Tải bản đầy đủ

TÀI LIỆU THAM KHẢO đề CƯƠNG ôn THI môn GIÁO dục học SO SÁNH SAU đại học

1
ÔN GIÁO DỤC HỌC SO SÁNH
MỞ ĐẦU

Ngay sau khi nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa được thành lập, ngày 3
tháng 9 năm 1945 trong phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã đưa ra đề nghị: Nạn dốt là một trong những phương pháp độc ác mà bọn thực
dân Pháp dùng để cai trị chúng ta. Hơn 95% đồng bào chúng ta mù chữ. Nhưng chỉ cần
3 tháng là đủ để học đọc, học viết tiếng ta theo vần quốc ngữ. Một dân tộc dốt là một
dân tộc yếu. vì vậy tôi đề nghị mở chiến dịch chống nạn mù chữ. Đề nghị của Bác đã
được Hội đồng Chính phủ thông qua thành quyết định. Ngày 8 tháng 9 năm 1945
Chính phủ ký 3 sắc lệnh quan trọng về bình dân học vụ; tháng 10 năm 1945, Hồ Chủ
tịch ra lời kêu gọi chống nạn thất học. Trong lời kêu gọi Hồ Chủ tịch đã chỉ rõ tình
trạng gần như hoàn toàn mù chữ của nhân dân Việt Nam đó là một trở lực to lớn đối
với sự tiến bộ và giàu mạnh của đất nước sau này, Người khẳng định: Một trong những
công việc phải thực hiện tức tốc trong lúc này là nâng cao dân trí, người khuyên mọi
người Việt Nam “trước hết phải biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ”. Người kêu gọi
“những người biết chữ hãy dạy cho nghững người chưa biết chữ, những người chưa
biết chữ hãy gắng sức mà học cho biết”. Người đặc biệt chú ý đến phụ nữ và thanh
niên. Chỉ trong một thời gian ngắn phong trào chống nạn mù chữ đã lan rộng khắp cả
nước, tạo nên một chiến dịch với sự tham gia của đông đảo đồng bào.

Trong những điều kiện cực kỳ khó khăn phức tạp của năm đầu tiên dưới chính
quyền cách mạng, chiến dịch chống nạn mù chữ chưa đạt được mục tiêu mong muốn.
Nhưng những bài học thu được là vô cùng quý báu và chúng ta có quyền tự hào về
những kinh nghiệm có được từ chiến dịch chống nạn mù chữ năm 1945 - 1946 sau này
đã trở thành những kinh nghiệm quốc tế đến tận cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XI.
Theo lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản
Việt Nam trải qua 65 năm nhân dân và Nhà nước ta đã vượt qua muôn vàn khó khăn,
thử thách, đổ máu hy sinh đặc biệt là đánh thắng hai cuộc chiến tranh xâm lược của hai
đế quốc hùng mạnh nhất của thời hiện đại là Thực dân Pháp và Đế quốc Mỹ để giải
phóng dân tộc; đổi mới đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo định
hướng xã hội chủ nghĩa. Cùng với tiến trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc sáu mươi lăm
năm qua trên đất nước ta đã hình thành một nền giáo dục hiện đại với cấu trúc hệ thống
khá hoàn chỉnh, với mục tiêu đào tạo tiên tiến, với nội dung, chương trình và phương


2
pháp giáo dục ngày càng hoàn thiện hướng tới những xu thế giáo dục hiện đại của thời
đại. Nền giáo dục Việt Nam mặc dù còn có những vấn đề chưa đáp ứng được những
mong muốn của xã hội cũng như chưa đáp ứng được sự đòi hỏi của sự phát triển đất
nước nhưng nền giáo dục Việt Nam đã có một vị trí xứng đáng trên bản đồ GD thế
giới.
Nền giáo dục cách mạng Việt Nam có được những thành tựu như ngày hôm nay
là nhờ có sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí
Minh, đã vận dụng sáng tạo lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, kế thừa có chọn lọc, phát
triển những tinh hoa văn hóa của nhân loại và của dân tộc, nắm chắc những quy luật
phổ biến cũng như những quy luật đặc thù của sự vận động phát triển của khoa học
GD, để vận dụng một các linh hoạt, sáng tạo vào xây dựng, phát triển nền giáo dục
Việt Nam phù hợp với tiến trình phát triển của đất nước và xu thế phát triển của thời
đại.
Để cho chúng ta có cái nhìn toàn cảnh sự phát triển của nền giáo dục nước nhà
từ khi giành được độc lập đến nay, so sánh sự giống nhau và khác nhau của đường lối
lãnh đạo, chỉ đạo quá trình phát triển lý luận và thực tiễn nền giáo dục Việt Nam của
Đảng Cộng sản Việt Nam qua các thời kỳ trước đổi mới (từ năm 1945 - 1986) và sau
khi đổi mới (1986 đến nay); Nghiên cứu rút ra những quy luật, những vấn đề có tính
quy luật và quy luật đặc thù của nền giáo dục Việt Nam từ đó cho chúng ta thấy được
sự phát triển tư duy giáo dục cũng như trong chỉ đạo thực tiễn giáo dục của Đảng ta.
VẤN ĐỀ 1. LÝ LUẬN GDHSS

Phần 1. Những vấn đề chung của giáo dục so sánh
1. Giáo dục so sánh trong KHGD

2. Lịch sử phát triển giáo dục so sánh
3. Đối tượng và mục tiêu nghiên cứu của GDSS hiện đại
4. Khoa học GDSS và phương pháp so sánh trong khoa học
5. Chức năng, Nhiệm vụ của GDSS
1. Giáo dục so sánh trong KHGD
+ GDSS là bộ môn của khoa học giáo dục, thuộc phần lí luận KHGD
+ Có những v.đề và s.kiện chung với l.sử GD, triết học GD và S.Fạm học
ĐCương
+ Là bộ phận hữu cơ của mọi lĩnh vực nghiên cứu giáo dục cơ bản
+ Chủ yếu sử dụng phương pháp so sánh của nghiên cứu khoa học +++
2. Lịch sử phát triển GDSS


3
+ Thuật ngữ chính thức xuất hiện năm 1816-1817 với tác giả M.A. Julien de
Paris- Comparative E.
+ Phân biệt GDSS và Giáo dục học so sánh từ những quan niệm khác nhau về đối
tượng nghiên cứu của nó
+ Quan niệm phổ biến hiện nay là Giáo dục so sánh
Và phạm vi nghiên cứu của GDSS rất rộng lớn, gắn với hội nhập quốc tế trong GD.
3. Đối tượng và mục tiêu nghiên cứu của GDSS hiện đại
+ Đối tượng: Lí luận và hiện thực giáo dục của thời đại, chủ yếu của thế giới
đương đại và các tổ chức quốc tế
+ Mục tiêu: Những xu thế chung, những nét tương đồng và những nét khác biệt
trong sự phát triển giáo dục và khoa học giáo dục của các cộng đồng quốc gia, các khu
vực, các nước và các nền giáo dục khác nhau
4. Khoa học GDSS và phương pháp so sánh trong khoa học
+ GDSS không đồng nhất với phương pháp so sánh trong các khoa học, trong
khoa học giáo dục và trong những lĩnh vực nghiên cứu khác
+ GDSS chỉ giải quyết những vấn đề giáo dục và lí luận giáo dục chung của thời
đại trên bình diện so sánh, không trực tiếp hoạch định và tạo ra công cụ tác động vào
hiện thực giáo dục
5. Chức năng, Nhiệm vụ của GDSS
+ Chức năng: phục vụ những nghiên cứu cơ bản, hoạch định đường lối, chính
sách giáo dục, phát triển GD, phát triển chiến lược và chương trình GD, dự báo GD và
khoa học giáo dục, phát triển tư duy giáo dục và KHGD
+ Nhiệm vụ:
1- Nghiên cứu tư tưởng, đường lối, triết lí, chính sách và chiến lược giáo dục của
các nước, nhóm nước và của thế giới nói chung
2- Xác định các xu thế phát triển giáo dục của thế giới
3- Nghiên cứu và mô tả so sánh các hệ thống giáo dục
4- Phân tích các lí thuyết giáo dục về giá trị khoa học và hiệu quả kinh tế-xã hội
của chúng trên các dữ liệu đánh giá so sánh hiện thực giáo dục, đặc biệt là thành tựu
giáo dục và trình độ phát triển kinh tê-xã hội nói chung
5- Khái quát các bài học kinh nghiệm của giáo dục thế giới đương đại có sự đối
chiếu với hoàn cảnh lịch sử của nước ta
Phần 2 – những cách tiếp cận cơ bản trong nghiên cứu GDSS
1- Tiếp cận hệ thống
2- Tiếp cận lịch sử cụ thể
3- Tiếp cận logic biện chứng (lí luận)
4- Tiếp cận đa văn hóa và xuyên văn hóa (hội nhập
và hợp tác quốc tế)


4
5- Tiếp cận thực chứng và kinh nghiệm
1- Tiếp cận hệ thống
+ Tính hệ thống trong phương pháp nghiên cứu, hệ vấn đề và đề tài nghiên cứu,
trong việc tổ chức các công cụ và kĩ thuật nghiên cứu (các tiêu chí, chỉ số và chuẩn)
+ Tính hệ thống trong lựa chọn mẫu nghiên cứu như nhóm quốc gia, khu vực, liên
minh quốc tế phù hợp với yêu cầu và điều kiện GD của VN
+ Tính hệ thống trong xử lí các dữ liệu khoa học và khái quát các xu thế, qui luật,
bài học kinh nghiệm
+ Tính hệ thống trong tập hợp, khai thác tư liệu đủ tính đại diện và thời sự
2- Tiếp cận lịch sử cụ thể
+ Đối chiếu tư tưởng, lí luận giáo dục với hiện thực giáo dục và hiện thực xã hội
của khu vực và nước cụ thể được nghiên cứu
+ Đối chiếu các xu thế, trào lưu phát triển giáo dục và khoa học giáo dục thế giới
với bối cảnh chung và các nhân tố phát triển tổng thể
+ Đánh giá các thành tựu phát triển chung và giáo dục theo những nguyên tắc và
tiêu chí cụ thể phù hợp với nước ta
*Tiếp cụ thể
+ Tính cụ thể của nội dung nghiên cứu (giáo viên, hạ tầng vật chất-kĩ thuật,
chương trình giáo dục, kết quả học tập, chính sách và chiến lược giáo dục, môi trường
giáo dục, cơ cấu và hình thức giáo dục v.v…
+ Lưu ý những chế định lịch sử trong giáo dục Thế giới (đạo đức, hệ tư tưởng,
tôn giáo, dân tộc, kinh tế, nhà nước và pháp luật v.v…)
3- Tiếp cận logic biện chứng (lí luận)
+ Chú ý các liên hệ bản chất như Nhân-Quả, Tương quan hay phụ thuộc lẫn nhau, các
quan hệ Lí luận-Thực tiễn, Khả năng-Hiện thực, Chung-Riêng, Nội dung-Hình thức, Bản
chất-Hiện tượng trong các sự kiện giáo dục và lí luận GD
+ Dựa vào khung quan niệm có logic chặt chẽ về lĩnh vực giáo dục mà mình
nghiên cứu
khung quan niệm
KQN có tính công cụ nhất thiết phải có trong nghiên cứu GDSS là sự tổ chức hệ
thống những khái niệm sau: Giáo dục; Phát triển; Quản lí GD; Hệ thống GD; Nguồn
lực GD; Môi trường GD; Điều kiện GD; Chất lượng GD; Hiệu quả GD; Nhà trường;
Chính sách GD; Chiến lược GD; Chuẩn GD; Chương trình GD; Cải cách GD; Giải
pháp GD; Đánh giá GD; Giảng dạy và Học tập; Mục tiêu và Thành tựu GD; Giáo viên
và Người học; Kế hoạch và Hoạch định GD v.v…
3- Tiếp cận logic biện chứng (lí luận)


5
+ Nhận diện và xem xét các sự kiện, xu thế của lí luận và hiện thực giáo dục trong
quá trình phát triển và những hành vi thực tế của chúng
+ Khảo cứu đủ rộng và bao quát nhiều nguồn tư liệu để đối chiếu và chọn lọc
những yếu tố bản chất, tránh ngộ nhận và phiến diện
+ Tìm đến cội nguồn tư tưởng hoặc lí luận của các lí thuyết, mô hình, thành tựu,
vấn đề GD
4- Tiếp cận đa văn hóa và xuyên văn hóa (hội nhập và hợp tác quốc tế)
+ Tiếp thu và sử dụng đúng đắn những thành tựu tư duy và lí luận giáo dục có giá
trị của thời đại
+ Sử dụng đúng chỗ những hệ thống tiêu chí, chuẩn, thuật ngữ, dữ liệu thống kê
và công cụ nghiên cứu giáo dục có tính chất quốc tế
+ Kiên trì lập trường khoa học Mac-Lenin và Tư tưởng HCM trong nghiên cứu
các nền GD và các lí thuyết giáo dục khác nhau
5- Tiếp cận thực chứng và kinh nghiệm
+ Mọi nhận định, lập luận và khái quát đều dựa vào bằng chứng xác thực trong lí
thuyết và hiện thực giáo dục thế giới
+ Coi trọng việc sử dụng những nghiên cứu điển hình tại chỗ (case study) và những
dữ liệu đánh giá, thống kê quốc tế đã được giám định quốc tế
+ Coi trọng tư liệu gốc (dữ liệu L, dữ liệu Q và dữ liệu T) và các nguồn sách báo
nguyên bản
Phần 3. Các phương pháp nghiên cứu giáo dục so sánh
1- Phương pháp mô tả khoa học
2- Phương pháp phân tích giáo dục ( gồm cả Giải thích, Phát hiện)
3- Phương pháp so sánh (đối chiếu)
4- Phương pháp tổng quát hóa
5- Phương pháp phát triển (mô hình hóa và thực nghiệm)
6- Các phương pháp bổ trợ khác từ khoa học lịch sử, xã hội học, tâm lí học, kinh
tế học, khoa học quản lí giáo dục
1- Phương pháp mô tả khoa học
Mô tả trong nghiên cứu GDSS là sự tái hiện bản chất và trạng thái hiện tại của lí
thuyết, hiện thực giáo dục trong phạm vi địa bàn nghiên cứu bằng các kĩ thuật và thủ
tục như Tổng quan lí luận, Tổng kết kinh nghiệm giáo dục và phát triển khoa học giáo
dục ở nhóm nước, khu vực hoặc thế giới
Mô tả có chức năng tường thuật một cách khách quan tình trạng của sự vật dựa
vào tập hợp tư liệu gốc được xử lí chặt chẽ
1- Phương pháp mô tả khoa học
+ Lập trường khoa học khi mô tả


6
+ Ngôn ngữ mô tả: hệ thuật ngữ chuyên môn, mô hình, hàm số, đồ họa, số liệu,
tiêu chí, chỉ số, tranh ảnh, ma trận…
+ Công cụ mô tả: lập các biến số, chỉ số, tham số, kích thước, tiêu chí nội hàm cả
các khái niệm và dựa vào khái niệm hoặc nguyên lí để mô tả có cơ sở rõ ràng; các kĩ
thuật thống kê
2- Phương pháp phân tích giáo dục
Phân tích trong nghiên cứu GDSS là quá trình tách riêng ra để xem xét từng khía
cạnh khác nhau của đối tượng trong trạng thái hiện tại của chúng. Nói đơn giản, đó là
phơi bày ra tất cả những yếu tố, những liên hệ, những cơ cấu và những thành phần của
đối tượng
Quá trình phân tích đòi hỏi phát giải thích bằng lí luận, lập luận của ta về những
sự kiện, vấn đề, tình huống mà ta phát hiện được, tức là luận giải chi tiết những gì cần
thiết để làm sáng tỏ đối tượng
2- Phương pháp phân tích giáo dục
+ Xác định lập trường khoa học khi phân tích
+ Xây dựng các mô hình phân tích: phân tích hệ thống, phân tích logic-lịch sử,
phân tích toán học, phân tích thống kê.. Và những mô hình phân tích chuyên biệt trong
các lĩnh vực cụ thể
+ Xử lí tư liệu gốc theo mô hình phân tích đã chọn và giải thích các sự kiện, vấn
đề dựa trên hệ thống tư liệu được tổ chức theo các mô hình
+ Tiến hành những phép phân tích phù hợp với nội dung tư liệu và logic của đối
tượng
3- Phương pháp đối chiếu-so sánh
Đối chiếu-So sánh (Juxtaposition- comparison) là phương pháp đặc thù của
GDSS, gồm những đánh giá riêng biệt đồng thời nhiều đối tượng, nhiều hệ thống và
đối chiếu chúng với nhau để lựa chọn vấn đề, phạm vi cụ thể mà chúng ta cần so sánh,
từ đó tiến hành so sánh những đặc trưng giữa các đối tượng nhằm xác định những nét
chung, xu thế chung, những khác biệt (đặc điểm) và những liên hệ giữa các hệ thống
này
3- Phương pháp đối chiếu-so sánh
+ Xác định lập trường khoa học khi so sánh
+ Đánh giá tư liệu về các đối tượng, hệ thống khác nhau và đối chiếu chúng với
nhau để chọn lọc phạm vi so sánh (thí dụ: sau khi đối chiếu các hệ thống phát triển
giáo viên ở Châu á, ta chọn phạm vi so sánh là chế độ văn bằng và nhóm nước
ASEAN)


7
+ Tiến hành so sánh dựa vào những công cụ cơ bản là các chuẩn, tiêu chí, quan
niệm có tính quốc tế hoặc thống nhất với tập quán quốc tế
4- Phương pháp tổng quát hóa
TQH là đúc kết các sự kiện, vấn đề, giá trị mà ta phát hiện được, nhận thức được
trong nghiên cứu thành các nguyên lí, khái niệm, luận điểm, tư tưởng, bài học kinh
nghiệm về lí luận hoặc thực tiễn giáo dục mang ý nghĩa mới hoặc bổ ích và đề xuất
những giải pháp, mô hình, phương hướng hành động phù hợp có tính chất dự báo trong
nghiên cứu KHGD và phát triển giáo dục của nước ta
4- Phương pháp tổng quát hóa
+ Khái quát các xu thế, các qui luật chung, các giá trị chung cũng như những khác
biệt đáng lưu ý dưới hình thức các luận điểm, nhận định, nguyên tắc, khái niệm, bài
học…
+ Phân tích và đánh giá ý nghĩa lí luận-thực tiễn của những phát hiện này đối với
giáo dục chung của thời đại và đặc biệt đối với giáo dục và KHGD nước ta
+ Đề xuất những phương hướng, giải pháp, mô hình dự báo hoặc giải quyết vấn
đề tương tự nảy sinh trong giáo dục nước ta
5- Phương pháp phát triển (mô hình hóa và thực nghiệm)
Phát triển trong GDSS là thiết kế các mô hình, dự án, chương trình phát triển
hoặc nghiên cứu giáo dục tiền khả thi dựa vào những ý tưởng, giá trị quốc tế phù hợp
với giáo dục nước ta trên cơ sở tiếp thu và xử lí các bài học kinh nghiệm quốc tế
Những thiết kế này có thể được thí điểm trong các thực nghiệm giáo dục với
qui mô thích hợp để kiểm tra hiệu quả của chúng trong điều kiện giáo dục Việt Nam
Phương pháp phát triển thường được sử dụng trong các dự án quốc tế về phát
triển và cải cách giáo dục
6- Các phương pháp bổ trợ khác
+ Các phương pháp tâm lí học
+ Các phương pháp xã hội học
+ Các phương pháp nghiên cứu giáo dục
+ Các phương pháp toán thống kê
+ Các phương pháp khoa học dự báo
+ Các phương pháp của khoa học quản lí giáo dục
+ Các phương pháp của khoa học kinh tế
+ Các phương pháp của khoa học lịch sử
+ Các phương pháp từ những lĩnh vực khoa học khác
Phần 4. Qui trình nghiên cứu đề tài giáo dục so sánh
1- Xác định vấn đề và đề tài nghiên cứu
2- Mô tả đối tượng nghiên cứu (lập tư liệu gốc)
3- Phân tích so sánh
4- Đánh giá tổng quát hóa


8
5- Phát triển
Phân biệt phương pháp và qui trình nghiên cứu
1- Trong mỗi bước nghiên cứu thường vẫn sử dụng các phương pháp logic khác
nhau như mô tả, phân tích, đối chiếu-so sánh, tổng quát hóa… với ý nghĩa cụ thể phù
hợp với nội dung nghiên cứu của bước đó
2- Các phương pháp của GDSS thực chất là việc tổ chức và sử dụng các phương
pháp khác nhau của KHGD nhằm mục đích nghiên cứu so sánh
3- Qui trình cho biết trình tự và các giai đoạn chủ yếu của quá trình nghiên cứu so
sánh
Phần 5. Những vấn đề nổi bật hiện nay trong nghiên cứu GDSS
1- Chất lượng và hiệu quả giáo dục
2- Những ưu tiên trong cải cách giáo dục và phát triển giáo dục
3- Chính sách và quản lí giáo dục
4- Hệ thống giáo dục
5- Chương trình và phương pháp giáo dục
6- Thông tin và nghiên cứu giáo dục
7- Các vấn đề xã hội của giáo dục (công bằng…)
8- Chuẩn giáo dục và văn bằng
1- Chất lượng và hiệu quả giáo dục
1- Quan niệm đầy đủ về chất lượng giáo dục ++
2- Hiệu quả trong và hiệu quả ngoài của giáo dục như một hệ thống xã hội
3- Hiệu quả là một trong những tiêu chí quan trọng của chất lượng GD
4- Chất lượng giáo dục được tiếp cận bằng nhiều mô hình khác nhau, gắn với mục
tiêu và lợi ích phát triển quốc gia và những giá trị toàn nhân loại ngày nay ++
2- Những ưu tiên trong cải cách giáo dục và phát triển giáo dục
1- Chuẩn và chuẩn hóa giáo dục- cơ sở của quản lí dựa vào chuẩn, hiện đại hóa và
hội nhập giáo dục quốc tế
2- Quản lí dựa vào trường học- cách tiếp cận dân chủ hóa và hoạt động hóa nhà
trường nhằm phân cấp quản lí đến cơ sở giáo dục
3- Phát triển giáo dục bền vững dựa trên thành tựu phổ cập ngày càng cao, có chất
lượng đáp ứng tốt nhu cầu nhân lực và lợi ích người học
2- Những ưu tiên trong cải cách giáo dục và phát triển giáo dục
4- Xây dựng XH học tập, học suốt đời, học thường xuyên và học không giới hạn
5- Công bằng xã hội về cơ hội và hưởng thụ GD trong toàn bộ quốc gia
6- Giáo dục kĩ năng sống, kĩ năng xã hội
7- Cổ phần hóa và tư nhân hóa nhà trường, phát triển các loại hình GD đa dạng
8- Phát triển mạng thông tin giáo dục quốc gia kết nối mạng toàn cầu
2- Những ưu tiên trong cải cách giáo dục và phát triển giáo dục
9- Phát triển các chiến lược và phương pháp giáo dục hướng vào người học, dựa
vào người học và dạy học giải quyết vấn đề


9
10- Phát triển chương trình giáo dục phân hóa theo nhiều kiểu khác nhau hướng
đến khuyến khích sự khác biệt và năng lực người học
11- Chính sách giáo viên và phát triển nghề nghiệp của giáo viên
12- Cải thiện chất lượng, nâng cao hiệu quả nhà trường bằng các giải pháp dựa
vào nghiên cứu
3- Chính sách và quản lí giáo dục
1- Phân cấp quản lí, khuyến khích sự đa dạng của các mô hình giáo dục đáp ứng
các tầng lớp người học khác nhau (quản lí dựa vào TH) ++
2- Quản lí chất lượng giáo dục tổng thể (hoạch định, giám sát, kiểm định, bảo
đảm, đánh giá, thẩm định)
3- Huy động sự tham gia của cộng đồng vào giáo dục và QLGD
4- Tài chính giáo dục xem như đầu tư phát triển
3- Chính sách và quản lí giáo dục
5- Phát triển hệ thống thông tin quản lí giáo dục trên cơ sở công nghệ hiện đại và
các chuẩn giáo dục, chuẩn quản trị thông tin quốc tế
6- Giảm qui mô trường và qui mô lớp, tăng cường cơ sở hạ tầng kĩ thuật và các
dịch vụ hỗ trợ người học (vốn vay, học bổng…)
7- Chú trọng phát triển các chương trình và dịch vụ giáo dục dành cho người học
có nhu cầu đặc biệt
4- Hệ thống giáo dục
1- Cơ cấu giáo dục linh hoạt và có khả năng thích ứng với người học
2- Học chế cởi mở dễ tiếp cận và chuyển chương trình giáo dục
3- Hệ thống GD liên thông giữa các cấp học và giữa các ngành đào tạo
4- Triết lí chung của các hệ thống giáo dục là giáo dục cho mọi người, nhân văn,
dễ tiếp cận và hướng tới xã hội học tập ++
5- Chương trình và phương pháp giáo dục
1- Chương trình giáo dục đa dạng dựa trên chuẩn quốc gia ++ ++
2- Chương trình giáo dục phân hóa dựa trên các lĩnh vực lựa chọn và các kiểu
năng lực của người học
3- Phương pháp và chiến lược dạy học tích cực, tương tác, dựa vào vấn đề, phát
hiện-tìm tòi, hợp tác và sử dụng công nghệ thông tin hiện đại để hỗ trợ giảng dạy, h.tập
6- Thông tin và nghiên cứu giáo dục
1- Hệ thống thông tin quản lí giáo dục (EMIS)
2- Hệ thống các chuẩn và tiêu chí GD, trong đó có các chỉ số thống kê GD
3- Mạng hỗ trợ học tập, hỗ trợ giáo viên, đánh giá thành tích học tập có qui mô
quốc tế
4- Hệ thống nghiên cứu giáo dục và các dự án phát triển giáo dục
5- Hợp tác quốc tế về thông tin và nghiên cứu giáo dục
7- Các vấn đề xã hội của giáo dục
1- Giới và giáo dục


10
2- Giáo dục cho các nhóm dân tộc ít người
3- Giáo dục cho những tầng lớp xã hội nghèo, khó khăn về đời sống
4- Vị trí và thu nhập của giáo viên trong xã hội
5- Internet và việc ngăn ngừa những tác hại của nó đối với HSinh chưa thành niên
6- Giáo dục và sự đa dạng văn hóa
8- Chuẩn giáo dục và văn bằng
1- Chuẩn các lĩnh vực giáo dục (Khoa học, Toán, Ngôn ngữ, Công dân, Nghệ
thuật, Công nghệ, Thể chất, Computer) và các chuẩn chung
2- Chuẩn nghề nghiệp giáo viên và hiệu trưởng
3- Chuẩn cơ sở giáo dục (chuẩn trường)
4- Chuẩn hệ thống quản lí, thông tin và hồ sơ quản lí giáo dục
5- Chuẩn các cấp học
VẤN ĐỀ 2. SO SÁNH CHỦ TRƯƠNG PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC 3 CUỘC CCGD
1. Cuộc CCGD lần thứ nhất

Cách mạng Tháng Tám và sự thành lập nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa
ngày 2/9/1945 đã đặt nền tảng cho việc ra đời nền giáo dục mới - nền giáo dục cách
mạng. Chính quyền cách mạng đã thành lập Hội đồng cố vấn học chính để tiến hành
một chương trình cải cách giáo dục triệt để thay thế giáo dục nô dịch thực dân. Tuy
nhiên, ngay từ tháng 9/1945 ở miền Nam và tháng 12/1946 trên toàn quốc nổ ra cuộc
kháng chiến chống thực dân Pháp nên đến tháng 7/1950 Hội đồng Chính phủ mới
thông qua đề án cải cách giáo dục và thực hiện cuộc cải cách này một cách có hệ
thống.
Bối cảnh lịch sử, đầu năm 1950 nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã phá được
thế bao vây của kẻ địch, thiết lập quan hệ ngoại giao với các nước xã hội chủ nghĩa.
Chiến tranh biên giới năm 1950 mở ra cục diện mới về chính trị, quân sự. Những tiến
bộ về kinh tế, tài chính tăng thêm sức mạnh của chính quyền dân chủ nhân dân. Toàn
dân tộc bước vào một thời kỳ mới của cuộc kháng chiến chống xâm lược. Trong đà
chung đó ngành giáo dục phải được phát triển cho phù hợp với bước tiến của dân tộc.
* Quan điểm và những chủ trương lớn của cuộc cải cách giáo dục năm 1950
Bản chất của nền giáo dục mới là: giáo dục mang bản chất giai cấp sâu sắc.
Nhân dân Việt Nam nhất thiết phải xây dựng dược nền giáo dục dân chủ nhân dân phù
hợp với lới ích cơ bản của mình sau khi đã giành được quyền làm chủ của mình về
chính trị.
Mục đích của cải cách giáo dục lần này là phải hủy bỏ triệt để nền giáo dục nô lệ
cùng với những tàn dư của nó về nội dung lẫn phương pháp, phải xây dựng cơ sở tư


11
tưởng mới về nền giáo dục dân chủ nhân dân theo những thiết chế giáo dục và hệ thống
tổ chức giáo dục tương ứng.
Tính chất nền giáo dục là của dân, do dân, vì dân.
Nguyên tắc nền giáo dục: dân tộc, khoa học, đại chúng phục vụ lợi ích của
nhân dân Việt Nam, đấu tranh chống đế quốc và phong kiến, giành độc lập cho dân tộc
và ruộng đất cho dân cày.
Mục tiêu đào tạo của nhà trường là giáo dục bồi dưỡng thế hệ trẻ thành những
người “công dân lao động tương lai” trung thành với chế độ dân chủ nhân dân và có đủ
phẩm chất năng lực phục vụ kháng chiến, phục vụ nhân dân.
Nội dung giáo dục nhằm vào việc bồi dưỡng người học có tinh thần dân tộc, lòng
yêu nước, chí căm thù giặc, tinh thần yêu chuộng lao động, tôn trọng của công, tinh thần tập
thể, phương pháp suy luận và thói quen làm việc khoa học.
Như vậy, so với giai đoạn từ khi thành lập nước cho đến trước năm 1950 thì giáo
dục nước ta đã có sự phát triển về mọi mặt, không chỉ là chống nạn mù chữ mà còn là
giáo dục, đào tạo những con người mới có đủ đức, tài vừa kháng chiến vừa kiến quốc,
phục vụ nhân dân...
* Xây dựng cơ cấu hệ thống giáo dục và nhà trường mới
- Hệ thống giáo dục phổ thông gồm ba cấp học Cấp I: 4 năm (lớp 1,2,3,4) thay
thế cho bậc tiểu học cũ; Cấp II: 3 năm (lớp 5,6,7) thay cho bậc trung học phổ thông cũ
4 năm; Cấp III: 2 năm (lớp 8,9) thay thế cho bậc trung học chuyên khoa cũ 3 năm.
- Hệ thống bình dân học vụ phục vụ người lớn gồm: sơ cấp bình dân; dự bị bình
dân; bổ túc bình dân và trung cấp bình dân. Thể hiện cụ thể chủ trương của Đảng, xóa
mù chữ và nâng cao trình độ dân trí cho nhân dân.
- Hệ thống giáo dục chuyên nghiệp, đã cụ thể hóa đường lối cải cách giáo dục
trong ngành chuyên nghiệp thực hiện “ chính sách giáo dục chuyên nghiệp” là phải
thực hiện mục đích đào tạo những cán bộ chuyên nghiệp, nắm vững kỹ thuật, giàu tinh
thần trách nhiệm, những cán bộ thực tiễn mới, phục vụ kháng chiến và sản xuất, phục
vụ nhân dân trước hết là công nông.
- Về quản lý nhà trường đề án tháng 7/1950 lần đầu tiên xác định nguyên tắc
lãnh đạo tập thể và dân chủ trong các nhà trường. Ở mỗi nhà trường - đặc biệt là các
trường lớp có các hội đồng: Hội đồng chuyên môn; khen thưởng, kỷ luật; Hội đồng
quản trị gồm có đại biểu giáo viên, đại biểu cha, mẹ học sinh và đại biểu Hiệu đoàn
học sinh. Các hội đồng trên đều do hiệu trưởng làm chủ tịch các thành viên của Hội
đồng đều có quyền thảo luận, biểu quyết như nhau.


12
Nhà trường “cải cách” đã tạo ra những cơ sở thực tế để phói hợp giáo dục nhà
trường, giáo dục gia đình, giáo dục xã hội, phối hợp công tác của nhà trường và công
tác của địa phương tạo ra những nhân tố mới để thực hiện được sự lãnh đạo của Đảng
đối với trường học. Đây là một nội dung mà Đảng ta đã vận dụng đúng đắn sáng tạo
các nguyên tắc của một Đảng cầm quyền, lãnh đạo xã hội, và các nguyên lý giáo dục
của chủ nghĩa Mác - Lênin vào chỉ đạo thực tiễn giáo dục ở nước ta lúc bấy giờ, mà
vẫn còn giá trị đến ngày nay.
Tháng 2/1951 Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ hai họp đã xác định phương
hướng nhiệm vụ, đào tạo con người mới: để đào tạo con người mới, cán bộ mới và đẩy
mạnh kháng chiến, kiến quốc, phải bài trừ những tàn tích văn hóa giáo dục thực dân và
phong kiến, phát triển nền văn hóa có tính chất dân tộc khoa học đại chúng”.
Nhiệm vụ chủ đạo của giáo dục là: thủ tiêu nạn mù chữ, cải cách chế độ giáo
dục, mở các trường chuyên nghiệp.
Phương châm giáo dục: Giáo dục phục vụ kháng chiến chủ yếu là tiền tuyến,
giáo dục phục vụ nhân dân chủ yếu là công nông binh, giáo dục phục vụ sản xuất chủ
yếu là nông nghiệp.
Nội dung giáo dục: Đại hội đề nghị chuyển các môn học sử, địa khoa học thường
thức ở các lớp cấp I thành môn học thống nhất là “Tập đọc” để tinh giản nội dung giảng dạy
và dễ cải tiến phương pháp giảng dạy phù hợp với lứa tuổi.
Về tổ chức nhà trường: Đại hội kiến nghị đưa “tăng gia sản xuất” và “sinh hoạt
tập thể” vào chính khóa, đề cao “Hiệu đoàn học sinh”, bỏ tổ chức “Học sinh quân”,
xây dựng “Công đoàn giáo dục”.
Cuộc cải cách giáo dục được vạch ra từ tháng 7/1950 song trước đó 2 tháng cuộc cải
cách này may mắn được định hướng bằng một văn bản rất hữu ích. Đó là tài liệu “Nói về
công tác huấn luyện và học tập của Hồ Chí Minh”. Bài nói khoảng 4000 từ bao quát toàn
diện vấn đề huấn luyện (dạy) và học tập của phương thức giáo dục mới. Chính ở tài liệu này
Người đã kết hợp những ý tưởng sâu sắc của Khổng Tử và Lênin với những lời dạy bất hủ
“Học không biết chán, dạy không biết mỏi” - “Học, học nữa, học mãi” để hun đúc một chí
khí mới về sự học ở nước ta trong bối cảnh của xã hội mới. Bác đã làm sáng tỏ các vấn đề.
*Huấn luyện ai;Ai huấn luyện;Huấn luyện thế nào;Điều kiện huấn luyện
*Học để làm gì;Học ở đâu
Bác còn có những lời bàn rất sâu sắc về việc phải biến quá trình đào tạo thành
quá trình tự đào tạo đối với người học...Tài liệu của Bác là một “cương lĩnh có ý nghĩa
kim chỉ nam” cho việc tổ chức quá trình đào tạo, giáo dục ở mọi nhà trường với việc


13
phân tích rất sâu sắc các nhân tố tạo ra quá trình này. Từ thực tiễn đã trải qua các hoạt
động sư phạm và tư duy chính trị cách mạng sâu sắc. Tư tưởng về giáo dục của Bác
chẳng những có giá trị chỉ đạo sự phát triển đối với lý luận và thực tiễn giáo dục nước
ta cho đến ngày hôm nay mà còn có giá trị thời đại sâu sắc.
3. Cuộc cải cách giáo dục lần thứ hai (1956) đặt cơ sở cho việc thành lập hệ
thống giáo dục quốc dân theo tính chất giáo dục xã hội chủ nghĩa
Tháng 3 năm 1956 Đại hội giáo dục phổ thông toàn quốc họp bàn việc triển khai
Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 7 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa
II. Đại hội đã thông qua đề án do Bộ Giáo dục khởi thảo nêu nhiệm vụ sáp nhập hai hệ
thống giáo dục 9 năm của vùng tự do và 12 năm của vùng mới giải phóng. Đó chính là
cuộc cải cách giáo dục lần thứ hai. Cuộc cải cách đặt cơ sở cho việc thành lập hệ thống
giáo dụcphổ thông 10 năm theo tính chất nền giáo dục xã hội chủ nghĩa.
* Mục tiêu và những nội dung cơ bản của cuộc cải cách giáo dục năm 1956
Tính chất nền giáo dục trong giai đoạn này được khẳng định là: giáo dục mang tính
chất xã hội chủ nghĩa, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng tư tưởng nhằm phục vụ
nhân dân lao động. Phù hợp với tình hình đất nước ta lúc này là miền Bắc đi lên chủ nghĩa
xã hội, miền Nam tiếp tục sự nghiệp cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân.
Mục đích của giáo dục Việt Nam là nhằm: “đào tạo bồi dưỡng thế hệ thanh thiếu
niên trở thành những người phát triển về mọi mặt, những công dân tốt trung thành với
Tổ quốc, những người lao động tốt, cán bộ tốt của nước nhà có tài có đức để phát triển
chế độ dân chủ nhân dân tiến lên xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta, đồng
thời để thực hiện thống nhất nước nhà trên cơ sở độc lập và dân chủ”. Như vậy, mục
đích giáo dục đã có sự phát triển hợp với xu thế của thời đại đó là tiến lên xây dựng
chế độ xã hội chủ nghĩa đồng thời nhằm mục đích thiết thực thể hiện khát vọng của
dân tộc là thực hiện thống nhất nước nhà trên cơ sở độc lập và dân chủ.
Nội dung giáo dục cũng toàn diện hơn gồm đức, trí, thể mỹ.
Phương châm giáo dục là “Liên hệ lý luận với thực tiễn, gắn nhà trường với
đời sống xã hội”, phù hợp với quy luật khách quan và thực tiễn GD của nước ta.
Hệ thống giáo dục phổ thông được xác định rõ ràng và khoa học hơn kể cả cấp
học, thời gian học, đánh giá kết quả từng cấp học phù hợp với quy luật khách quan của
nhận thức. Phù hợp với hoàn cảnh lịch sử của đất nước.
Phương hướng chính trị của GD là: Toàn bộ công tác GD phải phục tùng đường
lối chính trị của Chính phủ dân chủ cộng hòa và Đảng Lao động Việt Nam
Hệ thống GDPT được xác định là 10 năm gồm 3 cấp học.


14
3. Cuộc CCGD lần thứ 3
Sau khi giải phóng miền Nam thống nhất tổ quốc. Nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam bắt tay vào công cuộc xây dựng cơ sở vật chất và kỹ thuật của chủ
nghĩa xã hội từ một nền sản xuất nhỏ tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội
Bước vào một thời kỳ mới xây dựng và bảo vệ tổ quốc, đánh giá lại mấy chục
năm phát triển GD, nhận thấy rằng tuy có đạt được một số thành tựu hết sức có ý
nghĩa, chất lượng GD toàn diện còn thấp, sự nghiệp GD nói chung chưa theo kịp sự PT
XH và của KHKT; chưa đáp ứng được yêu cầu mới của thời kỳ mới XD lại đất nước
sau nhiều năm chiến tranh. Vì vậy phải tiến hành cuộc CCGD với các nội dung và mục
tiêu cơ bản sau đây:
Đứng trước những yêu cầu mới của nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Việt Nam xã hội chủ nghĩa hệ thống giáo dục được cải cách từ năm 1954 đã bộc lộ
những thiếu sót mà những cải tiến cục bộ không thể bổ sung được. Cải cách toàn
bộ hệ thống giáo dục trở thành một đòi hỏi khách quan. Tháng 1 năm 1979, Bộ
Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã ban hành Nghị
quyết về cải cách giáo dục. Hai cuộc cải cách giáo dục trước đây xác định bản
chất, mục đích; xác lập tính chất, nguyên tắc, phương châm, mục tiêu, nội dung
giáo dục - đào tạo của nền giáo dục mới thì cuộc cải cách giáo dục lần thứ ba này
có bước phát triển phù hợp với tình hình cách mạng trong thời kỳ mới thời kỳ cả
nước đi lên chủ nghĩa xã hội, nên có mục tiêu, nhiệm vụ lớn hơn, rộng hơn, toàn
diện hơn, nhưng cũng cụ thể hơn nhằm ba mục tiêu lớn:
- Làm tốt việc chăm sóc và giáo dục thế hệ trẻ ngay từ thủa ấu thơ cho đến lúc
trưởng thành nhằm tạo cơ sở ban đầu rất quan trọng của con người Việt Nam mới,
người lao động, người làm chủ tập thể và phát triển toàn diện.
- Thực hiện phổ cập giáo dục toàn dân, góp phần xây dựng quyền làm chủ tập
thể của nhân dân lao động, tạo điều kiện cho việc tiến hành ba cuộc cách mạng.
- Đào tạo và bồi dưỡng với quy mô ngày càng lớn, đội ngũ lao động mới có
phẩm chất cách mạng, có trình độ khoa học kỹ thuật và quản lý phù hợp với yêu cầu
phân công lao động trong nền sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa. Cải cách giáo dục dựa
trên những nguyên lý cơ bản của nền giáo dục xã hội chủ nghĩa: học đi đôi với hành,
giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nhà trường gắn liền với xã hội.
Cải cách về giáo dục là một sự thay đổi sâu sắc cả về cơ cấu hệ thống giáo dục
và về phương pháp giáo dục, nội dung giáo dục.


15
Hệ thống giáo dục mới là một thể thống nhất và hoàn chỉnh bao gồm: giáo dục
mần non; giáo dục phổ thông và giáo dục chuyên nghiệp, giáo dục đại học và mạng
lưới trường lớp tập trung và mạng lưới trường lớp không thoát ly sản xuất và công tác.
* Bài học kinh nghiệm (kết luận)
Sau hơn 30 năm liên tục đổi mới và tự hoàn thiện, giáo dục Việt Nam đã tiến
một bước dài trên đường phát triển. Đạt được điều này là nhờ sự lãnh đạo của
Đảng, Nhà nước, sự điều hành của Chính phủ và chính quyền các cấp, sự tham gia
đóng góp của toàn xã hội. Nhiều văn bản pháp luật quan trọng về giáo dục đã được
ban hành, tạo cơ sở pháp lý cho những cải cách mang tính đột phá sau này. Truyền
thống hiếu học của dân tộc, lòng yêu nghề của đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý
giáo dục đã được phát huy cao độ, đóng góp vào sự nghiệp trồng người, tiến tới
một nền giáo dục Việt Nam tiên tiến, hiện đại và hội nhập quốc tế.
Tuy nhiên, nền giáo dục nước ta hiện nay vẫn còn một số hạn chế, như: Hệ
thống nhà trường dạy nghề, THCN, cao đẳng, đại học phân bố chưa đều; chất
lượng đào tạo nguồn nhân lực có tăng nhưng so với nhu cầu tỷ lệ lao động qua đào
tạo vẫn còn thấp; chất lượng đào tạo chưa đồng đều, còn đào tạo đại trà; phương pháp
giáo dục, chương trình giáo dục còn lạc hậu và chậm đổi mới; cách thức đánh giá, tổ
chức thi cử còn nhiều bất cập; một số hiện tượng tiêu cực trong giáo dục chậm được
khắc phục; chất lượng đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục chưa đồng đều, cơ
cấu chi ngân sách cho giáo dục còn hạn chế...ảnh hưởng đến việc thực hiện tốt đường
lối giáo dục của Đảng và Nhà nước.
Những tầm nhìn mới, hiện đại về giáo dục và quản lý giáo dục đang phát triển
mạnh mẽ và tạo nên những thay đổi đáng kể cho diện mạo giáo dục thế giới, tạo thời cơ
cho giáo dục ở nước ta tiếp thu thành tựu và kinh nghiệm tiên tiến của thế giới trong
giáo dục - đào tạo cũng như nghiên cứu khoa học giáo dục; Giáo dục Việt Nam một mặt
khác phải khắc phục những điểm yếu kém bất cập, khắc phục sự mất cân đối giữa phát
triển quy mô và bảo đảm chất lượng, giữa phát triển quy mô và điều kiện còn hạn chế
giữa yêu cầu tạo chuyển biến cơ bản với giữ vững ổn định tương đối của hệ thống giáo
dục để thu hẹp dần khoảng cách với những nền giáo dục tiên tiến cũng đang phát triển.
Chính vì vậy, đổi mới giáo dục - đào tạo ở nước ta hiện nay vừa là một nhiệm vụ
chiến lược, lâu dài nhưng cũng là nhiệm vụ trọng tâm cấp bách.
Từ những định hướng tư tưởng trên; từ xu thế khách quan hiện nay các nước trên
thế giới đang ở trong cao trào đổi mới, canh tân, cải cách hoặc có những điều chỉnh


16
cho phù hợp với xu thế phát triển chung là xây dựng nền kinh tế tri thức, muốn xây
dựng nền kinh tế tri thức phải dựa vào tiền đề phát triển giáo dục; Từ thực trạng nền
giáo dục nước ta trong thời kỳ đổi mới, CNH, HĐH đất nước còn nhiều hạn chế yếu
kém. Do vậy, đổi mới tư duy giáo dục là một công việc phải được tiếp tục tiến hành và
đi cùng với đổi mới tư duy kinh tế - xã hội, đôi lúc còn phải đi trước ở một số phương
diện được khái quát từ xác định mục tiêu giáo dục hiện nay là: Đào tạo, xây dựng thế
hệ những con người Việt Nam mới có đức, có tài, giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc, có
phong cách hiện đại chủ động hội nhập được với khu vực và quốc tế; Tiếp tục khẳng
định và củng cố quan điểm “giáo dục là quốc sách hàng đầu. Đầu tư cho giáo dục là
đầu tư cho phát triển”… “Đảng, Nhà nước, nhân dân đều có trách nhiệm quan tâm
chăm lo cho sự nghiệp phát triển giáo dục”; Mọi người đều được bình đẳng về cơ hội
giáo dục; Giáo dục là động lực phát triển kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng, góp
phần đẩy mạnh CNH,HĐH đất nước; Giáo dục không chỉ là phúc lợi mà còn là một
trong những yếu tố quan trọng của kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội.
Phát triển giáo dục phải phù hợp với định hướng XHCN, phải luôn xuất phát từ
thực tiễn, phải lấy dân làm gốc và tôn trọng quy luật khách quan, phải kết hợp sức
mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; Giáo dục phải đi trước một bước và phải chủ
động hội nhập với khu vực và thế giới.
Sự lựa chọn về định hướng, quan điểm xây dựng nền giáo dục phải luôn luôn
phù hợp, gắn bó chặt chẽ với mục đích, đường lối xây dựng và bảo vệ đất nước ; phải
sớm xác định trong từng giai đoạn lịch sử, dưới sự lãnh đạo của Đảng. Quá trình phát
triển giáo dục phải là quá trình nhất quán về những tính chất cơ bản của nền giáo dục
xã hội chủ nghĩa vừa gắn bó với thực tiễn Việt Nam, vừa phù hợp với xu thế chung của
thời đại.
Những định hướng quan điểm phát triển giáo dục của Đảng trong mọi hoàn cảnh
phải được quán triệt và cụ thể hóa theo quan điểm hệ thống một cách đồng bộ, hài hòa
ngang - dọc, theo bốn hệ thống là: Đảng, Nhà nước, xã hội và giáo dục - đào tạo, phù
hợp với chức năng của tững hệ thống. Kiên trì quan điểm giáo dục là quốc sách hàng
đầu, đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển ; đẩy mạnh đa dạng hóa, xã hội hóa giáo
dục gắn liền với dân chủ hóa là cách phát triển giáo dục hiệu quả, cũng là những bài
học kinh nghiệm trong lãnh đạo, chỉ đạo sự nghiệp phát triển giáo dục của Đảng, Nhà


17
nước ta trong những năm qua và những năm tiếp theo của thời kỳ đổi mới đẩy mạnh
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nươc theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
VẤN ĐỀ 3. SO SÁNH CHỦ TRƯƠNG PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC NƯỚC TA
TRƯỚC VÀ SAU ĐỔI MỚI

II. Tình hình giáo dục xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam (1975 - 1985)
Sau khi giải phóng miền Nam thống nhất tổ quốc. Nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam bắt tay vào công cuộc xây dựng cơ sở vật chất và kỹ thuật của
chủ nghĩa xã hội từ một nền sản xuất nhỏ tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội trong
điều kiện của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật mà nhờ đó sức sản xuất phát triển
với tốc độ cao chưa từng thấy, trong những thuận lợi mà sự đoàn kết hợp tác giữa
các nước xã hội chủ nghĩa anh em tạo lập cũng như trong những khó khăn do cuộc
khủng hoảng kinh tế trong thế giới do chủ nghĩa tư bản gây ra. Bối cảnh đó đòi
hỏi Đảng, Nhà nước một mặt phải giải quyết yêu cầu cấp bách, gay gắt của cuộc
sống hàng ngày, mặt khác phải nhanh chóng đưa đất nước vào quỹ đạo của sự phát
triển xã hội chủ nghĩa. Vì lẽ đó, hơn bất cứ lúc nào trước đó, nền giáo dục xã hội
chủ nghĩa có tầm quan trọng lớn lao, giáo dục quốc dân phải gắn chặt hơn với sự
nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa. Giáo dục “là một bộ phận quan trọng của cách
mạng tư tưởng và văn hóa, một nhân tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển kinh tế,
văn hóa và khoa học kỹ thuật của đất nước”.
Với vai trò ngày càng tăng của giáo dục trong cách mạng xã hội chủ nghĩa,
Đảng, Nhà nước chăm lo xây dựng và phát triển nền giáo dục dựa trên những
nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin về sự phát triển của con người trong
điều kiện xã hội chủ nghĩa. Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa ở Việt
Nam quy định:
“Nền giáo dục Việt Nam không ngừng được phát triển và cải tiến theo nguyên
lý học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nhà trường gắn liền
với xã hội, nhằm đào tạo có chất lượng những người lao động xã hội chủ nghĩa và
bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau”.
Nền giáo dục Việt Nam là một nền giáo dục xã hội chủ nghĩa, đặt dưới sự lãnh
đạo trực tiếp và toàn diện của Đảng Cộng sản Việt Nam và do Nhà nước thống nhất
quản lý. Nền giáo dục Việt Nam lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm hệ tư tưởng chủ đạo
và làm cốt lõi của nội dung giáo dục, lấy việc đào tạo những người lao động kiểu
mới, phát triển toàn diện làm mục đích, lấy việc kết hợp giáo dục với lao động sản


18
xuất, học với hành, nhà trường với đời sống làm phương thức đào tạo. Hiến pháp
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam quy định “học tập là quyền lợi và
nghĩa vụ của công dân”, đây là tư tưởng “ai cũng được học hành” của Chủ tịch Hồ
Chí Minh đã được luật hóa và trở thành tôn chỉ của mọi công dân Việt Nam nói
chung và mục đích phấn đấu của ngành giáo dục nói riêng.
Đứng trước những yêu cầu mới của nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Việt Nam xã hội chủ nghĩa hệ thống giáo dục được cải cách từ năm 1954 đã bộc lộ
những thiếu sót mà những cải tiến cục bộ không thể bổ sung được. Cải cách toàn
bộ hệ thống giáo dục trở thành một đòi hỏi khách quan. Tháng 1 năm 1979, Bộ
Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã ban hành Nghị
quyết về cải cách giáo dục. Hai cuộc cải cách giáo dục trước đây xác định bản
chất, mục đích; xác lập tính chất, nguyên tắc, phương châm, mục tiêu, nội dung
giáo dục - đào tạo của nền giáo dục mới thì cuộc cải cách giáo dục lần thứ ba này
có bước phát triển phù hợp với tình hình cách mạng trong thời kỳ mới thời kỳ cả
nước đi lên chủ nghĩa xã hội, nên có mục tiêu, nhiệm vụ lớn hơn, rộng hơn, toàn
diện hơn, nhưng cũng cụ thể hơn nhằm ba mục tiêu lớn:
- Làm tốt việc chăm sóc và giáo dục thế hệ trẻ ngay từ thủa ấu thơ cho đến lúc
trưởng thành nhằm tạo cơ sở ban đầu rất quan trọng của con người Việt Nam mới,
người lao động, người làm chủ tập thể và phát triển toàn diện.
- Thực hiện phổ cập giáo dục toàn dân, góp phần xây dựng quyền làm chủ tập
thể của nhân dân lao động, tạo điều kiện cho việc tiến hành ba cuộc cách mạng.
- Đào tạo và bồi dưỡng với quy mô ngày càng lớn, đội ngũ lao động mới có
phẩm chất cách mạng, có trình độ khoa học kỹ thuật và quản lý phù hợp với yêu cầu
phân công lao động trong nền sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa. Cải cách giáo dục dựa
trên những nguyên lý cơ bản của nền giáo dục xã hội chủ nghĩa: học đi đôi với hành,
giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nhà trường gắn liền với xã hội.
Cải cách về giáo dục là một sự thay đổi sâu sắc cả về cơ cấu hệ thống giáo dục
và về phương pháp giáo dục, nội dung giáo dục.
Hệ thống giáo dục mới là một thể thống nhất và hoàn chỉnh bao gồm: giáo dục
mần non; giáo dục phổ thông và giáo dục chuyên nghiệp, giáo dục đại học và mạng
lưới trường lớp tập trung và mạng lưới trường lớp không thoát ly sản xuất và công tác.
Toàn ngành giáo dục đã cụ thể hóa các chủ trương, chính sách của Đảng và nhà
nước nhằm triển khai, tổ chức thực hiện công cuộc cải cách giáo dục sau khi nghị


19
quyết cải cách giáo dục được ban hành; đồng thời trình bày những hoạt động cụ thể
việc thực hiện nhiệm vụ cải cách giáo dục trên các mặt như: Phân tích các chỉ tiêu giáo
dục phổ thông và mẫu giáo; thống kê những hoạt động cụ thể nhằm mở rộng khả năng
học tập của thanh niên; những phương hướng, nguyên tắc cơ bản của việc thực hiện
nội dung giáo dục trong cải cách giáo dục; phương hướng cải tiến tổ chức giáo dục và
phương pháp giáo dục; giáo dục lao động, tổ chức học sinh tham gia lao động sản xuất
và công tác hướng nghiệp trong trường phổ thông; giáo dục ngoài nhà trường; xây
dựng, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục; cải tiến tổ chức quản lý
giáo dục; tổ chức và phương hướng nghiên cứu khoa học giáo dục. Qua nghiên cứu
thời kỳ này chúng ta thấy nền giáo dục Việt Nam đã phát triển song hành cùng với sự
phát triển của đất nước. Đây là thời kỳ nước ta gặp nhiều khó khăn nhất kể từ khi
thống nhất Tổ quốc đến nay trong bối cảnh lịch sử của đất nước. Nền giáo dục nước
nhà cũng đã bị ảnh hưởng rất lớn bởi điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn. Nhưng dưới
sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng ta với sự đoàn kết một lòng và truyền thống hiếu học
của nhân dân ta đã nỗ lực hết sức mình hàn gắn những vết thương chiến tranh vừa phát
triển kinh tế, xây dựng nền giáo dục xã hội chủ nghĩa và đã đạt được những thành tựu
đáng tự hào, so với các thời kỳ trước.
Bước đầu, hệ thống giáo dục đã được xác lập và xây dựng tương đối hoàn chỉnh,
thống nhất trong cả nước từ mần non đến đại học và sau đại học. Hệ thống giáo dục
phổ thông 12 năm được thiết kế thống nhất cho chương trình đào tạo chung trên toàn
quốc. Bộ Giáo dục và đào tạo đã xây dựng hoàn chỉnh bộ sách giáo khoa mới theo tinh
thần cải cách cho cả hệ thống 12 năm. Đặc biệt, từ sau năm 1976, việc xây dựng hệ
thống đào tạo sau đại học được coi là một bước phát triển quan trọng của ngành giáo
dục Việt Nam.
Thời kỳ 1975 - 1985 có tầm quan trọng đặc biệt trong cách mạng xã hội chủ
nghĩa ở Việt Nam. Một thời kỳ được ghi vào lịch sử như một đoạn đường thắng lợi
vẻ vang của cách mạng Việt Nam, và cũng là thời kỳ mà các giá trị đặc biệt của nó
còn ở những kinh nghiệm rất bổ ích mà Đảng ta đã tích lũy được. Một thời kỳ có
những khó khăn phức tạp của con đường đi lên chủ nghĩa xã hội từ một nền kinh tế
mà sản xuất nhỏ còn phổ biến, một thời kỳ có những đảo lộn kinh tế và xã hội sau
một cuộc chiến tranh lâu dài. Trong muôn vàn khó khăn của đất nước nền giáo dục


20
Việt Nam đã hoàn thành được sứ mệnh của mình, đã gắn chặt với sự nghiệp cách
mạng xã hội chủ nghĩa, trở thành một bộ phận quan trọng của cách mạng tư tưởng
văn hóa, một nhân tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển kinh tế, văn hóa, khoa học
kỹ thuật của đất nước.
GIÁO DỤC VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI (1986 - NAY)

Từ sau Đại hội VI của Đảng, ngành giáo dục - đào tạo đã thực hiện đổi mới theo
hướng đồng bộ, toàn bộ, toàn diện, sâu sắc. Ngành đã tích cực điều chỉnh cuộc cải cách
giáo dục nhằm đưa nền giáo dục và đào tạo vào quy mô mới phù hợp với định hướng
đổi mới kinh tế - xã hội của nước ta, hợp với xu thế phát triển giáo dục của các nước
phát triển trên thế giới.
Tư tưởng chỉ đạo của Đảng trong giai đoạn mới, ngành giáo dục cần đa dạng hóa
các loại hình trường, lớp, các hình thức đào tạo, ban hành quy chế của các trường, lớp
dân lập, tư thục. Mở một số trường năng khiếu với sự đầu tư đặc biệt và hệ thống
trường dành cho trẻ em khuyết tật và con em các dân tộc thiểu số. Bên cạnh đó, ngành
giáo dục cần hết sức quan tâm đến việc chuẩn bị lao động cho xã hội. Do đó, cần mở
rộng các hình thức phổ cập nghề nghiệp cho thanh niên, chú trọng đội ngũ công nhân
lành nghề, tổ chức lại các loại hình đào tạo dài hạn, phát triển các trường học vừa học
vừa làm...Đồng thời, ngành cần nâng cao chất lượng giáo dục, cải cách chế độ đánh
giá, thi cử, hoàn thiện công tác tuyển sinh ở các cấp học, bậc học.
Đổi mới quản lý giáo dục, chăm lo đời sống của giáo viên cũng như các điều
kiện giảng dạy, để công tác giảng dạy đạt kết quả tốt nhất; vấn đề về ngân sách
cho giáo dục, mức học phí, chính sách học bổng, chính sách khuyến khích những
học sinh xuất sắc...nhằm tạo những điều kiện cần thiết cho sự nghiệp phát triển
giáo dục một cách đúng hướng, để thu được những kết quả tốt nhất.
Trước những yêu cầu đổi mới, ngành giáo dục đã xây dựng một chương trình
phát triển giáo dục 3 năm (1987 - 1990) với một hệ thống đề án gồm 38 chỉ tiêu.
Chương trình phát triển này gồm 10 tư tưởng chỉ đạo. Ngành đại học đề ra 4 tiền đề đổi
mới nhằm xây dựng một hệ thống giáo dục - đào tạo linh hoạt, đa dạng, đáp ứng được
nhu cầu đa dạng của xã hội cũng như người học, động viên được nhiều nguồn lực
ngoài nguồn ngân sách nhà nước để tạo điều kiện phát triển giáo dục đại học cả về quy
mô lẫn chất lượng, đồng thời ngành đại học đề ra 3 chương trình hành động nhằm thực
hiện quy trình đào tạo mới, tăng quy mô, đa dạng hóa các loại hình đào tạo, gắn giảng


21
dạy với nghiên cứu thực nghiệm khoa học sản xuất, cải thiện điều kiện vật chất, kỹ
thuật của đào tạo, phân cấp và dân chủ hóa việc quản lý ngành. Đây là một sự đổi mới
rõ nét, táo bạo nhất của ngành giáo dục nước ta so với các giai đoạn trước đây, mà
ngành đại học đã tiên phong đột phá, là tiền đề quan trọng cho công tác xã hội hóa giáo
dục, xây dựng xã hội học tập của nước ta bắt đầu từ cuối thập niên 90 của thế kỷ XX
đến nay.
Tháng 4 năm 1990, Chính phủ quyết định thành lập Bộ Giáo dục và Đào tạo
nhằm quản lý thống nhất hệ thống giáo dục quốc dân từ giáo dục mầm non đến giáo
dục đại học và sau đại học. Đây chính là bước ngoặt quan trọng trong sự phát triển của
ngành giáo dục Việt Nam, đánh dấu bước trưởng thành của nền giáo dục cùng với sự
phát triển chung của lịch sử đất nước.
Tháng 6 năm 1991 Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII đã đề ra mục tiêu cho
ngành giáo dục là: Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, hình thành
đội ngũ lao động có tri thức và có tay nghề, có năng lực thực hành, tự chủ, năng động
và sáng tạo, có đạo đức cách mạng, tinh thần yêu nước xã hội chủ nghĩa. Nhà trường
đào tạo thế hệ trẻ theo hướng toàn diện, có năng lực chuyên môn, có ý thức và khả
năng tự tạo việc làm trong nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần.
Nhiệm vụ của ngành giáo dục 1991 - 1995 là: tiếp tục đổi mới, ổn định phát
triển và nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo. Coi trọng chất lượng giáo dục chính
trị, đạo đức cho học sinh và sinh viên; hiện đại hóa một bước nội dung, phương pháp
giáo dục; dân chủ hóa nhà trường và quản lý giáo dục; đa dạng hóa loại hình đào tạo và
loại hình trường lớp, từng bước hình thành những trường bán công, dân lập, tư thục
(dạy nghề), phát triển loại hình vừa học vừa làm. Mở rộng đào tạo nghề; bồi dưỡng
nhiều người giỏi về khoa học, công nghệ, kinh doanh, quản lý kinh tế, xã hội và nhiều
công nhân lành nghề.
Tháng 1 năm 1993, Ban chấp hành Trung ương Đảng họp Hội nghị lần thứ 4
ra nghị quyết về tiếp tục đổi mới sự nghiệp giáo dục và đào tạo. Văn kiện Đại hội
Đảng VII và Nghị quyết Trung ương 4 đã xác định những quan điểm chiến lược và
phương hướng tiếp tục đổi mới sự nghiệp giáo dục nước nhà trong giai đoạn mới.
Giai đoạn 1996 - 2003 là giai đoạn phát triển mang tính bản lề của nền giáo dục
và đào tạo Việt Nam. Các mục tiêu, chiến lược phát triển giáo dục trong thời kỳ đẩy
mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã được đặt ra trong nhiều văn kiện quan trọng


22
của Đảng và Nhà nước. Tháng 12 năm 1996 Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII
chuyên đề về giáo dục và đào tạo ra đời. Tháng 12 năm 1998, Luật Giáo dục được
Quốc hội thông qua. Đó là những thời điểm quan trọng đánh dấu bước tiến mới của
nền giáo dục nước nhà.
Hệ thống giáo dục quốc dân hiện có đủ các cấp học, bậc học ngành học và
phương thức giáo dục; Trong tất cả các bậc học, ngoài hệ thống các trường công lập
còn có các trường bán công, dân lập và tư thục. Bên cạnh hệ thống các trường lớp
chính quy, ở tất cả các địa phương còn phát triển các trung tâm, cơ sở giáo dục không
chính quy, đáp ứng nhu cầu của người học từ xóa mù chữ, nâng cao trình độ đến học
nghề, tin học, ngoại ngữ.
Số lượng học sinh, sinh viên ngày càng tăng; các mục tiêu chiến lược như nâng
cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài đã đạt được một số kết quả quan
trọng; ngân sách dành cho công tác đào tạo cán bộ trình độ cao ở nước ngoài ngày
càng tăng; Các chính sách xã hội về giáo dục đã được thực hiện tốt hơn và có hiệu quả
hơn; giáo dục ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số có tiến bộ rõ rệt;
chất lượng giáo dục nhìn chung đã có những chuyển biến đáng kể; các điều kiện đảm
bảo phát triển giáo dục như đội ngũ giáo viên, hệ thống cơ sở vật chất ngày càng được
tăng cường. Bên cạch sự phát triển của quy mô giáo dục đồng thời vẫn còn tồn tại
những mặt hạn chế trong đó nổi bật và chung nhất là trình độ quản lý nhà nước về giáo
dục nói chung, công tác quản lý giáo dục trong các cơ sở giáo dục nói riêng còn hạn
chế, chưa theo kịp với sự phát triển của quy mô giáo dục.
Về sự phát triển của các điều kiện đảm bảo cho phát triển giáo dục nước nhà
trong giai đoạn này đó là đội ngũ nhà giáo, chương trình sách giáo khoa, cơ sở vật
chất, các chính sách quản lý và đầu tư cho giáo dục, hợp tác quốc tế. Những năm qua,
các điều kiện này đã được cải thiện đáng kể góp phần không nhỏ vào nâng cao chất
lượng giáo dục, giúp chúng ta tiếp cận với trình độ tiên tiến trong khu vực và trên thế
giới.
Về tình hình thực hiện một số chủ trương lớn về giáo dục trong giai đoạn
này, đáng chú ý là ngành giáo dục cùng cả nước đã thực hiện tốt chủ trương xã hội
hóa giáo dục. Đây là chủ trương lớn của Đảng, Nhà nước ta, có ý nghĩa chiến lược
và tác động tích cực đến sự nghiệp giáo dục. Các hoạt động xã hội hóa giáo dục đã
huy động được tiềm năng và nguồn lực lớn của xã hội, mở rộng quy mô, đa dạng


23
hóa loại hình trường lớp, tăng cường cơ sở vật chất, đáp ứng nhu cầu học tập của
nhân dân, tạo công ăn việc làm, ổn định cuộc sống cho hàng vạn người. Công tác
xã hội hóa giáo dục đã huy động được các nguồn lực trong và ngoài nước để phát
triển giáo dục như thành lập các quỹ học bổng, khuyến học, trợ giúp học sinh, sinh
viên khó khăn, nhiều doanh nghiệp, các cá nhân cũng tích cực hưởng ứng phong
trào này với cả tinh thần trách nhiệm và lòng hảo tâm vì sự phát triển của nền giáo
dục nước nhà. Phải nói đây là một chủ trương đã có từ lâu, trong các giai đoạn
trước chúng ta cũng đã tổ chức thực hiện ở những mức độ khác nhau, ở các bậc
học khác nhau (Phong trào Bình dân học vụ những năm 1945 đến những năm 1960
hay đổi mới giáo dục đại học từ những năm 1987...) và đến giai đoạn này sự
nghiệp xã hội hóa giáo dục đã phát triển mạnh mẽ và đạt được những thành tựu to
lớn góp phần thực hiện thắng lợi tư tưởng của Bác Hồ, quan điểm của Đảng ta “ai
cũng được học hành”, “xây dựng một xã hội học tập”, “đào tạo liên tục, giáo dục
thường xuyên, học tập suốt đời”.
KÊT LUẬN



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×