Tải bản đầy đủ

GIẢI PHÁP KIẾN TRÚC NHÀ PHỐ TẠI TP.HCM THEO XU HƯỚNG KIẾN TRÚC BỀN VỮNG_TS. KTS. Lê Thị Hồng Na, KTS. Nguyễn Thành Trung

GIẢI PHÁP KIẾN TRÚC NHÀ PHỐ TẠI TP.HCM
THEO XU HƯỚNG KIẾN TRÚC BỀN VỮNG
SUSTAINABLE SOLUTIONS FOR STREET HOUSE IN HOCHIMINH CITY
TS. KTS. Lê Thị Hồng Na, KTS. Nguyễn Thành Trung
TÓM TẮT
Nội dung bài báo này tập trung vào việc giới thiệu một hệ
thống các giải pháp kiến trúc bền vững cho nhà phố tại thành
phố Hồ Chí Minh (Tp.HCM) dựa trên thực trạng, ưu nhược
điểm và các vấn đề hiện hữu của loại hình công trình kiến trúc
nhà phố, được đúc kết từ quá trình tìm hiểu các mô hình kiến
trúc bền vững trên thế giới và một số kinh nghiệm của kiến trúc
nhà ở dân gian Việt Nam. Từ đó, xây dựng giải pháp kiến trúc
bền vững áp dụng cho nhà phố tại Tp.HCM về quy hoạch, kiến
trúc, kỹ thuật và các vấn đề về bảo tồn. Đặc biệt, nghiên cứu
này cũng đã tìm hiểu tương quan về những giải pháp của kiến
trúc hiện đại trên thế giới theo xu hướng kiến trúc bền vững với
các yếu tố bền vững đã có từ lâu đời trong kinh nghiệm xây
dựng nhà ở dân gian Việt Nam, để có những giải pháp thích
hợp cho điều kiện tự nhiên, địa chất, thổ nhưỡng của Tp.HCM.
Từ khóa: nhà phố, kiến trúc bền vững, lớp vỏ bao che, tiết
kiệm năng lượng.

ABSTRACT
The content of this article focuses on the introduction of a
system of sustainable architectural solutions for street houses in
Ho Chi Minh City (HCMC). Based on reality, the advantages
and disadvantages of the existing problems of street house in
HCMC are outlined. Existing issues of street house in HCMC
are shown by making real surveys. Besides, sustainable
architecture models in the world and on Vietnamese traditional
housing are researched to drawn the suitable lessons.
Finally,sustainable solutions will be proposed to apply to street
housing design for both new and renovated cases.

của người Việt. Ở giai đoạn đầu, nhà bám theo hệ thống sông
rạch và chợ, dạng nhà sàn của nông thôn. Về sau do thương
mại phát triển, nhà được xây trên nền đất, một tầng, có sự kết
hợp giữa không gian ở và buôn bán. Dần dần nhà liên kế hình
thành, mở rộng, phát triển cả trong lẫn ngoài. Sự thay đổi về
kiến trúc nhà phố tại Tp.HCM đã gắn liền với từng giai đoạn
thăng trầm của lịch sử.
Gần đây, ngành xây dựng phát triển nhanh, nhưng thành
phố chưa có đủ những quy định và luật lệ nghiêm minh, việc
xây dựng không theo quy hoạch chung, manh mún gây những
tổn thất về vật chất, làm cho môi trường đô thị và các yếu tố
khác về xã hội bị trở nên phức tạp. Đây là hiện tượng đi ngược
với tinh thần của Thế giới hướng đến một Kiến Trúc Bền Vững
(KTBV) cho thế kỷ 21. Yếu tố “Kiến Trúc Bền Vững” là một
trong những yếu tố tạo nên sự phát triển bền vững cho các cơ
sở vật chất của thành phố và cho tiện nghi sống của mỗi con
người, để kiến trúc thành phố hướng theo định hướng chung
của thế giới trong thế kỷ 21 là “Bảo vệ môi trường – Tiết kiệm
năng lượng – Tiện nghi cho con người” [2].
2. Đánh giá chung về hiện trạng và ưu nhược điểm của nhà
phố tại TP.HCM

Keywords: street house, sustainable architecture, building
envelop, saving energy.
TS. KTS. Lê Thị Hồng Na
Giảng viên, Khoa Kỹ Thuật Xây Dựng , Trường Đại Học Bách
Khoa – Đại Học Quốc Gia Tp.HCM.
Email: na.bmkt@hcmut.edu.vn

Điện thoại: 0903 185 923
KTS. Nguyễn Thành Trung
Học viên cao học, Trường Đại Học Kiến trúc Tp.HCM
Email: ktsnguyenthanhtrung@gmail.com
Điện thoại: 0908 028 589
1. Giới thiệu
Trải qua nhiều thăng trầm của lịch sử, gắn với nhiều cuộc
đấu tranh chống các thế lực ngoại xâm, các công trình kiến trúc
tiêu biểu của Tp.HCM và kiến trúc nhà ở chịu tác động lớn từ
các nền kiến trúc ngoại nhập như kiến trúc Pháp, kiến trúc
người Hoa. Nhưng điều quan trọng nhất là người Việt vẫn tạo
dựng và gìn giữ những nét truyền thống riêng của kiến trúc dân
tộc mình [8].
Nhà phố là một loại hình nhà ở gắn liền với những người có
thu nhập trung bình của xã hội, kinh doanh nhỏ lẻ, mà hiện nay
tầng lớp này chiếm tỷ lệ rất lớn trong các đô thị. Nhà phố được
xây dựng do nhu cầu thương mại, buôn bán hoặc sản xuất nhỏ

Hình 1 Thực trạng và ưu nhược điểm nhà phố Tp.HCM
(Nguồn: tác giả)
Vấn đề lớn nhất là kiến trúc nhà phố tại Tp.HCM là tình
trạng xây dựng thiếu quy chuẩn, dẫn đến thiếu sự đồng nhất.
Nhưng đi sâu để tìm hiểu về môi trường, còn có nhiều vấn đề
cơ bản khác như việc xả thải ra cống rãnh, ý thức gìn giữ môi
trường sống. Thành phố đang bị coi là chìm dần do việc xả
nước dưới lòng đất, mặt khác, được báo động tương lai bị ảnh
hưởng của nước biển dâng do biến đổi khí hậu và triều cường.
Bên cạnh đó mực nước ngầm ở nhiều trung tâm đã xuống quá
sâu, bị nhiễm bẩn nặng. Giao thông và các ngành công nghiệp
thải ra khí độc hại, gây tiếng ồn làm ảnh hưởng sức khỏe người
Trang 1


dân thành thị. Đa dạng sinh học giảm thiểu, công viên, cây
xanh thiếu lại đơn điệu, không thể đảm đương chức năng làm
lá phổi xanh cho thành phố. Tính bình quân đầu người mới đạt
1,3m2, người dân khó tìm được nơi nghỉ ngơi, thư giãn phục
hồi sức lao động [3]. Hiểu rõ vấn đề cần giải quyết trước mắt là
môi trường, đó cũng là mục tiêu mà thiết kế nhà phố bền vững
cần khắc phục và đưa ra nhiều giải pháp thích hợp.
Trong không gian nhà phố, gia chủ có quyền sử dụng trọn
vẹn trong phạm vi lô đất theo chiều ngang và chiều cao, không
bị rắc rối khi có nhu cầu sửa nhà. Đảm bảo tính riêng tư, không
chung đụng lối vào, cầu thang, hành lang, kỹ thuật, giảm chi
phí dịch vụ và kỹ thuật. Có thể vận dụng nhiều loại công nghệ
xây dựng dù thô sơ, truyền thống hay hiện đại để đạt được
không gian sống trong kiến trúc nhà phố, không cần nhà đầu tư
có vốn lớn vì gia chủ có thể tự xây, huy động tối đa tiềm năng
của các thành phần cùng tham gia và xây dựng nhà [6].

3. Giải pháp kiến trúc bền vững áp dụng cho nhà phố tại
Tp. HCM
3.1 Giải pháp quy hoạch tổng thể bền vững về môi trường
và bảo tồn kiến trúc cổ.
Trong thiết kế quy hoạch tổng thể khu dân cư với loại hình
nhà phố chiếm đa số, các cấu trúc xây dựng trên các khu đất
cần phải lưu ý những điểm sau như việc đề xuất thiết kế phải
tôn trọng và tăng cường sự liên kết trong tự nhiên. Các bước
thiết kế phải dựa trên sự hiểu biết, đáp ứng và bảo đảm được sự
sinh tồn, phát triển của hệ sinh thái (HST) khu đất trước khi
chúng ta có thể áp đặt bất cứ cấu trúc nhân tạo nào lên nó.
Đồng thời ngay từ việc thiết kế đã phải giải quyết các tác động
vật lý lên khu đất nhằm tránh đe dọa tính đa dạng các hệ thực
vật và động vật, ô nhiễm nguồn nước, đất và chất lượng không
khí, tiếng ồn [7]. Như vậy, bước đánh giá tổng quan chung về
HST và môi trường khu đất là bước đầu hết sức quan trọng để
tạo tính kết nối sinh học dài lâu cho những thiết kế nhà phố
đơn lẻ bền vững về sau.
Song song với bảo tồn HST, tại Tp.HCM có nhiều công
trình nhà ở cần bảo tồn và cần sự quan tâm của toàn xã hội vì
những lợi ích kinh tế, du lịch, văn hóa là rất lớn, đáng kể như
một số biệt thự Pháp ở quận 3 còn sót lại, hay khu phố cổ
người Hoa quận 5 (hình 3). Thực tế cho thấy nhu cầu rất lớn về
bảo tồn phố cổ Chợ Lớn không thể chậm trễ do hiện trạng hạ
tầng đang bị xuống cấp nghiêm trọng, song song với các chính
sách hiện đại hóa về hạ tầng kiến trúc đô thị khác. Chính từ
việc tìm ra chiều sâu văn hóa, dùng văn hóa để kết nối tinh
thần, chắc chắn sẽ thúc đẩy các giá trị vật chất, kinh tế nhiều
hơn nữa, mà việc văn hóa có duy trì được chiều sâu vốn có của
nó hay không, là nhờ bệ đỡ kiến trúc.

Hình 2 Sơ đồ tổng quan các vấn đề bền vững trong nhà ở
(Nguồn: tác giả)
Tuy nhiên, nhà phố trong đô thị Tp.HCM vẫn còn nhiều
khuyết điểm. Hiện nay những điểm hạn chế này ngày càng rõ
ràng hơn như sự khác biệt về kích thước trong phân lô nhà phố,
tạo cảnh quan lộn xộn, thiếu thống nhất trong quy hoạch. Chức
năng sinh lợi của nhà phố gặp phải tính tư hữu trong tâm lý
người Việt dẫn đến tình trạng lấn chiếm vỉa hè làm nơi buôn
bán, ô nhiễm đường phố, tắc nghẽn cống rãnh, lại nảy sinh vấn
đề ngập nước khi mưa lớn. Có hai dạng lấn chiếm phổ biến
nhất hiện nay là lấn chiếm đất theo chiều ngang, đất cây xanh,
kênh rạch được dùng làm đất ở, không đúng theo ranh giới cấp
phép; và lấn chiếm theo chiều cao là lấy khoảng không bầu trời
như xây dựng quá chiều cao cho phép, làm tỷ lệ hình khối trở
nên thon dẹp. Hai kiểu lấn chiếm này kết hợp với nhau tạo nên
sự lồi thụt cả về diện phẳng lẫn chiều cao, làm mất mỹ quan đô
thị (hình 1). Thêm vào đó là mật độ xây dựng quá cao, từ 80100%, lại phát triển tràn lan nên khó kiểm soát [5] [10]. Hạ
tầng đô thị điển hình như các đường dây đường ống lại "oằn
mình" một cách vất vả, và rất tốn kém để phục vụ từng nhà, do
việc tu sửa nhiều lần, lại dẫn đến lãng phí, mà điều kiện vẫn
chưa được cải thiện nhiều. Tất cả những điều đó đã tạo ra một
"đặc trưng" không mấy tự hào về nhà phố Việt, điều này chỉ
khắc phục được khi mỗi ngôi nhà đều giảm thiểu tác động lên
môi trường ở xung quanh. Đó cũng là mục tiêu của kiến trúc
bền vững và phát triển bền vững (hình 2).

Hình 3 Đánh giá và định hướng bảo tồn phố người Hoa
(Nguồn: tác giả)
3.2 Giải pháp bố cục khu ở và lựa chọn hình khối
Trong khu ở, tổ chức không gian cho nhà phố cần lưu ý mặt
bằng tổng thể gồm các không gian khu phố nhỏ bố cục phối
hợp hài hòa hệ thống không gian của thành phố, tạo một vẻ đẹp
đồng nhất cho khu phố, đường phố, thành phố. Quá trình thiết
kế lưu ý chiều cao và diện phía trước không quá chênh lệch về
kích thước, tuy nhiên cũng không nên hoàn toàn giống hệt
nhau, cần phải có sự phối hợp khối, chuyển đổi linh hoạt hơn là
việc "sao y bản gốc".

Hình 4 Ví dụ về giải pháp tạo nhịp điệu trong khu ở
Trang 2


(Nguồn: tác giả)
Có ba cách bố cục cơ bản như bố cục dạng đơn nguyên,
từng cụm nhà theo một hình thức giống nhau, bố cục theo dạng
ô phố nên kết hợp không gian phục vụ công cộng hay chung
cư, hoặc biệt thự ở giữa ô phố, và bố cục theo dạng tuyến dải
nên xen kẽ hệ thống cây xanh hay các công trình khác. Về mặt
bằng cần bố trí các không gian cho nhà phố hợp lý, hài hòa
giữa các không gian sinh lợi, buôn bán hoặc cho thuê, với
không gian sinh hoạt gia đình, không gian giao tiếp hướng nội
và hướng ngoại… Tổ chức mặt đứng hài hòa, đồng loạt theo
các dạng bố cục nêu trên. Quy định phong cách chung cho mặt
đứng các khu phố, thậm chí màu sắc, trang trí, vật liệu hoàn
thiện.
Lựa chọn hình khối bắt nguồn từ ý tưởng ban đầu của
người thiết kế, mà chúng ta đã biết, kết quả của việc thiết kế bị
động phụ thuộc 90% vào giai đoạn ý tưởng thiết kế hình khối
ban đầu, vì vậy đây là một giai đoạn hết sức quan trọng [9].
Nếu có một giải pháp phù hợp sẽ đạt được các yếu tố giúp các
vị trí có hướng khu đất thuận lợi tăng cường khả năng lấy sáng,
tạo áp lực và điều khiển đối lưu gió xuyên qua các không gian
trong nhà (hình 5). Tạo thẩm mỹ đẹp với mặt tiền có nhiều
mảng rỗng, hình thức kiến trúc cởi mở, thân thiện. Đối với
hướng khu đất không thuận lợi nếu giải quyết khéo léo về hình
khối sẽ tạo nên khả năng chống nắng, tăng cường thông gió
giải nhiệt cho công trình. Đặc biệt là không gian xanh nên
nhiều hơn các hướng khác, tạo nên kiểu hình thức chống nóng
bằng giải pháp tự nhiên nhất - sử dụng cây xanh, phối hợp các
mảng xanh, mặt nước sẽ giúp xử lý vi khí hậu trong nhà, tạo
nên mặt tiền gần gũi với thiên nhiên (hình 4). Cần kết hợp các
khối cao thấp khác nhau để tạo sự che chắn hiệu quả.

không gian bên trong nhà hợp lý còn phải được kết hợp mật
thiết với các giải pháp tổ chức phòng ngừa cho tình trạng ấm
dần lên của Trái Đất, phòng ngừa tác động tiêu cực của biến
đổi khí hậu mà Tp.HCM là địa phương phải chịu tác động lớn.
Vì lý do đó, giải pháp tổ chức không gian cho tầng trệt, cần
thích nghi với sự biến đổi trên và giảm các tác động tiêu cực do
nó gây ra như nước biển dâng. Vì vậy, không gian trong nhà,
đặc biệt là tầng trệt cần chuẩn bị cho các tình huống này. Đối
với các khu dân cư thuộc vùng địa hình thấp, giải pháp đưa ra
là các không gian tầng trệt được tổ chức bỏ trống với nhiều ưu
điểm như bài học về Kiến trúc Hiện đại của Le Corbusier với 5
nguyên tắc thiết kế nhà ở trong đó có tầng trệt để trống với ý
nghĩa làm cho mặt đất thông thoáng để gia tăng cây xanh tạo
điều kiện thuận tiện tiếp xúc và gần gũi với thiên thiên. Điều
này có nhiều lợi ích như tăng mật độ cây xanh cho đô thị, và
liên kết sinh thái giữa các lô đất và kết nối đô thị dễ dàng, tăng
sự thẩm thấu của nước vào trong lòng đất, tạo điều kiện hút gió
tự nhiên đi vào các nhà, sẽ giảm được tình trạng nhà này che
lấp vùng gió của nhà khác, giảm tác động cơ học, xây dựng lên
bề mặt khu đất – đây là thực trạng phổ biến trong hầu hết mọi
ngôi nhà phố trên địa bàn Tp. HCM, làm mất đi diện tích đất tự
nhiên, và cũng chính là nguyên nhân làm giảm khả năng tái
sinh của thực vật.
Cần phối hợp giải pháp tầng trệt đã đề cập ở trên với việc
bố trí các không gian chính trong nhà như phòng khách, phòng
ngủ, sinh hoạt chung. Đây là các không gian cần có tiện nghi
tốt nhất cho con người về mọi mặt. Vì vậy, đề xuất giải pháp
các phòng ngủ nên đặt ở các tầng giữa, hướng cửa sổ cần thông
thoáng tối đa, và tầm nhìn đẹp ra sân vườn. Đối với các hướng
bất lợi như hướng Tây (bảng 1), cần có các không gian chuyển
tiếp, một bài học quý báu từ kiến trúc truyền thống, bằng cách
trồng cây xanh, tạo mảng sân vườn, hình thành nên điều kiện vi
khí hậu và khả năng cách nhiệt, lọc bụi tối đa trên hướng xấu.
Trong thiết kế, giải pháp tổ chức không gian phụ cũng quan
trọng không kém không gian chính, phân tách khái niệm hai
loại không gian chính phụ chỉ mang tính tương đối, nhưng
chúng lại hỗ trợ tốt cho nhau về tiện nghi sống của con người,
về khả năng che chắn bức xạ, mưa nắng, tầm nhìn cho nhau.
Điển hình như phòng bếp cần tránh hướng Đông, Tây do bị ánh
nắng chiếu xiên gây chói mắt. Phòng ăn nên được kết hợp
không gian với khu bếp, nhưng nên quay về phía nhiều ánh
sáng hoặc có thể tiếp cận với giếng trời và sân trong để lấy ánh
sáng trong điều kiện chật hẹp. Phòng giặt ưu tiên cho nắng
nhiều, bố trí khi vực chắn hướng tây cho các không gian khác,
và đảm bảo thông gió để làm khô, vị trí phòng giặt nên được
kết hợp sân phơi trên sân thượng. Không gian phụ quan trọng
khác như phòng vệ sinh phải đặt ở những vị trí bất lợi và có
ánh nắng hoặc ánh sáng gián tiếp chiếu vào, trong trường hợp
mặt tiền tiếp xúc bên ngoài ít, nên kết hợp với giếng trời để
được thông thoáng và lấy sáng, cần được sử dụng hữu hiệu như
một "lá chắn" nắng với các hướng bất lợi. Sân vườn sẽ đóng
vai trò không gian đệm, nên có thể thích nghi với mọi hướng.

Hình 5 Giải pháp hình khối trong nhà giúp lấy sáng tốt
(Nguồn: tác giả)
3.3 Giải pháp mặt bằng và bố trí các không gian
Áp dụng hợp lý các giải pháp bố trí không gian bên trong
nhà là điều kiện tiên quyết đầu tiên để đạt được tiện nghi sống
cho cong người. Nhưng trong thời điểm hiện nay, việc bố trí

KHÔNG GIAN

BẮC

NAM

ĐÔNG

Đ–N

Đ–B

TÂY

T–N

T–B

PHÒNG NGỦ

2

1

1

1

2

3

3

3

PHÒNG KHÁCH

2

1

2

1

2

2

2

2

P. LÀM VIỆC

2

1

2

1

2

3

2

3

PHÒNG ĂN

2

1

1

1

2

3

3

2

PHÒNG BẾP

1

1

2

1

1

2

2

2

S.H CHUNG

2

1

2

1

2

3

2

3

PHÒNG THỜ

2

2

2

2

2

1

1

1

SÂN VƯỜN

2

2

1

2

2

1

1

1

VỆ SINH

2

3

1

3

2

1

1

1

PHÒNG GIẶT

2

3

2

3

2

1

1

1

GARAGE

2

3

1

2

2

1

1

1

Ghi chú: Thứ tự ưu tiên bố trí mặt bằng: 1 -> 2 -> 3

Trang 3


Bảng 1 Tổng hợp thứ tự ưu tiên về hướng cho các không gian
trong nhà phố tại Tp.HCM. (Nguồn: tác giả)
Tuy nhà được thiết kế với kích thước tiêu chuẩn vừa đủ cho
nhu cầu hiện tại, nhưng phải linh hoạt về không gian mở để có
thể sẵn sàng biến đổi, thích ứng cho phù hợp với những thay
đổi nhu cầu của cuộc sống, mà ta cũng biết rằng, con người
càng hiện đại lại càng nhiều biến động và muốn đổi thay. Do
đó, giải pháp thiết kế không gian cố định và định hình sẵn sẽ
không còn phù hợp với thời đại. Hơn thế nữa, xu hướng ngày
nay ưa thích các không gian không cố định để có thể tùy thuộc
vào những thiết bị, công nghệ và nhu cầu sử dụng, mà định
hình một thiết kế nội thất phù hợp, dễ thay đổi.
3.4 Giải pháp vỏ bao che
Đầu tiên ta xét đến các khu đất có hướng thuận lợi như
hướng Nam, Đông Nam, các hướng này đón lượng gió dồi dào
hơn các hướng khác nên các giải pháp hạn chế bức xạ mặt trời
(BXMT) cần sử dụng vừa đủ, tránh lãng phí. Các biện pháp
chống nóng nên sử dụng là hình khối có khoảng vượt vừa phải,
che chắn cho các không gian phía dưới, đồng thời tạo được
điểm nhấn cho công trình. Cũng có thế sử dụng giải pháp lam
che phía trên với số lượng ít, hoặc ô văng vươn ra vừa đủ để
che hướng nắng xiên 10o vào cửa sổ. Cần thiết nhất ở hướng
thuận lợi này là sử dụng mảng rỗng, mở các khe gió, dẫn gió
vào công trình.
Bài toán cho hướng bất lợi nhất là hướng Tây nếu được giải
tốt để chống BXMT thì các hướng giảm nhẹ khác như Tây Tây Bắc, Tây- Tây Nam, Đông nên áp dụng tương tự nhưng
tiết giảm hơn. Đối với nhà hướng Tây cần giải quyết mặt đứng
trước hết ở hình khối, diện tích mảng đặc phải vượt trội hơn,
hình khối phải vươn xa hơn để che chắn cho không gian phía
dưới. Đặc biệt hướng này nên bố trí không gian xanh, vì như
quá trình phân tích đánh giá thì giải pháp cây xanh có rất nhiều
ưu điểm vượt trội. Cần vận dụng các bài học từ kiến trúc dân
gian như khoảng hiên rộng, áp dụng cho hình khối vươn xa, sẽ
tạo khoảng hiên tăng khả năng cách nhiệt và đối lưu gió giải
nhiệt. Nếu các giải pháp hình khối, tạo hình, phân chia mảng
cho đến bố trí không gian phụ ra trước đều không hiệu quả thì
mới sử dụng đến các biện pháp che chắn khác.
Đối với thiết kế tường, các giải pháp cần thiết là sử dụng
cấu trúc vật liệu 2 lớp để cách nhiệt và giữ nhiệt như trong hình
7, đòi hỏi kết hợp giữa các bộ phận tường, cửa, kết cấu che
nắng để tạo không gian đệm lọc không khí giữa trong và ngoài
nhà. Tường hoa hay tường lỗ cho phép lọc không khí và ánh
sáng vào không gian nội thất, vừa đảm bảo thông gió, hình
thành không gian riêng tư và tạo tâm sinh lý thoải mái theo chu
kỳ ngày đêm và theo mùa. Loại tường này có ưu điểm rất dễ
tạo hình trên mặt đứng và vật liệu đa dạng như gỗ, gạch, và dễ
thi công. Thiết kế tường bằng kết cấu có nhiệt trở cao, cấu tạo
thành nhiều lớp, có hệ số dẫn nhiệt và hệ số hấp thu nhiệt nhỏ.
Tường nhà nên được thiết kế nghiêng nhiều hơn về thiết kế
cấu tạo, bề mặt, và lựa chọn vật liệu. Tuy nhiên, các giải pháp
trên đều có thể làm cho mặt đứng, mặt bên, hay bất cứ diện nào
cần cách nhiệt. Đối với các diện cần lấy sáng, nên sử dụng
tường trong suốt, tường thủy tinh, khá phổ biến hiện nay, và là
vật liệu tái chế được, có thể cho ánh sáng vào không gian tối đa
mà vẫn bảo đảm tính riêng tư. Có thể nói, có rất nhiều loại
tường khác nhau, từ nhiều lớp, trong suốt, tường lấy gió không
lấy sáng hay tường nhẹ… Nhưng việc sử dụng loại nào cho
trong bền vững nhà phố thì cần nhất ở bước đánh giá tác động
tự nhiên, nắng, gió, mưa, và nhu cầu của không gian cần bao
che. Phối hợp các giải pháp, các loại tường trên, ta sẽ có được
hướng thiết kế bền vững (hình 6).

Hình 6 Giải pháp tường hai lớp (Nguồn: internet)
Đối với thiết kế mái, giải pháp hình dáng cho mái hợp lý sẽ
tránh được cường độ BXMT mạnh, lớp phủ sẽ phản xạ nhiệt
tốt, nên sử dụng mái 2 lớp (hình 7 và hình 8) có không khí
đệm lưu thông ở giữa giúp thông gió và tạo bộ đệm nhiệt, có
cấu tạo gồm kết cấu chịu lực phía trong, lớp khộng khí chỉ cần
có chiều dày khoảng 30-70 cm nhưng phải được lưu thông tốt
và lớp ngoài mỏng. Có thể dùng mái phụ tạo bóng râm tầng,
tạo mái xanh bằng lớp thực vật mỏng như cỏ, hoặc kết hợp
vườn nhà trên mái có tác dụng chống nóng, tạo cảnh quan môi
trường và tạo không gian nghỉ ngơi về đêm, và giảm lượng
nước thoát cần xử lý cho đô thị. Thêm vào đó, cần phải thoát
khí nóng cho tầng mái bằng cửa chân mái hoặc nóc mái, cửa
đầu hồi, chụp nóc mái kết hợp cửa trần, bẫy nhiệt tận dụng
nhiệt áp và áp lực khí động.
Một cách làm vừa lưu trữ nước, vừa giải nhiệt cho mái, đó
là bố trí bể chứa nước trên mái kết hợp phun lớp nước thường
xuyên, lợi dụng bay hơi của nước trên bề mặt mái. Đây là cách
hiệu quả, thoát nhiệt nhanh chóng, được người Nhật áp dụng.
Mái trải sỏi tăng tiết diện bề mặt và có lớp không khí nên giảm
được nhiệt truyền xuống vì thường dung sỏi lớn, d= 3-4 cm.
Các bố trí pin năng lượng mặt trời vừa che chắn nắng cho nhà
vừa khai thác năng lượng mặt trời chuyển đổi thành điện trong
nhà là giải pháp của kiến trúc bền vững.

Hình 7 Giải pháp lấy sáng và bao che cho mái. (Nguồn: tác giả)
Đảm bảo thông gió cho mái bằng cách tạo đường dẫn thoát
khí bên trong nhà, nâng một phần mái lên cao, tạo ra hiệu quả
thông gió và rút không khí nóng ra ngoài. Mái thường được kết
hợp với giếng trời để tạo hiệu ứng ống khói thoát khí trong
nhà. Thiết kế mái phải tạo hình khí động cho mái nhà, nhằm
thông gió tự nhiên cho các không gian ở phía đón gió, vừa
hướng luồng gió vào không gian phía sau [13].

Hình 8 Giải pháp tổ chức hình khối giúp thông gió tốt.
(Nguồn: tác giả)
Điều cần lưu ý khi thiết kế cửa là giải pháp hạn chế BXMT
tác động đến bề mặt cửa như thay đổi phương hướng tường có
cửa mở quay về các hướng thuận lợi hơn, tránh BXMT trực
tiếp chiếu lên bề mặt cửa. Cấu tạo 2 lớp cửa, lớp ngoài được xử
lý hệ thống của che chắn cố định hoặc di động cho các bề mặt
kính bên trong đảm bảo không bị BXMT trực tiếp. Sử dụng
Trang 4


kính 2 lớp có lớp không khí lưu thông ở giữa, kính có cấu tạo
phản quang để hạn chế nhiệt xâm nhập vào không gian bên
trong.
Thông gió rất quan trọng trong điều kiện khí hậu nóng ẩm
nên việc bố trí cửa, diện tích cửa phải giúp thông thoáng tối đa,
bằng giải pháp như cửa sổ có dạng hình chữ nhật nằm ngang sẽ
thông gió tốt hơn chữ nhật đứng, cửa càng rộng thì trạng thái
thông gió trong nhà càng tốt [12]. Vị trí, số lượng mở cửa trên
các mặt đứng cần tăng tối đa trên cả bề mặt đón gió và thoát
gió kết hợp với giải pháp hạn chế BXMT theo các hướng khác
nhau (hình 9). Kết quả thí nghiệm cho thấy, để đảm bảo
khoảng 70% diện tích trên mặt sàn có luồng gió thổi qua thì
chiều rộng cửa không nên nhỏ hơn 1/2 chiều rộng phòng, tỷ lệ
giữa chiều cao cửa và chiều cao phòng khoảng 0,4 là hợp lý và
diện tích mở cửa phải lớn hơn hoặc bằng 20% diện tích bề mặt
đón gió và thoát gió nếu bề mặt vuông góc hướng gió tới,
trường hợp bề mặt song song với hướng gió thì lượng mở cửa
tối thiểu trên mặt đứng phải đạt 40% tổng diện tích mặt đứng
[10].
Cửa nên đặt thấp và chạy dài gần hết chiều rộng phòng, bậu
cửa chỉ ở mức tối thiểu để bảo vệ (80cm), thậm chí có thể sát
xuống nền nhà hoặc dùng các hình thức bảo vệ thoáng, hoặc
thiết kế ban công sẽ cho phép biến cửa sổ thành cửa đi vừa mở
rộng diện tích, vừa tăng cường lượng thông gió bên trong. Cấu
tạo từng loại cửa trên mặt tiền cho phép diện tích gió vào, tốc
độ gió và hướng luồng gió khác nhau. Đặc biệt, loại cửa lá sách
di động vừa cho khả năng điều chỉnh luồng gió tùy ý từng lúc.
Diện tích cửa đón gió vào nên nhỏ hơn hoặc bằng diện tích
thoát gió nhằm giữ ổn định hoặc tăng tốc độ gió.

Hình 9 Đánh giá các phương án bao che cửa theo hướng tác
động của BXMT. (Nguồn: tác giả)
Các thành phần khác như hàng rào cũng rất quan trọng.
Thực tế tại Tp.HCM hiện nay, các nhà phố đảm bảo tính riêng
tư quá mức cần thiết và để lại hậu quả lâu dài hơn so với các
lợi ích hiện tại có được. Nên thiết kế hàng rào có thể dẫn gió
vào nhà. Hàng rào rỗng và thấp hoặc dạng lam sẽ có đối lưu
gió tốt hơn. Hàng rào cây xanh là giải pháp cần thiết nhất cho
nhà phố bền vững, vừa tạo được lượng cây xanh, lọc không khí
ô nhiễm, tính riêng tư đủ mức cần thiết và dễ dàng thay đổi.
3.5 Giải pháp thông gió và chiếu sáng tự nhiên
Trong thiết kế xây dựng nhà phố và các căn hộ gia đình,
cây xanh là vấn đề ít được quan tâm nhất vì nhiều lý do như
tiết kiệm giai đoạn đầu của xây dựng, tâm lý muốn có không
gian ở nhiều nhất, chưa có thói quen chăm sóc cây cảnh và
hướng về thiên nhiên... Các mảng cây xanh trong nhà hoặc phía
trước sân nhà, hiên nhà vừa cải tạo vi khí hậu vừa làm đẹp cho
ngôi nhà, vừa giúp cuộc sống hòa nhập cùng thiên nhiên, tiện
nghi sống nâng cao, và còn nhiều giá trị tinh thần khác.

Hình 10 Tổng quát về giải pháp bao che, thông gió chiếu sáng
tự nhiên cho nhà phố. (Nguồn: tác giả)
Thông gió hiện nay giữa các hộ gia đình với nhau chưa đảm
bảo vì chưa tổ chức không gian tạo điều kiện cho gió đi qua.
Như vậy cần giải pháp như các không gian đón gió ở phía
trước nhà không nên ngăn chia bằng hàng rào đặc cao, mà nên
nhập các không gian lại, tạo không gian hình phễu nhằm tăng
tốc độ gió trong nhà. Tầng trệt để trống tạo điều kiện đưa gió
vào nhà, kết hợp với không gian thông tầng như cách tốt để hút
gió lên các tầng trên.
Trong nhà phố bền vững, giếng trời đóng vai trò quan trọng
và gần như không thể thiếu vì kết hợp thông gió theo phương
ngang và phương đứng, tận dụng cả áp lực gió và áp lực nhiệt
(hình 10). Số lượng giếng trời nên từ 1-3 giếng với chiều dài
nhà phố từ 14-22m. Vị trí giếng trời nên ở giữa, cuối hoặc dọc
theo chiều dài nhà. Đối với nhà có chiều dài ngắn thì nên có
một giếng trời, bố trí ở phía cuối nhà hoặc dọc theo chiều dài
nhà. Đối với nhà có chiều dài lớn nên có từ 2-3 giếng được đặt
ở giữa và cuối nhà. Các giếng trời không cần thông thẳng đứng
từ trên mái xuống trệt, với cách này sẽ tạo không gian kiến trúc
đơn điệu. Có thể bố trí tạo không gian phong phú hơn trong
nhà phố bằng cách đặt chúng lệch nhau tạo hiệu quả thẩm mỹ,
đồng thời tăng khả năng dẫn dắt ánh sáng tự nhiên vào từng
khối không gian.
Việc sử dụng ánh sáng tự nhiên và giảm nhu cầu ánh sáng
nhân tạo sẽ tiết kiệm được năng lượng sử dụng cho nhà. Yêu
cầu quan trọng trong chiếu sáng tự nhiên là phải phân phối ánh
sáng đồng đều tránh tác động của ánh sáng trực tiếp từ mặt trời
gây chói ảnh hưởng đến thoải mái thị giác. Các giải pháp thiết
kế theo yêu cầu điều chỉnh tăng hoặc giảm ánh sáng vào bên
trong. Các hình thức bao che bên ngoài phải cho phép ánh sáng
khuếch tán vào bên trong như mái đua, các loại lam lớn nhỏ,
dàn dây leo… Cửa sổ được thiết kế hợp lý theo tỷ lệ diện tích
mảng tường, nên sử dụng tường hoa, tường trong suốt, cửa mái
phải tận dụng tối đa nguồn sáng từ phía trên nhưng phải lược
bớt ánh sáng, bức xạ mạnh từ 10h - 15h. Tăng cường lấy ánh
sáng tự nhiên bằng cách kết hợp với việc xử lý hệ thống sân
trước, sân sau, giếng trời, cũng có thể trổ cửa sổ mái, dùng
tường kính… Nên mở cửa lấy sáng tối đa ra giếng trời, vì đây
là nguồn sáng gián tiếp, không mang nhiệt hay BXMT.
3.6 Giải pháp tổ chức cây xanh và mặt nước
Trong thiết kế kiến trúc bền vững, việc cải thiện các kết nối
này bằng cách tạo ra các trục cảnh quan liên kết theo chiều
ngang, cầu nối các thảm thực vật của công trình với thảm thực
vật đường phố hoặc đia phương. Liên kết theo chiều dọc như
tạo ra các khe dọc hoặc các hiên cây xanh dật cấp hoặc tường
xanh thẳng đứng từ phần đế lên đến mái của công trình và liên
kết cây xanh từ ngoài vào bên trong lõi nhà, ngoài việc tăng
cường sinh khối, ánh sáng ban ngày, thông gió tự nhiên v.v…
còn mang lại không gian phong phú (hình 11).

Trang 5


Hình 11 Các ứng dụng tạo mảng xanh trên các phương.
(Nguồn: tác giả)
Phải kết hợp giải pháp liên kết sinh thái từ phương ngang lên
phương đứng, từ trong ra ngoài, từ một đơn vị nhà sang dãy
phố [9]. Với đặc tính dài và hẹp, nhà phố nên cần tận dụng tối
đa các bề mặt và không gian để tổ chức cây xanh. Giải pháp
đưa cây xanh vào môi trường ở nên kết hợp với mặt nước, đây
là yếu tố giúp đối lưu giải nhiệt trong nhà, cũng là yếu tố cách
nhiệt, tạo thẩm mỹ và môi trường sống cho sinh vật. Bố trí mặt
nước có thể ở sân trước tầng trệt, sân sau, dưới giếng trời, các
vị trí tầng trên tiếp xúc với ánh sáng để tăng cường lượng hơi
nước bay lên, hoặc tạo các vách trang trí kết hợp cây xanh và
nước chảy điều hòa.
3.7 Giải pháp quản lý sử dụng nước hiệu quả, tái sử
dụng nước mưa
Một yếu tố quan trọng hiện nay mà phát triển bền vững đặt
ra, đó là giải quyết vấn đề thiếu nước sạch, tiết kiệm nước sinh
hoạt vì mực nước ngầm đang ngày càng cạn kiệt. Kiến trúc bền
vững tối ưu nhất khi và chỉ khi lượng nước sạch tự sản xuất
bằng hoặc lớn hơn lượng nước sạch sử dụng trong nhà. Điều
này chỉ thực hiện được khi có chế độ tái sử dụng nước sinh
hoạt hợp lý bên cạnh việc thu nước mưa tích trữ [4].
KTBV là không gây ảnh hưởng đến môi trường và thế hệ
tương lai. Do đó, việc xả nước thải ra môi trường phải với
lượng rất nhỏ để môi trường đủ khả năng xử lý, bên cạnh đó
cần tái sinh các mạch nước ngầm. Quản lý nước sinh hoạt hiệu
quả sẽ tránh lãng phí, thất thoát, ổn định được vấn đề khủng
hoảng nước sạch hiện nay. Nhưng với con số thống kê 1/3 số
nước sạch bị lãng phí, điều cần làm trước tiên vẫn phải là tiết
kiệm lượng nước sạch đang có được. Tiếp đó, mới tới các giải
pháp kiến trúc về bể chứa lưu trữ, bể lọc, hình thức mái giúp
thu gom nước mưa… và sau cùng là lọc nước thải.
Việc sử dụng nước mưa hiệu quả phải học tập nhiều từ
nước Nhật. Các mục tiêu chính của việc này là giảm tác động
của các dòng thủy văn lên các khu vực và kết hợp chế độ vòng
chảy nước tự nhiên chặt chẽ nhất có thể, vấn đề đang cấp bách
của Tp.HCM hiện nay những mùa mưa đến. Bên cạnh đó, giảm
thiểu nhu cầu lên hệ thống cung cấp nước, tăng tiện nghi xã hội
qua các không gian xanh đa mục đích, ví dụ như cây xanh và
nước được tích hợp trong thiết thiết thiết kế cảnh quan nhằm
nâng cao hình ảnh, giá trị xã hội, văn hóa và sinh thái, gia tăng
giá trị trong khi giảm thiểu chi phí phát triển như chi phí cơ sở
hạ tầng thoát nước.

Hình 12 Sơ đồ cơ bản giúp tận dụng nước mưa [4]
Trong nhà ở, quản lý nước mưa dựa trên nguyên tắc giảm
tối đa kết nối trực tiếp với ống thoát nước đô thị và vùng không
thấm, với các giải pháp như đất tự nhiên được mở rộng tối đa
nhằm giảm thiểu lớp phủ bề mặt không có khả năng thấm
nước, sân trước và sân sau được thiết kế sân vườn, vỉa hè dành
cho người đi bộ và sân không sử dụng bê tông như cách truyền
thống mà sử dụng các vật liệu có khả năng thấm tốt, hoặc tấm
đan bê tông đục lỗ. Thiết kế không gian mở kết hợp hệ thống
điều tiết và thoát nước mưa cục bộ, nước mưa thoát từ công
trình, vỉa hè, đường phố được dồn vào các vùng trũng trồng
cây xanh, thấm nước xuống đất tự nhiên được bố trí tại sân
trước, dọc hè phố tập trung tại các hồ nước nhân tạo hoặc tự
nhiên. Thu gom nước mưa chủ yếu từ mái, sau thời gian làm
sạch, hệ thống tự động đưa vào bể chứa đặt ở mái hoặc hầm,
hoặc với các vị trí trên tường, để lọc và đưa vào hệ thống
chung trong nhà (hình 12).
3.8 Sử dụng năng lượng hiệu quả
Phát triển bền vững luôn gắn liền với vấn đề năng lượng, và
cũng từ khủng hoảng năng lượng mà sản sinh ra các vấn đề
khác. Vì vậy cần tối ưu trong việc thiết kế nhà phố bền vững
tiết kiệm năng lượng. Dùng đồ gia dụng, đèn hiệu quả cao phải
luôn là lựa chọn đầu tiên. Chỉ sử dụng các đồ gia dụng được
xếp hạng tiêu tốn ít năng lượng với các thiết bị như tủ lạnh,
thiết bị điều hòa, đèn LED và đèn Compact. Dùng thiết bị tiết
kiệm nước hiệu quả cho vệ sinh, vòi tắm, không chỉ giảm lãng
phí nước, còn giảm hệ thống xử lý nước thải [1].
Khí hậu tự nhiên Tp.HCM là khu vực có lượng BXMT dồi
dào, rất tốt để áp dụng các giải pháp năng lượng sạch, từ nguồn
năng lượng vô tận - mặt trời. Thực tế hiện nay, nhà phố ít sử
dụng pin NLMT vì giá thành ban đầu còn cao, nhưng đây đang
là xu hướng tăng dần, dù hơi muộn màng và là tất yếu trong
tương lai. Thật lãng phí nếu chúng ta không tận dụng tiềm năng
năng lượng tái tạo. Hàn Quốc là quốc gia có chính sách khuyến
khích rất tuyệt vời để chúng ta học tập, mặc dù giờ nắng của họ
chỉ bằng một nửa nước ta. Họ đang có chương trình 1 triệu
ngôi nhà Green Houses về sử dụng điện mặt trời và chính phủ
đã hỗ trợ rất nhiều cho các dự án và các hộ gia đình đầu tư điện
mặt trời, có khi đến 50%, bên cạnh đó chính phủ chấp nhận
mua điện với giá cao.
Xét về các loại năng lượng xanh như năng lượng gió, năng
lượng địa nhiệt, đối với mỗi hộ gia đình ở Tp.HCM, khả thi
nhất vẫn là đầu tư cho một ngôi nhà sử dụng pin năng lượng
mặt trời và năng lượng tái tạo khoảng từ 40 - 60 triệu đồng
nhưng có độ bền sử dụng từ 25 - 30 năm. Tuy mức giá ban đầu
khá cao nhưng hàng tháng có thể giảm một nửa số tiền trong
hóa đơn tiền điện của một hộ gia đình. Ngoài ra, điện mặt trời
lại rất an toàn và không ô nhiễm môi trường, dự phòng thảm
họa, thiên tai, chiến tranh… Bên cạnh đó, để kiến trúc bền
vững gắn liền với tiết kiệm năng lượng, cần các giải pháp tiên
Trang 6


tiến hơn như tích hợp vào cửa sổ, lan can, bằng các loại pin
thẩm mỹ và trong suốt (hình 13).

Hình 13 Tiềm năng vô tận và ứng dụng đa dạng của năng
lượng mặt trời. (Nguồn: internet)
3.9 Áp dụng công nghệ nhà ở thông minh
Công nghệ nhà thông minh có nhiều ưu điểm vượt trội về
tiết kiệm năng lượng, tiện nghi, bảo mật, thời gian và sức khỏe,
gần như là hướng đi tất yếu trong các thập kỷ tới. Theo nghiên
cứu của các nhà khoa học thống kê, chi phí cho điện chiếu sáng
gia dụng chiếm 12-15% hóa đơn hàng tháng cho tổng cho phí
của gia đình, 20% tất cả lượng điện sản xuất ra được sử dụng
cho chiếu sáng nhưng 50% là lãng phí vì dùng không hiệu quả,
do bất cẩn, hoặc do ý thức tiết kiệm (hình 14). Trong khi đó,
điều chỉnh đèn giảm lượng sáng xuống 25% hầu như mắt người
không phân biệt được, sẽ giảm tiêu thụ điện 20% và tăng gấp
bốn tuổi thọ của bóng đèn. Con người không thể tăng giảm thủ
công liên tục như vậy quá nhiều lần, vì vậy, cần hệ thống tự
động đánh giá nhu cầu và làm việc đó thay chúng ta.
Công việc của kiến trúc sư trong thiết kế nhà phố bền vững
là phải giới thiệu giải pháp nhà thông minh đến với các chủ đầu
tư trong những lần gặp gỡ đầu tiên. Bởi vì tạo cho họ sự hứng
thú, những lợi ích trông thấy được, sẽ khích lệ và làm cho công
nghệ này tiến gần hơn và nhanh hơn đến cuộc sống của mỗi
người dân Tp.HCM. Trong các bước tiếp theo cần tính toán vị
trí bố trí các thiết bị thông minh, chuẩn bị sẵn phương án dự
phòng, ẩn giấu những thiết bị an ninh, giảm thiểu thời gian xây
dựng lắp đặt đường dây bằng phủ sóng không dây.

Hình 14 Công nghệ nhà thông minh. (Nguồn: internet)
3.10 Các giải pháp bền vững trong quá trình xây dựng
Trong thiết kế kiến trúc bền vững cũng phải lưu ý đến
người bạn đồng hành là "xây dựng". Không thể có công trình
kiến trúc như ý nếu quá trình xây dựng không đảm bảo bền
vững. Chính vì lẽ đó, quá trình xây dựng cũng cần những yêu
cầu bền vững. Điển hình như an toàn lao động, vật tư thi công
có thể tái sử dụng nhiều lần, sử dụng vật liệu không có độc
tính… Tác giả xin trình bày một vấn đề khá lớn với xây dựng

nhà phố hiện nay là sử dụng quá nhiều vật liệu sơn phủ có chất
VOCs có trong thuốc chùi rửa, thuốc giặt khô, sơn, sơn mài,
véc-ni, và từ máy sao chụp và máy in. Đây là các hóa chất có
gốc Carbon, bay hơi rất nhanh. Theo thống kê có tới 9% hợp
chất gây ô nhiễm môi trường là do hàm lượng VOCs. VOC có
thể gây khó chịu mắt và da, các vấn đề liên quan đến phổi và
đường hô hấp, gây nhức đầu, chóng mặt, các cơ bị yếu đi hoặc
gan và thận bị hư tổn. Ước tính một ngôi nhà mới xây xong sẽ
có lượng VOC gấp 1000 lần mức an toàn, gây ảnh hưởng nặng
nề đến công nhân xây dựng và gia chủ khi mới vào ở.
Một vấn đề nữa là về môi trường với những lo ngại về động
vật gây hại. Chẳng hạn như gia chủ sợ trồng nhiều cây sẽ phát
sinh nhiều ký sinh trùng, muỗi, rắn rết… Chúng ta cần học hỏi
những bài học từ cha ông trong kiến trúc dân gian, sống chung
với các loài động vật, và giải pháp cho các vấn đề này cũng nên
đến từ thiên nhiên, ví dụ như trồng cây chân chim (ngũ gia bì)
ở nhiều vị trí trong nhà, thì gần như không còn muỗi, tránh sử
dụng các thiết bị xua đuổi bằng điện, bằng cơ, gây tốn năng
lượng, sức khỏe, và đầy rủi ro.
3.11 Các giải pháp bền vững trong văn hóa
Như đã trình bày sơ lược về tầm quan trọng của văn hóa ở
mục 3.1, văn hóa rõ ràng là cội nguồn, là lý tưởng sống, là "sợi
chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ lịch sử của dân tộc, nó làm nên sức
sống mãnh liệt, giúp cộng đồng dân tộc Việt Nam vượt qua biết
bao sóng gió và thác ghềnh" [14]. Nhà phố hiện nay với cách
sống, cách thiết kế như hiện tại, đang đi không đúng hướng với
truyền thống san sẻ, đùm bọc, gần gũi của nhà ở truyền thống,
gây ra muôn vàn vấn đề, căn bệnh xã hội. Điều này hoàn toàn
có thể tạo ra được bằng bệ đỡ kiến trúc bền vững, ví dụ bằng
cách sử dụng giếng trời chung, sân bãi chung, vườn chung,
không gian xanh chung… để nỗi lo sợ về tranh chấp trong lối
sống đô thị ngày nay không còn lấn át truyền thống đùm bọc,
hòa hiếu, cảm thông có từ ngàn xưa.
Các giải pháp kỹ thuật luôn có thế mạnh đáp ứng những
nhu cầu cụ thể của con người, trên từng vấn đề cụ thể. Nhưng
đối với thái độ bên trong mỗi con người thì không có một sáng
tạo khoa học kỹ thuật nào có thể cải thiện được. Đó chính là
thế mạnh của văn hóa truyền thống, của tính cộng đồng, của
nhận thức và cao hơn hết là những nét truyền thống. Năm
2015, thế giới sửng sốt chứng kiến sự sụp đổ về nghĩa đen của
nhiều thành phố cổ hàng ngàn năm tuổi trên đất nước Syria,
kéo theo sự đứt gãy về văn hóa, sụp đổ về nghĩa bóng, mất đi
niềm tin tín ngưỡng, sẽ dẫn đến tan rã một hệ tư tưởng của dân
tộc đó. Ở Việt Nam, lối sống đô thị đang dần dần bào mòn
những nét truyền thống mà chúng ta không nhận ra được. Ở
khía cạnh nào đó, nó rất nguy hiểm. Như vậy, kiến trúc bền
vững phải song hành và tạo điều kiện cho bền vững văn hóa
bằng giải pháp sáng tạo kết nối không gian, tăng tính cộng
đồng trên từng ngôi nhà nhỏ, từng khu phố nhỏ. Trước tiên,
thiết kế bền vững phải tạo nên những sợi dây kết nối con
người, đề cao việc đó lên hàng đầu, sau đó mới đến phục vụ
nhu cầu riêng tư. Vì đây là hai khía cạnh mâu thuẫn, khi con
người đã thích ứng với sự cởi mở, “thông thoáng” trong suy
nghĩ, thì khi đó như cầu riêng tư sẽ ít hơn để các kiến trúc sư
không phải bận tâm suy nghĩ về các biện pháp “rào chắn” như
hiện nay. Giải pháp cụ thể để nối kết, sẽ đến từ nhiều ý tưởng
mới lạ, sáng tạo của những người thiết kế, và từ mỗi người dân
trong thời gian về sau.
4. Kết luận
Bài báo này đã tổng hợp các giải pháp theo nhiều hướng
phục vụ cho mục tiêu thiết kế kiến trúc bền vững. Trong giới
hạn nghiên cứu, qua quá trình sưu tầm số liệu cùng với nguồn
tư liệu cập nhật mới và nguồn thông tin tích lũy từ khảo sát
thực địa, thông qua các phân tích, có thể kết luận rằng kiến trúc
Trang 7


hiện đại trước hết là sản phẩm của thế giới hiện đại do điều
kiện và công nghệ hiện có sản sinh ra , để đáp ứng nhu cầu của
con người có lối sống mới trong xã hội công nghiệp.
Tuy nhiên, không vì thế mà kiến trúc hiện đại đáp ứng mọi
nhu cầu của người dân. Tính năng động cùng với nhiều ưu
điểm của ng ười dân Sài Gòn – Nam Bộ chính là sản phẩm có
được từ những ảnh hưởng môi trường tự nhiên và xã hội địa
phương. Các nhà khoa học ở châu Âu đã nghiên cứu về kiến
trúc nhà ở và đưa ra một kết luận rằng những giải pháp được
ghi nhận về địa điểm khu nhà, về mật độ dân cư, về kiểu mẫu
kiến trúc, về sắp đặt nơi cư trú không thể không phụ thuộc vào
sự lựa chọn độc đoán của vài người, hay quyết định của chính
trị địa phương mà phải dựa trên sự nghiên cứu có hệ thống hóa
về nhu cầu xã hội, đánh giá một cách khoa học theo số lượng
nhà ở, theo tiến hóa dân cư, cũng như theo sức chi trả xây dựng
nhà của nhân dân [3].
Đối với xây dựng ngày nay , vật liệu phải được chuẩn bị
sẵn, nhân công lành nghề và thời gian thi công nhất định
.
Trong khi đó , xây dựng theo lối “truyền thống” sẽ đáp ứng
được với sự đa dạng và thực tế , tận dụng được mọi khả năng
sẵn có của xã hội. Người dân cũng sẽ tham gia vào quá trình
xây dựng theo lối này dưới sự quản lý của các cơ quan nhà
nước ngoài việc trang trải chi phí xây dựng cho ngôi nhà của
mình, điều đó cũng thể hiện trách nhiệm vì cộng đồng của mỗi
người dân. Những yếu tố cộng đồng đó cần được nhấn mạnh,
do vậy xây dựng loại hình kiến trúc nhà phố bền vững cần đi
sâu vào nghiên cứu văn hóa, lối sống, của đại đa số người dân
Tp.HCM, hiểu được và giải quyết được các vấn đề tâm lý xã
hội, để có thể kết hợp hài hòa truyền thống vào hiện đại.

3.

4.

5.
6.

7.
8.

9.

10.

11.
12.

Tài liệu tham khảo
1.
2.

Bộ Xây Dựng (2013), QCVN 09:2013 – Các công trình
xây dựng sử dụng năng lượng hiệu quả, Hà Nội.
Beijing Charter & Subtheme Reports
(1999),
“Architecture of The 21st Century”, XX UIA Congress
Beijing ’99.

13.

14.

Chương trình Định cư Con người Liên Hợp Quốc (UNHabitat), Hồ sơ nhà ở Việt Nam, Công ty TNHH Mylink,
Hà Nội.
Cục Bảo vệ Môi Trường (1995), Nước mưa và chúng ta –
100 cách sử dụng nước mưa, Cục Bảo vệ Môi trường (dịch
từ tài liệu của nhóm Rainsdrop Nhật Bản).
Cục Thống Kê (2014), Điều tra dân số và nhà ở giữa kỳ
thời điểm 01/04/2014, NXB Thống Kê, Hà Nội.
Le Thi Hong Na, Jin Ho Park, Min Jung Cho (2013),
“Lessons from Vietnamese urban street houses for
contemporary high rise housing”, Open House
International Journal,Vol 38 No 2, pp. 31-46.
Ken Yeang (2006), Ecodesign – A manual for Ecological
Design, Wiley Academy.
Phạm Phú Cường (1999), Về vấn đề bảo tồn phố thị trong
bối cảnh phát triển đô thị Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ
Kiến trúc, trường ĐH Kiến Trúc TPHCM.
Phan Thị Phương Diễm (2012), Tổ chức không gian kiến
trúc nhà ở hiện đại tại TP.HCM theo hướng cân bằng sinh
thái, Luận văn Cao học, ĐH Kiến Trúc TP Hồ Chí Minh.
Phạm Thuý Hiền (2011), Nghiên cứu ứng dụng Kiến trúc
xanh cho nhà ở Việt Nam, Bộ Khoa học và Công nghệ, Hà
Nội.
Trần Văn Khải (2010), Bài giảng Môi trường ở, Lớp cao
học Trường Đại Học Kiến Trúc TP Hồ Chí Minh.
Phạm Đức Nguyên (2013), Phát triển kiến trúc bền vững,
kiến trúc xanh ở Việt Nam, NXB Tri Thức, Hà Nội.
Phạm Đức Nguyên (2012), Kiến trúc sinh khí hậu – Thiết
kế sinh khí hậu trong kiến trúc Việt Nam, NXB Xây Dựng,
Hà Nội.
Trần Ngọc Thêm (1999), Cơ sở Văn hóa Việt Nam, NXB
Giáo Dục, Tp.HCM.

Trang 8



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×