Tải bản đầy đủ

tiểu luận thực chất và ý nghĩa của học thuyết về mâu thuẫn trong triết học hêghen”

MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Nhà sáng lập học thuyết nguyên tử, đỉnh cao của chủ nghĩa duy vật cổ
đại – Lơxíp đã từng nói: “Không có sự vật nào phát sinh một cách vô cớ, mà
tất cả đều phát sinh trên một căn cứ nào đấy và do tính tất nhiên”.
Đúng như vậy, điều này đã gây tranh cãi trong suốt chiều dài lịch sử
triết học với hai trường phái chính duy vật và duy tâm. Tuy nhiên Lútvích
Phơ Bách đã từng nhận xét rằng: “Chân lí không phải là chủ nghĩa duy vật
hay chủ nghĩa duy tâm, mà chân lí chính là nhân bản học”. Trên một số khía
cạnh nào đó chủ nghĩa duy vật sẽ không bao giờ hoàn thiện nếu thiếu chủ
nghĩa duy tâm. Bởi nó chính là hai mặt thống nhất của một vấn đề, đó là vấn
đề lịch sử triết học. Thật sai lầm khi đứng trên đỉnh cao của chủ nghĩa Mác –
Lênin để nhìn chủ nghĩa duy tâm bằng một con mắt. Đừng quên rằng đỉnh cao
của triết học duy tâm Đức cuối thế kỉ XVIII đầu thế kỉ XIX là tiền đề trực tiếp
cho triết học Mác – Lênin mà đại biểu của nó không ai khác ngoài triết gia lỗi
lạc Gioócgiơ Vinhem Phriđrích Hêghen (1770 – 1831).
Đối với hầu hết chúng ta triết học Hêghen quả là một dấu chấm hỏi to
tướng. Ở ông có sự hội ngộ và lan tỏa của các dòng triết học đương đại, đến
nỗi người ta phải lấy ông làm ngã rẽ cho lịch sử triết học. Đúng như vậy, triết
học của Hêghen là một hệ thống đồ sộ, những lĩnh vực nghiên cứu của ông
đâu đâu cũng mở ra cho nhân loại một chân trời mới. Cho đến nay ngót gần

hai thế kỉ, đứng trước ngưỡng của thế kỉ XXI mà ngoảnh lại người ta phải
bàng hoàng và lạ lẫm. Vậy Hêghen là ai? Vai trò của con người này ra sao? Ở
ông có gì đặc biệt?.


Gioócgiơ Vinhem Phriđrích Hêghen (1770 – 1831) là triết gia thuộc dòng triết
học cổ điển Đức, là người đầu tiên trong lịch sử triết học trước Mác đã trình
bày một cách có hệ thống phép biện chứng mà sau này nó trở thành nội dung
cốt cán của triết học Mác – Lênin. Tất cả những tư tưởng này được ông luận
giải trong tác phẩm đồ sộ “Lôgích học” với việc trình bày ba qui luật và
những cặp phạm trù cơ bản.
Việc này đã xứng đáng đưa Hêghen trở thành triết gia thiên tài trong mọ triết
gia thiên tài. Trong hoạt động vật chất phong phú và đa dạng đang diễn ra
hàng ngày hàng giờ. Dù bất cứ ở lĩnh vực nào trong tự nhiên, xã hội, tư duy
hay trong sự sinh thành, tồn tại, phát triển và diệt vong của một hạt bụi, một
con người hay cả một thể chế xã hội đâu đâu cũng có sự hiện hữu của cái gọi
là “mâu thuẫn”.
Vậy thế nào là mâu thuẫn? Vai trò của nó ra sao? Ai là người trình bày
một cách có hệ thống nhất trong lịch sử triết học trước Mác?. Để trả lời những
câu hỏi này không còn cách nào khác chúng ta phải ngược dòng lịch sử triết
học để đến với con người này. Chưa hẳn là tiến quá sâu vào lịch sử để tìm lại
Hêraclít, Arixtốt, Đêmôcrít hay Lão Tử hoặc phải mở những cánh cửa nặng
nề của nhà thờ Thiên chúa giáo để gặp Oguytxtanh, Tômát Đacanh. Cũng
không cần phải quay lại thời kì phát sinh của chủ nghĩa Tư bản để tìm
Ph.Bêcơn, Đêcáctơ hay Spinôza… mà chúng ta hãy đến với nước Đức giai
đoạn cuối thế kỉ XVIII đầu thế kỉ XIX để chiêm nghiệm tài năng của một triết
gia thiên tài, nhà biện chứng bẫm sinh G.V.P Hêghen. Plêkhanốp – một học
giả uyên bác đã nhận xét rằng: “Chắc chắn sẽ mãi mãi được giành một địa vị
cao quí nhất trong lịch sử tư tưởng nhân loại. Trong các khoa học mà người
Pháp gọi là: Khoa tinh thần và chính trị, không có một khoa học mà không
chịu ảnh hưởng mãnh liệt và phong phú của thiên tài Hêghen: [4, 458]. Với
tầm quan trọng của học thuyết mâu thuẫn, sự hấp dẫn lí thú của triết học


Hêghen, với tinh thần học hỏi để khai mở tri thức triết học tôi xin chọn đề tài
“Thực chất và ý nghĩa của học thuyết về mâu thuẫn trong triết học Hêghen”
được ông trình bày trong “học thuyết bản chất”, được coi là tinh thần của triết
học Hêghen.
2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Nghiên cứu về Hêghen nói chung và qui luật mâu thuẫn trong triết học

Hêghen nói riêng. Từ trước đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu, nhiều
bài viết và nhiều hội thảo khoa học trong cũng như ngoài nước như: “Những
tư tưởng cơ bản của Hêghen về lôgích học với tính cách là lôgích biện chứng”
của T.S Nguyễn Đình Tường, Tạp chí KHXH, 2004.
Ở đó tác giả đã cho chúng ta một cách nhìn khá đầy đủ về hệ thống
lôgích học của Hêghen với những tư tưởng biện chứng sâu sắc, trong đó có
“Học thuyết về bản chất”. Bên cạnh đó “Quan điểm cơ bản của G.V.P Hêghen
về lôgích học” của T.S Lê Thanh Tâm, Đại học KHXH và NV, 2003 lại cho
chúng ta thấy rõ hơn sự vận động của “lý tính thế giới” trong “Khoa học lô
gích”. Ngoài ra “Tập bài giảng Triết học cổ Đức” của T.S Nguyễn Thanh
Tân, Đại học Khoa học Huế đã cung cấp cho chúng ta những kiến thức cơ bản
nhất về triết học cổ điển Đức nói chung và triết học Hêghen nói riêng. Với
tinh thần đó, tôi muốn nghiên cứu học thuyết mâu thuẫn của Hêghen ở một
góc độ mới để chiêm nghiệm đầy đủ hơn tài năng của thiên tài.
3. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
Mục đích nghiên cứu của đề tài: Nhằm xác định vị trí và nội dung của
“Học thuyết mâu thuẫn” trong triết học Hêghen. Khi đã xác định được “tọa
độ” của học thuyết mâu thuẫn, chúng tôi trình bày ý nghĩa của nó đối với hệ
thống triết học Hêghen nói riêng và lịch sử tư tưởng nhân loại nói chung. Qua


đó làm bật lên những giá trị của “Học thuyết mâu thuẫn” mà ông đã để lại cho
hậu thế.
Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài: Để xác định được vị trí và nội dung
của “Học thuyết mâu thuẫn” trong hệ thống triết học của Hêghen chúng tôi cố
gắng trình bày khái quát ba bộ phận triết học Hê ghen gồm: Khoa học lôgích,
Triết học tự nhiên và Triết học tinh thần. Khi có cái nhìn khái quát về triết học
Hêghen chúng tôi đi vào phần trọng tâm để làm minh bạch nội dung “Học
thuyết mâu thuẫn”. Để nhiệm vụ này được hoàn thành chúng tôi đã khảo sát
một số quan niệm trước Hêghen về mâu thuẫn. Cuối cùng là trình bày về sự
triển khai “Học thuyết mâu thuẫn của Hêghen”. Sau khi thấy được vị trí và
nội dung của “học thuyết mâu thuẫn” trong triết học Hêghen, chúng tôi cố
gắng đánh giá một số ý nghĩa cơ bản của nó đối với hệ thống triết học Hêghen
và lịch sử tư tưởng nhân loại. Thông qua so sánh, đối chiếu với các quan niệm
về mâu thuẫn trước Hêghen.

Nghiên cứu học thuyết mâu thuẫn trong triết học Hêghen có ý nghĩa
hàng đầu làm cơ sở để giải thích quá trình xuất hiện và hình thành một trong
ba qui luật của phép biện chứng. Bởi vì, Hêghen không chỉ là người tiền bối
trực tiếp của C.Mác và Ph.Ăngghen và vì những người sáng lập chủ nghĩa
Mác đã xuất thân từ trường phái Hêghen.

4. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu của đề tài: học thuyết về mâu thuẫn trong triết
học Hêghen.


Phạm vi nghiên cứu của đề tài: khảo sát hệ thống triết học Hêghen,
trong đó trọng tâm là “học thuyết bản chất” thuộc bộ phận “Khoa học lôgích”
để làm sáng tỏ thực chất và ý nghĩa của học thuyết về mâu thuẫn trong triết
học Hêghen.
5. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Cơ sở lý luận của đề tài là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa
duy vật lịch sử của triết học Mác – Lênin.
Phương pháp nghiên cứu của đề tài là: Kết hợp những nguyên lý của
chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử với nguyên tắc
thống nhất lôgích và lịch sử; đồng thời sử dụng các phương pháp như: phân
tích, tổng hợp, so sánh, đối chiếu để làm sáng tỏ các vấn đề mà nhiệm vụ
nghiên cứu đặt ra.

6. ĐÓNG GÓP CỦA KHÓA LUẬN
Khóa luận đã trình bày hệ thống kiến thức cơ bản của triết học Hêghen
trong dòng triết học cổ điển Đức. Qua đó giúp cho người đọc nắm được nội
dung của phương pháp triết học Hêghen. Vậy khóa luận là tài liệu tham khảo
cho những người quan tâm và yêu thích triết học Hêghen, góp phần làm
phong phú triết học Mác – Lênin.

7. KẾT CẤU CỦA KHÓA LUẬN
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung của khóa luận gồm có hai
chương:


Chương 1: Thực chất và ý nghĩa của “Học thuyết về mâu thuẫn” trong
triết học Hêghen.
Chương 2: Ý nghĩa của “Học thuyết về mâu thuẫn” trong triết học
Hêghen.


CHƯƠNG 1
THỰC CHẤT CỦA HỌC THUYẾT VỀ MÂU THUẪN
TRONG TRIẾT HỌC HÊGHEN
1.1. Vị trí của “Học thuyết mâu thuẫn” trong hệ thống triết học Hêghen
1.1.1. Khoa học lôgích
Đây là bộ phận duy vật nhất, tất cả những gì được coi là hạt nhân hợp
lý của triết học Hêghen đều được thể hiện trong đó. Với ông “Khoa học
lôgích” có nhiệm vụ chỉ rõ xem “tinh thần thế giới” phát triển từ tồn tại thuần
túy đến quan niệm tuyệt đối như thế nào. Trong lôgích học Hêghen đã luận
giải sự phát triển của ý niệm tuyệt đối thông qua ba vòng khâu chủ yếu đó là:
“Tồn tại”, “bản chất” và “khái niệm”. Ba vòng khâu này chính là ba qui luật
cơ bản của phép biện chứng duy vật Mácxit, chỉ có điều Hê ghen đã trình bày
nó với tư thế lộn ngược đầu xuống đất. Tính chất biện chứng mà Hê ghen đã
thể hiện trong “Khoa học lôgích” nói riêng và trong toàn bộ hệ thống triết học
của ông nói chung là điều mà không ai phủ nhận được. Tuy nhiên sau khi Hê
ghen qua đời, triết học của ông bị cắt xén và xuyên tạc nghiêm trọng. Mỗi cá
nhân, mỗi trường phái nắm giữ lấy một bộ phận trong đó rồi đem đối nghịch
chúng với nhau. Đó là việc làm không đúng, bởi vì hệ thống triết học của ông
là kết quả của sự vận động thông qua ba giai đoạn của “ý niệm tuyệt đối”.
Cho nên nếu tách rời đi một bộ phận nào cũng đồng nghĩa với việc làm đứt
đoạn sự vận động biện chứng của “ý niệm tuyệt đối”.
1.1.2. Triết học tự nhiên
Theo đánh giá của Lênin “Triết học tự nhiên” là bộ phận yếu nhất của
triết học Hêghen. Ở bộ phận này sơ đồ vận động tam đoạn thức lại được biểu
hiện bằng ba bộ phận: “Cơ học”, “vật lý học” và “cơ thể học”. Có thể nói rằng
cống hiến quan trọng nhất của Hêghen ở “triết học tự nhiên” là ông đã đưa tri
thức khoa học tự nhiên vào triết học. Điều này cho chúng ta khẳng định:


Hêghen là một mẫu mực trong việc tuân thủ mối liên minh chặt chẻ giữa triết
học và khoa học tự nhiên. Bản thân giới tự nhiên là vật chất nhưng ông luôn
áp đặt cho nó cái nội dung tinh thần. Nặng nề hơn ông đã biến giới tự nhiên
thành một mắt xích trên con đường “tha hóa” của “ý niệm tuyệt đối”. Hậu quả
là giới tự nhiên bị kìm hãm, mất đi tính đa dang phong phú nhưng có tính
thống nhất của nó. Dù vậy ông đã vận dụng được phép biện chứng khi trình
bày giới tự nhiên.
1.1.3. Triết học tinh thần
Đây là giai đoạn hoàn thành và phát triển của lý tính sau khi khắc phục
được sự “tha hóa” của nó ở giới tự nhiên. Theo ông đối tượng của triết học
tinh thần là: “Tinh thần thế giới” từ lĩnh vực tự nhiên trở về với bản thân
mình. Cũng là giai đoạn lý tính quay trở về bản chất tinh thần của mình và
hoàn thiện sự phát triển, kết thúc một chu kỳ vận động của “ý niệm tuyệt đối”
và đồng thời mở ra một chu kỳ mới. Triết học tinh thần được Hêghen trình
bày qua ba bộ phận: “Tinh thần chủ quan”, “tinh thần khách quan” và “tinh
thần tuyệt đối”.
1.2. Nội dung của “Học thuyết mâu thuẫn” trong triết học Hêghen
1.2.1. Một số quan niệm trước Hê ghen về mâu thuẫn
Lịch sử phát triển đời sống tinh thần của xã hội cho thấy rằng: những
quan điểm lý luận của mỗi thời đại không bao giờ xuất hiện trên mảnh đất
trống không mà được tạo ra trên cơ sở kế thừa những tài liệu lý luận của
những thời đại trước. Các quan niệm về mâu thuẫn cũng vậy. Ngay tại thời
điểm Hêghen viết cuốn “Khoa học lôgích” chúng ta phải thừa nhận rằng
Hêghen không phải là nhà triết học đầu tiên trong lịch sử triết học trình bày về
mâu thuẫn. Từ thời cổ đại Hy lạp – La mã chúng ta đã biết đến chủ nhân của
câu tuyên ngôn “không ai có thể tắm hai lần trên một dòng sông”, đó chính là
nhà biện chứng bẫm sinh Hêraclít. Ông đã có những luận điểm mang tính tiền


đề để hậu thế tiếp tục bàn về mâu thuẫn. Ở phương Đông cổ đại chúng ta
cũng bắt gặp “Đạo” của Lão Tử đã chứa đựng nội dung quan trọng về vấn đề
mâu thuẫn. Và trong hệ thống các tôn giáo lớn trên thế giới thì Phật giáo cũng
đã đóng góp những luận điểm sâu sắc về mâu thuẫn. Thông qua các thời kỳ
lịch sử, song hành với sự phát triển của triết học cũng đã tồn tại nhiều quan
điểm, quan niệm về mâu thuẫn mà chúng ta chưa có điều kiện để tiếp xúc và
nghiên cứu. Song các quan niệm về mâu thuẫn trước Hêghen thường mang
tính trực quan, cảm tính thiếu cơ sở khoa học và chưa mang tính hệ thống.
1.2.2. Sự triển khai “Học thuyết mâu thuẫn” của Hêghen
Toàn bộ học thuyết mâu thuẫn được Hêghen trình bày trong “học
thuyết bản chất” là vòng khâu thứ hai trong sự vận động của “ý niệm tuyệt
đối” ở giai đoạn đầu mà Hêghen gọi là “Khoa học lôgích”. Như đã biết khi
“tồn tại” đạt đến đỉnh của nó trong “độ” thì cái “bản chất” bắt đầu được nói
đến. Đến đây “tinh thần thế giới” nhận được một sự quy định mới sâu sắc hơn
và cụ thể hơn. Khi trình bày “học thuyết bản chất” Hêghen đã triễn khai nó
trong ba thiên đó là: “Bản chất với tính cách là bản chất”, “hiện tượng” và
“hiện thực”. Thông qua sự trình bày này Hêghen đã làm hé lộ cái hạt nhân
duy vật là học thuyết về mâu thuẫn. Hay nói cách khác quy luật về mâu thuẫn
đã trở thành hình hài cụ thể với tư cách là nguồn gốc và động lực của mọi sự
vận động và phát triển. Chỉ có điều nó bị ràng buộc trong cái vòng luẫn quẫn
của “ý niệm tuyệt đối”


CHƯƠNG 2
Ý NGHĨA CỦA HỌC THUYẾT VỀ MÂU THUẪN
TRONG TRIẾT HỌC HÊGHEN
2.1. Ý nghĩa của “Học thuyết mâu thuẫn” đối với hệ thống triết học Hêghen
2.1.1. Ý nghĩa của “Học thuyết mâu thuẫn” với “Khoa học lôgích”
Có thể nói rằng “Học thuyết mâu thuẫn” cái mà sau này C.Mác đã cải
tạo thành quy luật mâu thuẫn là linh hồn của lôgích học Hêghen. Nó là nhân
tố cốt lõi tạo nên cái hạt nhân tiên tiến, bởi vậy mà người ta cho rằng lôgích
học là bộ phận duy vật nhất trong hệ thống triết học của Hêghen
2.1.2.Ý nghĩa của “Học thuyết mâu thuẫn” với “Triết học tự nhiên”
Đây được coi là bộ phận yếu nhất trong hệ thống triết học của Hêghen
nhưng vẫn mang tinh thần của phép biện chứng mà trong đó ta vẫn thấy sự
hiện hữu của mâu thuẫn với tính cách là nguồn gốc sâu xa nhất của bộ phận
triết học này. Mâu thuẫn tiếp tục đóng vai trò làm người dẫn đường cho “ý
niệm tuyệt đối” bị “tha hóa” thành giới tự nhiên
2.1.3.Ý nghĩa của “Học thuyết mâu thuẫn” với “Triết học tinh thần”
Toàn bộ bộ phận “Triết học tinh thần” cũng là một chuỗi sinh thành và
phát triển. “Công lao lớn của Hêghen là ở chỗ ông là người đầu tiên đã trình
bày giới tự nhiên lịch sử và tinh thần dưới hình thức một quá trình. Nghĩa là
trong sự vận động liên tục, trong sự biến hóa và phát triển ông đã cố tìm ra
mối liên hệ trong sự vận động và phát triển ấy”. Cái mà Hêghen gọi là sự
“vượt bỏ” chính bản thân nó để trở thành cái khác. Từ “tinh thần chủ quan”
đến “tinh thần khách quan” và trở về với “tinh thần tuyệt đối” thực chất là
một quá trình đấu tranh và thống nhất giữa các mặt đối lập trong bản thân
từng bộ phận trước để sản sinh ra bộ phận sau. Và dĩ nhiên ở đây vẫn không
thể thiếu đi vai trò của mâu thuẫn, “ý niệm tuyệt đối” đến đây là dừng lại hay


nói cách khác là nó đã trở về với bản thân nó trong tinh thần. Đồng nghĩa mâu
thuẫn cũng “nằm im chờ đợi” một chu kì hành trình mới.
2.2. Ý nghĩa của “Học thuyết mâu thuẫn” với lịch sử tư tưởng nhân loại
Với lịch sử tư tưởng nhân loại nói chung và lịch sử triết học nói riêng,
học thuyết mâu thuẫn mang một ý nghĩa hết sức to lớn. Học thuyết mâu thuẫn
đã làm tiền đề cho C.Mác xây dựng thành quy luật mâu thuẫn và giờ đây nó
đóng vai trò là hạt nhân của phép biện chứng Mácxit. Nó khắc phục được hạn
chế của chủ nghĩa duy tâm và thuyết bất khả tri. Làm phong phú và hoàn
thiện kho tàng của chủ nghĩa Mác. Nó còn có ý nghĩa quan trọng là làm
phương pháp luận cho các ngành khoa học khác. Ngoài ra còn trang bị cho
con người khả năng tư duy, nắm bắt và giải quyết vấn đề một cách khoa học
nhất.


KẾT LUẬN
Đến đây, chúng tôi đã kết thúc toàn bộ những nội dung liên quan đến
vấn đề “thực chất và ý nghĩa về học thuyết mâu thuẫn trong triết học
Hêghen”. Học thuyết này đóng một vai trò không thể thiếu trong hệ thống
triết học của ông. Với ông, mâu thuẫn không những là nguồn gốc, động lực
của sự vận động mà còn tạo ra mối liên hệ tác động qua lại lẫn nhau giữa các
sự vật hiện tượng. Thông qua biện chứng của tư duy, ông đã đoán được một
cách tài tình biện chứng của thế giới vật chất.
Để trình bày nội dung này, chúng tôi đã cố gắng hệ thống lại toàn bộ
triết học Hêghen để đặt vấn đề trong mối liên hệ tác động theo tinh thần của
phép biện chứng mácxít. Để làm rõ hơn vấn đề, khóa luận cũng trình bày sơ
bộ lịch sử các quan niệm về mâu thuẫn, qua đó có cái nhìn tổng quan hơn để
đối chiếu và so sánh từ đó rút ra ý nghĩa của nó đối với hệ thống triết học của
ông và rộng hơn là đối với lịch sử tư tưởng nhân loại. Chúng ta có thể thấy
rằng, mâu thuẫn luôn luôn là một vấn đề triết học quan trọng trong lịch sử
triết học, nó có ý nghĩa phân tách khá rạch ròi các lập trường triết học khác
nhau. Đối với triết học Hêghen, mà nhất là “Khoa học lôgích” trình bày quá
trình vận động của “ý niệm tuyệt đối”. Chặng đường đi của nó luôn luôn có
dấu ấn của mâu thuẫn, chính mâu thuẫn đã làm cho nó bị “tha hóa” thành giới
tự nhiên và trở về trong tinh thần. Dù có lúc mâu thuẫn bị che lấp, không
được bàn tới nhưng vai trò của nó là không thể phủ nhận được. Khi nghiên
cứu ba bộ phận của triết học Hêghen ta thấy rằng: Ở nội dung nào thiếu đi sự
luận giải về mâu thuẫn thì lập tức nội dung đó bị xơ cứng, sa vào thần bí, có
lúc bế tắc và bị giải thích sai lệch. Cụ thể như bộ phận “Triết học tinh thần”, ở
đây sự vận động sản sinh bị ngưng trệ do Hêghen dập tắt mâu thuẫn. Ngược
lại trong “Khoa học lôgích” ta luôn thấy có một sự nhịp nhàng và càng đọc ta


càng thấy cái mạch ngầm móc nối nhau đó là mâu thuẫn. Vì vậy, lôgích học
chính là bộ phận tiến bộ nhất, gần với duy vật nhất mà Lênin phải gọi là “ chủ
nghĩa duy tâm thông minh”. Lần đầu tiên trong lịch sử, Hêghen đã tạo ra được
một lí luận biện chứng phát triển với tư cách là lôgích học và là phương pháp.
Ông đã kết hợp phép biện chứng và lôgích học thành một quan điểm thống
nhất đó là lôgích biện chứng. Như vậy, phép biện chứng là linh hồn của
lôgích học, nhờ đó “Khoa học lôgích” trở thành một cơ thể sống chứ không
phải là một hệ thống phạm trù khô cứng như lôgích học hình thức. Công lao
của Hêghen so với những bậc tiền bối là ở chỗ ông đã đưa ra được một sự
phân tích biện chứng, khái quát tất cả những phạm trù quan trọng nhất để hình
thành ba qui luật cơ bản của tư duy. Những qui luật mà ông đã đặt bằng tên
gọi là: “Học thuyết tôn tại”. “học thuyết bản chất” và “học thuyết khái niệm”.
Tất cả được vận động theo tam đoạn thức: chính đề - hợp đề - phản đề.
Triết học cổ điển Đức vào cuối thế kỉ XVIII đầu thế kỉ XIX đã đóng vai
trò xuất sắc trong lịch sử phát triển của tư tưởng biện chứng và trong cách
khắc phục bằng sự phê phán phép siêu hình thống trị trong triết học hồi thế kỉ
XVII – XVIII. Công lao lịch sử của những nhà triết học Đức là ở chỗ họ đã
nghiên cứu phương pháp biện chứng trải qua Gơte với nhiều quan niệm biện
chứng trứ danh về sự phát triển trong giới tự nhiên. Cantơ trong những tác
phẩm đầu tay của mình đã nghiên cứu tự nhiên trong sự phát triển của nó đã
giáng một đòn mạnh mẽ là phương pháp siêu hình. Trong thời kì hoạt động
phê phán của mình, ông đã cố gắng lập luận cho phép biện chứng duy tâm của
những khái niệm, phép biện chứng này được trình bày nổi nhất trong học
thuyết của ông về những “thế tương phản của lí tính thuần túy”. Đến Phichtơ
ông đã đưa vào phép biện chứng duy tâm quan niệm về sự phát triển. Phép
biện chứng đã đạt đến sự thể hiện hoàn thiện nhất trong phương pháp triết học
của Hêghen, đằng sau cái vỏ duy tâm thần bí đã ẩn náu cái hạt nhân hợp lí quí


báu. Đó là dự đoán về biện chứng của những sự vật là dự đoán về sự phát
triển trong tự nhiên và trong xã hội.
Trong hoạt động thực tiễn cũng như lí luận dù bất cứ trong không gian
thời gian nào, chúng ta đều thấy sự hiện diện của mâu thuẫn. Hay nói cách
khác ở đâu có vật chất, có vận động thì ở đó có mâu thuẫn. Ý thức được vị trí
vai trò của nó với tư cách là hạt nhân của phép biện chứng, chúng tôi đã mạnh
dạn nghiên cứu triết học Hêghen để “lẩy” nó ra thông qua vô vàn cái thần bí.
Dân tộc Việt Nam có câu “uống nước nhớ nguồn”. Là thế hệ trẻ đứng
trước ngưỡng cửa của thế kỉ XXI, thời điểm mà nhân loại chỉ biến chuyển
trong cái chớp mắt. Thiết nghĩ rằng, việc trang bị cho loài người hạt nhân của
phép biện chứng là yêu cầu cấp thiết hơn bao giờ hết. Trong cái hỗn loạn xô
bồ của thời đại kinh tế thị trường, với sự đan xen chằng chéo của những tư
tưởng đa chiều thì việc nhìn nhận và nắm bắt bản chất của vấn đề để đưa ra
phương pháp xử lí, là kĩ năng mà mỗi chúng ta cần trang bị cho mình. Nếu
Mác là người mang lại cho chúng ta những bông hoa rực rỡ về tri thức của
một triết học chân chính thì Hêghen là người đã trồng cây hoa ấy. Vì vậy bên
cạnh việc mang lại cho chúng ta những hiểu biết nhỏ nhoi về triết học Hêghen
thì song song đề tài mong muốn gửi đến quý bạn đọc và những ai yêu thích
triết học một thông điệp rằng “hãy nhớ về Hêghen”.
Không nghi ngờ gì nữa, có thể khẳng định rằng: tính chất thần bí mà
phép biện chứng đã mắc phải trong tay Hêghen tuyệt nhiên không thể ngăn
cản ông được xếp vào hàng ngũ một trong những nhà tư tưởng vĩ đại nhất của
loài người.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×