Tải bản đầy đủ

Bắc KạnQuê hương tôi


Bắc Kạn-Quê hương tôi








Lịch sử
Vị trí địa lí
Hành chính
Danh lam thắng cảnh
Ẩm thực
Văn hóa


Lịch sử



Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, thị xã Bắc Kạn được mệnh danh là "Thủ đô kháng chiến". Tỉnh Bắc Kạn được
Trung ương Đảng chọn xây dựng thành khu an toàn (ATK), căn cứ địa của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.Với
vai trò là căn cứ địa cách mạng, Bắc Kạn hết lòng cưu mang đùm bọc đồng bào; giúp đỡ bộ đội, cơ quan, xí nghiệp, kho tàng của
Trung ương sơ tán; bảo vệ lãnh tụ, bảo vệ các cơ quan lãnh đạo Đảng, Nhà nước…



Ngày 1 - 1 - 1997, tỉnh Bắc Kạn chính thức được tái lập. Các huyện Ngân Sơn, Ba Bể (Chợ Rã) tái nhập lại vào tỉnh Bắc Kạn. Tháng
8-1998, thành lập thêm huyện Chợ Mới trên cơ sở tách từ phần đất phía Nam huyện Bạch Thông. Ngày 28 - 5 - 2003, Chính phủ
đã ban hành Nghị định 56/2003/NĐ-CP về việc thành lập huyện Pắc Nặm trên cơ sở tách huyện Ba Bể. Như vậy, trải qua không ít
những thay đổi về địa dư hành chính, hiện nay, tỉnh Bắc Kạn được chia làm 8 đơn vị hành chính bao gồm 7 huyện (Bạch Thông,
Chợ Đồn, Chợ Mới, Ba Bể, Ngân Sơn, Na Rì, Pắc Nặm) và thị xã Bắc Kạn.



Phát huy truyền thống yêu nước, truyền thống cách mạng vẻ vang, trong thời kỳ xây dựng và phát triển đất nước, đặc biệt từ
khi tái lập tỉnh đến nay, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc Bắc Kạn đã không ngừng phấn đấu vươn lên khắc phục
khó khăn, giành được nhiều thành tựu mới trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá - xã hội, nhanh chóng đưa Bắc Kạn tiến
kịp các tỉnh miền xuôi.

Trang chủ

Tiếp theo


Hành chính
Tỉnh Bắc Kạn có 1 thành phố và 7 huyện, bao gồm 110 xã, 6 phường và 6
thị trấn:
+ Thành phố Bắc Kạn 6 phường và 2 xã
+ Huyện Ba Bể, huyện lỵ là thị trấn Chợ Rã và 15 xã
+ Huyện Bạch Thông,huyện lỵ là thị trấn Phủ Thông và 16 xã

+ Huyện Chợ Đồn,huyện lỵ là thị trấn Bằng Lũng và 21 xã
+ Huyện Chợ Mới,huyện lỵ là thị trấn Chợ Mới và 15 xã
+ Huyện Na Rì, huyện lỵ là thị trấn Yến Lạc và 21 xã
+Huyện Ngân Sơn, huyện lỵ là thị trấn Vân Tùng, thị trấn Nà Phặc và 9 xã
+Huyện Pác Nặm, huyện lỵ là thị trấn Bộc Bố và 9 xã

Trang chủ


Tiếp theo


Vị trí địa lí
-Bắc Kạn là một tỉnh thuộc vùng Đông Bắc Việt Nam. phía bắc giáp tỉnh Cao Bằng, phía đông
giáp tỉnh Lạng Sơn, phía nam giáp tỉnh Thái Nguyên và phía tây giáp tỉnh Tuyên Quang.
-Bắc Kạn là một tỉnh miền núi cao, địa hình bị chi phối bởi những dãy núi vòng cung quay
lưng về phía đông xen lẫn với những thung lũng. Bắc Kạn có thể phân thành 3 vùng như sau:

Click to edit Master text styles
Second level
Third level
Fourth level
Fifth level

+Vùng phía tây và tây-bắc: bao gồm các mạch núi thuộc khu vực huyện Chợ Đồn, Pác Nặm,
Ba Bể chạy theo hướng vòng cung tây bắc–đông nam, định ra hướng của hệ thống dòng
chảy lưu vực sông Cầu. Dãy núi cao nhất là Phia Bióoc - 1578m.
+Vùng phía đông và đông-bắc: hệ thống núi thuộc cánh cung Ngân Sơn chạy theo hướng
bắc-nam, mở rộng thung lũng về phía đông bắc.
+Vùng trung tâm: vùng địa hình thấp, kẹp giữa một bên là dãy núi cao thuộc cánh
cung sông Gâm ở phía tây, với một bên là cánh cung Ngân Sơn ở phía đông.

Trang chủ

Tiếp theo


Danh lam thắng cảnh


Bắc Kạn là tỉnh giàu tiềm năng du lịch bởi sự phong phú của tài nguyên, khoáng sản và nền văn hoá đậm đà bản sắc dân tộc miền
núi đông bắc Việt Nam với các danh lam thắng cảnh:
+ Hồ Ba Bể
+ Căn cứ địa cách mạng ATK Chợ Đồn
+ Khu di tích lịch sử Nà Tu, Cẩm Giàng
+ Động Puông
+ Động Hua Mạ
+ Động Nàng Tiên
+ Khu bảo tôn thiên nhiên Kim Hỷ
+ Thác Đầu Đẳng

Trang chủ

Tiếp theo


Hồ Ba Bể
Hồ Ba Bể là một hồ nước ngọt ở Bắc Kạn, Việt Nam.
Nó là một trong một trăm hồ nước ngọt lớn nhất thế
giới và nằm trong Vườn quốc gia Ba Bể, nơi đây được
công nhận là khu du lịch quốc gia Việt Nam. Hồ được
hình thành từ cách đây hơn 200 triệu năm. Cuộc kiến
tạo lục địa Đông Nam Á cuối kỷ Camri, đã đưa một
khối nước khổng lồ với diện tích bề mặt xấp xỉ 5 triệu
m2 và chiều dày hơn 30m lên lưng chừng vùng núi đá
vôi, tạo ra hồ Ba Bể. Ba nhánh của hồ thông nhau
được gọi tên là Pé Lầm, Pé Lù và Pé Lèng.
Giá trị lớn nhất của Hồ Ba Bể là cảnh quan địa chất độc đáo, giá trị nổi bật về
địa chất địa mạo và giá trị to lớn về đa dạng sinh học. Đây là hồ nước ngọt thiên
nhiên lớn nhất Việt Nam. Với một sự tích li kì và cảnh quan tuyệt đẹp nơi
đây, Hồ Ba Bể luôn là một địa diểm thu hút khách du lịch của tỉnh Bắc
Kạn

Trở lại


Căn cứ địa cách mạng ATK Chợ Đồn
Đến với Bắc Kạn, du khách sẽ được thăm các căn cứ địa cách mạng, nổi bật nhất là ATK Chợ Đồn - Đây là một trong những khu căn cứ mà
Bác Hồ và các đồng chí lãnh đạo cao cấp của Đảng, Chính phủ đã sống, hoạt động, lãnh đạo dân tộc ta trong suốt cuộc kháng chiến chống
thực dân Pháp. Hiện nay, ATK Chợ Đồn đang được phục dựng theo quy hoạch tổng thể “Chiến khu Việt Bắc” của Chính phủ.

 DTLS Nà Pậu 
Trở lại

DTLS Đồi Khau Mạ

DTLS Khuổi Linh


Khu di tích lịch sử Nà Tu, Cẩm Giàng
Di tích lịch sử Nà Tu thuộc xã Cẩm Giàng, huyện Bạch Thông, nằm cạnh quốc lộ 3,
cách thị xã Bắc Kạn 9km về phía bắc. Đây là nơi đóng quân của phân đội thanh niên
xung phong 312 làm nhiệm vụ bảo vệ cầu Nà Cù và đoạn đường Nà Cù - Phủ Thông.
Ngày 28/3/1951 trên đường đi công tác, Bác Hồ đã ghé thăm liên phân đội thanh
niên xung

phong 312. Sau khi ân cần thăm hỏi và căn dặn các đội viên khắc phục khó khăn hoàn thành nhiệm vụ, Bác đã tặng đơn vị thanh niên xung phong 312 bốn câu thơ:
“Không có việc gì khó
Chỉ sợ lòng không bền
Đào núi và lấp biển
Quyết chí ắt làm nên.”
Năm 1996, Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch đã công nhận, xếp hạng di tích Nà Tu là di tích lịch sử cấp Quốc gia. Di tích được tôn tạo khang trang gồm nhà sàn tưởng
niệm Bác Hồ; nhà bia, lán thanh niên xung phong và các công trình phụ trợ.Di tích lịch sử Nà Tu, xã Cẩm Giàng đã vinh dự được đón nhiều đồng chí lãnh đạo cao cấp
của Đảng, Nhà nước, đoàn viên thanh niên trong cả nước và du khách đến thăm...

Trở lại


Động Puông
Động Puông là một thắng cảnh thuộc khu vực Vườn quốc
gia Ba Bể, nằm trên dòng sông Năng thuộc huyện Ba Bể,
tỉnh Bắc Kạn, cách trung tâm thị trấn Chợ Rã khoảng
5 km.

Động Puông được hình thành khi con sông Năng chảy xuyên qua bên dưới núi đá vôi Lũng Nham. Động Puông dài
300 mét, cao hơn 30 mét với các vách đá đứng và nhiều nhũ đá có nhiều hình dạng và màu sắc khác nhau. Trong
động Puông có hàng vạn con dơi sinh sống hay trú chân. Thuyền bè có thể đi trên sông Năng qua động Puông.

Trở lại


Động Hua Mạ
Động Hua Mạ là một thắng cảnh thuộc khu vực vườn quốc gia Ba Bể. Hang nằm bên dòng sông Lèng và thuộc bản Pắc Ngòi, xã Quảng Khê, huyện Ba Bể,
tỉnh Bắc Kạn. Động Hua Mạ nằm ở lưng chừng ngọn núi Cô Đơn nằm giữa khu Lèo Pèn (Rừng Ma) cây cối xanh rì, rậm rạp. Động Hua Mạ ăn sâu vào lòng
núi theo hướng Đông - Nam quanh năm u tịch và được người dân bản địa gọi là hang Lèo Pèn.

Theo truyền thuyết của cư dân địa phương, Rừng Ma xưa kia là nơi ma quỷ ngự
trị, sau đó có một vị tướng triều đình đi tuần thú qua đây và đã nghe được tiếng
hú của những oan hồn của dân binh đã cùng triều đình chống giặc không được
siêu thoát, quan quân liền hạ trại ngay cạnh bờ sông Lèng và mổ ngựa, lấy đầu
ngựa làm lễ tế trời đất. Sau khi tế lế, những tiếng hú biến mất và qua năm tháng
đã mọc lên những khối nhũ đá rất đặc biệt kỳ vĩ. Từ đó người ta gọi sơn động
"Lèn Pèn" là động Hua Mạ hay tiếng địa phương gọi là hang Đầu Ngựa.

Trở lại


Động Nàng Tiên
Động Nàng Tiên thuộc xã Lương Hạ, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn, là một hang đá tự nhiên có từ lâu đời và đã
được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp hạng di tích cấp Quốc gia từ năm 1999. Nhìn từ xa, động như một
thiếu nữ đang nằm ngủ, còn bên trong động lại lung linh huyền ảo bởi những mảng thạch nhũ. Tạo hóa đã
ban tặng cho nơi đây các cảnh đẹp hấp dẫn, những thửa ruộng bậc thang có dòng nước trong mát chảy xung
quanh gọi là ruộng tiên, suối tiên cùng với nhiều hang nhỏ xung quanh làm cho nơi đây thêm bí ẩn và đầy thơ
mộng.

Từ xa xưa, Động Nàng Tiên đã đi vào tâm linh của người dân Na Rì, từ bao đời đã lưu truyền một câu chuyện kể về sự tích
của Động Nàng Tiên. Truyện kể rằng, thủa xưa có bảy nàng tiên xuống tắm mát, vãn cảnh tại con suối dưới chân núi Phja
Trạng. Mải mê hái hoa, bắt bướm, vui say cảnh đẹp nên trời tối lúc nào không biết, các nàng tiên không kịp bay về
trời. Đêm đến, dưới ánh trăng có người trần thế đến mò cua, bắt ốc, các Nàng tiên vội vã lên bìa rừng ẩn nấp. Từ trên cao
nhìn xuống, thương tình Ông Trời đã tạo ra động này để các Nàng tiên trú ngụ qua đêm. Dòng suối các Nàng tiên xuống
tắm được gọi là Khuổi Hai (Suối trăng), còn động nơi các Nàng tiên nghỉ lại qua đêm gọi là Động Nàng Tiên. Câu chuyện đầy
thần bí cùng với hai tên gọi đó đã được dân gian lưu truyền cho tới ngày nay.

Trở lại


Khu bảo tôn thiên nhiên Kim Hỷ

Kim Hỷ được đánh giá là nơi lưu giữ hiện trạng nguyên sơ của thiên nhiên kỳ thú. Các nhà khoa học trong và ngoài nước đánh giá cao về sự phong phú của các loại
động, thực vật quý hiếm nơi đây. Trong đó phải kể đến là loài voọc má trắng, sóc, khỉ là những loài hiện có nguy cơ bị tuyệt chủng trên toàn cầu. Đặc biệt, đến với khu
bảo tồn thiên nhiên Kim Hỷ bạn sẽ được chứng kiến sự đa dạng của các loài dơi - được coi là nhiều chủng loại nhất ở Việt Nam. Không những thế, đây còn được coi là
kho gỗ quý lớn của tỉnh Bắc Kạn, với hàng vạn cây nghiến, thông núi....
Kim Hỷ còn là nơi lưu giữ một số nguồn gien quý hiếm của các loại thực vật đặc hữu có nguy cơ tuyệt chủng như cây thiết san giả hay còn gọi là thông đá mà trên thế
giới hiện nay còn sót lại ở 4 tỉnh miền núi phía Bắc nước ta và 2 tỉnh Quảng Tây, Quảng Đông (Trung Quốc). Ngoài hệ động thực vật phong phú , khu bảo tồn thiên
nhiên Kim Hỷ còn giàu về tài nguyên khoáng sản, nhất là vàng.

Trở lại


Thác Đầu Đẳng
Thác Đầu Đẳng là một thắng cảnh trong khu vực Vườn quốc gia Ba Bể, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn cách thị trấn Chợ Rã khoảng 16 km. Sông Năng sau khi luồn
dưới núi đá vôi Lũng Nham tạo thành động Puông khi chảy đến bản Húa Tạng thì bị hàng trăm tảng đá lớn chặn lại tạ thành dòng thác. Thác Đầu Đẳng hùng vĩ
với chiều dài hơn 1.000 mét, thác tạo thành ba bậc, bậc trên chênh với bậc dưới từ 3 đến 4 mét theo chiều dài. Thác Đầu Đẳng nằm trên dòng sông Năng, là
nơi tiếp giáp giữa Bắc Kạn với tỉnh Tuyên Quang. Thác Ðầu Ðẳng nằm giữa hai dãy núi đá vôi, có độ dốc lớn, là nơi con sông Năng bị chặn lại bởi những tảng
đá lớn, nhỏ xếp chồng lên nhau với độ dốc chừng 500m, tạo thành một thác nước kỳ vĩ, hoà với phong cảnh rừng nguyên sinh. Tại khu vực thác Đầu Đẳng còn
xuất hiện loại cá chiên với những con nặng trên 10 kg, đây là loại cá hiếm thấy hiện nay. Có thể ngồi ngắm thác trên những phiến đá lớn hoặc trên ban công gỗ
xây phía trên cao

Trở lại


Ẩm thực
Đến với Bắc Kạn, ngoài việc ngao du khám phá danh lam thắng cảnh, quý khách còn được thưởng thức những sản vật rất đặc trưng của núi
rừng nơi đây. Nhất định bạn phải thưởng thức một lần những món đặc sản không nên bỏ lỡ khi đến với nơi này.
+ Tôm chua Ba Bể
+ Bánh pẻng phạ
+ Khâu nhục
+ Rau sắng
+ Miến dong Na Rì
+ Bánh gio
+ Xôi Đăm Đeng
+ Măng vầu
+ Lạp sườn hun khói
+ Bánh ngải
+ Mứt mận
+ Cá nướng Ba Bể
+ Thịt lợn gác bếp
+ Chuối hột rừng
+ Mèn mén

Trang chủ

Tiếp theo


Tôm chua Ba Bể
Tôm chua là món ăn ngon, có mặt ở nhiều nơi và nhiều vùng chế biến nhưng tôm
chua ở Khang Ninh- Ba Bể có một hương vị rất riêng biệt của vùng miền núi Việt
Bắc. Ngoài tôm, các loại tép hay cá nhỏ cũng được người dân muối vào lọ để ăn
dần. Ở Ba Bể, người ta thường ăn tôm chua với thịt chân giò hoặc ba chỉ luộc
kèm đĩa khế chua, chuối xanh, đinh lăng… rất hấp dẫn.

Du khách đến Bắc Kạn mà không được thưởng thức tôm chua Ba Bể thì thật sự
đáng tiếc. Hiện nay cứ 5 ngày một phiên tôm chua được bày bán tại chợ Khang
Ninh (trên đường du khách vào tham quan hồ Ba Bể) bởi lẽ nó không chỉ là món
ăn quen thuộc của đồng bào miền núi nữa mà nó đã được nhiều du khách thập
phương biết đến.

Trở lại


Bánh pẻng phạ

Bánh pẻng phạ thường xuất hiện trong dịp người Tày vùng Ba Bể đón mừng năm mới hay lễ hội xuống đồng. Hình dáng chiếc bánh không có gì đặc biệt, viên
bánh tròn tròn cỡ trái nhãn lồng.
Bên ngoài có lớp bột trắng che lớp bột nâu bên trong. Bánh pẻng phạ là một trong những món ăn truyền thống của dân tộc Tày để dâng trời đất.
Bánh pẻng phạ chế biến không cầu kỳ nhưng mùi vị thơm ngon. Nguyên liệu chính để làm bánh là bột gạo nếp được nhào với nước chè mạn pha đặc để lấy
màu nâu và vị chát, một chút rượu trắng cho dậy mùi.

Trở lại


Khâu nhục
Khâu nhục là món ăn đặc biệt mang đậm tính dân tộc của người dân Bắc Kạn. Khâu
nhục được làm rất công phu, khoai được chọn phải là khoai môn Bắc Kạn, bên trong
lòng khoai có vân màu tím. Thịt lợn phải là thịt ba chỉ ngon, luộc sơ qua, dùng tăm tre
chọc bì thật kĩ, tẩm ướp gia vị rồi đem quay, vừa quay vừa quết mật ong cho vàng bì.
Khoai cũng phải rán vàng. Mọi thứ được xếp vào bát, cứ một miếng khoai, một miếng
thịt, cho nhân được làm bằng thịt, nấm hương, mộc nhĩ …đã xào lên trên hấp cách thuỷ
khoảng 5 tiếng đồng hồ. Thành phẩm khi xong được cho ra đĩa rất đẹp. Món khâu nhục
làm cầu kì nhưng ăn lại rất ngon nên nhân dân Bắc Kạn thường dành vào những dịp đặc
biệt như lễ tết, cưới hỏi và vào nhà mới. Món Khâu nhục có thể ăn cùng với xôi, bánh
gật gù (một loại bán tráng tươi của đồng bào dân tộc) hay cơm đều rất ngon.

Trở lại


Rau sắng
Không giống như các loại rau khác chỉ cần trồng ngày một ngày hai là được hái lá,
rau sắng từ khi trồng đến khi được hái lá lần đầu tiên phải sau ít nhất là 3-5 năm, và
sau 10 năm mới được thu hoạch với số lượng lớn. Lá rau sắng dùng để nấu canh với
thịt hoặc cá. Mùi vị của loại rau này rất đậm đà, chỉ cần một vài cọng cũng đã đủ để
có thể nấu bát canh thơm ngon cho 4 người ăn.

Theo kinh nghiệm của người dân, phải ăn canh rau sắng nấu suông, nêm một chút muối, chậm rãi nhai kỹ từng chiếc lá nhỏ, thưởng thức thật sâu, thật kỹ vị ngọt, vị
bùi khó tả của nó thì mới cảm nhận được hương vị đặc biệt của cây rau sắng. Những cây rau sắng đực cho những chùm rồng rồng. Loại này có thể nấu canh và ngon
hơn nữa là xào với thịt bò.
Quả sắng hình bầu dục, to như quả nhót, khi chín có mầu vàng sẫm, ăn có vị ngọt đượm như mật ong. Hạt của quả sắng sau khi bóc vỏ đem ninh với xương rất thơm
ngon, có vị ngọt, bùi.

Trở lại


Miến dong Na Rì
Miến dong Na Rì là đặc sản nổi tiếng của Na Rì, Côn Minh, Bắc Cạn. Sợi
miến được làm từ bàn tay khéo léo của người dân nơi đây nên giữ
nguyên màu sắc tự nhiên vốn có. Sợi miến có màu vàng hoặc trong đục,
sợi dai và giòn để lâu cũng không bị nát, đây cũng là nét đặc trưng
khiến nhiều người yêu thích món ăn dân dã này .

Miến dong được làm thủ công từ những củ dong riềng trồng trên đèo Áng Tòong ở độ cao trên 1000 m ,với bàn tay khéo léo của những người dân
tộc. Với quy trình tỉ mỉ, tuyệt đối không dùng hóa chất và được phơi trong môi trường trong lành giữa bạt ngàn đồi núi nên sợi miến dong Na Rì
ngọt, dai, giòn, không có sạn và có hương thơm đặc trưng của bột dong. Sợi miến có màu tự nhiên do không dùng hóa chất, khi nấu có vị dai, giòn
và thơm của dong riềng. Từ miến dong có thể chế biến nhiều món ngon và dễ ăn.

Trở lại


Bánh gio

Bánh gio là loại bánh đã có ở Bắc Kạn hàng trăm năm, đòi hỏi sự cầu kì trong từng công đoạn làm bánh. Bánh gio ngon là phải mịn, dẻo, dai và có màu vàng nâu.
Bánh được chấm với mật mía ăn rất ngon và mát.

Tên gọi bánh tro (hay gio), bánh nẳng xuất phát từ phụ liệu cốt yếu nhất làm nên đặc trưng của bánh là nước tro (còn gọi là nước nẳng) pha
chế từ tro than thu được sau khi đốt cháy một số loại thảo mộc, dược liệu. Bánh ú tro là tên gọi còn gợi tả cả hình dạng của bánh, do bánh
thường được gói theo hình ú, vồm cao như bàn tay khi nắm lại.

Trở lại


Xôi Đăm Đeng
Món xôi này rất độc đáo vì được nấu từ gạo nếp nương và tất cả màu sắc của xôi không tạo ra
bằng phẩm màu mà bằng hương sắc của cây cỏ. Người ta lấy lá của cây cẩm và vài loại lá khác
đun lên, chắt nước ra, ngâm gạo nếp vào khoảng vài giờ rồi mang đồ trên chõ gỗ. Nước ngâm
gạo phải nóng già thì khi chín xôi mới có độ dẻo.
Xôi Đăm Đeng có một mùi thơm đặc trưng của cây cỏ, không thể lẫn với bất cứ loại xôi nào
khác. Hạt xôi bóng đẹp nhưng không ướt, khi nguội hạt xôi se lại nhưng vẫn mềm, dẻo và
thơm.
Xôi Đăm Đeng thường được ăn với muối vừng hoặc ruốc tùy theo khẩu vị từng người. Người
dân miền núi quan niệm rằng ăn xôi này sẽ mang lại nhiều may mắn và tốt lành.
Nếu có dịp lên Bắc Kạn vào những ngày lễ, tết hãy thưởng thức món xôi “Đăm Đeng” để tận
hưởng hương sắc của núi rừng nơi đây.

Trở lại


Măng vầu
Rừng Bắc Kạn có rất nhiều loại măng như: măng tre, măng trúc, măng nứa, măng mai… nhưng nếu nói là đặc sản phải kể đến thứ “măng vầu” hay còn
gọi là “măng đắng”. Theo kinh nghiệm của những người đi hái măng, vào đầu vụ những mầm măng vầu mới nhú còn có vị ngọt xen lẫn vị hơi hơi hơi
đắng, còn từ sau tháng 2 Âm lịch, măng lại chuyển sang vị đắng gắt hơn.
Ở Bắc Kạn, người ta có thể chế biến măng thành rất nhiều món ngon nhưng hấp dẫn hơn cả có lẽ là măng luộc chấm mắm tôm chanh ớt. Những người
sành ăn măng thì hay chọn ăn loại măng luộc thật đắng vì như vậy mới cảm nhận hết được sự thú vị của món ăn này. Cái cảm giác đắng, chát cứ mất dần
khi nhai kỹ, thay vào đó là cảm giác thoang thoảng ngọt, nhẹ nhẹ cay, rất lạ.

Trở lại


Lạp sườn hun khói
Lạp sườn được làm từ thịt lợn bản nên thịt thơm và chắc. Điểm độc đáo của Lạp sườn Bắc Kan là được tẩm ướp bằng gừng đá, một loại gừng chỉ mọc trên
đá của người dân tộc nên có mùi thơm rất đặc biệt, không giống bất cứ một loại gia vị nào của miền xuôi.

Lạp sườn được làm bằng bàn tay của người Bắc Kạn có mùi của nắng vùng cao, mùi của khói bếp, thoảng mùi gừng, mùi rượu, mùi mắc mật thơm một cách
đặc biệt. Vị dai của lòng, vị ngọt của thịt nạc, vị béo của mỡ hòa quyện với nhau, ăn thật ngon miệng. Nhấp thêm chút rượu nữa thì càng thêm khoái khẩu.

Trở lại


Bánh ngải

Mỗi dân tộc đều có những loại bánh truyền thống khác nhau, nhưng có một loại bánh mà chỉ người Tày mới có đó là bánh ngải. Bánh có màu xanh đậm đặc biệt,
rất đặc trưng của thiên nhiên.Bánh ngải cứu của người Tày có hương vị thơm dẻo của bột nếp, điều đặc biệt là ngải cứu không còn vị đắng, dễ ăn, mát và không
ngấy. Khi ăn, bạn sẽ cảm nhận được vị bùi dẻo của nếp, ngọt của nhân và hơi tê tê vị của lá ngải rất lạ miệng. Không chỉ là món ăn bình dị, đậm chất quê, bánh ngải
được nhiều người tin dùng như một vị thuốc giúp điều hòa khí huyết, an thai, chống đau đầu, cảm cúm...

Trở lại


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×