhau của các đối lập: Toàn bộ giới tự nhiên vận động,
phát triển thông qua sự thống nhất, đấu tranh và chuyển hóa của các mặt đối lập; chỉ ra các
mặt đối lập (Sự hút và sự đẩy; điện tích trái dấu; tính di truyền và tính thích ứng trong quá
trỡnh tiến húa của sự sống…) và sự tác động và chuyển hóa giữa chúng; tính khách quan
của mâu thuẫn biện chứng; khẳng định nguồn gốc sự vận động, phát triển của lịch sử xó hội
là do sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập;…
+ Quy luật về sự phủ định của phủ định: Sự phát triển theo hình xoáy ốc; phủ định của
phủ định ớt nhất phải trải qua một chu kỳ và phủ định mang tớnh kế thừa.
- Các cặp phạm trù cơ bản của PBCDV:
+ Đồng nhất và khác nhau: Sự đồng nhất trừu tượng chỉ tồn tại trong đầu óc con người,
cũn sự đồng nhất trong hiện thực khách quan là sự đồng nhất cụ thể bao hàm cả sự khác
nhau, sự biến đổi; đồng nhất và khác nhau là hai mặt đối lập, thống nhất, đan xen vào nhau.
+ Ngẫu nhiên và tất nhiên: Chống lại quan điểm siêu hỡnh, tuyệt đối hóa cái tất nhiên
(thuyết định mệnh); khẳng định: Cái tất nhiên bao gồm vô số cái ngẫu nhiên và cái ngẫu
nhiên là hình thức che đậy cái tất nhiên. Ngẫu nhiên là hình thức thể hiện của cái tất nhiên,
bản thân cái tất nhiên biểu hiện ra xuyên qua vô số cái ngẫu nhiên.
+ Nguyên nhân và kết quả: Nguyên nhân và kết quả có thể chuyển hóa cho nhau;
nguyên nhân cú nhiều loại: nguyên nhân trực tiếp và nguyên nhân gián tiếp, nguyên nhân
bên trong và nguyên nhân bên ngoài, quan trọng là phải làm thế nào để vạch ra được
nguyên nhân căn bản.
4. Tác phẩm “Lútvích Phoiobắc và sự cáo chung của triết học cổ điển Đức”
Ph.Ăngghen coi phép biện chứng là hình thức cao nhất của tư duy khoa học - cách
nhìn nhận chung nhất về thế giới.
Ph.Ăngghen nói: “Do đó, phép biện chứng được qui thành khoa học về các qui luật
chung của sự vận động của thế giới bên ngoài cũng như của tư duy bên ngoài”.
Ph.Ăngghen ghi nhận công lao của Hêghen - lần đầu tiên Hêghen đã trình bày toàn bộ
giới tự nhiên, xã hội và tư duy một cách hệ thống. Tư tưởng vĩ đại nhất của triết học
Hêghen là tư tưởng phát triển. Nhưng tư tưởng phát triển của Hêghen chỉ là sự phát triển
của ý niệm. Sự phát triển của tự nhiên và xã hội chỉ là phản ánh sự phát triển của ý niệm.
Ph.Ăngghen phân tích sự phát triển của sự vật, hiện tượng là khách quan, còn biện
chứng của tư duy (của ý niệm) chỉ là sự phản ánh biện chứng của thế giới hiện thực
*Ý nghĩa của vấn đề nghiên cứu
- Chủ nghĩa Mác tiếp tục phát triển và chuyển sang giai đoạn Lênin bảo vệ và phát
triển .
- Đây là ngọn cờ tư tưởng lý luận của chủ nghĩa Mác, tiếp tục soi sáng con đường cách
mạng vô sản.
- Ý nghĩa trong cuộc đấu tranh tư tưởng lý luận hiện nay.


3. V.I.Lênin phát triển chủ nghĩa duy vật biện chứng và phép biện chứng duy vật
qua một số tác phẩm tiêu biểu giai đoạn 1907-1917? Ý nghĩa của vấn đề nghiên cứu?
- 1893-1907, là thời kỳ Lênin bảo vệ phát triển triết học Mác thông qua việc truyền bá
sâu rộng nó vào phong trào công nhân Nga, đấu tranh chống lại mọi loại kẻ thù để thành lập
đảng mácxít chân chính - Đảng Cộng sản Bônsêvíc (Chống chủ nghĩa “dân túy”).
- 1907-1917, phục hồi phong trào cách mạng, tăng thêm sức lãnh đạo của ĐCS
Bônsêvíc và đưa cách mạng nước Nga thoát khỏi thoái trào. (Lênin bảo vệ phát triển triết học
Mác đấu tranh chống lại chủ nghĩa nghĩa chủ quan và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán).
- 1917-1924, là thời kỳ Lênin bảo vệ phát triển triết học Mác chống thù trong, giặc
ngoài, chống chủ nghĩa chiết trung, thuật ngụy biện, phép siêu hình; bước đầu hiện thực hóa
chủ nghĩa Mác vào xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô.
Giai đoạn 1907 - 1917 là thời kỳ Chính phủ Nga hoàng thiết lập một chế độ thống trị
phátxít tàn bạo trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Vì vậy, trong xã hội Nga đã
xuất hiện “tình trạng thoái chí, mất tinh thần, phân liệt, chạy dài, từ bỏ lập trường, nói
chuyện dâm bôn chứ không phải chính trị nữa. Xu hướng ngày càng ngả về triết học duy
tâm; chủ nghĩa thần bí, được dùng để che đậy tinh thần phản cách mạng”. Đặc biệt là trong
đội ngũ trí thức Nga đã xuất hiện trào lưu “tinh thần”, “tạo thần”, tuyên truyền chủ nghĩa
duy tâm phản động. Nhất là chủ nghĩa Makhơ xuất hiện giữ vai trò như là triết học duy nhất
khoa học, mà thực chất nó là chủ nghĩa duy tâm phản động.
Trong điều kiện đó, V.LLênin phải tuyên chiến với các tư tưởng đối lập, tiếp tục bảo
vệ và phát triển triết học mácxít, xác lập thế giới quan duy vật biện chứng và phương pháp
biện chứng duy vật cho giai cấp công nhân và nhân dân lao động trong cuộc đấu tranh
chống giai cấp tư sản và chế độ Nga hoàng thong qua một loạt các tác phẩm: Chủ nghĩa duy
vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán, viết 1908, xuất bản 1909; Ba nguồn gốc và ba bộ
phận cấu thành chủ nghĩa Mác, 1913; Bút ký triết học, 1895-1916; Chủ nghĩa đế quốc giai
đoạn tột cùng của chủ nghĩa tư bản viết 1916, xuất bản 1917; Nhà nước và cách mạng, viết
1917, xuất bản1918.
Nghiên cứu dưới góc độ chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng, V.I.Lênin đã bổ sung
và phát triển triết học Mác trên những vấn đề sau đây:
1. Giải quyết vấn đề cơ bản của triết học, khẳng định tính đảng trong triết học
*Tác phẩm “Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán”
- Lênin vạch trần bản chất duy tâm chủ quan của Makhơ khi ông này cho rằng cái tồn
tại đích thực thế giới không phải là sự vật hay vật thể mà là “các yếu tố của thế giới” như là
âm thanh, ánh sáng, màu sắc, mùi vị, sức ép… sự vật mà chúng ta thấy đó chỉ là “phức hợp
của các yếu tố” mà thôi. Song, Makhơ lại cho rằng: các “yếu tố” đó không phải là vật chất
và cũng không phải là tinh thần mà là “cái trung gian” của hai thứ đó.
- Đối lập với tư tưởng của chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán cho rằng thế giới là “phức
hợp của các yếu tố”, Lênin nhắc lại một lần nữa quan điểm của Ăngghen đã từng nêu trong
tác phẩm “Chống đuyrinh” (1878) rằng: Chỉ có một thế giới duy nhất đó là thế giới vật chất,
thế giới thống nhất ở tính vật chất. Người viết: “tính thống nhất thực sự của thế giới là ở
tính vật chất của nó”. Và người phê phán cái khái niệm yếu tố của Makhơ “Cái danh từ yếu
tố mà nhiều người ngây thơ tưởng là cái gì mới lạ hay một phát minh, thực ra chỉ làm rối
loạn vấn đề bằng một thuật ngữ không có ý nghĩa gì”.
- V.I.Lênin đã phê phán chủ nghĩa Makhơ muốn xóa nhòa tính đảng trong triết học,
muốn đứng trên chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm, nhưng thực chất chính họ là
những người duy tâm chủ quan với cái tham vọng ngu dại muốn “Vượt lên trên” chủ nghĩa
duy vật và chủ nghĩa duy tâm, muốn khắc phục sự đối lập “cũ kỹ” ấy, nhưng kỳ thật thì cả


đám người đó cứ mỗi lúc một sa vào chủ nghĩa duy tâm và kiên quyết tiến hành đến cùng
một cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa duy vật”.
V.LLênin cho rằng “Triết học hiện đại cũng có tính đảng như triết học hai nghìn năm
về trước. Những đảng phái đang đấu tranh vói nhau, về thực chất, - mặc dù thực chất đó bị
che giấu bằng những nhãn hiệu mới của thủ đoạn lang băm hoặc tính phi đảng ngu xuẩn - là
chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm”.
2. Khái quát khoa học tự nhiên và chỉ ra liên minh khoa học với triết học Mác đưa ra
đinh nghĩa vật chất, khắc phục được sự khủng hoảng thế giới quan của nhà khoa học tự
nhiên và triết học
*Tác phẩm “Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán”
- Lênin đã chỉ ra những sai lầm, hạn chế của chủ nghĩa duy vật trước Mác là đã đồng
nhất vật chất với các dạng vật thể cụ thể, đặc biệt là “thuyết nguyên tử” của Đêmôcrit cho
rằng thế giới được cấu tạo bởi các nguyên tử, nguyên tử là phân tử nhỏ bé nhất không thể
phân chia được, không biến đổi về chất lượng…
- Chỉ rõ nguyên nhân cuộc khủng hoảng trong vật lý học: nguồn gốc sâu xa của cuộc
khủng hoảng thế giới quan là ở cách lý giải vật chất, cách đặt vấn đề về “viên gạch đầu
tiên” của vũ trụ, tức là vấn đề bản nguyên của thế giới. Sự truy đuổi này khiến cho mỗi lần
khoa học tạo ra được những khám phá mới là tư duy lại rơi vào trạng thái hụt hẫng.
- V.I.Lênin đưa ra luận điểm về tính vô cùng của vật chất, Người viết: “Điện tử cũng
vô cùng vô tận như nguyên tử, tự nhiên là vô tận… Và chỉ có thể thừa nhận một cách tuyệt
đối, vô điều kiện như vậy sự tồn tại của tự nhiên ở ngoài ý thức và cảm giác của con người
thì mới phân biệt được chủ nghĩa duy vật biện chứng với thuyết bất khả tri tương đối luận
và chủ nghĩa duy tâm”.
- V.I.Lênin đã đưa ra một phương pháp định nghĩa hoàn toàn mới về phạm trù nền
tảng này của chủ nghĩa duy vật. Vật chất là một phạm trù triết học, định nghĩa nó thông qua
phạm trù đối lập nó là ý thức.
- V.I.Lênin đã đưa ra một định nghĩa hoàn toàn mới về vật chất. Người viết: "Vật chất
là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong
cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc
vào cảm giác"
Định nghĩa này không những khẳng định tính hiện thực khách quan của vật chất, tính
có thể nhận thức của con người về thế giới mà còn khẳng định nội dung khách quan của ý
thức con người; do đó, nó cũng là câu trả lời theo quan điểm nhất nguyên duy vật của chủ
nghĩa Mác đối với vấn dề cơ bản của triết học.
- Khẳng định vận động là một thuộc tính cố hữu của mọi vật chất, vật chất vận động là
tuyệt đối, không có vật chất không vận động, cũng như không có vận động nào lại không
phải là vận động của vật chất. Vận động chính là phương thức tồn tại của vật chất, còn hình
thức vật chất vận động là vận động trong không gian và thời gian, Lênin khẳng định:
“Trong thế giới không có gì ngoài vật chất đang vận động và vật chất vận động không thể
vận động ở đâu ngoài không gian và thời gian”.
3. Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức, sự đối lập tuyệt đối và tương đối của mối quan
hệ giữa vật chất và ý thức
*Tác phẩm “Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán”
- Bàn về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức, V.I.Lênin đã đứng vững trên lập trường của
chủ nghĩa duy vật biện chứng và khẳng định: Vật chất là cái có trước, mang tính thứ nhất, cội
nguồn quyết định ý thức. Ý thức là cái có sau, mang tính thứ hai, là sản phẩm, là thuộc tính của
một dạng vật chất đặc biệt có tổ chức phức tạp, có trình độ phát triển cao là óc người.


V.I.Lênin nhấn mạnh: “Không có vật chất và thậm chí hình như không có hệ thần kinh
thì không có ý thức; nói cách khác, ý thức, cảm giác là cái có sau”. “Vật chất gây nên cảm
giác bằng cách tác động vào các giác quan của chúng ta… vật chất là cái có trước, cảm
giác, tư tưởng, ý thức là sản phẩm cao nhất của vật chất được tổ chức theo một cách thức
đặc biệt, đó là quan điểm của chủ nghĩa duy vật nói chung”.
- Theo Lênin không nên cường điệu, khuyếch đại quá đáng sự đối lập giữa vật chất với
ý thức, vì sự đối lập giữa vật chất với ý thức vừa có tính tuyệt đối vừa có tính tương đối.
Tính tuyệt đối của sự đối lập thể hiện ở chỗ vật chất là cái có trước, cái sinh ra ý thức, còn ý
thức là cái có sau, do vật chất quy định. Đó là nguyên tắc tuyệt đối của thế giới quan duy
vật. Ngoài giới hạn đó, sự đối lập còn mang tính tương đối. Bởi vì, ý thức bắt nguồn từ vật
chất, là một thuộc tính của vật chất, là sự phản ánh của vật chất. Lênin viết: đương nhiên
“sự đối lập giữa vật chất và ý thức chỉ có ý nghĩa tuyệt đối trong những phạm vi hết sức hạn
chế: trong trường hợp này, chỉ giới hạn trong vấn đề nhận thức luận cơ bản, là thừa nhận cái
gì là cái có trước và cái gì là cái có sau? Ngoài giới hạn đó, thì không còn nghi ngờ gì nữa
rằng sự đối lập đó là tương đối”.
4. Tập trung nghiên cứu giải quyết căn bản những vấn đề cơ bản của phép biện
chứng, nguồn gốc phép biện chứng
*Tác phẩm “Bút ký triết học”
- V.I.Lênin bổ sung, phát triển và làm sâu sắc thêm khái niệm phép biện chứng: "Có
thể định nghĩa vắn tắt phép biện chứng là học thuyết về sự thống nhất của các mặt đối lâp.
Như thế là nắm đựơc hạt nhân của phép biện chứng, nhưng điều đó đòi hỏi phải có những
sự giải thích và một sự phát triển thêm". V.I.Lênin còn khẳng định “Theo nghĩa đen, phép
biện chứng là nghiên cứu mâu thuẫn ngay trong bản chất các đối tượng”.
- Về quy luật thống nhất và đấu tranh giữa cỏác mặt đối lập: Quy luậtnày chỉ ra nguồn
gốc, động lực của sự phát triển; không chỉ chú ý sự thống nhất, sự đấu tranh mà còn nhấn
mạnh sự chuyển hóa các mặt đối lập. V.I.Lênin chú ý vấn đề sự chuyển hoá các mặt đối lập.
“Phép biện chứng là học thuyết vạch ra những mặt đối lập làm thế nào mà có thể và thường
là (trở thành) đồng nhất- trong những điều kiện nào chúng là đồng nhất, bằng cách chuyển
hoá lẫn nhau”. Khi nghiên cứu quy luật mâu thuẫn, V.I.Lênin không chỉ chú ý sự thống
nhất, sự đấu tranh mà còn nhấn mạnh sự chuyển hoá các mặt đối lập. “Không phải chỉ là sự
thống nhất của các mặt đối lập, mà còn là những chuyển hoá của mỗi quy định, chất, đặc
trưng, mặt, thuộc tính sang mỗi cái khác”.
- Về quy luật chuyển hoá lượng - chất: Trong bản tóm tắt khoa học lôgíc, V.I.Lênin đã
nhắc lại những tư tưởng quý giá của G.Ph.Hêghen về các phạm trù như lượng, chất và độ.
Khi bàn đến các yếu tố của phép biện chứng, V.I.Lênin coi sự chuyển hoá lượng chất là một
yếu tố của phép biện chứng. Đặc trưng của chuyển hoá lượng chất là bước nhảy vọt, sự đứt
đoạn trong liên tục. V.I.Lênin cho rằng nếu không có bước nhảy vọt thì không có sự phát
triển. Bước nhảy là “chìa khóa” để nhận thức được sự phát triển.
- Về quy luật phủ định của phủ định: Trong 16 yếu tố của phép biện chứng, V.I.Lênin
chỉ ra thực chất của quy luật phủ định của phủ định là ở “sự lặp lại, ở giai đoạn cao, của một
số đặc trưng, đặc tính của giai đoạn thấp và sự quay trở lại dường như với cái cũ (phủ định
của phủ định)”. Như vậy, quy luật phủ định của phủ định chỉ ra khuynh hướng của sự phát
triển, tính kế thừa, tính lặp lại và tiến bộ của sự phát triển.
- Các phạm trù của phép biện chứng duy vật: Trong tác phẩm, V.I.Lênin không định
nghĩa nhưng nêu ra nhiều tư tưởng về phạm trù. Theo V.I.Lênin, phạm trù là một hình thức
phản ánh giới tự nhiên trong nhận thức của con người. Phạm trù là vòng khâu của nhận
thức. Phạm trù là những giai đoạn cao của nhận thức con người. Phạm trù là những điểm


nút của thế giới khách quan và nó thể hiện sự tách khỏi của con người đối với thế giới
khách quan.
Đi sâu phân tích cặp phạm trù cái chung và cái riêng (cái chung và cái riêng không
tách rời nhau, cái chung là một bộ phận của cái riêng, cái riêng lớn hơn cái chung, cái riêng
tồn tại trong mối liên hệ đưa đến cái chung, cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng, thông qua
cái riêng).
Ngoài ra, Lênin còn đề cập đến mối quan hệ biện chứng giữa tất nhiên và ngẫu nhiên,
bản chất và hiện tượng, nguyên nhân và kết quả, nội dung và hình thức, khả năng và hiện
thực.
*Tác phẩm Chủ nghĩa đế quốc giai đoạn tột cùng của chủ nghĩa tư bản
- Quy luật chuyển hoá từ những thay đổi về lượng đến những thay đổi về chất và
ngược lại
+ Để luận giải những đặc điểm, thuộc tính mới của chủ nghĩa đế quốc V.I.Lênin bắt
đầu phân tích sự biến đổi về lượng trong nền kinh tế xã hội của chủ nghĩa tư bản từ năm
1870: Tập trung sản xuất trong lĩnh vực công nghiệp -> gắn kết giữa TB công nghiệp và TB
ngân hàng -> TB tài chính độc quyền -> liên minh giữa các tổ chức độc quyền với các nhân
viên chính phủ; hình thành liên minh giữa các tổ chức độc quyền trong phạm vi quốc tế.
+ Những biến đổi về lượng trên các lĩnh vực của nền kinh tế xã hội tư bản chủ nghĩa
đã đưa xã hội tư bản chuyển sang một chất mới, mà biểu hiện tập trung căn bản nhất là sự ra
đời của các tổ chức độc quyền. V.I.Lênin khẳng định "nếu cần định nghĩa cho thật hết sức
vắn tắt thì phải nói rằng chủ nghĩa đế quốc là giai đoạn độc quyền của chủ nghĩa tư bản".
+ Độc quyền về kinh tế, độc quyền về chính trị -> chiến tranh, ăn cướp, nô dịch, chia
nhau thị trường, đánh bại đối thủ…-> "chủ nghĩa đế quốc là chủ nghĩa tư bản quá độ, hay
nói cho đúng hơn chủ nghĩa tư bản đang hấp hối".
- Quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập
+ "Nền kinh tế của CNĐQ là sự thống nhất và đấu tranh đặc biệt gay gắt và kịch liệt
giữa độc quyền và cạnh tranh". Đây là "mâu thuẫn cơ bản nhất, sâu sắc nhất. Bởi vì, độc
quyền không thủ tiêu được cạnh tranh mà còn làm cho cạnh tranh gay gắt, quyết liệt hơn.
Đây là nguồn gốc làm nảy sinh sự thống nhất và đấu tranh giữa những xu hướng đối lập: xu
hướng áp bức và xu hướng phản kháng; xu hướng đình trệ, thối nát phản động với xu hướng
phát triển vô cùng nhanh chóng của CNTB.
+ V.I.Lênin viết: "Tình trạng mâu thuẫn trở nên gay gắt là động lực mạnh nhất của thời
kỳ lịch sử quá độ”. Và "việc cần làm lu mờ các mâu thuẫn sâu sắc nhất của chủ nghĩa đế
quốc, làm lu mờ như thế tất nhiên dẫn đến chỗ tô điểm cho chủ nghĩa đế quốc".
5. Xung quanh vấn đề nhận thức, sự thống nhất giữa phép biện chứng,1ý luận nhận
thức và lôgích học
*Tác phẩm “Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán”
- V.I.Lênin đã rút ra ba kết luận quan trọng làm nền tảng cho nhận thực luận mácxít,
đó là:
1. "Có những sự vật tồn tại độc lập với ý thức của chúng ta, độc đối với cảm giác của
chúng ta, ở ngoài chúng ta…"
2. "Dứt khoát là không có và không thể có bất kỳ sự khác nhau nào về nguyên tắc giữa
hiện tượng và vật tự nó. Chỉ có sự khác nhau giữa cái đã được nhận thức và cái chưa được
nhận thức"
3. "Trong lý luận nhận thức, cũng như trong tất cả các lĩnh vực khác của khoa học, cần
suy luận một cách biện chứng, nghĩa là đừng giả định rằng nhận thức của chúng ta là bất di
bất dịch và có sẵn, mà phải phân tích xem sự hiểu biết nảy sinh ra từ sự không hiểu biết như


thế nào, sự hiểu biết không đầy đủ và không chính xác trở thành đầy đủ hơn và chính xác
hơn như thế nào".
- Lênin đã xác lập các luận điểm cơ bản của thuyết phản ánh. Nội dung của thuyết đó
là: “Sự vật tồn tại (vật chất) ở ngoài chúng ta. Tri giác và biểu tượng của chúng ta là hình
ảnh của các vật đó. Chúng ta dựa vào thực tiễn mà kiểm tra những hình ảnh ấy và phân biệt
những hình ảnh đúng với những hình ảnh sai”. Qua nhận định trên, chúng ta nhận thấy
Lênin coi các cơ quan cảm giác là những dòng kênh mà thông qua đó thông tin về thế giới
được truyền đến bộ não. Các sự vật, thực tiễn khách quan trong khi tác động lên các cơ
quan cảm giác đã hình thành ở bộ não những quan niệm phản ánh chuẩn xác thực tại, các
thuộc tính của sự vật cùng với những mối liên hệ mang tính bản chất và quy luật.
- Vấn đề chân lý và tiêu chuẩn của chân lý. Theo ông, tất cả tri thức của con người
phản ánh hiện thực đã được thực tiễn xác nhận là đúng đều trở thành chân lý. Chân lý này
vừa mang tính khách quan, vừa tính cụ thể, lại vừa mang tính tuyệt đối vừa mang tính
tương đối. “Như vậy là theo bản chất của nó, tư duy của con người có thể cung cấp và đang
cung cấp cho chúng ta chân lý tuyệt đối mà chân lý này chỉ là tổng số những chân lý tương
đối,... nhưng những giới hạn chân lý của mọi định lý khoa học đều là tương đối, khi thì mở
rộng ra, khi thì thu hẹp lại, tùy theo sự tăng tiến của tri thức”. Và, “đối với chủ nghĩa duy
vật biện chứng thì giữa chân lý tương đốỉ và chân lý tuyệt đốỉ không có ranh giới không thể
vượt qua được”.
- Khẳng định vai trò của thực tiễn: "Quan điểm về đời sống, về thực tiễn, phải là quan
điểm thứ nhất và cơ bản của lý luận nhận thức…”.
Quan điểm về thực tiễn giữ vai trò cơ bản nhất trong việc xây dựng lý luận về nhận
thức của chủ nghĩa Mác. Sở dĩ như vậy là vì: "Thực tiễn cao hơn nhận thức (lý luận), không
những của tính phổ biến, mà cả của tính hiện thực trực tiếp".
*Tác phẩm “Bút ký triết học”
- Chỉ ra ba yếu tố cơ bản của quá trình nhận thức: “1) giới tự nhiên; 2) nhận thức của
con người, = bộ óc của người (với tư cách là sản phẩm cao nhất của giới tự nhiên đó) và 3)
hình thức của sự phản ánh giới tự nhiên vào trong nhận thức của con người; hình thức này
chính là những khái niệm, những quy luật, những phạm trù etc”. Chính lôgích học nghiên
cứu các hình thức này và phân tích tư duy một cách lôgích làm rõ các nội dung của phép
biện chứng. Vì vậy, ở đây lý luận nhận thức đã bao hàm phép biện chứng và lôgích học.
- Nghiên cứu con đường biện chứng của nhận thức chân lý khách quan: “Từ trực quan
sinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn - đó là con đường
biện chứng của sự nhận thức chân lý, của sự nhận thức hiện thực khách quan”.
- Gắn lý luận với thực tiễn, coi thực tiễn là một vòng khâu của quá trình nhận thức:
“Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn - đó là
con đường biện chứng của nhận thức chân lý, của sự nhận thức thực tại khách quan”.
Trong mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn, V.I.Lênin luôn nhấn mạnh đến vai trò
quyết định của thực tiễn; bởi lẽ “thực tiển cao hơn nhận thức (lý luận), vì nó có ưu điểm
không những của tính phổ biến, mà cả tính hiện thực trực tiếp”. Chỉ có trên cơ sở xác định
đúng đắn vai trò của thực tiễn là cơ sở, động lực, mục đích của nhận thức và tiêu chuẩn của
chân lý chúng ta mới hiểu rõ được sự phát triển lịch sử của tri thức phản ánh hiện thực
khách quan và các hình thức lôgích của tư duy.
- V.I.Lênin coi những phạm trù lôgích là những giai đoạn lịch sử mà con người tự
mình tách ra khỏi giới tự nhiên bằng sự nhận thức và chinh phục giới tự nhiên. “Con người
bản năng, người man rợ, không tự tách khỏi giới tự nhiên. Người có ý thức tự tách khỏi giới


tự nhiên, những phạm trù là những giai đoạn của sự tách khỏi đó... chúng là những điểm nút
của màng lưới, giúp ta nhận thức và nắm vững được màng lưới”.
6. Về chủ nghĩa duy vật chiến đấu
*Tác phẩm “Bút ký triết học”
V.LLênin đã đấu tranh không khoan nhượng chống lại các trường phái đối lập để bảo
vệ và phát triển triết học mácxít. Khi phê phán Cantơ và Hêghen, V.I.Lênin cho rằng:
“Cantơ hạ thấp tri thức để dọn sạch đường cho lòng tin; Hêghen đề cao tri thức, quả quyết
rằng tri thức tức là tri thức về Thượng đế. Người duy vật đề cao tri thức về vật chất, giới tự
nhiên, tống Thượng đế và những bọn triết học đê tiện bảo vệ Thượng đế vào hố rác”.
Khi phê phán chủ nghĩa duy tâm, V.I.Lênin đã chỉ: “Theo quan điểm của một chủ
nghĩa duy vật thô lỗ, đơn giản, siêu hình, thì chủ nghĩa duy tâm triết học chỉ là một sự ngu
xuẩn. Trái lại, theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng; thì chủ nghĩa duy tâm triết
học là một sự phát triển (một sự thổi phồng, bơm to) phiến diện, thái quá... của một trong
những đặc trưng, của một trong những mặt, của một trong những khía cạnh của nhận thức
thành một cái tuyệt đối, tách rời khỏi vật chất, khỏi giới tự nhiên, thần thánh hóa. Chủ nghĩa
duy tâm, đó là chủ nghĩa thầy tu. Đúng như vậy. Nhưng chủ nghĩa duy tâm triết học là...
con đường dẫn đến chủ nghĩa thầy tu, qua một trong những sắc thái của nhận thức (biện
chứng) vô cùng phức tạp của con người”.
Trong khi khẳng định con đường nhận thức biện chứng duy vật, V.LLênin chỉ rõ:
“Nhận thức của con người không phải là.... một đường thẳng, mà là một đường cong đi gần
vô hạn đến một loạt những vòng tròn, đến một vòng xoáy ốc. Bất cứ đoạn nào, khúc nào,
mảnh nào của đường cong ấy cũng có thể chuyển hóa (chuyển hóa một cách phiến diện),
thành một đường thẳng độc lập, đầy đủ, đường thẳng này (nếu chỉ thấy cây không thấy
rừng) sẽ dẫn đến vũng bùn, đến chủ nghĩa thầy tu (ở đây nó sẽ bị lợi ích giai cấp của giai
cấp thống trị củng cố lại). Tính đường thẳng và tính phiến diện, sự chết cứng và cứng nhắc,
chủ nghĩa chủ quan và sự mù quáng chủ quan đó là những nguồn gốc về nhận thức luận của
chủ nghĩa duy tâm. Và chủ nghĩa thầy tu (= chủ nghĩa duy tâm triết học) đương nhiên có
những nguồn gốc về nhận thức luận nó không phải là không có cơ sở; không còn nghi ngờ
gì nữa, đó là một đóa hoa không kết quả, nhưng là một đóa hoa không kết quả mọc trên cái
cây sống của nhận thức sinh động, phong phú, chân thực, khỏe mạnh, toàn năng, khách
quan, tuyệt đối của con người”.
Như vậy, Bút ký triết học chứa đựng nhiều tư tưởng triết học quan trọng, mà nội dung
cơ bản là phép biện chứng và lý luận nhận thức. Đó là một kiểu mẫu về sự phát triển sáng
tạo phép biện chứng duy vật và đưa ra cương lĩnh tiếp tục nghiên cứu trong lĩnh vực triết
học mácxít.
Tóm lại: Giai đoạn 1907-1917 Lênin đã tiếp tục bảo vệ và phát triển toàn diện triết
học Mác trong đó có chủ nghĩa duy vật biện chứng và phép biện chứng duy vật. Ông đã làm
phong phú nội dung của triết học Mác trên cơ sở những thành tựu khoa học lúc bấy giờ và
thực tiễn đấu tranh cách mạng. Chỉnh ông là người biến chủ nghĩa xã hội từ lý luận trở
thành hiện thực, xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới, mở ra thời đại
mới cho lịch sử nhân loạỉ. Ông là hình mẫu trong việc bảo vệ và phát triển triết học Mác nói
riêng, chủ nghĩa Mác nói chung. Trung thành với đường lối của ông, những người cộng sản
phải tiếp tục phát triển và vận dụng dụng sáng tạo hơn nữa những nguyên lý mác xít trong
sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ngày nay.
*Ý nghĩa của vấn đề nghiên cứu
- Tiếp tục bảo vệ và phát triển triết học Mác trong giai đoạn 1907-1917. Những đóng
góp của Lênin không chỉ làm phong phú, giàu có thêm triết học Mác mà còn nâng nó lên


tầm cao mới; là mẫu mực và là tiền đề trực tiếp để các thế hệ kế tiếp học tập, bảo vệ và phát
triển triết học Mác - Lênin trong điều kiện lịch sử mới.
- Là cơ sở để các Đảng Cộng sản và phong trào công nhân đấu tranh giành chính
quyền và đề ra chủ trương, đường lối xây dựng đất nước.
- Trang bị thế giới quan, phương pháp luận cho các nhà khoa học tiếp tục đi sâu khám
phá tự nhiên và xã hội.
- Đấu tranh chống lại quan điểm phản động, xuyên tạc chủ nghĩa Mác, triết học Mác
lúc bấy giờ.
- Là cơ sở khoa học để các Đảng cộng sản kế thừa và vận dụng trong điều kiện mới
hiện nay
- Những quan điểm của V.I.Lênin là cơ sở khoa học và phương pháp kiểu mẫu cho
chúng ta trong bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin hiện nay.
4. Đặc điểm cơ bản của hệ thống tác phẩm kinh điển triết học mác xít? Ý nghĩa
của việc nghiên cứu?
Tác phẩm kinh điển triết học Mác - Lênin là tài sản vô giá trong kho tàng tư tưởng lý
luận của nhân loại nói chung và của những người cộng sản nói riêng, là nguồn tri thức vô
tận về những quy luật vận động, phát triển cùa tự nhiên, xã hội và tư duy, là lý luận khoa
học, cách mạng của giai cấp vô sản trong nhận thức và cải tạo thế giới. Từ các tác phẩm cho
chúng ta thấy quá trình hình thành và phát triển của triết học Mác - Lênin, thấy được những
diễn biến của các thời kỳ mà Mác - Ăngghen - Lênin đã sống, nghiên cứu khoa học, lãnh
đạo phong trào công nhân quốc tế với mục tiêu cao cả là chống áp bức, bóc lột, bất công,
thực hiện giải phóng con người và vì hạnh phúc của nhân loại.
Tuy nhiên, hệ thống tác phẩm kinh điển triết học Mác - Lênin rất đồ sộ vì vậy để có cơ
sở nghiên cứu, tìm hiểu người học bên cạnh việc cần được trang bị những kiến thức lý luận
cần thiết, thì phải nắm được những đặc điểm cơ bản của hệ thống các tác phẩm kinh điển
triết học Mác - Lênin.
4.1. Đặc điểm cơ bản của hệ thống tác phẩm kinh điển triết học mác xít
*Tính chỉnh thể và tỉnh hệ thống
Các tác phẩm kinh điển tồn tại với tư cách là một hệ thống với rất nhiều tác phẩm khác
nhau, mỗi tác phẩm đều gắn với một hoàn cảnh cụ thể và có đặc trưng riêng về nội dung.
Triết học Mác hình thành trong quá trình đấu tranh cách mạng của giai cấp vô sản, là
vũ khí lý luận của nó, do đó các tác phẩm của Mác, Ăngghen được viết ra dưới sự tác động
trực tiếp của những biến cố lịch sử, những biến cố đóng vai trò chất liệu sống cho việc thai
nghén tư tưởng của hai ông. Nó vừa thể hiện trình độ tư duy sắc sảo của những người sáng
lập chủ nghĩa Mác, vừa bám sát vào những đòi hỏi thực tiễn sinh động, vì thế tính khoa học,
tính cách mạng gắn kết với nhau, nó được thể hiện trong tính chỉnh thể và hệ thống chặt
chẽ. Điều này, được thể hiện rõ qua các tác phẩm của C.Mác - Ph.Ăngghen.
Sự hình thành triết học Mác từ 1937 đến 1848, bao gồm sự chuyển tiếp của C.Mác và
Ph.Ăngghen từ chủ nghĩa duy tâm và dân chủ cách mạng sang chủ nghĩa duy vật và chủ
nghĩa cộng sản với các tác phẩm chủ đạo như: “Góp phần phê phán triết học pháp quyền
của Hêghen”, “Các bức thư từ nước Anh” những phác thảo đầu tiên của chủ nghĩa duy vật
biện chứng và quan niệm duy vật về lịch sử, với các tác phẩm: “Bản thảo kinh tế - triết học”
“Luận cương về Phoi ơ bắc”, “Sự khốn cùng của triết học”, “Gia đình thần thánh” và “Hệ tư
tưởng Đức”; cơ sở lý luận triết học của lý luận giải phóng với tác phẩm “Tuyên ngôn của
Đảng cộng sản”.


Sự phát triển quan niệm duy vật về lịch sử thời kỳ các cuộc cách mạng dân chủ tư sản
1848 -1852, bao gồm học thuyết về cách mạng xã hội “Ngày 18 tháng sương mù của Lui
Bônapáctơ”, “Đấu tranh giai cấp ở Pháp”, và vai trò của quần chúng nhân dân và cá nhân
ừong lịch sử... “Cách mạng và phản cách mạng ở Đức”, “Chiến tranh nông dân ở Đức”...
Sự phát triển của triết học Mác trong các tác phẩm kinh tế những năm 50 - 60 của thế
kỷ XIX. Thể hiện quan niệm duy vật về lịch sử, phép biện chứng duy vật như lý luận và
phương pháp nhận thức như Tư bản. Sự phát trỉên của triêt học Mác những năm 70 - 80 của
thế kỷ XIX qua các tác phẩm của C.Mác và Ph.Ăngghen - chứA đựng những nội dung hêt
sức phong phú, bao gôm chủ nghĩa duy vật biện chứng, phép biện chứng duy vật, liên minh
triết học với khoa học tự nhiên, lịch sử triết học, quan niệm duy vật về lịch sử, lý luận nhận
thức, tức là tổng hợp nhiều vấn đề vào trong hệ thống triết học của chủ nghĩa Mác như:
“Chống Đuyrinh”, “Biện chứng của tự nhiên”, “Lútvích Phoiơbắc và sự cáo chung của triết
học cổ điển Đức”, “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và nhà nước”...
Qua phân tích trên cho thấy ngay rằng, các tác phẩm của C.Mác và Ph.Ăngghen không
dàn trải, mà tập trung, chỉnh thể chặt chẽ, thống nhất, bắt đầu từ các phác thảo đầu tiên đến
sự chín muồi tư tưởng.
*Tính giai đoạn và tính liên tục
Các tác phẩm kinh điển phản ảnh quá trình trưởng thành của tác giả và sự phát triển
của triết học Mác - Lênin qua các giai đoạn khác nhau. Tuy nhiên, cần hiểu đúng đắn rằng,
quá trình phát triển triết học Mác qua các giai đoạn nhưng không phải là đứt đoạn mà nó
luôn mang tính liên tục. Sự hình thành triết học Mác được chia thành ba giai đoạn trong đó,
Giai đoạn 1: Quá trình hình thành dần dần các quan điểm triết học, sự chuyển biến từ
chủ nghĩa duy tâm sang chủ nghĩa duy vật biện chứng và từ chù nghĩa dân chủ cách mạng
sang chủ nghĩa xã hội khoa học. Quá trình này hoàn thành vào năm 1844.
Giai đoạn 2: Khởi thảo những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa duy vật biện chứng và
chủ nghĩa duy vật lịch sử. Quá trình này hoàn thành vào năm 1848 với sự xuất hiện tác
phẩm “Tuyên ngôn của Đàng cộng sản”.
Giai đoạn 3: C.Mác - Ph.Ăngghen bổ sung và phát triển toàn diện thế giới quan mới
từ năm 1848 đến năm 1895. Trong giai đoạn này có thể chia thành hai giai đoạn nhỏ đó là
từ 1848 đến Công xã Pari 1871 và từ 1871 cho đến 1895.
Năm 1843, C.Mác xuất bản tác phẩm “Góp phần phê phán triết học pháp quyền của
Hêghen”. Trong tác phẩm, C.Mác khẳng định theo quan điểm duy vật, vai trò quyết định
của hoạt động vật chất nhằm chống lại quan điểm duy tâm về vai trò quyết định của yếu tố
tinh thần trong lịch sử.
Trên cơ sở đó, C.Mác tiến tới phát hiện sứ mệnh lịch sử toàn thế giới của giai cấp vô
sản bằng cách phát hiện tư tưởng về “sự giải phóng nhân loại”. Tuy khái niệm này còn
mang dấu vết chủ nghĩa nhân bản Phoỉơbắc nhưng với thuật ngữ ấy, C.Mác đã chỉ ra những
cái mà Phoiơbắc chưa thể nói tới: xóa bỏ chế độ tư hữu, cách mạng xã hội chủ nghĩa. Hơn
thế nữa, Mác đã khẳng định dứt khoát rằng, triết học phải tìm lực lượng ngay trong bản thân
hiện thực, ở giai cấp nằm ngay trong xã hội hiện tại - đó là giai cấp vô sản; triết học đó phải
phản ánh những xung đột hiện thực, những điều kiện vật chất của những xung đột ấy và do
đó vạch ra con đường hiện thực để giải quyết xung đột đó. Đây là luận điểm then chốt của
Mác trong việc hình thành quan điểm duy vật lịch sử và đặt cơ sở cho việc giải quyết một
cách khoa học vấn đề quan hệ giữa ý thức và tồn tại mà trong luận án tiến sĩ trước đây đã
được ông giải thích một cách duy tâm chủ nghĩa.
Năm 1844, C.Mác viết “Bản thảo kinh tế - triết học”, trong tác phẩm này, C.Mác tiếp
tục phê phán triết học duy tâm của Hêghen, đồng thời cũng vạch ra mặt tích cực của nó là


phép biện chứng. Thông qua phân tích sự tha hóa của lao động C.Mác đã cắt nghĩa: Sở hữu
tư nhân trong xã hội tư bản trở thành nguyên nhân của sự tha hóa của lao động và của con
người, biến sức lao động trở thành hàng hóa. Theo C.Mác: Muốn khắc phục sự tha hóa ấy
phải xóa bỏ chế độ chiếm hữu tư nhân. Việc giải phóng người công nhân khỏi sự tha hóa là
sự giải phóng con người nói chung.
Ngoài ra, trong tác phẩm C.Mác đã luận chứng cho tính tất yếu của chủ nghĩa cộng sản
trong sự phát triển của xã hội. Mặc dù luận chứng này chưa chín muồi về mặt lý luận, song
đã cho phép phân biệt quan niệm của Các Mác về chủ nghĩa cộng sản với những quan niệm
của chủ nghĩa bình quân vốn có của các môn phái chủ nghĩa cộng sản không tưởng. Theo
C.Mác, chủ nghĩa cộng sản dựa trên sự phát triển cao của nền sản xuất xã hội là nấc thang
lịch sử cao hơn chủ nghĩa tư bản.
Các tác phẩm kinh điển phản ánh những nhiệm vụ đặt ra trong các giai đoạn lịch sử
nhất định. Tác phẩm “Chống Duyrinh” được Ph.Ăngghen viết trong hoàn cảnh vào những
năm 70 của thế kỷ XIX, ảnh hưởng của Đuyrinh trong Đảng dân chủ - xã hội là rất lớn,
thậm chí một số đảng viên Đảng dân chủ xã hội Đức chẳng hạn như A.Bêben đã viết hai bài
luận văn đăng trên tờ báo Volksstaat - cơ quan Trung ương của Đảng công nhân dân chủ xã hội để ca ngợi” Đuy rinh, gọi Đuyrinh là “người cộng sản mới”. Nhận thấy tác hại của
việc truyền bá chủ nghĩa Đuyrinh trong phong trào công nhân và sự “tha hóa” tư tưởng ở
một số đảng viên Đảng dân chủ - xã hội Đức. Ph.Ăngghen đã ngừng viết tác phẩm “Biện
chứng của tự nhiên” để tập trung phê phán quan điểm sai lầm của Đuyrinh và những người
theo ông ta.
V.I.Lênin viết tác phẩm “Những người bạn dân là như thế nào và họ đấu tranh chống
những người dân chủ xã hội ra sao?” nhằm phê phán kẻ thù của chủ nghĩa Mác - những
người dân túy tự do chủ nghĩa. Những người “tự xưng là đại biểu cho những tư tưởng và
sách lược của những người “bạn dân” chân chính, nhưng thật ra lợi ỉà kẻ thù của những
người dân chủ xã hội”. Trong khi đó tổ chức cộng sản chưa thành hệ thống, chủ nghĩa Mác
cũng mới chỉ xâm nhập vào nước Nga, nếu bị ngấm tư tưởng dân túy thì phong trào cách
mạng không thể tiến lên được. Vì vậy, Lênin đã viết tác phẩm này để thanh toán về mặt lý
luận nhằm vạch rõ tính chất phản động, phản khoa học của chủ nghĩa dân túy, khẳng định
tính chất cách mạng, khoa học của chủ nghĩa Mác, sự cần thiết phải đưa chủ nghĩa Mác vào
Nga, trang bị lý luận khoa học cho những người mác xít, chuẩn bị lý luận cho việc thành lập
Đảng công nhân xã hội chủ nghĩa.
*Luôn đề cao tính Đảng vô sản
Các nhà kinh điển của triết học Mác - Lênin luôn đề cao lập trường tính đẩng vô sản,
đấu tranh không khoan nhượng với tất cả kẻ thù của chủ nghĩa Mác. Trong tác phẩm
“Lútvích Phoiơbắc và sự cáo chung của triết học cổ điển Đức” Ph.Ăngghen cho rằng muốn
đánh giá đúng giá trị triết học Hêghen phải có quan điểm thực tiễn, phải có tính đảng và
tính giai cấp sâu sắc, mới có thể tìm thấy cái quý giá, những nhân tố hợp lý và do đó mới kế
thừa và phát triển. Trong đó phép biện chứng là cái quý giá nhất trong triết học Hêghen.
Ngay bản thân phép biện chứng duy tâm của Hêghen, mặc dù quý giá nhưng không phải
dùng được tất cả, nó chỉ là bàn đạp, là ngòi nổ cho phép biện chứng duy vật.
Trong tác phẩm “Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán”, Lênin cho
rằng C.Mác và Ph.Ăngghen là người luôn thể hiện triệt để nguyên tắc tính đảng, các ông đã
vạch ra một cách rõ ràng những mặt tích cực và hạn chế lịch sử của các nhà duy vật thế kỷ
trước, kể cả chủ nghĩa duy vật Phoiơbắc. V.I.Lênin phê phán những toan tính chiết trung
triết học, sự hòa lẫn học thuyết Makhơ với chủ nghĩa Mác với một hình thức tôn giáo đặc


biệt nào đó theo cách thức mà Phoiơbắc từng làm khi muốn thay Kitô giáo bằng tôn giáo
không có chúa, tôn giáo tình yêu.
Ngay từ “lời nói đầu” cho tác phẩm “Góp phần phê phán triết học pháp quyền của
Hêghen”, C.Mác đã giải đáp ngay câu hỏi triết học đóng vai trò gì trong cuộc đấu tranh vì
sự giải phóng con người?” Tác phẩm luận chiến đó đã đòi hỏi thủ tiêu triết học theo nghĩa
cũ, xác lập triết học gắn liền với thực tiễn đấu kinh điển triết học Mác - Lênin xét đến cùng
là hướng tới mục tiêu nhân văn, như C.Mác và Ph.Ăngghen tuyên bố ở tác phẩm “Gia đình
thần thánh” là làm cho triết học, gắn với cuộc sống luôn biến đổi, chứ không phải vượt qua
biển cả của đời thường ấy như triết học tư biện.
Khá nhiều tác phẩm luận chiến, bút chiến, lấy một vấn đề lý luận vừa nảy sinh làm đối
tượng phân tích, bày tỏ quan điểm cúa vấn đề đó và tranh luận với người đưa ra quan điểm
ngược lại. Luận chiến cũng là cách thể hiện tính đảng triết để, bởi lẽ nó giúp xác định rõ
diện mạo tư tưởng chính trị của người đại diện. Nội dung tranh luận trong các tác phẩm của
chủ nghĩa Mác - Lênin trải đều trên các chủ đề triết học, còn đối tượng tranh luận và phê
phán là những tư tưởng khác nhau hoặc có tính biện hộ (trong quan điển chính trị - xã hội)
hoặc thế giới quan của chủ nghĩa duy vật máy móc, siêu hình, hoặc “đường lối thứ ba”
trong triết học, nghĩa là những toan tính trung lập hóa, vượt qua cả chủ nghĩa duy vật lẫn
chù nghĩa duy tâm hoặc sai lầm thế giới quan của các nhà khoa học. Vì vậy, khi nghiên cứu
các tác phẩm kinh điển cần quan tâm đến đặc điểm này, nhằm thấy rõ hơn cơ sở khoa học
của triết học Mác - Lênin.
Nghiên cứu các tác phẩm kinh điển triết học Mác - Lênin cho thấy các nhà kinh điển
luôn nêu cao tư duy phê phán và cả tinh thần tự phê phán, thông qua phê phán mà các nhà
kinh điển để phát triển triết học của mình, C.Mác, Ph.Ăngghen, Lênin là những mẫu mực
trong việc nghiên cứu, đánh giá, phê phán các trào lưu triết học không mác xít. Ph.Ăngghen
chỉ rõ rằng, không nên đọc Hêghen chi với mục đích duy nhất là phát hiện ở Hêghen những
điều ngộ biện - đó là công việc của một học sinh. Điều quan trọng hơn là dưới hình thức
không đúng và trong mối quan hệ giả tạo, tìm ra cái đúng, cái thiên tài. Phê phán Phoiơbắc
đã mắc sai lầm khi phủ định sạch trơn cả hệ thống triết học, cả phép biện chứng của
Hêghen. Và chính vì quan điểm đó, cách làm đó đã giúp C.Mác - Ph.Ăngghen tiếp thu được
tất cả những gì có giá trị tiến bộ trong lịch sử phát triển của triết học và đo đó đã sáng tạo ra
chủ nghĩa duy vật biện chứng.
Cũng tương tự, Lênin bao giờ cũng đặt vấn đề phê phán các trào lưu triết học phi mác
xít trên cơ sở phân tích khoa học. Khi đặt vấn đề phê phán chủ nghĩa Cantơ, chủ nghĩa
Makhơ..., Lênin đã khiển trách những người dựa vào quan điểm duy vật tầm thường nhiều
hơn là quan điểm duy vật biện chứng để phê phán Cantơ và bất khả tri luận, vì rằng lối phê
phán như thế chỉ biết vứt bỏ những lý luận của phái đó mà không biết sửa sai cho những lập
luận ấy (nhu Hêghen đã sửa Cantơ), không đào sâu, khái quát, mở rộng, nêu rõ những mối
liên hệ và những chuyền tiếp của mọi thứ khái niệm.
Đồng thời, Lênin cũng phê phán những người theo chủ nghĩa siêu hình và tầm thường
không thấy rõ được nguồn gốc nhận thức luận của nó. Sự phân tích có phê phán mọi trường
phái duy tâm chủ nghĩa kể cả chủ nghĩa duy tâm triết học hiện đại đòi hỏi phải vạch ra một
cách cụ thể những giới hạn, những khía cạnh nhận thức mà sự tách rời chúng khỏi vật chất
và tuyệt đối hóa chúng một cách phiến diện đã dẫn đến sự xuất hiện một trào lưu duy tâm
chủ nghĩa nào đó. Chỉ có sự phân tích sâu sắc và thật sự khoa học như thế mới có thể thu
hẹp khả năng xuất hiện một quan điểm duy tâm chủ nghĩa nào đó, chứ không đơn giản gạt
bỏ chứng. Thái độ quay lưng với các học thuyết triết học không mác xít, phủ định nó một


cách đơn giản, thiếu sự phân tích khoa học, không muốn đối thoại với chúng và khăng
khăng đơn phương phủ định chúng sẽ dẫn đến những sai lầm.
Không chỉ nêu cao inh thần phê phán sâu sắc, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác Lênin còn luôn nêu cao tinh thần tự phê phán để phát triển và hoàn thiện triết học của minh.
Chính các ông đã nhiều lần nhắc nhở rằng, học thuyết của các ông không phải là một giáo
điều mà là một kim chi nam cho hành động. Như bất cứ lý luận nào khác, học thuyết của
các ông cũng phải trải qua sự thử thách, trải nghiệm của thực tiễn để được điều chinh, bổ
sung hoàn thiện và phát triển. C.Mác và Ph.Ăngghen đã nhiều lần tự điều chỉnh dự báo của
minh về khả năng nổ ra và thành công của cách mạng vô sản trong tiến trình của cách mạng
1848 ở Châu Âu. Sau khi Mác qua đời, vào cuối nhũng năm 80 và những năm đầu thập niên
90 của thế kỷ XIX Ph.Ăngghen đã bắt đầu cảm thấy một thời kỳ phát triển mới của chế độ
tư bản. Ông cũng dự báo về khả năng của giai cấp vô sản Đức thông qua giành đa số trong
cuộc bầu cử Nghị viện để giành thắng lợi bằng đấu tranh hợp pháp. Nhưng thực tế lịch sử
lại không diễn ra như vậy. Vì thế Ph. Ăngghen đã thừa nhận “Lịch sử đã chửng minh rằng
chủng tôi và tất cả những ai nghĩ giống như chúng tôi đều sai lầm. Lịch sử đã chỉ rõ rằng
trạng thái phát triển kinh tế trên lục địa lúc bầy giờ còn rất lâu mới chín muồi để xóa bỏ
phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa”. Lênin cũng nhận xét “Đúng, Mác và Ăngghen đã
lầm nhiều và thường lầm khi phán đoán cách mạng sắp nổ ra trong khi hai ông hy vọng
cách mạng sẽ thắng lợi chẳng hạn năm 1848 ở Đức). Sự cảm nhận về cái mới của Ăngghen
đã được Lênin tiếp nhận. Trên tinh thần cách mạng, khoa học của phép biện chứng Lênin đã
đưa ra những kết luận mới về chủ nghĩa đế quốc, về chiến lược, sách lược của cách mạng
vô sản trong điều kiện lịch sử mới và những điều đó đã được kiểm nghiệm bằng thắng lợi
của cuộc cách mạng Tháng Mười năm 1917 ở Nga.
*Phong phú, đa dạng về hình thức thể hiện
Các tác phẩm kinh điển có quy mô khác nhau, thông thường nó bao hàm nhiều lĩnh
vực chứ không phải riêng có triết học. Có tác phẩm chuyên bàn về triết học như: “Bút ký
triết học”, “Phê phán triết học pháp quyền của Hêghen”, “Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa
kỉnh nghiệm phê phán”. Có tác phẩm viết chung các vấn đề lý luận trong đó có triết học
như “Chống Đuyrinh” bàn về chủ nghĩa Mác với tính cách là một hệ thống lý luận. Có tác
phẩm viết dưới dạng bút ký như “Bút ký triết học”. Có tác phẩm chuyên bàn nhiều về triết
học tự nhiên như “Biện chứng của tự nhiên”. Có tác phẩm được viết dưới hình thức luận
chiến, bút chiến. Tuy nhiên, trong luận chiến có luận chiến trực tiếp, luận chiến gián tiếp,
luận chiến toàn bộ và luận chiến từng phần. Các bức thư triết học của C.Mác và
Ph.Ăngghen thuộc dạng luận chiến trực tiếp, vì ở đó có sự trao đổi ý kiến của chính người
nhận thư xung quanh vấn đề quan tâm. Các tác phẩm mà đối tượng bút chiến là người
không có quan hệ trực tiếp với người viết, và những tư tưởng gây lên tranh luận thuộc loại
luận chiến gián tiếp. Các tác phẩm luận chiến từ đầu đến cuối mang tính luận chiến rõ ràng
gọi là luận chiến toàn bộ, chăng hạn “Gia đình thần thánh”, “Phê phá cương lĩnh Gôta”,
“Chống Đuyrinh”. Bên cạnh đó, có những tác phẩm mà những phần mang tính luận chiến
đan xen với các suy luận của người viết chẳng hạn “Những người bạn dân là thể nào...”,
“Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán”. Như vậy, các tác phẩm kinh điển
của triết học Mác - Lênin không chỉ phong phú về nội dung mà còn hết sức đa dạng về cách
trình bày trong các tác phẩm mà thậm chí nó đa dạng ngay trong một tác phẩm.
2. Ý nghĩa nghiên cửu các tác phẩm kinh điển triết hoc Mác - Lênin
- Nghiên cứu các tác phẩm kinh điển triết học của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác
-Lênin là một trong những phương pháp tốt nhất giúp chúng ta chiếm lĩnh kho tàng tri thức
khoa học cách mạng để làm giàu thêm vốn sống của mình


Các tác phẩm của các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác - Lênin nói chung và tác phẩm
kinh điển triết học nói riêng là tài sản vô giá trong kho tàng tri thức vô tận, kết tinh những
tinh hoa tư tưởng, văn hóa, trí tuệ của nhân loại, trong đó tư tưởng triết học phát triển đến
đỉnh cao.
Đối với quá trình giảng dạy và phổ biến triết học Mác - Lênin, việc phân tích các tác
phẩm kinh điển một cách trực tiếp có tác dụng kép: nó làm cho sâu sắc thêm nhận thức về
chủ nghĩa Mác qua những chất liệu sống động và trung thực, đồng thời rút ra những bài học
và nguyên tắc phương pháp luận vô giá cho nhận thức và hoạt động thực tiễn trong điều
kiện hiện nay.
- Nghiên cứu tác phẩm kinh điển triết học Mác - Lênin giúp chúng ta rèn luyện phương
pháp tư duy biện chứng duy vật - phương pháp tư duy khoa học - cách mạng để phòng tránh
và khắc phục phương pháp tư duy siêu hình, máy móc, duy tâm, chủ quan, duy chí… trong
nhận thức và hành động thực tiễn
Nghiên cứu, khai thác tư tưởng triết học trong các tác phẩm kinh điển của các nhà sáng
lập chủ nghĩa Mác - Lênin, người học vừa kế thừa, tiếp thu các giá trị tư tưởng, lý luận khoa
học, cách mạng thể hiện thông qua các nguyên lý, quy luật, phạm trù, khái niệm với tư cách
là “công cụ nhận thức vĩ đại” để nhận thức, giải thích và cải tạo thế giới, vừa được dẫn dắt,
soi đường bởi phương pháp duy vật biện chứng với các nguyên tắc khách quan, toàn điện,
cụ thể, lịch sử và phát triển trong xem xét, đánh giá sự vật, hiện tượng, nhờ đó mà hình
thành, phát triển tư duy biện chứng duy vật, khắc phục phương pháp tư duy siêu hình và các
biểu hiện của nó như: phiến diện, máy móc, chủ quan, duy ý chí…
- Nghiên cứu các tác phẩm kinh điển triết học Mác - Lênin giúp chúng ta hiểu rõ bản
chất khoa học, cách mạng của triết học Mác - Lênin nói riêng và chủ nghĩa Mác - Lênin nói
chúng; có kiến thức lý luận khoa học để luận giải và bác bỏ các quan điểm sai trái, bảo vệ
và phát triển triết học Mác - Lênin trong điều kiện lịch sử mới.
- Nghiên cứu các tác phẩm kinh điển triết học Mác - Lênin sẽ giúp cho chúng ta hiểu
sâu sắc hơn quy luật hình thành, phát triển của triết học; cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy
vật và chủ nghĩa duy tâm; giữa phép biện chứng và phép siêu hình; giữa khoa học và tôn
giáo; chứng minh được bản chất cách mạng khoa học của triết học Mác - Lênin; hạt nhân lý
luận của thể giới quan duy vật biện chứng, hệ tư tưởng của giai cấp vô sản. Từ đó có niềm
tin vững chắc vào tương lai, tiền đồ của dân tộc trong vận dựng sáng tạo, bảo vệ và phát
triển triết học Mác - Lênin trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam
xã hội chủ nghĩa.
- Nghiên cứu các tác phẩm kinh điển triết học Mác - Lênin giúp chúng ta học tập được
phương pháp phân tích khoa học



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×