Tải bản đầy đủ

Sự vận dụng quy luật mâu thuẫn trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở huyện minh hóa, tỉnh quảng bìnhi

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong thư gửi A.M.Goocki, Lênin viết: “Quả là nhà triết học Hêghen đã
nói đúng: “Cuộc sống tiến lên thông qua những mâu thuẫn, và những mâu
thuẫn sống thì lại phong phú hơn nhiều, nhiều vẻ hơn nhiều và có một nội
dung dồi dào hơn nhiều so với điều mà trí tuệ con người cảm thấy lúc ban
đầu ’’ [26; 297].
Phép biện chứng suy cho cùng là biện chứng về những mâu thuẫn. Do tầm
quan trọng của nó mà Lênin đã xem lý luận về sự thống nhất của các mặt đối lập
là hạt nhân của phép biện chứng.
Quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập (Quy luật mâu thuẫn)
là quy luật quan trọng nhất của phép biện chứng duy vật, là hạt nhân của phép
biện chứng duy vật. Vì nó vạch ra nguồn gốc động lực của sự vận động, phát
triển của thế giới khách quan và vì nó là chìa khóa, là cơ sở giúp chúng ta nắm
vững thực chất của tất cả các quy luật và phạm trù của phép biện chứng duy vật.
Mâu thuẫn là hiện tượng có trong tất cả các lĩnh vực: tự nhiên, xã hội và tư duy
của con người. Trong hoạt động kinh tế cũng mang tính phổ biến, chẳng hạn
như cung - cầu, tích lũy - tiêu dùng… Mâu thuẫn tồn tại khi sự vật xuất hiện đến
khi sự vật kết thúc. Trong mỗi sự vật, mâu thuẫn hình thành không phải chỉ là
một mà là nhiều mâu thuẫn, và sự vật trong cùng một lúc có nhiều mặt đối lập
thì mâu thuẫn này mất đi thì mâu thuẫn khác lại hình thành… Cho nên nắm

vững quan điểm macxit về mâu thuẫn sẽ giúp người ta hình thành phương pháp,
hình thành tư duy khoa học biết khám phá bản chất của sự vật và giải quyết các
mâu thuẫn nảy sinh, thúc đẩy sự vật phát triển.


Khóa Luận Tốt Nghiệp

Quy luật này có ý nghĩa rất quan trọng, nó cho ta chìa khóa để tìm hiểu mọi
sự vận động và phát triển, đi sâu vào bản chất của sự vật và hiện tượng. Trong
công tác thực tiễn, chúng ta cần tìm hiểu sự vật và hiện tượng bằng phương pháp
phân tích mâu thuẫn, đồng thời chuẩn bị điều kiện đầy đủ để giải quyết mâu
thuẫn. Mâu thuẫn mà không được giải quyết sẽ cản trở sự phát triển của sự vật,
hiện tượng.
Chúng ta nhận thấy rằng công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) là xu
hướng phát triển của các nước trên thế giới. Đó cũng là con đường tất yếu của
nước ta để đi lên mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ,
văn minh’’. Hiểu một cách chung nhất, công nghiệp hoá, hiện đại hoá là quá
trình phát triển sản xuất và quản lý kinh tế, xã hội dựa trên sự phát triển của
công nghiệp và tiến bộ khoa học - công nghệ nhằm tạo ra năng suất lao động xã
hội cao. Ngày nay, quá trình công nghiệp hoá gắn liền với hiện đại hoá. CNH,
HĐH là con đường tất yếu để phát triển của các quốc gia trên thế giới, đặc biệt
là những nước công nghiệp lạc hậu như Việt Nam.
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá là quá trình biến đổi một nước có nền kinh
tế lạc hậu trở thành một nước công nghiệp hiện đại. Qua các kỳ đại hội VI, VII,
VIII Đảng ta luôn xác định CNH, HĐH là một nhiệm vụ trọng tâm trong suốt
thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta. Do đó việc vận dụng quy luật mâu thuẫn
vào việc giải quyết các vấn đề nảy sinh trong quá trình CNH, HĐH là hết sức
cần thiết, đặc biệt có ý nghĩa quan trọng đối với một huyện nghèo như Minh
Hóa ở Quảng Bình. Việc vận dụng quy luật mâu thuẫn trong tiến trình CNH,
HĐH ở huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình đòi hỏi phải có sự hiểu biết về quy
luật vận động, phát triển nói chung và quy luật mâu thuẫn nói riêng cũng như
khả năng phát hiện mâu thuẫn và giải quyết mâu thuẫn. Trong quá trình phát
triển kinh tế xã hội nói chung cũng như trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện
đại hóa của huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình luôn xuất hiện những khó khăn,
những mâu thuẫn đòi hỏi phải được giải quyết. Nếu những mâu thuẫn đó không
được giải quyết sẽ cản trở sự phát triển của huyện.

2



Khóa Luận Tốt Nghiệp

Chính vì vậy, nghiên cứu về quy luật mâu thuẫn để vận dụng chúng vào
thực tiễn là một đòi hỏi thường xuyên đối với những nhà quản lý nói chung và
người làm công tác triết học nói riêng.
Từ những nhận thức trên về vai trò, vị trí của vấn đề phát hiện, giải quyết
mâu thuẫn để từ đó vận dụng vào tiến trình CNH, HĐH ở huyện Minh Hóa, tỉnh
Quảng Bình. Chính vì lý do trên mà tôi chọn đề tài: “Sự vận dụng Quy luật mâu
thuẫn trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở huyện Minh Hóa, tỉnh
Quảng Bình’’ làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình. Tôi hy vọng việc nghiên
cứu đề tài này sẽ góp phần làm sáng tỏ thêm lý luận về mâu thuẫn và những vấn
đề mâu thuẫn nảy sinh trong thực tiễn của tiến trình CNH, HĐH ở Huyện Minh
Hóa, Tỉnh Quảng Bình, cũng như việc vận dụng các biện pháp giải quyết mâu
thuẫn nhằm đảm bảo cho thắng lợi của quá trình CNH, HĐH ở Minh Hóa,
Quảng Bình nói riêng và của sự nghiệp CNH, HĐH nước ta nói chung.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Trong hệ thống triết học của mình, khi cho rằng “Tất cả mọi vật đều có tính
chất mâu thuẫn trong bản thân nó”, Hêghen khẳng định: “Mâu thuẫn là nguồn
gốc của tất cả mọi sự vận động của tất cả mọi sự sống” [25; 147]
Với tầm quan trọng của mâu thuẫn, từ trước đến nay, việc nghiên cứu xoay
quanh vấn đề này đạt được những kết quả đa dạng và không kém phần sâu sắc.
Mỗi công trình đó đều tiếp cận và nghiên cứu về quy luật mâu thuẫn ở nhiều
phương diện, nhiều khía cạnh và mức độ khác nhau. Nhìn chung, các công trình
này ngoài việc làm rõ những nội dung cơ bản của quy luật còn gắn với vấn đề
thực tiễn nào đó, một địa phương nào đó, hoặc với một giai đoạn lịch sử nhất
định. Với những mảng đề tài như: “Mâu thuẫn một số vấn đề lý luận và thực
tiễn” của Nguyễn Tấn Hùng. Cuốn sách đã làm rõ về quy luật mâu thuẫn theo
quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin và vai trò của nó đối với sự phát triển xã
hội. “Về mâu thuẫn cơ bản, mâu thuẫn chủ yếu và cách giải quyết trên con
đường phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa” của GS.TS Phạm
Ngọc Quang. Tác giả đã khái quát được những mâu thuẫn cơ bản và những mâu
thuẫn chủ yếu của nước ta. Trên cơ sở đó tác giả đề xuất một số giải pháp giải
3


Khóa Luận Tốt Nghiệp

quyết các mâu thuẫn đó phù hợp với thực tế phát triển đất nước và xu thế của
thời đại. “Công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam, lý luận và thực tiễn”, Nhà
xuất bản Chính trị Quốc gia Hà Nội, 2002 của tác giả Nguyễn Trọng Chuẩn,
Nguyễn Thế Nghĩa, Đặng Hữu Toàn. Các tác giả đã đi sâu phân tích đánh giá
tính tất yếu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa; tập trung phân tích các
nguồn lực cho tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa; nêu lên mối quan hệ của
quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa với vấn đề xây dựng và phát triển nền
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa… Từ đó tác giả định hình được
mô hình của tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta hiện nay. Công
trình nghiên cứu của Nguyễn Thị Hiền (2008), “Lý luận mâu thuẫn và sự vận
dụng của Đảng Cộng sản Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945”. Tác giả đã khái
quát một cách logic về quy luật mâu thuẫn trong lịch sử triết học và đã vận dụng
quy luật mâu thuẫn vào việc xác định và giải quyết mâu thuẫn trong giai đoạn
lịch sử của dân tộc từ 1930 – 1945. Đề tài “Quy luật mâu thuẫn trong lịch sử
triết học và sự vận dụng vào công tác tuyên truyền ở Thừa Thiên Huế” của tác
giả Nguyễn Thái Sơn (2002). Tác giả đã khái quát sơ lược về quy luật mâu
thuẫn trong lịch sử triết học và từ đó vận dụng vào công tác tuyên truyền ở Thừa
Thiên Huế…
Các vấn đề về mâu thuẫn cũng như công nghiệp hóa, hiện đại hóa cũng
được các nhà nghiên cứu tranh luận trên các tạp chí chuyên ngành. Như các bài
đăng trên tạp chí Triết học: Nguyễn Thế Nghĩa: Nguồn nhân lực – động lực của
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước (Số 1, 2 – 1996). Tác giả đã đi sâu phân
tích nguồn nhân lực, xem đó là yếu tố quyết định cho sự thành công của quá
trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Qua đó đưa ra một số giải pháp nhằm nâng
cao chất lượng nguồn nhân lực ở nước ta.
Trần Đắc Hiến: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn ở
Việt Nam: Một số vấn đề đặt ra và hướng giải quyết (Số 11, 11 - 2007). Trong
bài viết này, tác giả đã phân tích một số vấn đề đặt ra từ thực tiễn tiến hành công
nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn ở nước ta hiện nay. Trên cơ sở
đó, tác giả luận chứng những biện pháp cần thiết để giải quyết, khắc phục những
4


Khóa Luận Tốt Nghiệp

vấn đề nảy sinh nhằm nâng cao hiệu quả của tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại
hóa nông nghiệp, nông thôn.
Trần Nguyên Ký: “Về phương pháp kết hợp các mặt đối lập để giải quyết
mâu thuẫn xã hội trong thời kỳ quá độ”… và nhiều bài viết của các tác giả khác
đăng trên các tạp chí Triết học, tạp chí Cộng sản… Các công trình nói trên đã
nghiên cứu quy luât mâu thuẫn dưới những góc độ khác nhau. Tuy nhiên chưa
có công trình nào nghiên cứu về mâu thuẫn với tính cách vận dụng quy luật mâu
thuẫn trong tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Minh Hóa, Quảng Bình.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là: Quan niệm về mâu thuẫn và quy luật
mâu thuẫn.
Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu những quan niệm khác nhau về mâu
thuẫn trong lịch sử triết học và đi sâu tìm hiểu quy luật mâu thuẫn trong triết học
mácxít, từ đó vận dụng vào trong tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở
huyện Minh Hóa, Quảng Bình.
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích của khoá luận là làm rõ hơn tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại
hoá ở huyện Minh Hoá, tỉnh Quảng Bình thông qua việc phân tích và giải quyết
mâu thuẫn.
Để thực hiện được mục đích đó, khoá luận có nhiệm vụ:
Một là, khảo sát một cách có hệ thống và làm rõ những tư tưởng về mâu
thuẫn trong lịch sử triết học, đồng thời làm rõ nội dung của quy luật mâu thuẫn.
Hai là, từ sự phân tích, thấy rõ được tầm quan trọng của lý luận đó và vận
dụng trong tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Minh Hóa, Quảng Bình.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Khoá luận được nghiên cứu dựa trên cơ sở thế giới quan và phương pháp
luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Các quan
điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam, của Chủ tịch Hồ Chí Minh về công nghiệp
hóa, hiện đại hóa. Đồng thời khoá luận còn dựa trên cơ sở thực tiễn ở huyện
Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình.
5


Khóa Luận Tốt Nghiệp

Phương pháp nghiên cứu: Khoá luận kết hợp nguyên tắc thống nhất giữa lý
luận và thực tiễn. Vận dụng linh hoạt các phương pháp cụ thể như phân tích,
tổng hợp, logic - lịch sử, so sánh - đối chiếu, khái quát hoá … để làm sáng tỏ các
vấn đề mà nhiệm vụ nghiên cứu đề tài đặt ra.
6. Đóng góp của khoá luận
Khoá luận làm rõ một số mâu thuẫn trong tiến trình công nghiêp hóa, hiện
đại hóa ở huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình và một số cách thức giải quyết
những mâu thuẫn đó.
7. Bố cục của khóa luận
Ngoài phần mở đầu và kết luận, phần nội dung gồm có 2 chương:
Chương 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUY LUẬT MÂU THUẪN
1.1.

Một số quan niệm về mâu thuẫn

1.2.

Nội dung của quy luật mâu thuẫn

1.3.

Ý nghĩa phương pháp luận của quy luật mâu thuẫn

Chương 2: VẤN ĐỀ GIẢI QUYẾT MÂU THUẪN TRONG TIẾN
TRÌNH CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ Ở HUYỆN MINH
HOÁ, TỈNH QUẢNG BÌNH
2.1.

Khái niệm công nghiệp hoá, hiện đại hoá

2.2.

Tính tất yếu của công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong giai đoạn hiện
nay ở nước ta

2.3.

Thực trạng kinh tế - xã hội ở huyện Minh Hoá, tỉnh Quảng bình

2.4.

Một số mâu thuẫn trong tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá
ở Minh Hoá, Quảng Bình.

2.5.

Sự vận dụng của huyện Minh Hoá trong việc giải quyết các mâu
thuẫn.

6


Khóa Luận Tốt Nghiệp

B. NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUY LUẬT MÂU THUẪN
1.1. Một số quan niệm về mâu thuẫn
1.1.1. Khái niệm “mâu thuẫn”
Khái niệm mâu thuẫn là để nói về tính hai mặt của tất cả các sự vật, hiện
tượng: trong âm có dương, trong tốt có xấu, như vậy mọi sự vật đều vận động
theo hướng hài hòa. Triết học phương Tây kết luận rằng mâu thuẫn là động lực
của sự phát triển, bởi vì trong mỗi sự vật đều có ít nhất hai mặt, hai lập trường,
hai thế lực đối kháng, và các thế lực đó sẽ tìm cách triệt tiêu nhau để chiếm lĩnh
chủ thể, quá trình đó đẩy mâu thuẫn phát triển đến đỉnh điểm và khi mâu thuẫn
phát triển đến đỉnh điểm thì chủ thể sẽ biến đổi cả về lượng và chất sang một
hình thái mới. Còn triết học phương Đông thì cho rằng, các nhân tố âm dương
trong một chủ thể luôn vận động và biến đổi luân hồi, âm thịnh thì dương suy, bĩ
cực thái lai, như vậy là khai thác khía cạnh thời gian của việc phát sinh và giải
quyết mâu thuẫn chứ không nhìn vào khía cạnh biến đổi của chủ thể khi giải
quyết mâu thuẫn.
Mâu thuẫn là phạm trù của phép biện chứng, biểu hiện nguồn gốc bên trong
của mọi sự vận động, gốc rễ của sự sống, nguyên lý của sự phát triển.
Mâu thuẫn biện chứng tồn tại trong cả tự nhiên lẫn trong xã hội và tư duy.
Mâu thuẫn biện chứng trong tư duy là sự phản ánh mâu thuẫn trong hiện thực và
là nguồn gốc phát triển của nhận thức, của tư duy trên con đường vươn tới chân
lý khách quan, chân lý tuyệt đối về hiện thực.
Cần phân biệt mâu thuẫn biện chứng được phản ánh vào trong tư duy, trong
các khái niệm, lý luận với cái gọi là những mâu thuẫn logic biểu hiện sự mơ hồ
tính chất không triệt để của tư tưởng.
Những mâu thuẫn logic hình thức chỉ tồn tại trong tư duy, nó xuất hiện do
sai lầm trong tư duy. Mâu thuẫn logic hình thức là mâu thuẫn được tạo thành từ
hai phán đoán phủ định nhau về cùng một quan hệ cùng một thời điểm; trong hai
phán đoán đối lập đó, chỉ có một là chân lý.
7


Khóa Luận Tốt Nghiệp

Quy luật mâu thuẫn là sự phản ánh vào tư duy tính xác định về vật chất của
các khách thể, là sự phản ánh cái sự thật giản đơn là nếu không nói đến sự biến
đổi của khách thể, thì nó không thể đồng thời có được những đặc tính bài trừ lẫn
nhau.
Mọi sự vật đều chứa đựng mâu thuẫn bên trong, bởi vì bản chất của mọi sự
vật là động chứ không tĩnh, khi sự vật vận động thì mâu thuẫn phát sinh.
Như vậy, chúng ta nên hiểu rằng mâu thuẫn là đương nhiên tồn tại và là tốt
chứ không phải xấu, vì nó giúp cho sự phát triển.
1.1.2. Quan niệm trước Mác về mâu thuẫn
Có thể nói, sự vận động và phát triển của mọi sự vật hiện tượng bao giờ
cũng là sự thống nhất giữa tính ổn định và tính thay đổi. Thống nhất và đấu
tranh giữa các mặt đối lập quy định tính ổn định và thay đổi của sự vật. Do vậy,
mâu thuẫn chính là nguồn gốc của sự vận động và phát triển. Vấn đề này sớm
được các nhà triết học trước Mác quan tâm nghiên cứu, và có những phỏng đoán
thiên tài về sự tương tác giữa các mặt đối lập, xem nó là nguyên nhân của sự
hình thành, vận động và biến đổi của vũ trụ, vạn vật.
Những nhận định ban đầu của các nhà triết học Trung Quốc cổ đại, tuy mới
dừng lại ở phỏng đoán, cảm tính của các triết gia thuộc trường phái Âm Dương
– Ngũ Hành về bản chất của sự vật, hiện tượng nhưng phần nào đã biểu lộ thế
giới quan duy vật, không chỉ thừa nhận sự tồn tại khách quan của sự vật, hiện
tượng mà còn khẳng định các sự vật, hiện tượng vận động và phát triển là do
chính sự tác động của các yếu tố đối lập chứa đựng trong bản thân chúng.
Thuyết Âm Dương - Ngũ Hành là một trong chín trường phái triết học của
của Trung Quốc thời cổ đại. Thuyết Âm Dương - Ngũ Hành là thuyết thể hiện
quan niệm duy vật chất phác về tự nhiên, và ở đó cũng thể hiện tư tưởng biện
chứng sơ khai về tự nhiên, con người và xã hội của người Trung Quốc thời cổ
đại. Nó giải thích nguồn gốc của quá trình biến hóa của vạn vật. Các triết gia
trong trường phái này cho rằng thế giới các hiện tượng và sự vật vẫn chứa đựng
hai yếu tố vừa đối lập nhau, vừa thống nhất với nhau, vừa bao hàm tương tác lẫn
nhau. Âm - Dương là hai thế lực đối chọi nhau nhưng lại thống nhất với nhau
8


Khóa Luận Tốt Nghiệp

trong vạn vật, là khởi nguyên của mọi sinh thành biến hóa. Âm - Dương không
phải là hủy thể của nhau mà là điều kiện tồn tại của nhau, động lực của mọi vận
động, phát triển.
Âm - Dương và Ngũ Hành là hai thuyết quan trọng trong tư tưởng triết học
Trung Hoa. Chính những tư tưởng duy vật đó đã làm lu mờ vai trò của thần
thánh, của lực lượng siêu nhiên. Tư tưởng của trường phái Âm Dương - Ngũ
Hành đã hé lộ phần nào tư tưởng biện chứng về thế giới.
Các triết gia thuộc trường phái này cho rằng, hai mặt đối lập vốn tồn tại
trong tất cả các sự vật, hiện tượng, từ cái nhỏ nhất đến cái lớn nhất, từ cái đơn
giản đến phức tạp, từ giới tự nhiên đến xã hội, từ thể chất đến tinh thần con
người. Nó vừa biến dịch mà bất dịch, mâu thuẫn và thống nhất, đối lập mà vẫn
hài hòa với nhau. Biểu hiện cụ thể của Âm - Dương là các mặt đối lập như: mặt
trời - mặt trăng; cao - thấp; nóng - lạnh; quân tử - tiểu nhân; cha - mẹ; nhanh chậm.
Âm - Dương tuy đối lập, mâu thuẫn, song không tách rời nhau mà xâm
nhập vào nhau, quấn quýt lấy nhau. Âm - Dương không phải là tuyệt đối mà là
tương đối, không phải là đại biểu cố định cho một số sự vật nào đó mà là đại
biểu cho sự chuyển biến, đối lập tất cả các sự vật.
Hai thế lực Âm - Dương không tồn tại biệt lập mà thống nhất, chế ước lẫn
nhau theo các nguyên lý: Âm - Dương thống nhất thành Thái cực (Thái cực
được coi như nguyên lý của sự thống nhất hai mặt Âm - Dương). Nguyên lý này
nói lên tính toàn vẹn, tính chỉnh thể, cân bằng của cái đa và cái duy nhất. Chính
nó bao hàm tư tưởng về sự thống nhất giữa cái bất biến và biến đổi. Trong Âm
có Dương, trong Dương có Âm - nguyên lý này nói lên khả năng biến đổi Âm Dương đã bao hàm trong mỗi mặt đối lập của Thái cực. Trong Thái âm (âm lớn)
có Thiếu dương (dương nhỏ), trong Thái dương (dương lớn) có Thiếu âm (âm
nhỏ), “dương nhỏ” trong “âm lớn” phát triển đến cùng thì có sự chuyển hóa “âm
lớn” trở thành “dương lớn” và ngược lại. Và cứ như thế sự vật vận động, phát
triển không ngừng.

9


Khóa Luận Tốt Nghiệp

Các nguyên lý trên được khái quát bằng vòng tròn khép kín, có hai hình
đen trắng tượng trưng cho Âm Dương, hai hình này tuy cách biệt hẳn nhau, đối
lập nhau nhưng ôm lấy nhau, xoắn lấy nhau. Trong Âm có Dương, trong Dương
có Âm. Âm thịnh dần thì Dương suy dần, ngược lại Dương thịnh dần thì Âm
cũng suy dần.
Thuyết Âm - Dương từ nghiên cứu sự vật, hiện tượng trong tự nhiên đã
được vận dụng vào đời sống xã hội, được liên hệ với con người và bản chất của
con người. Người Trung Quốc cho rằng, tốt nhất là cân bằng Âm - Dương:
người có hình thức trau chuốt lại ăn nói sắc sảo - thuộc tính của Dương, thì ít có
đức nhân là thuộc tính của Âm. Lão Tử nói rằng: Răng cứng thì chống gãy, lưỡi
mềm thì bền lâu.
Thuyết Âm - Dương Ngũ hành phản ánh tư tưởng về sự biến hóa của muôn
vật, thể hiện tính năng của năm loại vật chất: Kim, Thủy, Mộc, Hỏa, Thổ. Các
yếu tố vật chất đó không ở trạng thái tĩnh mà là động, không phải cô lập với
nhau mà là có quan hệ mật thiết, hơn nữa còn biện chứng với nhau, cái này
chuyển hóa thành cái kia. Cơ chế của quá trình chuyển hóa ấy được biểu đạt là
cái này “thắng” (khắc) cái kia và cái này “sinh” cái kia (gọi là “tương sinh”,
“tương khắc”) theo chu trình lập lại có tính chất tuần hoàn:
Thổ sinh Kim, Kim sinh Thủy, Thủy sinh mộc, Mộc sinh Hỏa, Hỏa sinh
Thổ- và tiếp tục quá trình : Thổ sinh Kim…
Thổ khắc Thủy, Thủy khắc Hỏa, Hỏa khắc Kim, Kim khắc Mộc, Mộc khắc
Thổ - và tiếp tục quá trình: Thổ khắc Thủy…
Năm loài vật chất này tương sinh và tương khắc với nhau. Điều đó lý giải
nguồn gốc của các sự vật và hiện tượng trong tự nhiên và xã hội, thuyết minh
thế giới là một thể thống nhất, có trật tự.
Quá trình “tương sinh” và “tương khắc” là quá trình sinh – diệt, và thực
chất của quá trình tồn tại của vật chất là quá trình sinh diệt không thôi đó. Như
vậy, thuyết Âm – Dương Ngũ hành đã thừa nhận tính vật chất của thế giới, giải
thích quy luật phát triển khách quan của thế giới. Tuy còn chất phác và máy móc
nhưng rõ ràng nó có tác dụng chống lại chủ nghĩa duy tâm và mục đích luận
10


Khóa Luận Tốt Nghiệp

trong quan niệm về tự nhiên. Tuy thế, các triết gia thuộc trường phái này mang
tính bảo thủ trong nhân sinh quan, cải lương trong giải quyết mâu thuẫn.
Lão Tử - người sáng lập ra Đạo gia, một trong những trường phái triết học
lớn của Trung Quốc thời cổ đại, là nhà biện chứng số một của triết học phương
Đông. Ông đã đưa ra nhiều tư tưởng có giá trị về mâu thuẫn. Ông cho rằng mọi
sự sinh thành, biến hóa của vạn vật đều từ “Đạo” mà ra. Đạo không chỉ là khởi
nguyên mà còn là động lực cho sự vận động và biến đổi của muôn loài, muôn
vật trong vũ trụ. Quan niệm về biến động là sự tương tác giữa hai cực đối lập, đã
đưa Lão Tử đến sự khám phá tính đối lập và tính thống nhất giữa hai cực của
mâu thuẫn. Theo Lão Tử, mọi sự vận động, biến đổi đều có nguồn gốc từ trong
bản thân sự vật. Mỗi vật đều là thể thống nhất của hai mặt đối lập vừa tương
hòa, vừa xung khắc, vừa đối lập lại vừa liên hệ, ràng buộc bao hàm nhau. Tuy
nhiên, ông chưa nắm thực chất của sự chuyển hóa, hiểu chuyển hóa một cách
máy móc. Không nhấn mạnh đấu tranh với tư cách là phương thức giải quyết
mâu thuẫn, nhằm thực hiện sự phát triển, trái lại đề cao tư tưởng điều hòa mâu
thuẫn.
Nền triết học Trung Quốc là nền triết học có lịch sử lâu đời. Nhìn chung,
các nhà triết học Trung Quốc cổ đại khi luận giải những vấn đề về tự nhiên và
xã hội đã thừa nhận mâu thuẫn và sự chuyển hóa giữa các mặt đối lập trong các
sự vật, hiện tượng. Tuy vậy, do bị hạn chế về thế giới quan và nhân sinh quan,
do địa vị giai cấp của mình nên các triết gia đã không thoát khỏi lập trường duy
tâm trong việc giải thích về sự vận động và biến đổi của lịch sử xã hội, đã làm
mất đi tính duy vật, làm nghèo đi tính biện chứng ban đầu của nó. Tuy có thừa
nhận mâu thuẫn và tính phổ biến của nó song lại chủ trương điều hòa mâu thuẫn.
Có thể nói bên cạnh những suy tư sâu sắc về các vấn đề xã hội, nền triết
học Trung Quốc thời cổ còn cống hiến cho lịch sử triết học thế giới những tư
tưởng sâu sắc về sự biến dịch của vũ trụ. Những tư tưởng về Âm – Dương Ngũ
hành tuy còn có những hạn chế nhất định, nhưng đó là những triết lý đặc sắc
mang tính chất duy vật và biện chứng của người Trung Quốc cổ, đã có ảnh

11


Khóa Luận Tốt Nghiệp

hưởng to lớn tới thế giới quan triết học sau này không những của người Trung
Quốc mà cả những nước chịu ảnh hưởng của nền triết học Trung Quốc.
Vấn đề mâu thuẫn trong tư tưởng của phương Đông cổ đại càng được làm
rõ trong triết học Ấn Độ cổ đại - nơi nền triết học chịu ảnh hưởng lớn của những
tư tưởng tôn giáo. Cũng giống như nhiều nền triết học cổ đại khác, nó đã đặt ra
và giải quyết nhiều vấn đề triết học như bản thể luận, nhận thức luận…
Sự tồn tại dai dẳng của công xã nông thôn và chế độ quốc hữu về ruộng đất
là hai đặc điểm lớn nhất, ảnh hưởng tới toàn bộ các mặt của lịch sử Ấn Độ. Từ
hai đặc điểm trên, dẫn đến hệ quả là các bước phát triển của lịch sử xã hội Ấn
Độ không mạch lạc như lịch sử xã hội của các nước châu Âu. Sự phát triển
chậm chạp của xã hội Ấn Độ đã quy định đặc điểm của sự phát triển triết học Ấn
Độ cổ đại. Khác với triết học phương Đông - thường có sự đan xen giữa các yếu
tố duy vật và duy tâm, biện chứng và siêu hình, triết học Ấn Độ lại có sự đan
xen, hòa đồng giữa những tư tưởng triết học với tôn giáo. Những phạm trù cơ
bản của quy luật mâu thuẫn như “mặt đối lập”, “sự thống nhất của những mặt
đối lập” đã được đề cập đến.
Các hệ thống triết học Ấn Độ đã thừa nhận thế giới vũ trụ vạn vật luôn luôn
vận động, phát triển và biến đổi không ngừng. Trong triết học Phật giáo, thế giới
tự nhiên và nhân sinh đều được nhìn nhận qua sự phân tích nhân quả. Nhân quả
là một chuỗi liên tục không gián đoạn và không hỗn loạn, một kết quả của một
nguyên nhân nào đó sẽ là nguyên nhân của một kết quả khác. Triết học Phật
giáo đã tìm thấy sự đối lập của các mặt trong sự đồng nhất của chúng, vạch ra
được những mâu thuẫn nội tại của chúng như bản thể tuyệt đối trong thế giới
hiện tượng, ý thức và vô thức, niết bàn và vô minh.
Các hệ thống triết học Ấn Độ đã thể hiện tư tưởng biện chứng khi thừa
nhận thế giới, vũ trụ là sự thống nhất mâu thuẫn, thống nhất của các mặt đối lập.
Họ cho rằng thế giới vũ trụ không phải là cái gì đó thuần nhất, đơn giản mà là
bao trùm trong đó hai mặt đối lập vừa bất biến vừa biến đổi, vừa đứng im vừa
vận động, vừa trong trạng thái thăng bằng, ổn định, vừa trong trạng thái không
cân bằng, không ổn định. Các trường phái này đều xem xét các yếu tố khởi
12


Khóa Luận Tốt Nghiệp

nguyên của thế giới là bất biến, tồn tại vĩnh viễn còn các sự vật hiện tượng cụ
thể thì biến đổi, chuyển hóa không ngừng. Hoặc coi thế giới là tồn tại vĩnh viễn
các hình thức, các dạng tồn tại của nó lại luôn luôn biến đổi, biến chuyển liên
tục, không ngừng. Thế giới sự vật và hiện tượng luôn luôn biến đổi theo chu
trình sinh - trụ - dị - diệt (hoặc thành - trụ - hoại - không) theo luật nhân quả.
Phật giáo khẳng định tồn tại là vô thường, luôn luôn biến đổi.
Trong các tác phẩm Veda, Upanisad cũng như hệ thống triết học Vedanta
đã đứng trên lập trường duy tâm - tôn giáo trong việc giải thích nguồn gốc của
sự vận động, biến đổi của thế giới vạn vật. Theo quan niệm của Upanisad thì
Brahman là tinh thần vũ trụ tối cao, là nguyên lý sáng tạo nên toàn vũ trụ, là
thực thể duy nhất, phổ biến nhất ẩn sau toàn bộ thế giới hữu hình. Brahman biểu
hiện trong con người là Atman, Atman đồng nhất với Brahman. Nghĩa là sự
thống nhất của muôn vật với tinh thần vũ trụ duy nhất Brahman, khẳng định sự
thống nhất và chuyển hóa giữa các mặt đối lập. Theo đó các hệ thống tư tưởng
này cho rằng, mọi sự vật, hiện tượng vận động, biến đổi tất cả đều bị chi phối,
điều khiển bởi tinh thần vũ trụ tối cao Brahman. Đạo Bàlamôn thì khẳng định,
sự vận động biến đổi của vạn vật chủ yếu do hai vị thần sáng tạo Brahman và
thần hủy diệt Visnu chi phối.
Triết học Ấn Độ cổ đại đã đặt ra và bước đầu giải quyết nhiều vấn đề của
triết học. Các trường phái triết học Ấn Độ cổ đại từ nhiều góc độ khác nhau đã
đề cập đến mâu thuẫn của sự vật, hiện tượng trong vũ trụ, đã phác thảo được
những nét ban đầu về mâu thuẫn. Tuy nhiên các nhà triết học Ấn Độ cổ đại đã
không chú trọng đến quá trình giải quyết mâu thuẫn để tạo ra động lực phát triển
cả về mặt lý luận cũng như vận dụng vào thực tiễn. Triết học Ấn Độ có tính
hướng nội nên nền triết học này vận động chậm chạp, không thể trở thành một
thứ triết học mới cao hơn.
Triết học Hy Lạp cổ đại ra đời từ xã hội chiếm hữu nô lệ với những mâu
thuẫn gay gắt giữa tầng lớp chủ nô dân chủ và chủ nô quý tộc. Triết học Hy Lạp
cổ đại là triết học của giai cấp chủ nô, cho nên nó mang tính đảng, tính giai cấp
sâu sắc. Điều này thể hiện ở cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa
13


Khóa Luận Tốt Nghiệp

duy tâm; giữa phương pháp biện chứng và phương pháp siêu hình. Những quan
niệm và tư tưởng biện chứng đã chiếm một vị trí đáng kể trong thế giới quan và
phương pháp luận triết học của người Hy Lạp. Triết học Hy Lạp cổ đại được
đánh giá là đã khai sinh ra hình thức biện chứng đầu tiên. Vì vậy, một trong
những nội dung nhận được sự quan tâm của các nhà triết học là căn nguyên của
vạn vật và tác nhân của sự biến đổi của từng sự vật và thế giới.
Một trong những đặc trưng quan trọng của triết học Hy Lạp cổ đại là những
mối liên hệ của nó với thần thoại và các hình thức sinh hoạt tôn giáo nguyên
thủy. Từ đó phép biện chứng mang tính nhân hình trong truyện thần thoại, mọi
hình thức và dạng cơ bản tư tưởng biện chứng được phác họa rõ nét trong lịch
sử phát triển của phép biện chứng cổ đại. “Theo nghĩa đen, phép biện chứng là
sự nghiên cứu mâu thuẫn trong ngay bản chất của các đối tượng” [34; 429].
Trường phái triết học Milê ra đời đã đánh dấu giai đoạn khởi đầu của triết
học Hy Lạp cổ đại. Các nhà triết học đã đứng trên quan điểm duy vật trực quan
cảm tính để giải thích căn nguyên thế giới. Mặc dù “phép biện chứng tự nhiên
ngây thơ” của Hy Lạp đã có nhiều điều viển vông nhưng nó đã chứa đựng mầm
mống của thế giới quan mới – đó cũng là đóng góp của người Hy Lạp cổ đại vào
trong lịch sử phát triển tư duy biện chứng [34; 101]. Đánh giá mặt tích cực và
hạn chế của quan điểm biện chứng chất phác thời cổ đại, Ph.Ănghen cho rằng
trong quan điểm đó người ta thấy được sự liên hệ, sự vận động và phát triển,
nhưng chưa làm rõ được cái gì đang liên hệ cũng như những quy luật nội tại của
sự vận động và sự phát triển.
Mâu thuẫn được coi là hạt nhân của phép biện chứng và ngay từ đầu đã
được Hêraclit bàn đến. Hêraclit là nhà biện chứng lỗi lạc nổi tiếng ở Hy Lạp cổ
đại - người được Lênin coi là nhà sáng lập ra phép biện chứng. Ông không
những nổi tiếng với học thuyết dòng chảy mà còn trở nên bất hủ trong quan
niệm độc đáo về sự hài hòa và đấu tranh của các mặt đối lập, về tính thống nhất
của vũ trụ. Ông cho rằng mọi sự vật đều là sự thống nhất của các mặt đối lập,
mọi cái đồng nhất luôn luôn tồn tại trong sự khác biệt đó, cái hài hòa của những
cái căng thẳng, đối lập: đối lập giữa thiện và ác, giữa trẻ và già, sống và chết…
14


Khóa Luận Tốt Nghiệp

Ông coi đó là sự “tương phản”, “tương hành” trong vũ trụ. Khi tồn tại trong một
sự vật thì các mặt đối lập luôn có sự ràng buộc với nhau. Hêraclit khẳng định
đấu tranh là nguồn gốc của mọi cái đang diễn ra trong vũ trụ và đó là một mặt
trong “sự sống” của mọi sự vật đang biến đổi. Ông cũng coi vận động và đứng
im là một sự thống nhất của của các mặt đối lập, giống như đấu tranh và hài hòa
chúng tồn tại thông qua nhau và là điều kiện tồn tại của nhau. Ông thừa nhận sự
thống nhất của vận động và đứng im có tính phổ biến.
Hêraclit là người đầu tiên sử dụng logos với tính cách là một khái niệm
triết học và khái niệm này về sau trở nên phổ biến trong toàn bộ nền triết học Hy
Lạp cổ đại.
“Logos” được hiểu không chỉ là từ ngữ, mà còn là quy luật khách quan của
vũ trụ, quy định trật tự và chuẩn mực của mọi cái. Logos cũng chính là lửa,
nhưng dưới góc độ xem xét của trí tuệ. Vì vậy giữa logos và lửa không thể tách
rời nhau, bởi thế giới chính là ngọn lửa cháy vĩnh viễn, mà logos là trật tự thống
trị thế giới, là quy luật của tồn tại, đảm bảo sự phát triển hài hòa của thế giới.
Theo cách hiểu của Hêraclit, logos tồn tại cả dưới dạng khách quan và chủ quan.
Trong đó logos khách quan là trật tự khách quan của mọi cái đang diễn ra trong
thế giới, biến cả thế giới thành một chỉnh thể thống nhất đầy sống động. Logos
chủ quan là từ ngữ, học thuyết, lời nói, được Hêraclit hiểu như là chuẩn mực của
mọi hoạt động tư tưởng, suy nghĩ của con người. Hêraclit đã tiếp cận được quan
niệm đúng đắn cho rằng về nguyên tắc thì logos chủ quan phải phù hợp với
logos khách quan, nhưng nó biểu hiện ở từng người có khác nhau.
Hêraclit thừa nhận sự tồn tại và thống nhất của các mặt đối lập nhưng trong
các mối quan hệ khác nhau. Bản thân logos là sự thống nhất của các mặt đối lập.
Vũ trụ là thể thống nhất, nhưng trong lòng nó luôn luôn diễn ra các cuộc đấu
tranh giữa các sự vật, lực lượng đối lập nhau. Nhờ các cuộc đấu tranh đó mà mới
có hiện tượng sự vật này chết đi, sự vật khác ra đời. Điều đó làm cho vũ trụ
thường xuyên phát triển và trẻ mãi không ngừng. Vì thế đấu tranh là vương quốc
của mọi cái, là quy luật phát trển của vũ trụ. Bản thân cuộc đấu tranh giữa các
mặt đối lập luôn diễn ra trong sự hài hòa nhất định, dựa trên sự quy định của
15


Khóa Luận Tốt Nghiệp

logos. Như vậy, Hêraclit đã thừa nhận tính phổ biến của vận động, đồng thời
ông đã tìm ra nguyên nhân của sự vận động ngay trong bản thân sự vật.
Đóng góp của Hêraclit là cách trình bày đầu tiên về quy luật thống nhất và
đấu tranh của các mặt đối lập. Hêraclit cho rằng, logos vũ trụ là cái tạo ra “dòng
chảy” liên tục của vạn vật thông qua sự đấu tranh hài hòa của các mặt đối lập,
logos vũ trụ chính là chân lý, là tri thức khách quan về vạn vật trong quá trình
thường xuyên, liên tục “trôi đi, chảy đi theo dòng chảy của chúng”. Tuy Hêraclit
đã cố thể hiện bản chất mâu thuẫn của các sự vật trong logos chủ quan, song đã
gặp trở ngại về vấn đề khả năng phản ánh bản chất mâu thuẫn của các sự vật, kể
cả bản chất mâu thuẫn vận động vào logos của khái niệm.
Đóng góp cho nền triết học Hy Lạp còn phải kể đến Đêmôcrit với khuynh
hướng nguyên tử luận. Trong các công trình của mình tư tưởng của ông phản
ánh về mâu thuẫn, về sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập, đó là sự
thống nhất giữa linh hồn và thể xác, giữa tập hợp và phân tán trong quá trình vận
động của nguyên tử. Ông diễn tả sự vận động của thế giới vật chất như là một
quá trình vĩnh viễn, vô tận từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, vận động
là thuộc tính của các nguyên tử, “các nguyên tử bản chất là bất động, đã vận
động được là nhờ va chạm”.
Chúng ta cũng cần thừa nhận sự đóng góp của của Dênôn và Platon cho
nền triết học Hy Lạp cổ đại, mặc dù đó là những đại biểu đối lập với những tư
tưởng biện chứng. Dênon yêu cầu tuân thủ quy luật logic. Platon đã nhận thức
được một số yếu tố quan trọng dẫn đến tư duy biện chứng chân chính – đó là
muốn nhận thức đúng về các mâu thuẫn hiện thực, đòi hỏi tuân thủ nghiêm ngặt,
nhất quán quy luật mâu thuẫn logic.
Như vậy, trong quan niệm về mâu thuẫn, triết học Hy Lạp cổ đại chỉ dừng
lại ở giới hạn nêu vấn đề. Nhiều nhà triết học đã nhận thức được sự tồn tại của
các mặt đối lập trong sự vật, hiện tượng. Thừa nhận có mâu thuẫn, có các mặt
đối lập nhưng chỉ là những phỏng đoán thiên tài, chưa được chứng minh một
cách khoa học, cũng như chưa được nghiên cứu một cách tự giác. Tuy nhiên
những quan niệm về mâu thuẫn của các nhà triết học Hy Lạp cổ đại là mầm
16


Khóa Luận Tốt Nghiệp

mống cho sự phát triển của các quan niệm sau này, đặc biệt là quan niệm của
triết học Mác.
Đỉnh cao của triết học phương Tây là triết học cổ điển Đức, đây được xem
là giai đoạn phát triển mới về chất trong lịch sử tư tưởng phương Tây, đồng thời
có ảnh hưởng to lớn đến triết học hiện đại. Trong triết học cổ điển Đức, phép
biện chứng đã trở thành một lý luận được xây dựng một cách có hệ thống. Từ
giữa thế kỷ XVIII trở đi, khoa học tự nhiên chuyển dần trọng tâm sang việc
nghiên cứu các quá trình trong sự liên hệ, trong sự vận động và phát triển của
chúng. Những thành quả do nó mang lại đã chứng minh rằng tự bản thân thế
giới tồn tại một cách biện chứng. Quan điểm siêu hình bị chính khoa học tự
nhiên làm mất đi cơ sở tồn tại của nó. Nhưng việc phủ định quan điểm siêu hình
lúc này lại dẫn tới việc xác lập vị trí ưu trội của phép biện chứng duy tâm khách
quan mà đỉnh cao là ở triết học của Hêghen.
Hêghen là đại biểu xuất sắc nhất của nền triết học cổ điển Đức. Theo
nhận xét của Ănghen: “Hêghen không chỉ là một thiên tài sáng tạo, mà còn là
nhà triết học có tri thức bách khoa, nên những phát biểu của ông tạo thành
thời đại” [33; 422]. Cống hiến lớn nhất của Hêghen là phép biện chứng, mặc dù
đó là phép biện chứng duy tâm. Hêghen được Ph.Ănghen đánh giá là người đầu
tiên trong lịch sử triết học trình bày toàn bộ thế giới tự nhiên, lịch sử, xã hội,
tinh thần của con người dưới dạng một quá trình, tức là trong sự vận động và
phát triển. Tuy nhiên, sự vận động và phát triển trong hệ thống triết học của ông
là sự vận động, phát triển trong một hệ thống khép kín.
Hêghen đã xây dựng lý luận mâu thuẫn và đưa ra cách thức giải quyết mâu
thuẫn. Trong “học thuyết về bản chất” của “khoa học logic”, Hêghen đã triển
khai mâu thuẫn: đồng nhất - khác nhau - đối lập - căn cứ và coi đó là quy luật
bên trong của bản chất. Theo Hêghen, lúc đầu bản chất là sự đồng nhất giữa
những sự quy định khác nhau, rồi sau, trong sự đồng nhất, phát hiện ra sự khác
biệt, khác biệt lại chuyển thành mặt đối lập, và cuối cùng là xuất hiện mâu
thuẫn. Mâu thuẫn bao hàm trong ngẫu nhiên, thể hiện ra ở chỗ cái ngẫu nhiên có
cơ sở lại vừa không có cơ sở, và do đó ngẫu nhiên biểu hiện tính chất hai mặt
17


Khóa Luận Tốt Nghiệp

của bản thân hiện thực trong sự thống nhất giữa hiện thực với khả năng và trong
sự đối lập của nó với khả năng.
Hêghen nhấn mạnh, bất kỳ sự đồng nhất nào cũng bao hàm sự khác biệt và
mâu thuẫn. Ông coi mâu thuẫn là nguồn gốc của vận động, là nguyên lý của phát
triển. Ông khẳng định: Mâu thuẫn là nguồn gốc của tất cả mọi sự vận động và
của tất cả mọi sự sống, chỉ trong chừng mực một vật chứa đựng trong bản thân
nó một mâu thuẫn thì nó mới vận động, mới có xung lực và hoạt động, tất cả
mọi vật đều có tính chất mâu thuẫn trong bản thân nó. Chính sự không ngừng
nảy sinh và giải quyết mâu thuẫn giữa những quan hệ xã hội là một trong những
động lực thúc đẩy xã hội phát triển. Đây là một khám phá vĩ đại của Hêghen về
vai trò nền tảng của mâu thuẫn trong sự phát triển của thế giới khách quan và
trong sự nhận thức nó của con người.
Vì là nhà triết học duy tâm nên Hêghen không tránh khỏi những hạn chế
nhất định trong lý luận về mâu thuẫn. Hêghen đã có tư tưởng biện chứng về mâu
thuẫn, dự đoán được mâu thuẫn là nguồn gốc của sự vận động, phát triển của sự
vật. Tuy nhiên, mâu thuẫn trong hệ thống triết học của ông không phải là mâu
thuẫn của hiện thực khách quan mà là của tinh thần thế giới, ý niệm tuyệt đối.
Hơn nữa, do bị chi phối bởi quan niệm dân tộc và lợi ích giai cấp mà ông đại
diện nên ông có quan điểm thỏa hiệp khi giải quyết mâu thuẫn. Vì thế dẫn đến
kết cục hệ thống triết học của ông mâu thuẫn với phép biện chứng của ông.
C.Mác và Ph.Ănghen đã phê phán một cách triệt để các hạn chế trong triết học
Hêghen, đồng thời hai ông đã tiếp nhận “hạt nhân hợp lý” của phép biện chứng
của Hêghen – học thuyết phát triển thông qua mâu thuẫn để xây dựng và phát
triển học thuyết về phép biện chứng duy vật của mình.
Cantơ là một trong những nhà triết học vĩ đại nhất của lịch sử tư tưởng
phương Tây trước Mác. Cantơ với học thuyết về mâu thuẫn cũng đã góp phần
quan trọng trong sự phát triển phép biện chứng với tư cách là logic và phương
pháp luận. Ông cho rằng lý tính con người có khát vọng xâm nhập vào lĩnh vực
“vật tự nó” để đạt tới tri thức tuyệt đối vượt ra ngoài giới hạn của kinh nghiệm
cảm tính. Điều đó nảy sinh những mâu thuẫn (antinômia). Cantơ nêu lên bốn
18


Khóa Luận Tốt Nghiệp

mâu thuẫn, mỗi mâu thuẫn được cấu tạo từ hai luận đề đối lập nhau. Cantơ có
đóng góp cho phép biện chứng là ông xem mâu thuẫn là thuộc về bản chất, cái
tính quy định của tư duy. Việc tìm ra các atinômia – mâu thuẫn của Cantơ được
xem là một thành tựu quan trọng của nhận thức triết học, bởi vì bằng điều đó
vận động biện chứng của tư duy được đề cao. Tuy vậy, Cantơ cũng đã bộc lộ
những hạn chế: ông mới chỉ thừa nhận mâu thuẫn trong tư tưởng, trong lý tính
con người, chưa nhìn thấy được mâu thuẫn có trong toàn bộ đời sống hiện thực
khách quan. Cantơ cũng mới dừng lại ở việc phân tích các mặt đối lập để kết
luận đúng sai, chứ chưa đề xuất các giải pháp để giải quyết mâu thuẫn, và vì thế
chưa thấy động lực của việc nảy sinh và giải quyết mâu thuẫn. Trên thực tế tất
cả các sự vật, hiện tượng đều chứa đựng mâu thuẫn nhưng ở Cantơ - ông đã hạn
chế số lượng các Antinômia - mâu thuẫn.
Triết học cổ điển Đức dù chỉ trải qua một giai đoạn lịch sử tương đối ngắn
nhưng nó đã tạo ra những thành quả kỳ diệu trong lịch sử triết học. Mác đã kế
thừa những tư tưởng biện chứng, nâng lên ở trình độ mới của chủ nghĩa duy vật
hiện đại.
1.1.3. Quan niệm về mâu thuẫn trong triết học Mác - Lênin
Triết học Mác - Lênin ra đời vào những năm 40 của thế kỷ XIX. Nó ra đời
do đòi hỏi thực tiễn chính trị - xã hội và là quá trình phát triển hợp quy luật của
triết học và của nhận thức khoa học. Triết học Mác là sự kế thừa tất cả những
tinh hoa trong lịch sử tư tưởng của nhân loại từ thời cổ đại đến thời đại các ông,
dựa trên những thành tựu mới nhất của khoa học hiện đại, khái khát thực tiễn
thời đại mình, C.Mác và Ph.Ănghen đã phát triển học thuyết mâu thuẫn biện
chứng lên một tầm cao mới.
Các nhà triết học trước Mác tuy đã đề xuất những tư tưởng biện chứng,
song nhìn chung còn mang tính chất siêu hình và duy tâm, đặc biệt là nhà triết
học duy tâm người Đức Hêghen. Hêghen có tư tưởng biện chứng về quy luật
lượng – chất. Tuy nhiên, sự thay đổi về lượng dẫn đến những thay đổi về chất và
ngược lại trong hệ thống triết học của ông chỉ là sự thay đổi thuần túy của các
khái niệm: chất, lượng, độ. Ông cũng có tư tưởng biện chứng về quy luật phủ
19


Khóa Luận Tốt Nghiệp

định của phủ định. Tuy nhiên phủ định trong triết học của ông là hiện thân của
tinh thần thế giới chứ không phải của hiện thực khách quan. Hêghen cũng có tư
tưởng biện chứng về các phạm trù: riêng – chung; bản chất – hiện tượng; nguyên
nhân – kết quả…. Tuy nhiên, những cặp phạm trù này cũng chỉ là kết quả tha
hóa của tinh thần thế giới.
Mác và Ănghen đã cải tạo một cách duy vật phép biện chứng duy tâm của
Hêghen sau khi tách “hạt nhân hợp lý” vốn có của nó, vứt bỏ lối giải thích duy
tâm về các hiện tượng tự nhiên và xã hội. Các ông cũng đã phê phán và kế thừa
sáng tạo tri thức nhân loại để tạo nên sự thống nhất giữa chủ nghĩa duy vật và
phép biện chứng. Khắc phục sự tách rời giữa thế giới quan duy vật và phương
pháp biện chứng trong lịch sử triết học, C.Mác và Ănghen đã tạo nên sự thống
nhất hữu cơ không thể tách rời giữa chúng là chủ nghĩa duy vật biện chứng.
Trong phép biện chứng duy vật, các quy luật cơ bản có quan hệ chặt chẽ
với nhau. Trong đó, quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập được
xem là hạt nhân của phép biện chứng. Triết học Mác đã quan niệm về mâu thuẫn
với tư cách là nguồn gốc động lực của vận động và phát triển trong giới tự
nhiên, xã hội và tư duy.
C.Mác và Ph.Ănghen trong khi xây dựng phép biện chứng duy vật khoa
học triết học về sự phát triển phổ biến và tính quy luật của việc cải tạo cách
mạng thế giới đã luôn dựa vào thước đo là thực tiễn, đã tiến hành trên lập
trường chính đảng vô sản, một cuộc đấu tranh không mệt mỏi và triệt để với hệ
tư tưởng tư sản và tiểu tư sản. Phép biện chứng đã gạt bỏ sự thỏa hiệp với hệ tư
tưởng của giai cấp thống trị. Thực ra chỉ đứng trên lập trường của giai cấp vô
sản, giai cấp mang sứ mệnh phá vỡ xã hội cũ bóc lột, xây dựng xã hội mới
cộng sản chủ nghĩa mới có khả năng xây dựng thế giới khoa học triết học duy
vật biện chứng.
Triết học Mác đã quan niệm về mâu thuẫn với tư cách là nguồn gốc động
lực của vận động và phát triển trong giới tự nhiên, xã hội và tư duy.

20


Khóa Luận Tốt Nghiệp

C.Mác và Ph.Ănghen trong khi xây dựng phép biện chứng duy vật khoa
học triết học về sự phát triển phổ biến và tính quy luật của việc cải tạo cách
mạng thế giới đã luôn dựa vào thước đo là thực tiễn, đã tiến hành trên lập trường
chính đảng vô sản, một cuộc đấu tranh không mệt mỏi và triệt để với hệ tư
tưởng tư sản và tiểu tư sản. Phép biện chứng đã gạt bỏ sự thỏa hiệp với hệ tư
tưởng của giai cấp thống trị. C.Mác đã phân tích trước hết cái đơn giản nhất,
quen thuộc nhất, thông thường nhất, cái thường gặp, mối quan hệ của xã hội tư
sản: sự trao đổi hàng hóa. Sự phân tích, phát hiện trong cái hiện tượng đơn giản
ấy mầm mống của tất cả những mâu thuẫn của xã hội hiện đại. C.Mác đã nghiên
cứu các hiện tượng kinh tế trong mối liên hệ lẫn nhau và trong trạng thái vận
động, tức là trong tình trạng mâu thuẫn luôn luôn phát sinh và được giải quyết.
Hàng hóa đã được xem xét như là tế bào kinh tế của xã hội tư sản, tức không
xem nó một cách biệt lập mà xem đó là điểm xuất phát của một chỉnh thể. Đồng
thời nghiên cứu mâu thuẫn của hàng hóa, mâu thuẫn giữa giá trị và giá trị sử
dụng, trong trao đổi giá trị chuyển từ mâu thuẫn bên trong thành mâu thuẫn bên
ngoài, thành mâu thuẫn giữa hình thái giá trị tương đối và hình thái ngang giá,
nhờ có tiền tệ mà mâu thuẫn này đã tìm được lối giải quyết.
Mác đã phát hiện ra những mâu thuẫn bên trong của hệ thống tư bản chủ
nghĩa và coi đó là bản tính tồn tại của nó, là nguồn gốc của sự vận động, phát
triển và tiêu vong của nó. Những mâu thuẫn của hệ thống tư bản chủ nghĩa trước
hết là những antinomia (mâu thuẫn trong quy luật, sự xung đột của quy luật với
bản thân nó) trong bản chất, tương ứng với những điều đó ông phát hiện ra
những antinomi gay gắt khách quan trong khái niệm chân chính về mỗi quá trình
thực hiện của nó. Mác đã đề cập đến khía cạnh giải quyết mâu thuẫn. Sự xung
đột định đề và phản đề (antinomi) chẳng qua chỉ là hình thức logic có nội dung
mang tính phạm trù của việc đặt bất cứ vấn đề nào nói chung, của việc đặt và
diễn giải vấn đề bằng ngôn ngữ của bản thân đối tượng. Ta thấy rằng thực chất
của mâu thuẫn biện chứng chỉ được vạch ra với điều kiện tất yếu là hiểu được
toàn bộ chức năng đặc thù của nó trong quá trình nhận thức, cụ thể là chức năng
của nó với tư cách là cái hình thức logic chứa đựng nội dung của chân lý.
21


Khóa Luận Tốt Nghiệp

Trong tác phẩm “Chống Đuyrinh”, Ănghen đã đề cập đến mâu thuẫn. Khi
xem xét các sự vật trong sự vận động sự biến đổi, sự sống sự tác động lẫn nhau
của chúng, lúc đó chúng ta sẽ lập tức rơi vào những mâu thuẫn, bản thân sự vận
động đã là một mâu thuẫn, đó là ở chỗ mâu thuẫn đó cứ luôn luôn sản sinh ra và
đồng thời cũng tự giải quyết lấy. Như vậy đã có một mâu thuẫn tồn tại một cách
khách quan ở trong bản thân các sự vật và các quá trình.
Mâu thuẫn là thuộc tính khách quan tồn tại trong tất cả các sự vật, hiện
tượng. Mâu thuẫn tự đề ra và tự giải quyết không ngừng và khi mâu thuẫn đã hết
thì sự sống cũng không còn nữa. Mâu thuẫn tồn tại và được giải quyết trong sự
vận động đi lên vô tận.
Như vậy, Mác và Ănghen đã có một bước tiến trong việc khám phá quy
luật mâu thuẫn, từ đó nguồn gốc và động lực của sự phát triển được lý giải một
cách đúng đắn.
Lênin đã nghiên cứu học thuyết macxit về mâu thuẫn, tiếp tục phát triển
những quan điểm của Mác - Ănghen về mâu thuẫn phù hợp với hoàn cảnh mới
của thời đại.
Mác đã chỉ ra rằng, mâu thuẫn cơ bản của xã hội tư sản là mâu thuẫn đối
kháng giữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sản. Mác và Ănghen đã khẳng định vai
trò đấu tranh của các mặt đối lập, xem cuộc đấu tranh giai cấp giữa giai cấp vô
sản và giai cấp tư sản là một động lực quan trọng để xóa bỏ chế độ tư bản chủ
nghĩa, hình thành nên chế độ cộng sản chủ nghĩa. Như vậy đấu tranh giai cấp mà
đỉnh cao là thời kỳ cách mạng được xem như là đòn bẩy để thay đổi hình thái
kinh tế xã hội. Do đó, đấu tranh giai cấp là động lực trực tiếp của lịch sử xã hội
có giai cấp.
Lênin đã phát triển và cụ thể hóa những tư tưởng của Mác. Lênin chỉ ra
rằng sự xuất hiện của chủ nghĩa đế quốc đã dẫn đến chỗ làm xuất hiện hàng loạt
hiện tượng lịch sử và điều kiện về nguyên tắc của xã hội chế độ tư bản có mâu
thuẫn cơ bản của nó là sự đối kháng giữa giai cấp tư sản và vô sản. Lênin khẳng
định, biện chứng của sự phát triển xã hội trong thời đại đế quốc chủ nghĩa đã
làm nổi lên hai hình thức cơ bản của các mâu thuẫn xã hội. Các mâu thuẫn đối
22


Khóa Luận Tốt Nghiệp

kháng đã tồn tại trong các hình thái có giai cấp trước chủ nghĩa xã hội. Chúng có
đặc điểm đó là tính thống nhất của các mặt đối lập về kinh tế, chính trị, tâm lý
xã hội và tư tưởng. Trong dạng mâu thuẫn này, một bên là bảo thủ, phản động,
và cố kìm hãm việc giải quyết nó, với một bên là tiến bộ cách mạng, đang làm
cho mâu thuẫn này phát triển cao, đó là mâu thuẫn giữa lao động và tư bản,
ngoài ra còn có mâu thuẫn giữa chủ nghĩa đế quốc và cuộc đấu tranh giải phóng
dân tộc bị áp bức. Phương thức giải quyết mâu thuẫn đối kháng này là đấu tranh
giai cấp mà hình thức cao nhất của nó là cách mạng xã hội.
Lênin cho rằng trong thời đại đế quốc sẽ xuất hiện một số dạng mâu thuẫn
mới. Một trong những dạng ấy là mâu thuẫn trong nội bộ bản thân giai cấp các
nhà tư bản, giữa các tổ chức độc quyền riêng rẻ, các liên minh của các tổ chức
độc quyền, các nhóm cường quốc - đế quốc. Dạng đối kháng này có đặc điểm là
hai mặt của nó về bản chất đều bảo thủ và phản động. Tuy nhiên chỉ bằng sức
mạnh của mình thì giai cấp tư sản không thể giải quyết mâu thuẫn, cũng như
việc giải quyết mâu thuẫn sẽ không tránh khỏi việc dẫn đến chỗ làm suy yếu hệ
thống thế giới của chủ nghĩa đế quốc, thu hẹp ngày càng nhiều lĩnh vực thống trị
kinh tế và chính trị của nó. Khi phân tích hình thức đối kháng của các mâu thuẫn
xã hội trong chủ nghĩa đế quốc, Lênin đã đi đến kết luận, nó có tính chất lịch sử
nhất thời và tất yếu sẽ biến mất cùng với sự diệt vong của chủ nghĩa tư bản và
của tất cả các hình thức người bóc lột người khác.
Tư tưởng của Lênin về tính chất của các mâu thuẫn đối kháng là cơ sở lý
luận quan trọng cho sự phân tích khoa học hiện đại biện chứng của sự phát triển
xã hội và của các mặt, các yếu tố của nó, là những mầm mống của tương lai, của
sự phát triển tiến bộ nhất.
Trong thời kỳ quá độ, thời kỳ chứa đựng đối lập giữa cái cũ và cái mới,
cuộc đấu tranh của các giai cấp khác nhau và dưới những hình thức khác nhau,
thì việc tiếp tục nghiên cứu lý luận về mâu thuẫn và về việc ứng dụng nó trên
thực tế là có ý nghĩa hàng đầu. Trong thời kỳ ấy, hình thành những tính quy luật
khác so với chế độ tư bản chủ nghĩa và những tính quy luật này đã quy định
phương hướng tư tưởng của Lênin.
23


Khóa Luận Tốt Nghiệp

Lênin khảo sát về quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập, lý
luận về những mâu thuẫn biện chứng liên quan đến thời kỳ quá độ. Khi nghiên
cứu vấn đề về những mâu thuẫn của thời kỳ quá độ, Lênin xem xét chúng trong
sự tác động qua lại và liên hệ qua lại, với tính cách là một hệ thống những mâu
thuẫn, và đã xác định những mâu thuẫn chủ yếu và thứ yếu, phổ biến và đặc thù,
bên trong và bên ngoài. Lênin đã đóng góp nhiều điều mới mẻ vào mặt này của
học thuyết Macxit về mâu thuẫn.
Lênin chỉ ra rằng, mâu thuẫn chủ yếu là mâu thuẫn có ý nghĩa hàng đầu đối
với một hiện tượng hay một quá trình ở một giai đoạn phát triển nhất định của
nó.
Lênin cũng đã đưa ra định nghĩa về mâu thuẫn cơ bản, đó là mâu thuẫn thể
hiện chính bản chất của một hiện tượng nào đó, của một quá trình nào đó và có
ảnh hưởng quyết định tới tất cả những mâu thuẫn khác.
Trong học thuyết mácxít về mâu thuẫn, Lênin cũng đã cụ thể hóa cả vấn đề
tác động qua lại giữa mâu thuẫn bên trong và mâu thuẫn bên ngoài. Lênin nhấn
mạnh sự cần thiết phải tính đến sự tác động qua lại của mâu thuẫn bên trong và
mâu thuẫn bên ngoài nhằm đánh giá đúng đắn vai trò của mâu thuẫn này hay
mâu thuẫn khác trong sự phát triển của các hiện tượng và quá trình.
Lênin đã phát hiện ra và luận chứng một cách toàn diện tính quy luật của
bước quá độ từ chủ nghĩa tư bản sang chủ nghĩa xã hội với tính cách là một sự
phát triển lịch sử từ những mâu thuẫn đối kháng sang mâu thuẫn không đối
kháng. Lênin đã phân tích tất cả các hình thức và các dạng mâu thuẫn trong thời
kỳ quá độ.
Quy luật mâu thuẫn vạch ra nguồn gốc, động lực của sự vận động, phát
triển của bản thân sự vật, hiện tượng; phản ánh quá trình đấu tranh giải quyết
mâu thuẫn bên trong sự vật.
Với tư cách là người kế tục và bảo vệ sự nghiệp của C.Mác và Ph.Ănghen,
V.I.Lênin đã phát triển học thuyết về mâu thuẫn lên một tầm cao mới. Lênin đã
đưa ra những quan điểm đầy đủ và sâu sắc, cùng với nó là những luận chứng sắc

24


Khóa Luận Tốt Nghiệp

bén nhằm làm rõ thêm quy luật mâu thuẫn với tư cách là hạt nhân của phép biện
chứng.
1.2. Nội dung của quy luật mâu thuẫn
Lịch sử phát triển của triết học là lịch sử phát triển của tư duy triết học gắn
với cuộc đấu tranh của hai phương pháp tư duy – biện chứng và siêu hình. Chính
cuộc đấu tranh lâu dài của hai phương pháp này đã thúc đẩy tư duy triết học phát
triển và được hoàn thiện dần với thắng lợi của tư duy biện chứng duy vật.
Phép biện chứng duy vật là sự thống nhất hữu cơ giữa lý luận và phương
pháp. Hệ thống các quy luật, phạm trù của nó không chỉ phản ánh đúng đắn thế
giới khách quan mà còn chỉ ra những cách thức để định hướng cho con người
nhận thức và cải tạo thế giới. Phép biện chứng duy vật không chỉ khái quát
những thành tựu của tất cả các khoa học cụ thể, mà còn kết tinh những tinh hoa
trong quá trình phát triển tư tưởng triết học của nhân loại. Phép biện chứng duy
vật trình bày một cách có hệ thống chặt chẽ tính chất biện chứng của thế giới
thông qua những phạm trù và những quy luật chung nhất của thế giới (tự nhiên,
xã hội và tư duy).
Ba quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật có ý nghĩa phương pháp
luận chỉ đạo mọi hoạt động của con người, trong đó, quy luật thống nhất và đấu
tranh của các mặt đối lập (gọi tắt là quy luật mâu thuẫn) là hạt nhân của phép
biện chứng. Nghiên cứu quy luật này để thấy rõ được nguồn gốc, động lực của
sự vận động và phát triển. Quy luật này vạch ra nguồn gốc, động lực của sự phát
triển; phản ánh quá trình đấu tranh giải quyết mâu thuẫn bên trong sự vật. Từ đó,
phải vận dụng nguyên tắc mâu thuẫn mà ý đồ cơ bản của nó là phải nhận thức
đúng đắn mâu thuẫn của sự vật, trước hết là mâu thuẫn cơ bản và mâu thuẫn chủ
yếu, phải phân tích mâu thuẫn và quá trình đấu tranh giải quyết mâu thuẫn. Đấu
tranh là phương thức giải quyết mâu thuẫn”. Tuy nhiên, hình thức đấu tranh rất
đa dạng, linh hoạt, tùy thuộc mâu thuẫn cụ thể và hoàn cảnh lịch sử cụ thể.
Theo quan điểm biện chứng thì sự vật nào cũng là một thể thống nhất của
các mặt đối lập, tức là, các mặt có xu hướng, khuynh hướng trái ngược nhau.
Chính sự tác động lẫn nhau giữa các mặt đối lập tạo nên mâu thuẫn sự vật.
25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×