Tải bản đầy đủ

MỘT SỐ BIỆN PHÁP LỒNG GHÉP, TÍCH HỢP NỘI DUNG GIÁO DỤC DINH DƯỠNG VÀ VỆ SINH AN TOÀN THỰC PHẨM VÀO CÁC HOẠT ĐỘNG TRONG NGÀY CHO TRẺ MẪU GIÁO 5 ĐẾN 6 TUỔI.

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
PHÒNG GD& ĐT HUYỆN NGA SƠN
==========*0*===========

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

MỘT SỐ BIỆN PHÁP LỒNG GHÉP, TÍCH HỢP NỘI DUNG
GIÁO DỤC DINH DƯỠNG VÀ VỆ SINH AN TOÀN THỰC
PHẨM VÀO CÁC HOẠT ĐỘNG TRONG NGÀY
CHO TRẺ MẪU GIÁO 5 – 6 TUỔI.

Người thực hiện
:
Chức vụ
:
Đơn vị công tác
:
SKKN thuộc lĩnh vực:

Phạm Thanh Xuân
Giáo viên

Trường MN Nga Thái
Chuyên môn

THANH HOÁ, NĂM 2015

1


A. ĐẶT VẤN ĐỀ
Chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục trẻ là một quá trình tác động có mục đích,
có kế hoạch lên tình cảm, lý trí của trẻ nhằm thay đổi nhận thức, thái độ, hành
động để trẻ tự giác chăm lo đến vấn đề ăn uống, vệ sinh sức khoẻ, cá nhân tập
thể và cộng đồng.
Thủa sinh thời Bác Hồ muôn vàn kính yêu của chúng ta đã từng nói: “Trẻ
em hôm nay thế giới ngày mai” Thật vậy! Trẻ em là nguồn hạnh phúc của mỗi
gia đình, là tương lai của đất nước, là lớp người kế tục sự nghiệp của cha ông để
xây dựng bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa.
Ngày nay chúng ta đang sống trong thời đại Công nghiệp hoá, Hiện đại hoá
đất nước, nền kinh tế không ngừng phát triển với một sự thay đổi căn bản về cơ
cấu xã hội để tiếp cận với một nền văn minh phát triển cao. Trong đó “Con
người” đứng ở vị trí trung tâm. Giáo dục mầm non là khâu đầu tiên trong hệ
thống giáo dục Quốc dân góp phần quan trọng cải tạo tiền đề cho sự phát triển
toàn diện nhân cách trẻ.
Thực hiện nhiệm vụ của bộ giáo dục và đào tạo, ngành học mầm non đã
đưa nội dung chăm sóc, nuôi dưỡng vào chương trình giáo dục trẻ. §ây là việc
làm vô cùng cần thiết, nó tạo được sự liên thông chăm sóc nuôi dưỡng giáo dục
từ độ tuổi mầm non cho đến lứa tuổi học đường.
Cho đến nay, chuyên đề giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm
đã được tổng kết. Song năm học 2014 - 2015 trường Mầm non Nga Thái vẫn
tiếp tục tổ chức triển khai thực hiện chuyên đề đến toàn thể cán bộ, giáo viên và
nhân viên trong toàn trường, từ đó giúp cho tôi nắm vững nội dung, phương
pháp một cách thường xuyên và liên tục về giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh an
toàn thực phẩm nhằm tác động đến trẻ một cách nhanh nhất, chính xác nhất, góp
phần quan trọng trong chiến lược trồng người, tạo ra một lớp người mới có sự
hiểu biết đầy đủ về dinh dưỡng, sức khoẻ và vệ sinh an toàn thực phẩm, biết lựa
chọn một cách thông minh và tự giác, cách ăn uống để đảm bảo cho sức khoẻ
của mình.
Là một giáo viên Mầm Non, tôi luôn nhận thức sâu sắc được tầm quan
trọng của giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm đối với sức khoẻ
con người đặc biệt là trẻ lứa tuổi mầm non, đó chính là động lực thôi thúc tôi tìm

tòi ra những giải pháp, biện pháp, để “ Lồng nghép, tích hợp nội dung giáo dục
dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm vào các hoạt hoạt động trong ngày
cho trẻ mẫu giáo (5 – 6) tuổi tại trường mầm non Nga Thái” đạt hiệu quả cao.
Đó cũng chính là đề tài tôi chọn sáng kiến của mình.
2


B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ

Giáo dục mầm non là một bộ phận rất quan trọng trong việc đào tạo thế hệ
trẻ. Thực hiện lời căn dặn của Bác Hồ vĩ đại: “ Làm mẫu giáo tức là thay mẹ
dạy trẻ, muốn làm được thế thì trước hết phải yêu trẻ, các cháu nhỏ hay quấy
khóc thì phải bền bỉ, chịu khó thì mới nuôi dạy các cháu được. Dạy trẻ cũng như
trồng cây non. Trồng cây non có tốt thì sau này cây lên tốt, dạy trẻ tốt thì sau
này các cháu thành người tốt”
Thật vậy! Ở lứa tuổi này trẻ vốn có một tiềm lực mạnh mẽ nếu được giáo
dục nuôi dưỡng chăm sóc tốt, các cháu sẽ sớm phát triển về thể chất, trí tuệ, tình
cảm, thẩm mỹ, kỹ năng xã hội một cách đúng hướng. Đây là giai đoạn đặc biệt
quan trọng trong sự hình thành con người mới xã hội chủ nghĩa.
Sức khoẻ của trẻ em phụ thuộc vào yếu tố như: Chế độ dinh dưỡng, phòng
bệnh, di truyền, môi trường…trong đó dinh dưỡng có vai trò quan trọng, ảnh
hưởng trực tiếp đến sự phát triển trẻ em. Thiếu ăn, ăn không đủ chất, ăn không
hợp lý, đều gây tác hại cho sức khoẻ của trẻ. Lứa tuổi mầm non là giai đoạn cơ
thể phát triển rất mạnh rất nhanh, các cơ quan của cơ thể đang trên đà hoàn
thiện. Đây cũng là giai đoạn hình thành nhân cách của trẻ, đồng thời chuẩn bị
cho trẻ bước vào những năm đầu đời của trường tiểu học, sức khoẻ là yếu tố có
tính quyết định đến sự phát triển của con người. Sức khoẻ tốt tạo điều kiện cho
con người phát triển về thể chất nói chung, học tập và lao động nói riêng. Nhiều
công trình nghiên cứu cho thấy, trí nhớ, sự chú ý, sự cần cù, độ dẻo giai trong
học tập phụ thuộc vào trạng thái chung của sức khoẻ con người.
Trong thời đại của nền văn minh trí tuệ. Giáo dục mầm non đang có những
chuyển biến mới về chất lượng, đổi mới chung của ngành giáo dục. Dưới ánh
sáng của nghị quyết số 29-NQ/TW của Hội nghị BCH Trung ương Đảng lần thứ
8 Khóa XI về “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu
cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng
XHCN và hội nhập Quốc tế”.
Trong đó, “ Đối với giáo dục mầm non, giúp trẻ phát triển về thể chất,
tình cảm, hiểu biết, thẩm mỹ, hình thành các yếu tố đầu tiên của nhân cách,
chuẩn bị tốt cho trẻ bước vào lớp1. Hoàn thành phổ cập giáo dục mầm non cho
trẻ 5 tuổi vào năm 2015, nâng cao chất lượng phổ cập trong những năm tiếp
theo…” Vì vậy việc chăm sóc sức khoẻ cho trẻ nhằm phát triển cân đối hài hoà,
chống đỡ bệnh tật. Là một vấn đề vô cùng quan trọng và cần thiết. Nếu chúng ta
chăm sóc nuôi dưỡng không khoa học, vệ sinh cá nhân, vệ sinh môi trường
không tốt đều gây cho trẻ ốm đau bệnh tật, dẫn đến sự phát triển về thể chất bị
kìm hãm, các quá trình tâm lý đang độ hình thành cũng không thể nào phát triển
một cách cân đối hài hoà trên một cơ thể gầy gò ốm yếu.Vì con người có sức
khoẻ có muôn vàn ước mơ, người không có sức khoẻ chỉ có một ước mơ duy
nhất là “ Sức khoẻ”, “ Sức khoẻ” là vốn quý nhất của con người, có sức khoẻ là
có tất cả, là điều kiện quyết định đến sự nghiệp tiền đề tương lai.

3


Từ những lý luận và thực tiễn công tác của bản thân tôi đã xác định được có
tới 95% trẻ em trí tụê kém phát triển là do sức khoẻ, thể lực phát triển không tốt
vì vậy chúng ta cần tránh một số quan điểm chưa đúng đối với ngành học mầm
non đó là quan điểm đánh giá về chất lượng, chỉ đánh giá về kết quả học tập các
hoạt động như: Toán, KPKH, âm nhạc, tạo hình… mà chưa thực sự quan tâm
đến công tác chăm sóc, nuôi dưỡng và lồng ghép, tích hợp nội dung giáo dục
dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm cho trẻ ở trường mầm non.
Điều kiện của trẻ sẽ được chăm sóc nuôi dưỡng chu đáo, nuôi dạy con theo
phương pháp khoa học, trẻ được phát triển cân đối giữa 2 mặt thể lực và trí tuệ ,
cả một ngày trẻ được ăn, ngủ, nghỉ ngơi, học tập, vui chơi, vệ sinh cá nhân sạch
sẽ… hợp lý nên sức khoẻ của trẻ đảm bảo tốt.
Trẻ được ăn bán trú tại trường đây là điều kiện tốt nhằm giáo dục trẻ biết
lao động tự phục vụ cá nhân, biết giữ gìn vệ sinh chung, hình thành thói quen nề
nếp, ý thức kỷ luật của cô đề ra, tạo điều kiện cho trẻ giao lưu bạn bè trong lớp,
vui chơi với các cô, các bạn,các cô cấp dưỡng y tá. Dần dần hình thành cho trẻ
tình cảm yêu thương, nhường nhịn giúp đỡ lẫn nhau, biết kính trọng người trên,
yêu quý mọi người xung quanh trẻ.
Việc lồng ghép nội dung giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực
phẩm cho trẻ trong các hoạt động trong ngày là việc làm vô cùng quan trọng vì
sức khoẻ là vốn quý, qua đây tạo điều kiện cho trẻ phát triển tốt về cả thể lực và
trí tuệ sau này.
II. THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU:

*Thực trạng chung:
Công tác chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ hiện nay ở các trường mầm non trong
tỉnh đã và đang có những chuyển biến đáng kể trong công tác chăm sóc, giáo
dục trẻ và đặc biệt là công tác tổ chức chăm sóc nuôi dưỡng cho trẻ tại trường
đang được các cấp các ngành quan tâm. Trong những năm gần đây được sự quan
tâm của đảng và nhà nước về chế độ cũng như thường xuyên mở các lớp đào tạo
giáo viên, nâng cao trình độ chuyên môn nghịêp vụ chuẩn và trên chuẩn. Do đó
trình độ chuyên môn nghiệp vụ năng lực chăm sóc giáo dục trẻ của đội ngũ giáo
viên đã ngày được nâng cao rõ rệt, đáp ứng yêu cầu của ngành học mầm non và
của toàn xã hội trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Cơ sở vật chất trong các trường mầm non hiện nay cũng đã được nâng lên
rõ rệt: đa số các trường mầm non đã xây dựng được khu trung tâm và tổ chức ăn
bán trú cho các cháu. Số lượng trẻ ăn bán trú ngày một tăng, chất lượng bữa ăn
ngày một cải thiện rõ rệt, số lượng trẻ suy dinh dưỡng giảm đáng kể và một số
trường lớn đạt tỷ lệ 100% trẻ được ăn ngủ tại trường. Tuy nhiên một số trường
có khu trung tâm thì có điều kiện tổ chức cho trẻ ăn bán trú, còn một số khu lẻ
vẫn chưa tổ chức được. Do vậy vấn đề đặt ra hiện nay là làm sao trẻ mầm non
trong toàn tỉnh đều được chăm sóc nuôi dưỡng tại các nhà trường mầm non.
* Thực trạng của trường mầm non Nga Thái

4


Trường Mầm non Nga Thái được sự quan tâm của phòng giáo dục Huyện
Nga Sơn, các cấp uỷ Đảng chính quyền địa phương tạo điều kiện quan tâm giúp
đỡ xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị và đặc biệt là nhà trường có một đôi
ngũ giáo viên trẻ năng động nhiệt tình thực sự yêu nghề mến trẻ, đặc biệt là có
kiến thức về vấn đề dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm. Từ đó đã tạo được
niềm tin cho các bậc phụ huynh và nhân dân trong toàn xã.
Là giáo viên mầm non, được nhà trường phân công dạy lớp mẫu giáo (56) tuổi với số trẻ là 42 cháu. Phần lớn các cháu chưa được học qua lớp nhà trẻ và
mẫu giáo bé, nhỡ mà lên thẳng lớp (5 – 6) tuổi. Nên trong quá trình tổ chức thực
hiện chuyên đề giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm tôi đã gặp
không ít khó khăn.
Mặc dù vấn đề giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm đã được
phụ huynh học sinh quan tâm, hỗ trợ kinh phí nhưng vẫn còn một số phụ huynh,
các cấp, các ngành vẫn còn coi nhẹ vấn đề này. Dẫn đến chất lượng giáo dục
dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm chưa được nâng cao, trẻ còn suy dinh
dưỡng nhiều, mức độ nhận biết về các nhóm thực phẩm của trẻ, sự hiểu biết về
dinh dưỡng của phụ huynh còn hạn chế nguyên nhân là do:
+ Tập quán ăn uống của một số gia đình.
+ Ít cho trẻ ăn các loại giầu thực vật.
+ Chất lượng ăn uống còn phụ thuộc vào mức thu nhập của cha mẹ trẻ.
+ Một số bậc phụ huynh chưa thực sự quan tâm đến sức khoẻ của trẻ để trẻ
ăn, ngủ, vệ sinh tuỳ thích, mất vệ sinh. Từ đó dẫn đến số trẻ suy dinh dưỡng còn
nhiều và mắc một số bệnh tật như: ngoài gia, đau mắt, tiêu chảy, hô hấp...
Cho đến nay chuyên đề đã được tổng kết nhưng việc tổ chức và thực hiện
chuyên đề giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm còn nhiều hạn chế,
kết quả đạt được chưa cao, chưa đáp ứng được nhu cầu đặt ra.
* Kết quả khảo sát ban đầu cho thấy ( tháng 9 năm 2014)
Từ những thực tế trên tôi đã tiến hành khảo sát đánh giá trẻ như sau: Với tổng số
trẻ lớp tôi là 42 cháu:
Nội
dung

Vệ sinh cá nhân

Trẻ nhận biết
được 4 nhóm
thực phẩm

Trẻ kể tên các
món ăn mà trẻ
biết

Kết quả cân đo

Mức độ

T

K

TB



T

K

TB



T

K

TB



KBT

KSDD CHSVT

T.Số 42

6

8

21

7

5

8

21

8

6

8

20

8

37

5

0

Tỷ lệ: %

14 19

50

17

12 19

50

19

14

19

48

19

88

12

0

Thông qua kết qủa của thực trạng trên tổng số cháu có kiến thức về giáo dục
dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm còn hạn chế. Xuất phát từ thực trạng
đó để nâng cao chất lượng giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm

5


cao hơn nữa tôi đã mạnh dạn đưa ra một số giải pháp và biện pháp tổ chức thực
hiện như sau:
III. CÁC GIẢI PHÁP VÀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN

Thông qua quá trình tổ chức thực hiện chuyên đề giáo dục dinh dưỡng và
vệ sinh an toàn thực phẩm tôi đã có giải pháp và biện pháp tổ chức thực hiện
mang lại kết quả khả thi như sau:
1. Xây dựng kế hoạch thực hiện chuyên đề giáo dục dinh dưỡng và vệ
sinh an toàn thực phẩm.
Tuy chuyên đề giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm đã được
tổng kết nhưng sức khoẻ và tính mạng của con người, đặc biệt là của trẻ mầm
non thì vấn đề giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm vẫn luôn tác
động và ảnh hưởng trực tiếp đến trẻ. Vì vậy chuyên đề này luôn được nâng cao
cả về kiến thức và thực hành cho học sinh, phụ huynh và coi đây là chuyên đề
trọng tâm của năm học.
Để thực hiên tốt và chủ động tránh mọi đáng tiếc xảy ra, ngay từ đầu năm
học tôi đã xây dựng kế hoạch một cách cụ thể, sát thực với tình hình thực tiễn
của lớp mình, cũng như xóm mình được giao phụ trách. Sau khi xây dựng kế
hoạch xong tôi đã đưa ra cho Ban giám hiệu bổ sung góp ý để thống nhất khẳng
định mục tiêu, giải pháp để đưa vào thực hiện.
Sau khi được Ban giám hiệu góp ý kiến tôi đã xác định rõ mục đích yêu
cầu, nội dung, biện pháp, thời gian thực hiện và cụ thể từng nội dung thực hiện
lồng ghép giáo dục, làm đồ dùng, bổ sung trang thiết bị cụ thể cho từng chủ đề
một cách rõ ràng.
* Kết quả: Tôi đã xây dựng kế hoạch thực hiện chuyên đề và đây cũng là
tiêu chí được nhà trường đưa vào tiêu chí đánh giá xếp loại thi đua giáo viên
trong năm học.
2. Nâng cao kiến thức thức về giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh an toàn
thực phẩm cho bản thân.
Để hiểu rõ về mục đích, ý nghĩa và tầm quan trọng của giáo dục dinh
dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm, tôi đã chủ động tham gia các lớp chuyên
đề, các buổi hội thảo do Phòng giáo dục và nhà trường tổ chức. Và để nắm chắc
nội dung kiến thức của chuyên đề tôi đã tìm hiểu qua một số tài liệu như:
+ Dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm cho trẻ trong trường mầm non.
+ Dinh dưỡng và sự phát triển trẻ thơ.
+ Sổ tay phát thanh dinh dưỡng.
+ Cách chế biến một số món ăn cho trẻ dưới 6 tuổi.
+ Cách xử lý một số bệnh thường gặp.
+ Sổ tay phòng chống suy dinh dưỡng và một số tạp chí giáo dục mầm non
có nội dung liên quan đến chủ đề giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực
phẩm.
Để biết cách tổ chức hoạt động lồng ghép tích hợp nội dung giáo dục dinh
dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm cho trẻ một cách tích cực tôi đã tham gia dự
6


giờ mẫu của đồng chí Phạm Thị Nụ với đề tài “ Làm quen với một số loại quả”;
hay hoạt động Làm quen với tác phẩm văn học đề tài “ Quả bầu tiên” của đồng
chí Nguyễn Thị Liễu... và học tập kinh nghiệm việc xây dựng môi trường giáo
dục tại các lớp điểm, trường điểm để tạo được sự hứng thú cho trẻ khi tham gia
các hoạt động như: Lớp cô Nụ, Lớp cô Hồng và một số trường trọng điểm như:
Trường mầm non Nga Điền, mầm non Nga Liên, mầm non Thị Trấn Nga Sơn...
Ngoài ra tôi còn tham gia các hội thi làm đồ dùng đồ chơi, tham gia hội thi
dinh dưỡng qua mạng Internet do Phòng giáo dục và đào tạo Nga Sơn tổ chức.
Từ đó nâng cao kiến thức về giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm
cho bản thân.
Kết quả:
Bản thân tôi đã nắm vững kiến thức về nội dung giáo dục dinh dưỡng và vệ
sinh an toàn thực phẩm biết vận dụng kiến thức vào chuyên đề một cách linh
hoạt.
Xây dựng được môi trường giáo dục phù hợp đặc biệt là góc tuyên truyền
với phụ huynh.
Sưu tầm được nhiều bài thơ, câu đố, làm đồ dùng đồ chơi phục vụ các hoạt
động.
3. Lồng ghép, tích hợp nội dung giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh an
toàn thực phẩm cho trẻ vào các hoạt động.
Giáo dục dinh dưỡng thường không tổ chức thành một giờ riêng biệt mà
được thực hiện lồng ghép tích hợp các nội dung này vào các hoạt động khác
trong ngày. Chính vì vậy ngay từ đầu năm học ban giám hiệu nhà trường đã chỉ
đạo tất cả giáo viên chủ động lồng ghép, tích hợp nội dung giáo dục dinh dưỡng
và vệ sinh an toàn thực phẩm vào các chủ đề, các thời điểm hoạt động trong
một ngày một cách nhẹ nhàng linh hoạt sáng tạo mà không ảnh hưởng tới nội
dung chính cần chuyển tải.
3.1. Giờ đón trẻ
- Tôi cho trẻ xem tranh ảnh và trò chuyện với trẻ về các loại thực phẩm mà
trẻ biết, tác dụng của các loại thực phẩm đó đối với sức khỏe con người phù hợp
với chủ đề, gi¸o dục trẻ giữ gìn vệ sinh cá nhân, vệ sinh môi trường.
Ví dụ: Ở chủ đề “Thế giới thực vật” tôi trò chuyện với trẻ về các loại rau,
củ, quả như tên gọi, đặc điểm, là thực phẩm chứa nhiều chất vitamin, chất
khoáng, ăn các loại rau quả giúp cho cơ thể tăng sức đề kháng, phòng chống
bệnh tật. Trước khi ăn phải làm sạch, gọt sạch các loại thực phẩm, rửa tay, rửa
các dụng cụ chế biến.
- Tôi cho trẻ làm quen với đồ dùng, đồ chơi mới, từ đó giới thiệu thêm một
số thực phẩm mới cho trẻ biết về tên gọi các chất có trong các loại thực phẩm đó
giúp trẻ có thêm kiến thức về các loại thực phẩm mà địa phương không có.
Ví dụ: Ở chủ đề “Thế giới động vật” tôi cho trẻ xem đoạn Video Clip mà
tôi đã chuẩn bị về các con vật sống trong gia đình như: Con chó, con mèo, con
vịt, gà, ngan ngỗng…Sau đó giới thiệu cho trẻ biết tên gọi, đặc điểm cấu tạo, ích
lợi của chúng đối với con người. Những con vật này nuôi để lấy thịt, trứng nó
7


chứa rất nhiều chất đạm là loại thực phẩm không thể thiếu được đối với con
người.
Ngoài ra tôi còn cho trẻ kể tên các món ăn mà trẻ biết và để trẻ tự kể mình
thích ăn món gì nhất, qua đó tôi cũng tranh thủ giới thiệu thêm các món ăn khác
để góp phần làm tăng vốn hiểu biết phong phú về các món ăn cho trẻ.
Đồng thời, ở giờ đón trẻ tôi còn cho trẻ chơi tự do ở góc tự chọn, tại góc
nấu ăn tôi cho trẻ chơi với tranh mở. Tôi chuẩn bị cho trẻ những lô tô về các loại
thực phẩm sống, lô tô về quy trình chế biến món ăn,...và yêu cầu lựa chọn và sắp
xếp gắn lô tô lên góc mở theo đúng quy trình: Lựa chọn thực phẩm- chế biến
thô- Chế biến tinh - Nấu chín- Bày bàn ăn- Ăn. Qua đó, trẻ sẽ hiểu và khắc sâu,
khi chế biến một món ăn nào đó trước tiên là phải lựa chọn được thực phẩm tươi
sạch, tiếp theo là rửa sạch sẽ thực phẩm và dụng cụ chế biến, thái nhỏ sơ chế,
nấu chín rồi mới được ăn.
3.2. Hoạt động học
Trong thực tế thực hiện giảng dạy khi đưa nội dung giáo dục dinh dưỡng
vào một cách dễ dàng song cũng có các hoạt động khi đưa nội dung giáo dục
dinh dưỡng vào sẽ có cảm giác gò bó, lủng củng. Vì vậy không nhất thiết hoạt
động nào cũng phải lồng ghép tích hợp mà phải có sự lựa chọn cả về đề tài, nội
dung cũng như thời điểm nào là thích hợp. Vì vậy căn cứ vào nội dung và đề tài
cụ thể mà tôi tiến hành lồng ghép, tích hợp như sau:
* Với hoạt động làm quen với tác phẩm văn học
Ví dụ: Khi dạy bài thơ “Hạt gạo làng ta” nếu lồng dinh dưỡng bằng cách:
Sau khi đọc thơ cô hỏi: Gạo dùng để làm gì? Gạo được chế biến thành
những món ăn gi? Gạo cung cấp chất gì? Tôi nghĩ giáo dục dinh dưỡng lúc này
là không phù hợp vì: Bài thơ nói về nỗi vất vả của Người lao động một nắng hai
sương mới làm nên hạt gạo,, làm như vậy sẽ mất đi ý tưởng của bài thơ. Để lồng
ghép, tích hợp phù hợp tôi đã đưa giáo dục dinh dưỡng vào phần giới thiệu bài:
Cô cho trẻ nghe bài hát “ Hạt gạo làng ta” sau khi cho trẻ nghe xong cô hỏi:
+ Bài hát nói về hạt gì?
+ Ai đã làm ra hạt gạo?
+ Gạo cung cấp chất gì?
Từ đó giáo dục các cháu biết gạo giàu chất bột đường cung cấp năng lượng
giúp cơ thể khoẻ mạnh, gạo còn được chế biến ra nhiều món ăn khác nhau. Rồi
sau đó cô cho trẻ quan sát một loại gạo và sau đó dẫn dắt vào bài , làm như vậy
thì ý tưởng của bài sẽ không bị mất đi.
Ví dụ: Qua bài thơ “Bắp cải xanh” trẻ biết được đặc điểm cây bắp cải, cô
giới thiệu cho trẻ biết bắp cải là một loại rau có rất nhiều chất vitamin và chất
khoáng, bắp cải có thể nấu canh, luộc, xào. Qua truyện “ Hai anh em” trẻ biết
phân biêt nguồn gốc của hạt gạo, gạo nấu thành cơm nuôi sống con người, trong
gạo có rất nhiều chất bột đường, lúa gạo là do người nông dân trồng, chăm sóc
từ đó mà trẻ quý trọng sản phẩm mà người lao động làm ra, yêu quý người lao
động.
8


* Với hoạt động khám phá khoa học:
Đây là hoạt động chính giúp trẻ tiếp thu những kiến thức cơ bản về các loại
thực phẩm, các chất dinh dưỡng - sức khỏe và vệ sinh an toàn thực phẩm .
Ví dụ: Khi cho trẻ khám phá về các loại rau, củ. Tôi cho trẻ đóng vai các
loại rau củ, quả để tự giới thiệu về mình như:
Tôi là “Bắp cải” tôi mang trong mình rất nhiều Vitamin và muối khoáng
các bạn có thể chế biến tôi thành nhiều món khác nhau: luộc, xào, nấu canh và
ăn lẩu cũng rất ngon đấy tôi sãn sàng phục vụ các bạn.
Hay “ Tôi là cà rốt” da dẻ hồng hào dáng hình xinh xắn nhưng tôi lại cung
cấp rất nhiều Vitamin cho các bạn đấy nhé. Sau đó cô dẫn giắt vào bài, làm như
vậy hoạt động học sẽ trở nên sinh động và hấp dẫn rất nhiều.

( Hình ảnh: Trẻ vào vai các nhân vật rau, củ, quả và tự giới thiệu về mình)
Ngoài việc cho trẻ quan sát thông qua đồ dùng trực quan là vật thật, tôi còn
cho trẻ quan sát thông qua các hình ảnh để trẻ nắm bắt kiến thức một cách chính
xác hơn đặc biệt là quan sát, mở rộng nhận biết về chúng về các loại quả theo
các vùng miền. Qua đó trẻ nắm được kiến thức của bài học một cách nhanh nhất
Ví dụ: Khi cho trẻ làm quen với một số loại quả. Ngoài việc cho trẻ làm quen
qua những loại quả thật nhằm cung cấp kiến thức đến trẻ một cách chính xác
nhất như: Biết về đặc điểm, tên gọi, màu sắc, tác dụng và đặc biệt trẻ biết được
các kỹ năng về vệ sinh an toàn thực phẩm: Khi ăn phải gọt vỏ, ăn bỏ hạt, bỏ vỏ,
ăn quả tươi không ăn quả héo thối…

9


Ngoài ra khi trẻ đã biết một số thực phẩm giàu các chất dinh dưỡng như:
Đạm, béo, bột đường, vitamin và muối khoáng tôi đã củng cố kiến thức dưới
dạng trò chơi:
Ví dụ: Trò chơi vận chuyển thực phẩm về kho
Tôi chia các cháu ra thành nhóm, mỗi nhóm sẽ vận chuyển thực phẩm về
kho theo yêu cầu của cô
+ Nhóm 1: Vận chuyển thực phẩm giàu chất đạm.
+ Nhóm 2: Vận chuyển thực phẩm giàu chất bột đường.
+ Nhóm 3: Vận chuyển thực phẩm giàu chất Vitamin và muối khoáng.
Trò chơi này được tổ chức vào hoạt động học hoặc hoạt động chiều
Từ đó giúp trẻ nhớ thêm về các loại thực phẩm, biết các loại thực phẩm
được phân thành 4 nhóm, trẻ biết thêm được tầm quan trọng của các chất đối với
sự phát triển của trẻ. Việc giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm ở
hoạt động góc có hiệu quả vô cùng to lớn để lại ấn tượng cho trẻ rất tốt.

10


( Hình ảnh: Trẻ chơi trò chơi vận chuyển lương thực về kho)
Ví dụ: Khi cho trẻ khám phá về các con vật nuôi trong gia đình.
Tôi cho trẻ xem một số hình ảnh qua đoạn Video Clip mà tôi đã ghi lại về
con Gà, con chó, con mèo…để trẻ cùng xem. Sau đó đàm thoại cùng trẻ về các
con vật đó và giúp trẻ biết được tác dụng của các con vật, ăn thịt, ăn trứng sẽ
cung cấp chất đạm giúp cơ thể trẻ nhanh lớn, khỏe mạnh, thông minh. Qua đó
động viên những trẻ chưa thích ăn thịt, trứng để trẻ tự giác trong ăn uống.
3.3. Hoạt động ngoài trời:
Tổ chức cho trẻ hoạt động ngoài trời có nghĩa rất quan trọng trẻ được trực
tiếp tham quan, dạo chơi ngoài trời, giúp trẻ biết tên các loại thực phẩm, trực tiếp
quan sát đặc điểm của các loại thực phẩm.
Ví dụ: Quan sát “Cây Nhãn” qua đó tôi giúp trẻ gọi được tên, biết được
các đặc điểm, tác dụng của cây nhãn ngoài cho bóng mát, “Cây Nhãn” còn cho
quả ngon có nhiều chất vitamin, ăn vào giúp cho chúng ta khoẻ mạnh. Ngoài ra
còn giáo dục trẻ trước khi ăn quả phải rửa sạch quả và rửa tay bằng xà phòng …

11


(Hình ảnh: Cố và cháu đang quan sát Cây Nhãn)
Hay giờ hoạt động ngoài trời tôi lại cho trẻ quan sát vườn rau, qua đó trẻ
được gọi tên các loại rau, biết được tên gọi, đặc điểm, cách ăn, cách chế biến …

(Hình ảnh: Một giờ hoạt động bên vườn rau của bé)
Ngoài việc lồng ghép giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm
vào các hoạt động, việc tổ chức cho trẻ chơi các trò chơi, tạo điều kiện để trẻ tiếp
thu và phản ánh những hiểu biết của mình về dinh dưỡng là hoạt động hết sức
quan trọng. Trẻ được tiếp xúc với các đồ vật đồ chơi, qua trò chơi tạo điều kiện
12


để trẻ tự học hỏi nhau, thể hiện sự hiểu biết của mình về dinh dưỡng và vệ sinh
an toàn thực phẩm. Tôi đã sử dụng các trò chơi: Bé tập làm nội trợ, thi tài phân
loại các thực phẩm theo 4 nhóm chất, tôi thích ăn món nào, cùng mẹ đi chợ
vườn rau sạch của bé, trang trại gia đình, xếp chuồng cho các con vật, cùng chế
biến món ăn...
Qua các trò chơi tôi tạo điều kiện để trẻ vui chơi với đồ chơi, khi trẻ gọi tên
các thực phẩm, trẻ học cách chế biến món ăn và trẻ được thực hiện các thao tác
chế biến món ăn, cách chế biến thực phẩm và vệ sinh thực phẩm, vệ sinh cá nhân
và vệ sinh chung.
3.4. Với hoạt động góc:
Việc tổ chức cho trẻ hoạt động góc với tất cả các góc mở giúp trẻ được trải
nghiệm hoạt động của người lớn, trẻ được làm thí nghiệm, từ đó giúp trẻ hiểu
thêm về dinh dưỡng.
Ví dụ: Ở góc phân vai: Tôi đã cho trẻ bán các loại rau củ, quả qua đó giúp
trẻ không những biết được tên gọi của mặt hàng, đặc điểm, biết cách giao tiếp
giữa người mua và người bán hàng như: trẻ mua hàng muốn mua quả “ Dứa” thì
hỏi người bán hàng “Bác ơi, bác có bán dứa không?” “có cửa hàng tôi có dứa
đấy bác mua mấy quả?” Và người bán hàng nhớ đặc điểm của quả dứa mà lấy
bán cho người mua hàng từ đó giúp trẻ biết tên và nhớ loại thực phẩm.

( Hình ảnh: Trẻ đang nhập vai trò chơi bán hàng)
Ngoài ra. tôi còn tổ chức cho “Bé tập làm nội trợ”, con thích ăn món nào,
cùng mẹ đi chợ, cùng chế biến món ăn...
Qua đó trẻ được thực hành các thao tác chế biến món ăn, để trẻ hứng
thú tôi đã vào vai tham gia cùng trẻ tôi hỏi trẻ: “Mẹ ơi, mẹ đang nấu món gì
đấy?” Mẹ trả lời “mẹ đang xào rau con ạ”. Từ đó giúp trẻ biết rau được chế
biến thành những món ăn khác nhau.Từ đó trẻ học được cách chế biến món ăn

13


và trẻ được thực hiện các thao tác chế biến món ăn, cách chế biến thực phẩm và
vệ sinh thực phẩm, vệ sinh cá nhân và vệ sinh chung.

( Hình ảnh: Trẻ đang nhập vai trò chơi nấu ăn)
Hay ở góc xây dựng, giúp trẻ biết cách tạo ra thực phẩm tôi đã cho trẻ xây
dựng “ Xây dựng trang trại chăn nuôi”; “ Xây ao cá” “Xây vườn rau của
bé”… Để trẻ biết được nỗi vất vả của người nông dân khi làm ra sản phẩm, biết
cách chăm sóc, tôn trọng sản phẩm do mình làm ra.

( Hình ảnh: Trẻ đang nhập vai trò chơi xây dựng)
Các góc khác như: Góc thiên nhiên trẻ lại được trực tiếp trồng và chăm sóc
rau quả, chăm sóc các con vật nuôi; Góc học tập, góc nghệ thuật trẻ được chơi lô
14


tô, cắt, vẽ, xé dán về các con vật, các loại rau củ quả… được tạo ra những bức
tranh, được đọc thơ, ca dao, đồng dao, vè... Về các loại thực phẩm.
Qua hoạt động này trẻ gọi tên các thực phẩm, biết đặc điểm của các loại
thực phẩm, trẻ tự học cách chế biến những thực phẩm thành những món ăn. Biết
cách tạo ra những thực phẩm trong cuộc sống, biết vệ sinh cá nhân và hành vi
văn minh
3.5. Thời điểm cho trẻ ăn.
Ngoài việc lồng ghép giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm
vào các hoạt động trên việc giáo dục dinh dưỡng ở giờ ăn cũng rất quan trọng và
rất thực tế đối với trẻ. Vì vậy để trẻ nhận biết một cách nhanh nhất về các chất
dinh dưỡng và vệ sinh văn minh trong ăn uống tôi đã hướng dẫn cho trẻ học
cách tự phục vụ bản thân như: biết lấy ghế, bát, thìa, ... trẻ còn giúp nhau kê bàn
ghế, biết vệ sinh cá nhân trước khi ăn, biết chào mời người khác trước khi ăn,
khi ăn trẻ biết giữ vệ sinh chung và những hành vi văn hóa khác...
Trong khi chờ đợi chia cơm, tôi cho trẻ đọc bài thơ: “ Giờ ăn”
Giờ ăn bé nhớ lời cô
Ăn chậm nhai kỹ sao cho đàng hoàng
Ăn xong bé xếp gọn gàng
Nhặt vun cơm vãi, bé càng đáng khen”
Hoặc bài hát “ Mời bạn ăn”:
“ Mời bạn ăn ăn cho chóng lớn
Mời bạn uống, uống nước mịn da
Thịt và rau, trứng đậu cá tôm
Mình cùng ăn, chúng mình sẽ lớn nhanh
Mình cùng ăn nhất định sẽ lớn nhanh
Được đi thi bé khỏe bé ngoan”
Ngoài ra tôi hỏi trẻ về các món ăn: “ Hôm nay các cô cấp dưỡng cho các
con ăn những món gì? ”, “ Các món ăn này cung cấp chất gì? ”, “Được ăn nhiều
cơ thể chúng ta sẽ như thế nào?”. Từ đó giúp trẻ biết được tên gọi của các món
ăn cũng như các chất cung cấp trong món ăn đó, biết được tác dụng, ý nghĩa của
chúng đối với cơ thể. Đồng thời cũng trong giờ ăn tôi rèn cho trẻ biết ăn từ tốn,
nhai kỹ không nói chuyện riêng, phải ăn hết suất của mình, không làm cơm rơi
vãi, không xúc cơm đổ vào bát của bạn, không kén chọn thức ăn, không thò tay
bốc thức ăn, không cười đùa trong khi ăn. Động viên khuyến khích những trẻ
lười ăn, tôi đề ra tiêu chí thi đua để khích lệ các cháu ăn thi với nhau, “ Ăn tốt thì
cơ thể mới khỏe mạnh chóng lớn da dẻ hồng hào, học giỏi, được mọi người quý
mến. Lười ăn thì người gầy yếu mệt mỏi, da dẻ xanh xao, chậm lớn, sẽ gây bệnh
tật, học kém, bố mẹ cô giáo không vui lòng”.
Hoặc để giáo dục trẻ có thói quen vệ sinh văn minh trong ăn uống tôi có
thể
cho trẻ đọc bài thơ khác như: “Bé giữ vệ sinh”

15


“ Khi con đến trường
Mẹ thường nhắc nhở
Không ăn quả xanh
Không uống nước lã
Nếu ăn hoa quả
Gọt vỏ bỏ đi
Đến bữa ăn thì
Lau chùi bát đĩa
Chiếc thìa bé nhỏ
Rửa bằng nước sôi
Đi rửa tay thôi
Trước khi ăn chứ

Đồ dùng có đủ
Không bốc bằng tay
Nếu để cơm rơi
Ra bàn ra ghế
Khi ăn cũng thế
Không nói chuyện riêng
Ho che miệng liền
Quay đi chỗ khác
Nếu ai muốn biết
Cách giữ vệ sinh
Hãy đến trường con
Một lần thì biết.”

3.6. Hoạt động chiều
Trong hoạt động chiều, khi trò chuyện với trẻ ở giờ trả trẻ tôi hỏi trẻ hôm
nay các con được ăn những món gì? Cung cấp chất gì? Để trẻ nhớ được tên món
ăn và chất dinh dưỡng mà món ăn đó cung cấp. Đồng thời tôi cho trẻ quan sát
tranh ảnh, video Clip có lồng tiếng về các loại rau củ quả, các con vật, chơi các
trò chơi phân loại các chất dinh dưỡng theo 4 nhóm bằng lô tô, trò chơi bằng
nhựa… để trẻ tri giác và nhận biết một cách chính xác nhất.
*Kết quả: Tôi đã lồng ghép giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực
phẩm vào các hoạt động trong ngày cho trẻ một cách nhẹ nhàng, linh hoạt.
100% các cháu nắm được kiến thức về 4 nhóm thực phẩm. Hứng thú khi
tham gia các hoạt động. Biết giữ gìn vệ sinh văn minh trong ăn uống, có một số
thói quen tốt khi ăn.
4. Tìm kiếm, sưu tầm các bài thơ, bài hát, câu chuyện, tranh ảnh…. Có
nội dung về dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm để đưa vào các hoạt
động cụ thể phù hợp với chủ đề.
Để việc chuyển tải kiến thức dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm đến
trẻ không bị nhàm chán, cứng nhắc ngoài sự sưu tầm của tôi thì bên cạnh đó tôi
cũng phát động phụ huynh - học sinh tìm kiếm sưu tầm sáng tác các bài thơ, câu
đố, bài hát, trò chơi, tiểu phẩm và bài viết tuyên truyền về dinh dưỡng và vệ sinh
an toàn thực phẩm phù hợp với yêu cầu của lứa tuổi phù hợp với chủ đề.
Ví dụ: Khi thực hiên chủ đề “ Thế giới động vật” và chủ đề “Thế giới
thực vật” tôi hướng dẫn các bậc phụ huynh cho trẻ làm quen với các loại rau củ,
quả, các con vật nuôi tại gia đình. Hay còn phô tô sưu tầm các bài thơ bài hát câu
chuyện có nội dung về dinh dưỡng và sức khỏe để các bậc phụ huynh cho trẻ
học tại nhà như câu truyện: “ Người làm vườn và các con trai”, “hai anh em”,
“cây khế”, “sự tích quả dưa hấu”, “sự tích bánh chưng, bánh giầy”, “thơ bắp
cải”, “bác bầu, bác bí”, “rong và cá”, “tìm ổ”, “chú bò tìm bạn”, “giàn gấc”,
“hạt gạo làng ta” , bài hát “tôm, cá, cua thi tài”, “năm ngón tay ngoan”, “mời
bạn ăn”, “tập rửa mặt”,..Ngoài ra còn phát động phụ huynh tìm kiếm, sưu tầm

16


các bài thơ, bài hát, câu truyện, vè, ca dao có liên quan đến nội dung giáo dục
dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm.
Thông qua các bài hát, bài thơ, câu đố, trò chơi mà bản thân tôi và phụ
huynh - học sinh sưu tầm được đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi tổ chức lồng
ghép, tích hợp, tạo sự hứng thú tham gia hoạt động của trẻ.
Qua một năm phát động bản thân tôi và tập thể phụ huynh của lớp tôi đã
thu được kết quả khá khả quan.
* Sáng tác và sưu tầm được:
+ 5 bài thơ.
+ 7 câu đố.
+ 6 bài hát.
+ 3 bài tuyên truyền.
+ 1 tiểu phẩm.
Trong đó có 3 bài thơ được nhà trường đánh giá xếp loại A, 1 bài hát đặt
lời mới theo các làn điệu dân ca, có 2 bài tuyên truyền được gửi sang đài truyền
thanh xã.
5. Làm đồ dùng đồ chơi phục vụ giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh an
toàn thực phẩm.
Ngoài việc lồng ghép giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm
cho trẻ vào hoạt động trên , tôi luôn tìm tòi sáng tạo ra những đồ dùng đồ chơi
đẹp, hấp dẫn, có tính thẩm mỹ cao có đầy đủ số lượng và nhiều chủng loại để trẻ
được học, đựợc trực tiếp hoạt động với đồ dùng đồ chơi giúp trẻ nhớ lâu và hiểu
thêm về những thực phẩm có trong cuộc sống của chúng ta.
Ví dụ: Tôi dùng ống nước rửa bát màu xanh lá cây làm sạch, sau đó cắt
thành hình lá bắp cải để trẻ ghép thành cây bắp cải, cắt thành nhiều loại rau, quả
khác nhau để trẻ được chơi, được trực tiếp hoạt động.
Tôi dùng các loại giấy màu phù hợp để bồi thành hình các loại quả cho trẻ
học và trẻ chơi như: quả xoài, cam, na, đu đủ, khế, dứa..
Ngoài ra tôi còn dùng các loại phế liệu có sẵn ở địa phương để cắt tạo ra
những con vật, những loại quả… phục vụ cho các hoạt động học tập, vui chơi và
trưng bày tại môi trường xung quanh lớp đẹp, hấp dẫn, phù hợp với chủ đề như:
Quả chuối, quả dứa, rau bắp cải, lợn con, con công …
Bên cạnh đó tôi dùng các loại mo cau phơi khô để làm các loại cá. Cắt
hình con cá vàng đang bơi, rong tạo thành bức tranh về các loại cá…
Tôi còn dùng các vỏ con trai, hến làm các loại cua, bướm, các vỏ (hộp
thuốc ) và xốp màu vàng, màu xanh tạo nên nhiều các loại rau củ, quả khác
nhau.
* Kế quả: Bản thân tôi và trẻ đã làm được khá nhiều đồ dùng đồ chơi
như:
- 35 cây bắp cải.
- 20 quả dứa
- 15 củ xu hào.
- 20 củ cà rốt.
17


- 6 con cá bằng xốp màu.
- Một dàn bí xanh.
- 16 con gà cuộn bằng len, xốp màu và vỏ hến và nhiều các loại đồ
chơi tự tạo khác nữa.

( Hình ảnh: Một số đồ chơi mà tôi cùng trẻ đã làm được)
5. Tự bồi dưỡng kỹ năng tuyên truyền cho bản thân.
Trẻ mẫu giáo rất dễ nhớ nhưng cũng rất dễ quên nên hàng ngày sau khi
dạy các kiến thức về dinh dưỡng, các giáo viên thường trao đổi với phụ huynh
các cháu về bài học ấy, nhờ phụ huynh nhắc nhở trẻ nhớ lâu, nhớ kĩ hơn.
Vì thế công tác phối hợp vân động phụ huynh là đặc biệt quan trọng, để
bản thân phải có kỹ năng tuyên truyền, trình bày chuyển tải nội dung đến phụ
huynh một cách tự tin, lưu loát, thuyết phục làm cho phụ huynh hiểu vấn đề để
có thái độ hưởng ứng tốt tôi đã soạn thảo nội dung tuyên truyền sao cho ngắn
gọn, thiết thực với nhu cầu, ích lợi của phụ huynh. Muốn làm được điều đó tôi
phải vững vàng lập trường quan điểm, hiểu tường tận chính xác vấn đề mình cần
truyền đạt để có thể giải đáp thắc mắc khi phụ huynh có yêu cầu. Những nội
dung nào chưa làm cho phụ huynh thoả mãn, thì hẹn lại để giải đáp sau, đồng
thời tôi luôn lắng nghe, tiếp thu ý kiến đóng góp của phụ huynh có như thế mới
tạo được lòng tin đối với họ để họ có thái độ hợp tác với nhà trường trong công

18


tác chăm sóc giáo dục trẻ nói chung và vấn đề giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh an
toàn thực phẩm nói riêng. Các hình thức tổ chức tuyên truyền:
Tuyên truyền thông qua góc trao đổi với phụ huynh:

( Hình ảnh: Tuyên truyền về giáo dục dinh dưỡng và VSATTP)

( Hình ảnh: Tuyên truyền về giáo dục dinh dưỡng và VSATTP)

19


Tổ chức cho phụ huynh nghe báo cáo và toạ đàm về dinh dưỡng, thực hiện
nội dung này tôi đã tham mưu với nhà trường mời cán bộ y tế về phối hợp truyền
thông đến phụ huynh biết về:
+ Giá trị kiến thức dinh dưỡng cho trẻ mầm non.
+ Nấu ăn duy trì dinh dưỡng
+ Một số đặc điểm nhận biết trẻ bị suy dinh dưỡng.
+ Cách phòng bệnh viêm đường hô hấp, bệnh thuỷ đậu.
Ngoài ra tôi cũng tham gia hội thi chế biến các món ăn cho trẻ mầm non
do trường Mầm Non Nga Thái tổ chức lấy thành tích chào mừng ngày nhà giáo
Việt Nam 20/11 được phụ huynh ủng hộ nhiệt tình.
Các hình thức tuyên truyền còn thể hiện ở bản tin phụ huynh cần biết, xem
băng hình, nghe trên loa qua giờ đón trả trẻ và đài truyền thanh của xã vào các
buổi sáng và buổi tối (phối hợp với trung tâm văn hoá xã).
Thông qua tuyên truyền cho các bậc phụ huynh, kết quả về giáo dục dinh
dưỡng và VSATTP được nâng lên cụ thể là:
+ Bản thân tôi đã có kỹ năng tuyên truyền tốt.
+ 90% phụ huynh đã nhận thức đầy đủ về công tác chăm sóc giáo dục trẻ
góp phần thực hiện tốt chuyên đề.
IV. KIỂM NGHIỆM
Qua thực hiện một số biện pháp trên, bản thân được trau dồi kiến thức về
nội dung giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm.
Phụ huynh tín nhiệm tin yêu, họ yên tâm công tác vì con cái họ có kiến
thức về dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm và được chăm sóc tốt khi trẻ ở
trường mầm non.
Với trẻ có tiến bộ rõ rệt, trẻ có kỹ năng phân loại thực phẩm theo 4 nhóm,
trẻ tự vệ sinh cá nhân, trẻ kể tên các món ăn mà trẻ biết thành thạo.
Đối với các bậc phụ huynh đã nhận thức rõ được tầm quan trọng của việc
giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm, tạo điều kiện cùng cộng tác
với các cô giáo để việc giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm của
trẻ đạt hiệu quả cao nhất.
Từ khi áp dụng các biện pháp trên đến nay tôi đã thu được một số kết quả
đáng kể như sau:
* Sau khi áp dụng các biện pháp vào tổ chức thực hiện tôi đã tiếp tục cho
khảo sát và đạt được kết quả như sau: ( Tháng 4 năm 2015 )
Nội dung
Mức độ

Vệ sinh cá nhân

Trẻ nhận biết đươc Trẻ biết kể tên các
4 nhóm thực phẩm món mà trẻ biết

Kết qủa cân đo

T

K

TB



T

K

TB



T

K

TB



KTB

Tổng số: 42 13

20

8

1

14

22

5

1

12

20

8

2

40

2

0

Tỷ lệ: %

48

19

2

33

53

12

2

29

48

19

4

96

4

0

31

KSDD CHSVT

20


Qua bảng khảo sát trên cho thấy số trẻ đạt mức độ tốt khá ở các nội dung
trên tăng lên rất cao, số trẻ ở mức trung bình và yếu kém giảm xuống rõ rệt, đặc
biệt số rẻ bị suy dinh dưỡng đã giảm nhiều so với đầu năm học.
C. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT
I. KẾT LUẬN
Qua quá trình nghiên cứu, chuyên đề giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh an
toàn thực phẩm, Ban giám hiệu trường Mầm non Nga Thái đã có kế hoạch cụ thể
rõ ràng, triển khai chuyên đề đến từng giáo viên một cách có hiệu quả. Thông
qua đó bản thân tôi đã nắm chắc được mục đích, yêu cầu nội dung của chủ đề đặt
ra, để từ đó có phương pháp, biện pháp tổ chức một cách đồng loạt, thiết thực.
Nâng cao chất lượng giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm cho trẻ
bằng cách lồng ghép, tích hợp nội dung giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh an toàn
thực phẩm qua các hoạt động trong ngày cho trẻ 5 - 6 tuổi, cũng là nâng cao chât
lượng hoạt động toàn diện. Và đây cũng là một trong những nội dung trọng tâm
cơ bản là một trong những tiêu chí xếp loại thi đua của trường.
II. ĐÊ XUẤT
Đề nghị các cấp lãnh đạo chính quyền địa phương, phối hợp với trung tâm
y tế dự phòng tỉnh, huyện quản lý chặt chẽ hơn nữa tới chất lượng các nguồn
thực phẩm trên thị trường để tránh hàng nhái, hàng giả, hàng kém chất lượng ảnh
hưởng đến đời sống và sức khoẻ con người.
Tăng cường công tác phối kết hợp giữa y tế dự phòng, phòng chống suy
dinh dưỡng. Mở các lớp bồi dưỡng kiến thức về dinh dưỡng và vệ sinh an toàn
thực phẩm cho tất cả các đối tượng tham gia trực tiếp công tác chăm sóc nuôi
dưỡng trẻ.
Tạo điều kiên về cơ sở vật chất trang thiết bị dạy học, đồ dùng, đồ chơi
trong và ngoài lớp, trang thiết bị chăm sóc nuôi dưỡng, đồ dùng tiếp cận với
công nghệ thông tin để đảm bảo chăm sóc trẻ được tốt hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG
ĐƠN VỊ

Trịnh Thị Oanh

Nga Sơn, ngày 12 tháng 4 năm 2015
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của
mình viết, không sao chép nội dung
của người khác.

Phạm Thanh Xuân

21



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×