Tải bản đầy đủ

“ Một số biện pháp chuẩn bị tâm thế tốt cho trẻ 5 đến 6 tuổi trường mầm non Nga Văn bước vào lớp 1

A. ĐẶT VẤN ĐỀ:
Bác Hồ của chúng ta đã từng nói:
“Trẻ em như búp trên cành
Biết ăn ngủ biết học hành là ngoan”
Quả đúng là như vậy trẻ em như búp non trên cành nếu được chăm sóc
cẩn thận chồi non đó sẽ phát triển. Cũng như con người nếu được chăm sóc
ngay từ khi mới sinh ở trong gia đình cho đến khi đứa trẻ đó được tới
trường, tới lớp được sự chăm sóc chu đáo của cô giáo mầm non thì đứa trẻ
đó sẽ phát triển toàn diện về “ đức, trí, thể, mỹ"
Và yêu cầu về nội dung giáo dục mầm non là: Đảm bảo tính khoa học,
tính vừa sức và nguyên tắc đồng tâm phát triển từ dễ đến khó; đảm bảo tính
liên thông giữa các độ tuổi, giữa nhà trẻ, mẫu giáo, mẫu giáo và cấp tiểu
học; thống nhất giữa nội dung giáo dục với cuộc sống hiện thực, gắn với
cuộc sống và kinh nghiệm của trẻ, chuẩn bị cho trẻ từng bước hòa nhập vào
cuộc sống. Đồng thời phải phù hợp với sự phát triển tâm sinh lý của trẻ em,
hài hòa giữa nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục giúp trẻ phát triển cơ thể cân
đối, khỏe mạnh, nhanh nhẹn; cung cấp kỹ năng sống phù hợp với lứa tuổi;
giúp trẻ em biết kính trọng, yêu mến, lễ phép với ông bà, bố mẹ, thầy giáo,
cô giáo ; yêu quý anh, chị, em, bạn bè; thật thà, mạnh dạn, tự tin và hồn
nhiên, yêu thích cái đẹp; ham hiểu biết, thích đi học.
Tuổi mầm non là bậc thang đầu tiên, làm nền móng cho các bậc thang

tiếp theo của cuộc đời con người, để các cháu có được tiền đề tốt đẹp khi mà
ngưỡng cửa trường tiểu học đang dần hé mở để đón chào các cháu vào lớp
1. Việc chăm sóc giáo dục trẻ mầm non vừa là một khoa học vừa là một
nghệ thuật, đòi hỏi cô giáo mầm non phải có kiến thức khoa học toàn diện
,sâu sắc, vừa phải có sự năng động, sáng tạo linh hoạt, luôn tạo ra cái mới để
thu hút sự chú ý của trẻ lôi cuốn trẻ vào các hoạt động, phù hợp với đặc
điểm lứa tuổi “ Trực quan sinh động”. Khi trẻ mẫu giáo lớn chuyển lên lớp 1
rất non nớt, bởi vì trẻ đang sống trong một môi trường được sự chăm lo chu
đáo của cá cô giáo mầm non cả về chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục được các
cô chăm sóc nhiệt tình chu đáo như người mẹ thứ hai của mình. Cho nên khi
trẻ chuyển sang một môi trường hoàn toàn mới lạ trẻ sẽ khó tiếp cận và thích
nghi ngay được. Nhiệm vụ của cô giáo mầm non là phải tạo cho trẻ mẫu
giáo lớn một tâm thế vững vàng, sẵn sàng bước vào lớp 1 để trẻ tiếp cận môi
trường mới một cách tốt nhất,nhằm giúp trẻ tiếp thu kiến thức ở trường tiểu
học đạt hiệu quả tốt nhất.
Thấy được tầm quan trọng trong việc tạo tiền đề, cơ sở vững chắc cho
trẻ mầm non chuyển sang giai đoạn mới đầy hào hứng, mong chờ không bở
ngỡ trước sự mới lạ xung quanh. nhận thức rõ nhu cầu của phụ huynh và đặc


niềm tin vào trường mầm non, mong muốn nơi đây trang bị cho con em
mình về kiến
thức lẫn tinh thần để Trẻ tự tin bước vào lớp 1.
Năm học 2014 - 2015 tôi được nhà trường phân công dạy lớp mẫu
giáo 5 tuổi, chính từ những vấn đề trên đòi hỏi tôi phải tìm giải pháp phù
hợp để giải quyết các vấn đề một cách hợp lý. Do đó tôi đã nghiên cứu đề tài
sáng kiến kinh nghiệm về “ Một số biện pháp chuẩn bị tâm thế tốt cho trẻ 56 tuổi trường mầm non Nga Văn bước vào lớp 1”.
B- GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ

Việc chuẩn bị cho trẻ đến trường là một công việc quan trọng vì thực tế
hiện nay trên phạm vi huyện Nga Sơn nói chung, trên địa bàn xã Nga Văn
nói riêng vẫn còn một số trẻ chưa được chuẩn bị tốt về mặt tâm thế, trí tuệ,
khả năng thích ứng với hoạt động chủ đạo mới …, Lý do nêu trên vẫn còn là
do một số phụ huynh học sinh coi nhẹ vấn đề này, một số gia đình khó khăn
việc đưa con đến trường mầm non còn hạn chế. Hiện thực trên ảnh hưởng
không nhỏ đến kết quả học tập, giáo dục và rèn luyện của học sinh khi các
cháu bước chân đến trường tiểu học.
Căn cứ vào chương trình giáo dục mầm non mới ban hành kèm theo
thông tư số 17/2009/TT-BGDĐT ngày 25 tháng 7 năm 2009 của Bộ trưởng

Bộ Giáo dục và Đào tạo thì mục tiêu của “ chương trình giáo dục mẫu giáo
nhằm giúp trẻ từ 3 đến 6 tuổi phát triển hài hòa về các mặt thể chất, nhận
thức, ngôn ngữ, tình cảm, kỹ năng xã hội và thẩm mỹ, chuẩn bị cho trẻ vào
học ở tiểu học.
Sự chuyển tiếp khoa học giữa giáo dục mầm non với chương trình dạy
học và giáo dục ở tiểu học đặt ra cho chúng ta những vấn đề cần quan tâm:
Trong mỗi giai đoạn phát triển ở trẻ, việc chuyển giai đoạn này, hoạt động
chu đạo này sang giai đoạn khác hoạt động chủ đạo khác là sự chuyển biến
mang tính chất nhảy vọt có sự biến đổi về lượng và chất. Sự phát triển ở một
giai đoạn mới vừa là kết quả của giai đoạn trước đó vừa là tiền đề cho sự
phát triển tiếp theo. Đó cũng chính là quan điểm chỉ đạo của bậc học mầm
non nhằm đảm bảo sự chuyển giai đoan giữa giáo dục mầm non nói chung,
giáo dục trẻ em 5 tuổi nói riêng với lớp 1 của trường tiểu học trong giai đoạn
hiện nay
Ai trong chúng ta cũng biết lớp 1 là lớp đầu tiên trong cuộc đời đi học
đây là một bước ngoặt rất quan trọng trong cuộc đời của trẻ, cũng đã co
nhiều nhà khoa học nói đến sự cần thiết và vai trò của trường mầm non trong
việc phát triển cũng như chuẩn bị tâm thế cho trẻ vào lớp 1. Để vào lớp 1 trẻ


cần được chuẩn bị tâm lý sẵn sàng đi học hay còn gọi là “độ chín muồi” vì
thế một trong những yêu cầu quan trọng để giúp trẻ vào học tốt chương trình
tiểu học là cần chuẩn bị cho trẻ tốt các mặt như: Thể lực, trí tuệ, tình cảm xã hội, ngôn ngữ cũng như một số kỹ năng sống và kỹ năng cần thiết cho
hoạt động học tập, vui chơi của trẻ.
Để đáp ứng yêu cầu trên đòi hỏi khi chuyển tiếp giữa mầm non và tiểu
học phải đảm bảo sự kế thừa, tính khoa học, những kiến thức đã được hình
thành ở lứa tuổi mầm non cần phải được củng cố và mở rộng, hoàn thiện ở
mức độ cao hơn giúp trẻ không bị những thay đổi đột ngột khi chuyển từ
hoạt động chủ đạo là vui chơi sang hoạt động học tập ở trường tiểu học.
Những năm gần đây nền kinh tế xã hội của đất nước ta có sự phát triển
không ngừng làm cho bậc học mầm non cũng được từng bước củng cố và
phát triển, để chuẩn bị cho thế hệ trẻ bước vào thời đại của nền văn minh trí
tuệ, thời đại công nghiệp hóa- hiện đại hóa đất nước vì mục tiêu chung của
giáo dục mầm non là đào tạo cho thế hệ trẻ phát triển một cách toàn diện.
II. THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ:

Trong thực tế giảng dạy tôi thấy việc chuẩn bị tâm thế tốt cho trẻ 5-6 tuổi
bước vào lớp còn gặp một số thuận lợi và khó khăn sau
* Thuận lợi:
- Về cơ sở vật chất và trang thiết bị đồ dùng đồ chơi:
Trường mầm non Nga Văn đã được công nhận là trường mầm non đạt
chuẩn quốc gia mức độ I nên trường có khuôn viên khang trang, cảnh quan
sư phạm rộng rãi phù hợp để trẻ hoạt động hàng ngày. Trường đã xây dựng
được vườn cổ tích, vườn rau của bé…Đồ dùng đồ chơi ở trong lớp học cũng
như ở ngoài sân trường đầy đủ phong phú đa dạng đảm bảo an toàn để phục
vụ cho việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ.
Và đặc biệt Lớp đã được Sở giáo dục và đào tạo cấp đầy đủ các trang
thiết bị theo đúng với danh mục tại thông tư 02 của Bộ giáo dục và đào tạo.
- Đối với Giáo viên:
Nhà trường có 100% đội ngũ cán bộ giáo viên đạt chuẩn và trên chuẩn
nhiệt tình với công việc yêu nghề mến trẻ.
Lớp tôi được nhà trường phân công 2 giáo viên nhiệt tình, yêu trẻ. 2/2
giáo viên có trình độ đại học, có nghiệm vụ sư phạm và kinh nghiệm chăm
sóc, giáo dục trẻ vững vàng.
Bản thân là giáo viên luôn có năng lực, phương pháp, tác phong công
tác khá nhiệt tình, trách nhiệm yêu nghề mến trẻ và đã được trải qua nhiều
năm kinh nghiệm thực tế đứng lớp 5 tuổi nên cũng đã tìm được ra một số
biện pháp chuẩn bị tâm lý tốt cho trẻ bước vào lớp 1.


- Trẻ 5-6 tuổi được phổ cập giáo dục ra lớp 100% nên mức độ nhận
thức tương đối đồng đều , trẻ mạnh dạn tự tin khi đến trường.Chính vì vậy
việc dạy trẻ cũng gặp nhiều thuận lợi.
*Khó khăn:
Bên cạnh những thuận lợi mà tôi có được thì tôi cũng đã gặp phải
không ít khó khăn trong quá trình giảng dạy của mình như sau:
- Đối với nhà trường:
Trường vẫn còn thiếu một số phòng chức năng như: phòng họp…
một số trang thiết bị hiện đại để phục vụ cho việc giảng dạy trẻ qua giao
án diện tử
- Đối với phụ huynh:
Xã Nga Văn là một xã phần lớn người dân làm nông nghiệp nên đời
sống nhiều khó khăn, chưa đủ điều kiện để quan tâm đến bậc học mầm non,
đang còn nghĩ trẻ đến trường cốt là để chơi, các cô giáo chỉ có việc trông coi
trẻ, dạy trẻ hát, múa, chưa quan tâm đến việc ăn uống của trẻ xem ăn như thế
nào là đảm bảo cho con em mình phát triển. Do vậy tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng
còn cao.
Một số phụ huynh lại có quan niệm để trẻ ở nhà đến 6 tuổi mới đưa ra
lớp một cho đỡ tốn tiền học đó là một trong những nguyên nhân “Ngồi nhầm
lớp”, lưu ban, bỏ học giữa chừng.
Mặt khác cũng có phụ huynh lại phó mặc con mình cho trường mầm
non dẫn đến việc không tạo ra được sự thống nhất trong công tác giáo dục
trẻ dẫn đến hiệu quả việc chuẩn bị cho trẻ vào lớp 1 không cao.
Lớp Tôi có một số phụ huynh đi làm ăm xa để con ở nhà cho Ông Bà
nên phần nào ảnh hưởng đến việc phối kết hợp với Cô giáo trong công tác
Chăm sóc – Nuôi dưỡng – Giáo dục Trẻ.
- Đối với Trẻ:
Một số cháu trong lớp chưa được đi học ở các nhóm lớp dưới 5 tuổi
nên về các mặt: Trí tuệ, tình cảm xã hội, ngôn ngữ, cũng như một số kỹ
năng sống
cần thiết còn hạn chế.
* Kết quả khảo sát chất lượng đầu năm( tháng 9/ 2014)
Đầu năm học 2014 – 2015 khi được nhà trường phân công chủ nhiệm
lớp Mẫu giáo 5 tuổi Hoa Cúc. Tôi đã tiến hành khảo sát số trẻ trên lớp của
mình như sau:
Tổng
Đạt
Chưa đạt
Nội dung khảo sát
số trẻ Số Tỷ lệ Số Tỷ lệ
trẻ %
trẻ %
- Trẻ có sức khoẻ đạt kênh bình thường về


cân nặng và chiều cao; bền bỉ, dẻo dai,
chống lại sự mệt mỏi của thần kinh, cơ bắp,
độ khéo léo của bàn tay, tính nhạy cảm của
các giác quan.
- Về mặt trí tuệ: Có sự hiểu biết về bản
thân, gia đình, môi trường xung quanh, các
biểu tượng về thời gian, không gian, có
năng lực thể hiện hoạt động trí óc như biết
so sánh, phân tích, tổng hợp….
- Trẻ có ý thức, thái độ, quan hệ tình cảm
xã hội.
- Trẻ nhận biết, phát đúng âm các chữ cái,
nghe và hiểu nghĩa của từ, trẻ biết thể hiện
cử chỉ, điệu bộ, nét mặt phù hợp với yêu
cầu giao tiếp, nhận dạng, phát âm các chữ
cái, tô chữ cái, xem và nghe đọc các loại
sách, biết Hướng đọc, viết từ trái sang phải,
từ dòng trên xuống dòng dưới.
- Trẻ có một số kỹ năng sống cần thiết phù
hợp với độ 5 – 6 tuổi.

28

21

75

7

25

28

20

71,4

8

28,6

28

22

78,6

6

21,4

28

23

82,1

5

17,9

28

23

82,1

5

17,9

III. GIẢI PHÁP VÀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN:

Từ thực trạng và khảo sát trên cho thấy chất lượng trên Trẻ còn thấp.
Vì vậy Tôi đã trăn trở và tìm ra các giải pháp áp dụng thực hiện việc chuẩn
bị tâm thế cho trẻ để trẻ tự tin, vững vàng bước vào lớp 1 như sau:
1. Giải pháp 1: Chuẩn bị về mặt thể lực cho trẻ:
Trẻ ở lứa tuổi mầm non phát triển rất nhanh về thể lực và trí lực, nếu
được nuôi dưỡng đầy đủ khoa học trẻ sẽ phát triển tốt về 5 mặt ( Đức- tríthể mỹ, lao động, thể lực). Ở lứa tuổi này dinh dưỡng của trẻ tính theo trọng
lượng cơ thể hơn người lớn. Mặt khác, do sức ăn của trẻ còn hạn chế, bộ
máy tiêu hóa, chức năng tiêu hóa hấp thụ chưa hoàn chỉnh, khả năng miến
dịch của trẻ còn hạn chế.
Lúc sinh thời Bác Hồ của chúng ta đã từng nói “ Một tâm hồn minh
mẫn
trong một cơ thể cường tráng” thật vậy một điều kiện quan trọng ảnh hưởng
trực
tiếp đến quá trình học tập của học sinh là thể lực.
Ngay từ những ngày đầu lên lớp mẫu giáo lớn chúng tôi đã cùng với
nhà trường kết hợp với nhà trường và trạm y tế xã Nga Văn cân đo khám sức
khoẻ định kỳ cho trẻ để chấm biểu đồ tăng trưởng về cân nặng, chiều cao,


phân loại bệnh tật, tôi theo dõi ghi kết quả lên góc tuyên truyền để phụ
huynh tiện theo dõi. Trao đổi với phụ huynh về tình hình học tập, chế độ
sinh hoạt, ăn uống nghỉ ngơi, đặc biệt là tình hình sức khỏe…Những trẻ ăn
chậm, biếng ăn, ít ngủ , ít vận động…Để cô giáo và phụ huynh phối kết hợp
chăm sóc trẻ.
Ví dụ 1: Trong lần cân đo, khám sức khỏe định kỳ vào tháng 9/2014.
Lớp tôi có 3/28 = 10.7 % cháu bị suy dinh dưỡng. Ngoài việc thông báo kết
quả trên góc tuyên truyền với phụ huynh, trong giờ đón trả Trẻ, Tôi đã trao
đổi với phụ huynh có con bị suy dinh dưỡng phối hợp cùng với cô giáo nuôi
dưỡng chăm sóc cháu đúng khoa học, bổ sung thêm chế độ ăn cho cháu như
gửi sữa, đồ ăn cho Trẻ đến trường để cô động viên trẻ ăn thêm ngoài bữa
chính và bữa phụ ở trường.
Ví dụ 2: Ở lớp có cháu Đăng Khang do hoàn cảnh bố mẹ bất hoà với
nhau, để cháu cho ông bà nội nuôi và đi làm ở xa. Cân đo lần 1 Cháu bị suy
dinh dưỡng độ 1, thể lực như vậy nên lúc nào Tôi cũng thấy Cháu mệt mỏi.
Cháu không ăn cháo lươn, cháo trai, canh trứng mà đến bữa ăn cháu cứ ngồi
thờ ơ, không chịu ăn, Tôi động viên, ép mãi cháu mới ăn được 3,4 thìa, vẻ
mặt buồn rầu do không được chăm sóc chu đáo về các loại thực phẩm nên
cháu ăn không quen. Cứ hôm nào tổ cấp dưỡng nấu cháo lươn cháo trai,
canh trứng là cháu không ăn, vì thế hôm tôi trao đổi với bà cháu, biết được
hoàn cảnh gia đình khó khăn nên chưa có điều kiện nấu cho cháu ăn nên
cháu ăn không quen. Từ đó tôi dỗ dành động viên, ép cho ăn mỗi lần một ít,
sau đó cháu dần dần ăn quen và ăn ngon như các bạn khác trong lớp. Thời
gian này cháu đến lớp sức khỏe mỗi ngày một khác, lần kiểm tra sức khỏe
tháng 12 và tháng 3 cháu đã tăng dần lên đạt ở kênh bình thường.
Trẻ càng nhỏ thì nhu cầu dinh dưỡng càng cao, trong những năm đầu
của cuộc sống nhu cầu phát triển cả về thể chất và tinh thần đặc biệt trong
giai đoạn trẻ từ 0 - 6 tuổi là thời gian trẻ phát triển đầy đủ các yếu tố về thể
chất và tinh thần nên nhu cầu dinh dưỡng là rất quan trọng.
Chuẩn bị về mặt thể lực cho trẻ không đơn thuần là chuẩn bị về chiều
cao và trọng lượng cơ thể mà còn là sự chuẩn bị về chất, năng lực làm việc
bền bỉ, dẻo dai có khả năng chống lại sự mệt mỏi của thần kinh, cơ bắp, độ
khéo léo của bàn tay, tính nhanh nhạy của các giác quan….
Xác định được điều đó Tôi đã thực hiện một chế độ sinh hoạt ăn uống,
nghỉ ngơi , luyện tập, dạy trẻ rèn luyện một cách khoa học và hợp lý về thời
gian và đặc điểm phát triển riêng của từng trẻ.
Bên cạnh đó, tôi tham mưu với ban giám hiệu nhà trường phân phối
chế độ sinh hoạt hợp lý cho trẻ theo mùa để trẻ được đảm bảo ăn đủ lượng
( ăn đủ suất, ăn đầy đủ các chất dinh dưỡng như: Chất đạm, chất béo, chất
bột dường, chất vi ta min và muối khoáng), ngủ đủ giấc.


Ví dụ 1: Bữa chính cho trẻ ăn từ 10h30p đến 11h, trẻ ngủ trưa dậy,
vận động nhẹ nhàng sau đó ăn bữa phụ từ 14h30 đến 15h, khoảng cách các
bữa ăn cách nhau 4 tiếng đến 4.5 tiếng lúc đó lượng thức ăn của các bữa
trước đã hấp thụ gần hết cả bữa chính và bữa phụ cần phải cho trẻ ăn hết
xuất mới đảm bảo lượng kalo cần thiết trong ngày theo quy định.
Ví dụ 2: Trong giờ ăn tôi phân công trực nhật đếm số bạn ở tổ mình
và xếp bát, thìa cho bạn, thông qua hoạt động này trẻ còn được học một số
quy luật trong phép đếm 1-1, một bạn 1 bát, 1 thìa, 1 khăn.
Hoạt động lao động tập thể cũng góp phần cho trẻ làm quen đến
những ảnh hưởng của cá nhân với tập thể điều này rất quan trọng khi trẻ lên
lớp 1.
Ví dụ: Ở lớp, Tôi luôn chú ý rèn luyện cho trẻ có thói quen vệ sinh,
khả năng tự phục vụ của bản thân như:
+ Vào thời điểm học và chơi: Trẻ tự cất đồ dùng sau khi tham gia vào
các hoạt động học có chủ định, đồ chơi sau khi chơi xong, cất sách vở tập tô
vào túi đựng riêng của mình.
+ Vào giờ ăn: Trẻ tự sắp xếp bàn ăn, Trẻ tự xúc cơm ăn, tự rửa tay,
rửa mặt trước và sau khi ăn, tự xếp bát vào chậu gọn gàng sau khi ăn xong.
+ Giờ ngủ: Trước khi ngủ Trẻ tự lấy chăm gối. Sau giờ ngủ tự gấp và
cất chăm gối, tự chải đầu, mặc quần áo...
Các thói quen này rất có ích đ đối với trẻ. Từ những thói quen này sẽ
hình thành ở trẻ sự đoàn kết cùng nhau làm việc, tính độc lập, không phụ
thuộc, ỷ lại vào người khác.


Hình ảnh: Giờ ăn trưa của trẻ lớp 5 tuổi Hoa cúc


Qua các giờ phát triển vận động của lứa tuổi như: đi chạy trèo leo, bò
bằng bàn tay cẳng chân tôi hướng dẫn trẻ cách bò cách phối hợp tay nọ chân
kia rèn cho trẻ sự khéo léo của đôi bàn tay của các giác quan như trẻ tự xỏ
quai dày, tự cài cúc áo… Hoặc với hoạt động thể dục: Bật xa 50 cm. Tôi vẽ
3 vòng tròn, khoảng cách từ vạch xuất phát đến vòng thứ nhất là 50cm, từ
vòng thứ nhất đến vòng thứ 2 là 50 cm, từ vòng thứ 2 đến vòng thứ 3 là
50cm.
Sơ đồ như sau:

x x

x x x

x

x

x

50cm
x x

x x

x

50cm
x

x

x

x

50cm

x x

Việc cho trẻ luyện tập những vận động cơ bản như vậy sẽ giúp trẻ
tăng cường sức đề kháng cho cơ thể. Giúp cơ thể khoẻ mạnh.
Ngoài những giờ luyện vận động cơ bản cho trẻ, Tôi còn đẩy mạnh việc
luyện tập thể dục sáng cho Trẻ dưới nhiều hình thức để Trẻ hứng thú tham
gia như tập với vòng gậy thể dục, tập theo băng đĩa nhạc…. Ngoài ra Tôi
còn luyện cho Trẻ các bài tập Aerobic với các động tác vừa sức. Đây là một
trong những biện pháp phát triển thể lực tốt nhất cho trẻ vì trẻ được luyện
tập đều đặn, giúp các cơ phát triển săn chắc và bền bỉ.


Hình ảnh: Giờ tập thể dục sáng của trẻ lớp 5 tuổi Hoa Cúc


2. Giải pháp 2: Chuẩn bị về mặt phát triển trí tuệ cho trẻ:
Giáo dục mầm non có một ý nghĩa quan trọng đối với việc chuẩn bị
tâm thế sẵn sàng đi học cũng như việc làm quen với những sinh hoạt gần gũi
với hoạt động học tập. Vì vậy trẻ cần phải rèn luyện về các thao tác trí tuệ,
có sự hiểu biết về bản thân, gia đình ,môi trường xung quanh, các biểu tượng
định hướng về không gian ,thời gian đồng thời có kỹ năng thực hiện hoạt
động trí óc như: So sánh ,phân tích, tổng hợp…
Trí tuệ ở đây là những hiểu biết nhất định của trẻ về các sự vật hiện
tượng xung quanh như nắng mưa, nóng lạnh, thứ bậc trong gia đình được
thực hiện thông qua các hoạt động như: hoạt động học tập, hoạt động vui
chơi…Trẻ cần đạt được những yêu cầu của các môn học, hoạt động đó chính
là hành trang và là vốn hiểu biết cần thiết để trẻ bước vào lớp 1 một cách tự
tin vững vàng.
Kỹ năng hoạt động trí óc là những hành động trí óc đơn giản như so
sánh sự giống nhau hay khác nhau của 2 hay nhiều sự vật hiện tượng, đối
chiếu về kích thước, đưa ra các câu hỏi và câu trả lời ở mức độ khó hơn và
lôgic hơn.
Khả năng định hướng không gian và thời gian là một biểu hiện của sự
phát triển trí tuệ, biết xác định trên, dưới, trước, sau, phải trái, hôm nay,
ngày mai… là điều kiện cần thiết để trẻ tiếp thu lĩnh hội chương trình học
tập ở trường tiểu học.
Ví dụ: Qua chủ đề nước và các hiện tượng tự nhiên cho trẻ làm quen
với các mùa trong năm trẻ biết được mùa hè nắng nóng đi học phải đội mũ,
mùa đông lạnh phải mặc ấm…
Ví dụ: Qua chủ đề bản thân trẻ nhận biết mình là con trai hay con gái,
biết
các bộ phận trên cơ thể,biết mình cần ăn những chất gì để lớn lên và khỏe
mạnh...
Ví dụ: Qua hoạt động làm quen với biểu tượng toán sơ đẳng: Đếm
đến 5, nhận biết số lượng trong phạm vi 5, nhận biết chữ số 5 tôi cho trẻ xếp
tương ứng 1-1 số hoa hồng và hoa cúc



Hình ảnh: Xếp tương ứng 1-1
Tôi cho trẻ đếm sau đó đặt câu hỏi “ Số quả táo và số quả cam như thế
nào với nhau” muốn số quả cam bằng số quả táo con phải làm thế nào?.
Muốn trả lời được câu hỏi này trẻ phải dùng ngôn ngữ của mình để diễn đạt,
trẻ ở lứa tuổi này học bằng chơi, chơi mà học nên ta không cứng nhắc dạy
trẻ học mà thông qua trò chơi và dần dần mối tương quan giữa nhiệm vụ
chơi và nhiệm vụ học cũng được thay đổi dần về cuối năm.
Ngoài ra để giúp Trẻ phát triển trí tuệ tốt, Tôi còn cho trẻ hoạt động
mọi lúc mọi nơi để trẻ khám phá hết những điều mới lạ xung quanh. Từ đó
phát triển khả năng tư duy, so sánh…
Ví dụ: Tổ chức cho trẻ chơi trò chơi thực nghiệm: Có gì trong chai không?
Mục đích: Giúp trẻ biết không khí không có màu, không có mùi, bằng mắt
thường ta không nhìn thấy được.
* Chuẩn bị:
- Một chai thủy tinh không đựng gì.
- Một chậu hay một bể cá nhỏ đựng nước.
*


* Cách tiến hành:
- Cho trẻ quan sát chai, nhìn, ngửi xem trong chai có chứa gì không.
- Sau đó cô hoặc trẻ cho chai nằm vào đáy chậu hoặc bể nước, sau đó
cho trẻ quan sát và nhận xét hiện tượng xảy ra là bong bóng nổi lên từ miệng
chai.
- Giáo viên tiếp tục hỏi để trẻ suy đoán và lý giải hiện tượng xảy ra theo
cách hiểu của trẻ.
* Giải thích và kết luận:
Có hiện tượng này là vì không phải trong chai không có gì mà trong
chai chứa đầy không khí. Vì không khí không có mầu, không mùi nên không
thể nhìn thấy được. Khi cho chai vào bể nước, nước tràn vào trong chiếm
chỗ trong chai nên đẩy không khí ra ngoài thành từng bọt khí ( hay bong
bóng
không
khí)
đi
lên.
3. Giải pháp 3: Chuẩn bị về mặt tình cảm- xã hội cho trẻ:
Sự phát triển tình cảm - xã hội là tiền đề quan trọng trong việc học và
phát triển toàn diện nhân cách của trẻ. Chính việc phát triển tính tự tin, tự
trọng thực hiện nhiệm vụ một cách độc lập, khả năng tập trung chấp hành
những quy định chung và sự chỉ dẫn của cô giáo là vô cùng thiết yếu giúp trẻ
học tầp tốt ở lớp 1 sau này. Khi trẻ tự tin vào chính mình, trẻ sẽ học được
cách chủ động độc lập trong việc thực hiện các nhiệm vụ đến cùng. Vì vậy


hãy để trẻ làm người lớn chúng ta là người khích lệ trẻ, cô giáo cần giáo dục
cho trẻ ý thức về bản thân như đặt các câu hỏi để kích thích trẻ biểu lộ
những suy nghĩ cảm xúc của mình thông qua tranh, ảnh, thơ, truyện…Giúp
trẻ lựa chọn và tham gia các hoạt động chơi nhằm phát triển tính tự tin, tự
lực sáng tạo của trẻ.
Tôi luôn giáo dục trẻ ý thức chấp hành nội quy, quy định ở trường,
lớp học, những nơi cộng đồng, chấp hành luật lệ an toàn giao thông.
Ví dụ: Phải xin cô khi ra hoặc vào lớp, trong giờ học muốn phát biểu
thì phải dơ tay hoặc đi chơi ở cung thiếu nhi hoặc siêu thị không được vứt
rác bừa bãi. Đi xe máy phải đội mũ bảo hiểm….
Giáo dục trẻ ý thức và thái độ cư xử phù hợp đối với người thân trong
gia
đình như : Ông, bà, cha, mẹ, cô, dì chú, bác…
Giáo dục trẻ tạo dựng mối quan hệ tốt đẹp với bạn bè, cô giáo, những
người lớn trong trường mầm non đồng thời giúp trẻ có những biểu tượng
chính xác về trường tiểu học về các mối quan hệ giữa bạn bè, thầy cô từ đó
kích thích lòng mong mỏi, háo hức được đến trường học của trẻ.
Tôi khuyến khích trẻ tự tổ chức các trò chơi đặc biệt là trò chơi đóng
vai theo chủ đề. Muốn trẻ chơi tích cực sáng tạo nghĩ ra nhiều cách chơi
trong các hoạt động ngay từ đầu tôi phải biết cách giới thiệu các góc chơi và
quản lý tốt quá trình chơi của trẻ. Biện pháp này Tôi giúp trẻ chủ động tìm
kiếm đồ chơi khi cần, triển khai trò chơi, thu dọn và cất đồ chơi đúng nơi
quy định.
- Việc giới thiệu góc chơi nên tiến hành ngay đầu giờ chơi hoặc vào
giờ sinh hoạt chiều, khi trẻ đã quen dần với các góc chơi và vị trí các đồ chơi
thì cứ mỗi đầu chủ đề nên giới thiệu nội dung chơi của từng góc. Khi trẻ
chơi đã thành thạo cô có thể chơi cùng trẻ để hướng dẫn trẻ chơi sáng tạo
hơn.
Ví dụ: Cô nhập vai vào người mua hàng “ Chào cô cô bán cho tôi cái
mũ, bao nhiêu vậy cô? Cho tôi xin, tôi cảm ơn” trẻ thấy cô mua hàng như
vậy trẻ sẽ bắt chước cô như vậy là chúng ta đã giáo dục trẻ phải biết lễ phép,
phải biết cách xưng hô.
Trong giờ chơi Tôi luôn chú ý giáo dục trẻ chơi đoàn kết với
nhau,không tranh giành đồ chơi, có mối quan hệ giao lưu với các bạn ở góc
chơi khác. Thông qua các góc chơi giáo dục trẻ luôn chấp hành các nội quy
của góc chơi đề ra đây cũng là điều kiện để kích thích lòng mong mỏi của trẻ
được làm anh chị lớn hơn.
Ngoài ra trong các giờ ngoại khoá tôi thường xuyên cho trẻ xem tranh
ảnh về trường tiểu học, hướng trẻ chú ý vào các bức tranh chỉ tư thế ngồi
học, tư thế cầm bút, tư thế mở sách, vở ... của các anh chị lớp 1.


4. Giải pháp 4: Chuẩn bị về mặt ngôn ngữ cho trẻ:
Ngôn ngữ là điều kiện, là phương tiện, là công cụ giao tiếp giữa con
người với con người. Trong quá trình lao động và học tập, con người ngoài
giao tiếp bằng ngôn ngữ nói còn sử dụng ngôn ngữ bằng chữ viết chính vì
vậy chữ viết đã chiếm một vị trí vô cùng quan trọng trong quá trình lao động
và học tập ấy.
Đối với trẻ 5- 6 tuổi, việc cho trẻ làm quen chữ cái có ý nghĩa vô cùng
quan trọng. Thông qua giờ làm quen chữ cái giúp trẻ rèn luyện việc phát âm
đúng. Khi trẻ chơi các trò chơi dân gian kết hợp với đồng dao trong giờ làm
quen chữ cái giúp trẻ có cơ hội trong việc luyện phát âm đúng.
Tất cả những nội dung, kiến thức nói cho đến cùng đều phải thông qua
tiếng mẹ đẻ. Vì vậy Tôi đã luôn chuẩn bị cho trẻ sử dụng thành thạo tiếng
mẹ đẻ trong sinh hoạt hàng ngày nhất để chuẩn bị cho trẻ vào lớp 1. Trẻ có
ngôn ngữ mạch lạc phát triển tốt thì đồng thời các quá trình tâm lý như tư
duy, tưởng tượng, trí nhớ, tri giác,.. của trẻ cũng phát triển tốt.
Bên cạnh đó, Tôi tổ chức các hoạt động nghe - nói như cho trẻ phát
âm các chữ cái, nghe và hiểu nghĩa của từ, thể hiện cử chỉ điệu bộ, nét mặt
phù hợp với yêu cầu, hoàn cảnh giao tiếp. Tôi còn cho trẻ tiếp xúc với chữ
viết trong môi trường xung quanh, nhận dạng và phát âm các chữ cái, tô chữ
cái, từ, xem và nghe đọc các loại sách. Cho trẻ làm quen với cách đọc:
hướng đọc,từ phải sang trái, từ dòng trên xuống dòng dưới, đọc truyện qua
tranh vẽ, đọc phải diễn cảm, các loại tranh vẽ phải đẹo và to, chữ viết rõ
ràng, chữ sử dụng trong sách là chữ in thường.
Việc làm quen với chữ viết được được tôi bố trí và tạo cơ hội để được
diễn ra ở mọi lúc mọi nơi tự nhiên và hứng thú cho trẻ.
Ví dụ1: Khi cho trẻ vui chơi tôi cũng chuẩn bị giấy bút ở mỗi góc
chơi, góc bác sĩ trẻ dùng bút ghi tên bệnh nhân, góc bán hàng ghi tên các
mặt hàng, góc khoa học ghi lại các kết quả nghiên cứu.
Ví dụ 2: In tên trẻ lên khăn mặt, viết tên các đồ chơi trong góc phân
vai, viết tên tiêu đề bức tranh, viết tên lên sản phẩm vẽ, nặn, đồ chơi… của
trẻ.
Tôi đã xây dựng môi trường chữ cái mọi lúc mọi nơi tạo cơ hội cho
trẻ được tham gia tiếp cận đọc, viết 29 chữ cái một cách tự nguyện tích cực
và thích thú bởi trẻ rất thích làm người lớn nhất là thích được giống cô giáo
vì thế mà góc chơi tạo hình bao giờ cũng thu hút sự tham gia đáng kể của
trẻ. Đặc biệt rất thích được cùng Tôi trang trí lớp học, làm đồ dùng, làm
thiệp chúc mừng…
Tôi tận dụng môi trường hoạt động mọi lúc mọi nơi hay những hoạt
động mà trẻ thích như vui chơi, dạo chơi, hay các hoạt động học có chủ


đích: Khám phá khoa học, hoạt động tạo hình, âm nhạc, làm quen tác phẩm
văn học...
Tác động để trẻ thích ứng với hoạt động mới qua 100 câu đố đó là hoạt
động học tập - Hoạt động chủ đạo ở tiểu học sau này.
Phân chia tổ nhóm để trẻ nhận ra vị trí của mình ở tổ nào để sau này trẻ
quen với hoạt động của “ Sao nhi đồng, đội thiếu niên” sau này.
Tôi giao trách nhiệm tự quản cho lớp trưởng, tổ trưởng( báo cáo sĩ số
hàng ngày). Tích hợp phát triển ngôn ngữ với hoạt động làm quen với tác
phẩm văn học.
Ví dụ1: Khi vào một hoạt động làm quen chữ cái tôi thường tích hợp
với các loại câu đố, thơ ca, hò, vè… như: Câu đố với chữ “ n ”.
Bình thường em đọc chữ u
Khi em quay ngược em ra chữ gì?
Ví dụ 2: Các con có thích tập tô chữ h, k không? Vậy tô thế nào thì
đẹp (trùng khít nét mờ), làm thế nào để tô chữ đẹp ( ngồi ,cầm bút đúng tư
thế). Đối với những bài đầu như o, ô , ơ hay a, ă â, thì cô dùng lời ngắn gọn
và hình ảnh trực quan ( trường tiểu học) để hướng sự mong muốn của trẻ
vào việc tập tô, viết, ngồi đúng tư thế.


Hình ảnh: Giờ tập tô chữ cái u, ư
Ví dụ: Khi dạy trẻ đến chủ đề: “ Nghề nghiệp” Tôi treo kế hoạch hoạt
động của chủ đề, đánh máy in các bài thơ, bài đồng dao….và găm vào góc


tuyên truyền với phụ huynh để giúp các phụ huynh biết được bé đang học ở
chủ đề nào và yêu cầu phụ huynh hưỡng dẫn cho trẻ gạch chân chữ cái đang
học ở trong tuần. Chằng hạn khi làm quen chữ cái “ u,ư ” tôi đánh và in bài
đồng dao:
Kéo cưa lừa kít
“Kéo cưa lừa kít
Làm ít ăn nhiều
Nằm đâu ngủ đấy
Nó lấy mất cưa
Lấy gì mà kéo”
Và ngược lại với hoạt động làm quen văn học bao giờ tôi cũng lồng ghép
tích hợp cho trẻ tiếp xúc với chữ cái nhiều trong hoạt động này. Tuy trẻ chưa
thể đọc được những dòng chữ đó nhưng bước đầu qua cách dạy này nó tăng
sự thích thú cho trẻ, qua nhiều lần tiếp xúc trẻ cũng dần hiểu được rằng các
chữ cái khi được xếp cạnh nhau thì tạo thành thành tiếng. Nhất là khi cô cho
trẻ chơi điền chữ cái còn thiếu trong tiếng chỉ từ nhân vật, sự vật trong các
tác phẩm văn học
- Ví dụ: Khi cô cho trẻ làm quen với truyện “Chú Dê đen” cô cho trẻ
quan sát tranh nhân vật chú Dê và đọc từ dưới tranh. Sau đó cô bớt đi các từ
dưới tranh “Chú Dê đ…” và cho trẻ thi đua phát hiện ra chữ còn thiếu và tìm
chữ cái đó để gắn thêm vào hoặc đến cuối năm học cô có thể cho trẻ cầm
bút viết chữ còn thiếu trong tiếng.
5. Giải pháp 5: Chuẩn bị một số kỹ năng cần thiết cho trẻ:
5.1. Kỹ năng hoạt động học tập, làm quen với các con số, chữ viết và tập
cho trẻ kỹ năng cầm Bút, cầm sách, tư thế ngồi đọc, viết…
Hiện nay việc sử dụng phương pháp dạy học tích cực trong các bậc
học đã giúp trẻ chuyển hoạt động chủ đạo từ hoạt đông vui chơi sang hoạt
động học tập một cách thuận lợi.
Để đạt được những hiệu quả trên cần tạo điều kiện cho trẻ rèn luyện
một số kỹ năng cơ bản của hoạt động học tập như việc sắp xếp bàn ghế, cách
cầm bút, mở sách, tư thế ngồi đúng…giúp trẻ thích ứng với hoạt động mới.
Thông qua chủ đề “Trường tiểu học” giáo viên cần hướng dẫn trẻ làm quen
với các đồ dùng học tập ở trường tiểu học, thường xuyên cho trẻ tiếp xúc với
sách, bút, thước kẻ... Hay khi cho trẻ đi tham quan dã ngoại là nơi cho trẻ
hiểu được thế giới xung quanh và cũng là nơi tôi gợi cho trẻ lòng ham muốn
đọc chữ.
Ví dụ 1: Như đến công viên tôi đọc cho trẻ nghe những cái bảng quy
định cho mọi người vào công viên như: Không dẫm chân lên cỏ, hoặc khu
vực cấm tới gần ở những nơi có điện tôi giúp trẻ đọc được chữ là rất bổ ích.


Hoặc khi tới các chuồng động vật tôi đọc tên cho trẻ nghe tên các con vật,
môi trường sống, thức ăn, sinh sản của các con vật trẻ lớp tôi đã phát biểu “
Sao cô giỏi quá con vật nào cô cũng biết tên” tôi chưa trả lời thì trẻ khác nói
chen vào “ Vì cô biết đọc chữ treo ở bảng”...........
Ví dụ 2: Hướng dẫn trẻ làm quen cách đọc các từ, câu đơn giản như
hướng dẫn trẻ đọc tên trẻ trong bảng danh sách lớp, gọi tên một số đồ vật
được ghi trên những đồ dùng cá nhân, bảng chữ ghi tên đồ vật thường dùng
(như bút
chì, giấy, góc Sách…) nhận biết và viết tên của bản thân.
Tôi thường xuyên đọc sách cho trẻ nghe, khi đọc cho trẻ nghe, cô cho
trẻ ngồi cùng hướng với cô, khi trẻ nghe và nhìn cách cô đọc sách trẻ có thể
học được những kiến thức từ nội dung sách, cách sử dụng sách và nguyên
tắc đọc, hướng dẫn Trẻ ý thức giữ gìn và bảo vệ sách.
Thông qua việc đọc sách trẻ khám phá các ký hiệu và mẫu chữ khác
nhau, kích Thích sự tò mò tìm hiểu các từ và chữ cho Trẻ.
Tôi thường tổ chức các hoạt động tập tô, tập vẽ giúp trẻ làm quen với
các nét cơ bản của chữ viết tiếng Việt và biết cách đưa nét tạo thành chữ
viết.
Ví dụ: Tổ chức cho trẻ các trò chơi luyện ngón tay nhằm rèn luyện
vận động của các cơ nhỏ và sự khéo léo của các ngón tay, sự phối hợp tay
mắt như chơi buộc dây, cài cúc, xếp hột hạt, chơi lăn bóng, chuyền bóng,
ném
trúng
đích,…
Hoặc Tôi tổ chức các hoạt động tạo hình như vẽ tranh, nặn, xé dán,
đồ, in hình, vò giấy,… đặc biệt các hoạt động có sử dụng bút, giấy như làm
sách, hoàn thiện bức tranh.
Ngay trong sinh hoạt ăn ngủ , đi vệ sinh, học tập tôi cũng hình thành
thói
quen đúng giờ giấc, có nề nếp nhằm hình thành ở trẻ khả năng tự kìm chế,
thói quen tốt.
Những trẻ thiếu tập trung Tôi luôn nhắc nhở khéo các bé như ngồi học
phải ngồi ngay ngắn, muốn nói gì phải giơ tay xin phép cô, khi phát biểu
phải đứng ngay ngắn, nói đủ câu, diễn đạt mạch lạc. Tập nhiều lần như vậy
trẻ sẽ có thói quen, nề nếp tốt, khi sang tiểu học trẻ sẽ không bỡ ngỡ, sợ sệt,
lo lắng.
Khi nhà trường tổ chức đi thăm quan trường tiểu học thì tôi tạo bầu
không khí hứng thú cho trẻ, khi vào trường giải thích cho trẻ biết các phòng,
ban, bàn ghế đồ dùng, sân chơi, các bảng biểu của trường tiểu học.


Hình ảnh: Dạo chơi, thăm quan trường tiểu học
Hay khi cho trẻ đi thăm quan dã ngoại là nơi cho trẻ hiểu được thế
giới xung quanh và cũng là nơi tôi gợi cho trẻ lòng ham muốn đọc chữ.
VD: Khi cho trẻ đi thăm quan sân trường tôi đọc cho trẻ nghe biển chỉ
dẫn từng khu vực như: Vườn cổ tích, vườn rau xanh, vườn cây thuốc nam…
hoặc tôi đọc tên các loại cây trong sân trường cho trẻ nghe. Có trẻ lớp tôi đã
hỏi sao cây nào cô cũng biết tên ? Tôi chưa kịp trả lời thì trẻ khác nói xen
vào “ Vì cô biết đọc chữ treo ở cây”…Trong giờ chơi, giờ ăn, ngủ giáo viên
tập cho trẻ biết sử dụng những đồ dùng sinh hoạt một cách gọn gàng, khéo
léo, có thói quen đúng giờ,có nề nếp. Các nhà khoa học đã khẳng định “
Những vận động của trẻ bằng bàn tay càng khéo léo, càng phong phú bao
nhiêu càng dễ hình thành các thao tác trí tuệ bấy nhiêu”.
5.2. Rèn luyện cho Trẻ một số kỹ năng cần thiết:
Bên cạnh chuẩn bị cho trẻ kỹ năng hoạt động học tập, Tôi còn rèn
luyện cho trẻ một số kỹ năng cần thiết để Trẻ tự tin, vững vàng bước vào lớp
1 đó là:
+ Kỹ năng sống tự tin : Tôi luôn chú ý giúp Trẻ phát triển sự tự tin,
lòng
tự trọng của trẻ. Nghĩa là giúp trẻ cảm nhận được mình là ai, cả về cá nhân
cũng như trong mối quan hệ với những người khác. Kỹ năng sống này giúp
trẻ luôn cảm thấy tự tin trong mọi tình huống ở mọi nơi.
Ví dụ: Khi trò chuyện ở mọi lúc mọi nơi, Tôi đặt ra những câu hỏi
giúp Trẻ tự tin xử lý được các tình huống xảy ra như: Nếu bị lạc đường Con
sẽ Tìm đến ai để hỏi? Nếu bị ai đó bắt nạt con sẽ làm gì?.....
+ Kỹ năng giao tiếp: Tôi cần dạy trẻ biết thể hiện bản thân và diễn đạt
ý
tưởng của mình cho người khác hiểu, trẻ cần cảm nhận được vị trí, kiến thức
của mình trong thế giới xung quanh. Đây là một kỹ năng cơ bản và khá quan
trọng đối với trẻ. Nó có vị trí chính yếu khi so với tất cả các kỹ năng khác


như đọc, viết, làm toán và khám phá khoa học. Nếu trẻ cảm thấy thoải mái
khi nói về một ý tưởng hay chính kiến nào đó, trẻ sẽ trở nên dễ dàng học và
sẽ sẵn sàng tiếp nhận những suy nghĩ mới. Đây chính là yếu tố cần thiết để
giúp trẻ sẵn sàng học mọi thứ.
Ví dụ: Trẻ biết giới thiệu về bản thân và gia đình mình trước đám
đông, Biết mình đang học ở lớp, trường nào và địa chỉ nhà mình ở đâu? Biết
cách ứng xử với mọi người xung quanh. Học cách lắng nghe mọi người và
đối đáp.
+ Kỹ năng sống hợp tác: Bằng các trò chơi, câu chuyện, bài hát Tôi
giúp trẻ học cách cùng làm việc với bạn, đây là một công việc không nhỏ đối
với trẻ lứa tuổi này. Khả năng hợp tác sẽ giúp trẻ biết cảm thông và cùng
làm việc với các bạn.
Ví dụ: Trong hội thi “Bé khỏe – Bé khéo tay có phần thi “Chung sức”
Tôi luôn động viên khuyến khích Trẻ cùng hợp tác, thi đua cùng các bạn
trong đội hoàn thành thành công việc, tạo ra sản phẩm. Nếu bạn nào hoàn
thành xong việc trước thì hỗ trợ cho Bạn chưa xong…
+ Kỹ năng thích tò mò, ham học hỏi, khả năng thấu hiểu: Đây là
một trong những kỹ năng quan trọng nhất cần có ở trẻ vào giai đoạn này là
sự khát khao được học. Giáo viên cần sử dụng nhiều tư liệu và ý tưởng khác
nhau để khêu gợi tính tò mò tự nhiên của trẻ. Nhiều nghiên cứu cho thấy
rằng, các câu chuyện hoặc các hoạt động và tư liệu mang tính chất khác lạ
thường khêu gợi trí não nhiều hơn là những thứ có thể đoán trước được.
Ví dụ: Khi kể chuyện “Cây khế” tôi đặt ra những câu hỏi gợi mở như:
Nếu là người anh khi chia tài sản, con sẽ chia như thế nào? Qua câu chuyện
này các học được ở người em đức tính gì? Gợi mở để trẻ có thể sáng tạo ra
cốt chuyện có hậu hơn ……
+ Ngoài ra, Tôi còn dạy trẻ nghi thức văn hóa trong ăn uống qua đó
dạy
trẻ kỹ năng lao động tự phục vụ, rèn tính tự lập:
Ví dụ: Dạy cho trẻ về tinh thần trách nhiệm có thể là một nhiệm vụ
không dễ dàng như Biết mời mọi người trước khi ăn, không được bốc bải,
không làm rơi vãi, không vừa ăn vừa nói nhồm nhoàn…….
6. Giải pháp 6: Tạo niềm tin với từng trẻ:
Qua thực tế trực tiếp giảng dạy tôi nhận thấy,các cháu đều có chung đặc
điểm tâm sinh lý của độ tuổi, bên cạnh đó tôi cũng hiểu rằng mỗi trẻ là một
cá thể là một tính cách riêng nên cũng có những biểu hiện tình cảm, nhận
thức khác nhau, đa số trẻ có biểu hiện hiếu kỳ ham hiểu biết chỉ cần một gợi
ý nhỏ hay đồ chơi bắt mắt là trẻ đó đòi hỏi hay tìm cách tiếp cận. Nhưng
cũng có ít trẻ lại lầm lũi , ít nói, ít thể hiện cảm xúc…Vì vậy tôi thường
xuyên tìm cách gần gũi trẻ tìm hiểu nguyên nhân từ đó tìm ra cách tạo sự


mạnh dạn tự tin chỏ trẻ, lôi cuốn trẻ tham gia vào các hoạt động như các
bạn.
Ví dụ: Cháu Nga mới đến lớp đầu tiên thường ngồi một mình, ít nói, ít
hoạt động, tôi đã dành thời gian trò chuyện, chơi với cháu kết hợp rủ các bạn
khác cùng chơi, mới đầu thì 1 cháu dần dần thì nhiều cháu cùng chơi. Sau
hơn nửa tháng Nga đã hoà đồng các bạn và ngày càng mạnh dạn, tự tin tiếp
thu bài tốt. Chính vì vậy cộng với có thể lực cân đối Cháu được chọn dự thi
“Bé khỏe – Bé khéo tay” đạt giải nhất cấp trường, giải nhì cấp Huyện.
- Với những cháu nói ngọng , nói lắp cô đến bên trẻ và phát âm cùng
trẻ.
- Với những trẻ cầm bút chưa được cô đến bên cầm tay trẻ dần dần thả
tay ra và động viên trẻ bằng những câu cổ vũ, khích lệ về gương bạn giỏi…
Chính sự quan tâm của cô đến từng trẻ trong lớp đảm bảo cho mỗi
trẻ đều có cơ hội phát triển kỹ năng học đọc, học viết chữ cái và hình thành
những tiềm năng sẵn có để hình thành những kỹ năng cần thiết cho cuộc
sống và trẻ luôn cảm thấy được cô yêu thương và đối xử công bằng.
7. Giải pháp 7: Phối kết hợp cùng phụ huynh:
Công tác giáo dục không chỉ thầy giỏi trò ngoan ở trường là được mà
đòi hỏi phải có sự phối kết hợp 3 bên gia đình, nhà trường, xã hội. Vậy để
những cố gắng và thành công của cô và trẻ ở trường không trở nên vô nghĩa
với gia đình. Đặc biệt là với phụ huynh lớp tôi chủ nhiệm khi mà khái niệm
“ Học mầm non chỉ là hát múa” thôi…. nên tôi đã mạnh dạn thực hiện biện
pháp sau:
Tạo dựng mối quan hệ thân thiện với cha mẹ trẻ. Nắm bắt được tâm
tư tình cảm của họ, họ mong muốn gỉ ở con họ và ở Cô giáo mầm non. Ngay
từ buổi đầu đến nhận lớp tôi đã thể hiện mình là một giáo viên mầm non có
phong cách, có trình độ chuyên môn và hiểu biết về đặc điểm tâm sinh lý
của trẻ như: Trang phục gọn gàng, giản dị, lịch sự. Cô đến sớm chuẩn bị
phòng lớp sạch sẽ thoáng mát.
Khi phụ huynh đưa cháu vào lớp tôi luôn ân cần chào hỏi từng người
một, nhờ phụ huynh cung cấp thông tin thêm về trẻ như: sở thích, thói
quen…Từ đó khi xây dựng góc tuyên truyền với phụ huynh để có thông tin
hai chiều, tôi thường xuyên trao đổi với các bậc phụ huynh về tình hình trẻ
trong ngày, những điểm nổi bật của trẻ khi ham gia các hoạt động. Phụ
huynh cũng biết hôm nay con mình học gì, ngày mai con mình học gì để
thống nhất nhẹ nhàng giúp trẻ ôn bài.
Ví dụ: Chị biết không hôm nay em tổ chức cho các cháu ôn chữ “ h ”
trong trò chơi tìm chữ cái trong bộ tranh, cháu nhà mình tìm rất nhanh, ngày
mai em cho các cháu ôn chữ “ k ”.


- Tạo sự yên tâm cho phụ huynh và dần thuyết phục họ chia sẻ
phương pháp dạy chữ của cô. Trò chuyện giới thiệu với phụ huynh về các
hoạt động của trẻ ở trường, giới thiệu những đồ dùng đồ chơi làm bằng
nguyên vật liệu có sẵn từ đó tuyên truyền vận động phụ huynh giúp đỡ các
cô nguyên vật liệu hoặc cho, tặng những đồ chơi dư thừa ở nhà…
Hướng dẫn phụ huynh sưu tầm sách, chọn sách, hướng dẫn trẻ các kỹ
năng học cần thiết. Phụ huynh có thể dẫn trẻ đến thăm quan trường tiểu học.
Qua việc việc áp dụng các giải pháp vào hoạt động làm quen chữ viết
cho trẻ, nhờ chất lượng làm quen chữ viết của trẻ tăng lên mà tôi thấy phụ
huynh đã có những cách nhìn khác về bậc học mầm non. Phụ huynh không
còn nghĩ đơn thuần là con em mình chỉ đến trường để chơi, ăn, ngủ… nữa
mà đã có sự quan tâm hơn trước rất nhiều. Phụ huynh thường xuyên trao đổi
trực tiếp với Tôi trong việc dạy chữ cái cho con như hỏi cô giáo về cách tô
chữ đúng quy định, đúng dòng kẻ, cách phát âm, dùng từ.....Thăm hỏi xem
khả năng của trẻ đã đến đâu để về phụ huynh kèm cặp thêm. Phụ huynh rất
hào hứng và phấn khởi khi phụ huynh nói sang năm con lên lớp một con
mình không còn sợ sệt, lo lắng nữa.
IV: KIỂM NGHIỆM

Sau quá trình sử dụng các biện pháp nêu trên để chuẩn bị tâm thế cho
trẻ vào lớp 1, thì tôi đã thu được kết quả như sau:
* Đối với trẻ
Trẻ đã có sự tiến bộ rất nhiều, mức độ đạt tốt, khá tăng lên rõ rệt, mức
độ chưa đạt giảm hẳn , điều đó phần nào chứng minh các biện pháp tôi đưa
ra có tính khả thi trong thực tiễn, nó góp phần làm phong phú thêm nội dung
chuẩn bị tốt tâm thế cho trẻ 5 - 6 tuổi bước vào lớp 1.
Bảng khảo sát Trẻ cuối năm học:

Nội dung khảo sát
- Trẻ có sức khoẻ đạt kênh bình thường
về cân nặng và chiều cao; bền bỉ, dẻo dai,
chống lại sự mệt mỏi của thần kinh, cơ
bắp, độ khéo léo của bàn tay, tính nhạy
cảm của các giác quan.
- Về mặt trí tuệ: Có sự hiểu biết về bản
thân, gia đình, môi trường xung quanh,

Tổng
số trẻ

Số
Số trẻ
Tỷ lệ
Tỷ lệ
trẻ
chưa
%
%
đạt
đạt

28

26

92,9

2

7,1

28

27

96,4

1

3,6


các biểu tượng về thời gian, không gian,
có năng lực thể hiện hoạt động trí óc như
biết so sánh, phân tích, tổng hợp….
- Trẻ có ý thức, thái độ, quan hệ tình cảm
28
28 100
0
0
xã hội.
- Trẻ nhận biết, phát đúng âm các chữ cái,
nghe và hiểu nghĩa của từ, trẻ biết thể
hiện cử chỉ, điệu bộ, nét mặt phù hợp với
yêu cầu giao tiếp, nhận dạng, phát âm các 28
27 96,4
1
3,6
chữ cái, tô chữ cái, xem và nghe đọc các
loại sách, biết Hướng đọc, viết từ trái
sang phải, từ dòng trên xuống dòng dưới.
- Trẻ có một số kỹ năng sống cần thiết 28
28 100
0
0
phù hợp với độ 5 – 6 tuổi.
* Đối với phụ huynh:
Qua việc việc áp dụng các giải pháp chuẩn bị tâm thế cho trẻ vào lớp 1,
nhờ đó mà trẻ đã có một tâm thế tốt hơn trước rất nhiều làm cho phụ huynh
trẻ an
tâm hơn. Con mình không sợ phải đi học lớp 1 nữa.
C - KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT
1. Kết luận:
Từ những kết quả trên tôi rút ra được kinh nghiệm cho bản thân trong
việc chuẩn bị tốt tâm thế cho trẻ 5- 6 tuổi bước vào lớp 1 như sau:
- Giáo viên phải nắm được đặc điểm tấm sinh lý của trẻ 5- 6 tuổi. Quan
tâm đến từng cá thể và hiểu được một số tâm tư nguyện vọng của trẻ, luôn
tôn trọng trẻ , từ đó cuốn hút trẻ vào các hoạt động một cách tự nguyện.
- Giáo viên năng động, linh hoạt trong giảng dạy, tìm hiểu tài liệu tự
học tự nâng cao trình độ bằng nhiều hình thức.
- Giáo viên phải có kiến thức về lớp 1 để giới thiệu trước cho trẻ, biện
pháp hình thức đúng đắn trong quá trình giáo dục trẻ, đảm bảo giáo viên
khôngchỉ là là cô giáo mà còn là người bạn gần gũi thân thiết với trẻ.
- Phải bám sát kế hoạch lớp từ đầu năm và thực hiện đúng vào các chỉ
số của bộ chuẩn trẻ 5 tuổi
- Cần có ý kiến báo cáo đề xuất kịp thời cho Ban giám hiệu trong quá
trình chăm sóc giáo dục trẻ để đảm bảo sao cho trẻ được chăm sóc tốt nhất
cả về thể chất và tinh thần.


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×