Tải bản đầy đủ

công nghiệp hóa hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT TP.HCM
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ


MÔN HỌC: ĐƯỜNG LỐI CÁCH MẠNG CỦA ĐẢNG CỘNG
SẢN VIỆT NAM

TIỂU LUẬN

CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA GẮN
VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRI THỨC

Tp. Hồ Chí Minh, tháng 11 năm 2016


BẢNG PHÂN CÔNG CÔNG VIỆC

HỌ TÊN
Trần Đức Lâm
Nguyễn Hoàng Anh
Lưu Thị Ngọc

Nguyễn Sơn Tùng
Võ Văn Thành

NHIỆM VỤ
Tìm nội dung, lên dàn bài tiểu luận,
thuyết trình.
Tìm nội dung, tổng hợp và sửa bài tiểu
luận, thuyết trình.
Tìm nội dung, viết tiểu luận, thuyết
trình.
Tìm nội dung, thiết kế powerpoint,
thuyết trình.
Tìm nội dung, thiết kế powerpoint,
thuyết trình.

KẾT QUẢ
KÝ TÊN
Hoàn thành tốt
Hoàn thành tốt
Hoàn thành tốt
Hoàn thành tốt
Hoàn thành tốt

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU……………………………………………………………………………….1


Chương 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI
HÓA VÀ KINH TẾ TRI THỨC……………………………………………………3
1.1. Khái niệm và quan điểm về công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Đảng Cộng sản
Việt Nam…………………………………………………………………………….....3
1.1.1. Khái niệm………………………………………………………………………3
1.1.2. Quan điểm về công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Đảng Cộng sản Việt
Nam…………………………………………………………………………………….3
1.2. Khái niệm và quan điểm về kinh tế tri thức của đảng cộng sản Việt
Nam………………………………………………………………………………….....7
1.2.1. Khái niệm kinh tế tri thức…………………………………………………...7
1.2.2. Quan điểm về kinh tế tri thức của Đảng Cộng sản Việt Nam…………….....7
Chương 2. CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA GẮN LIỀN VỚI PHÁT
TRIỂN KINH TẾ TRI THỨC……………………………………………………...8

2.1. Phát triển kinh tế tri thức là xu hướng tất yếu khách quan.………..……..…..8
2.2. Phát triển kinh tế tri thức giúp rút ngắn và nâng cao hiệu quả công nghiệp
hóa, hiện đại hóa………………………………………………………………..….11
2.2.1. Kinh tế qua các thời kỳ………………………………………………………...12
2.2.1.1. Thời kỳ nền kinh tế nông nghiệp………………………………...…….……..12
2.2.1.2. Thời kỳ nền kinh tế công nghiệp…………………………………………..….12
2.2.1.3. Thời kỳ nền kinh tế tri thức………………………………………………...…13


2.2.2. Bài học của một số quốc gia tương đồng………………………………..….13
2.2.3. Sự cần thiết phải đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển
kinh tế tri thức ở Việt Nam…………………………………………………………...14
2.2.4. Quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ của CNH – HĐH gắn với phát triển kinh tế
tri

thức

của

Việt

Nam……………………………………………………………………15
2.2.5. Định hướng phát triển các ngành và lĩnh vực kinh tế…………………..……15
Chương 3. GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA
GẮN VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRI THỨC………………………………...17
3.1. Thứ nhất, nhóm giải pháp về chủ trương, chính sách………………………19
3.2. Thứ hai, nhóm giải pháp về xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao……...20
3.3. Thứ ba, nhóm giải pháp về khoa học, công nghệ……………………………...21
KẾT LUẬN…………………………………………………………...……………...23
TÀI LIỆU THAM KHẢO….......................................................................................24


MỞ ĐẦU
Đất nước Việt Nam đã phải trải qua thời gian dài chiến tranh để dành độc lập, tự
do. Dân tộc Việt Nam đã phải chịu nhiều hi sinh, mất mát để giữ vững độc lập tự do
ấy. Ngày nay đất nước đã hòa bình, nhân dân ta đang trên con đường xây dựng phát
triển đất nước ngày càng giàu mạnh hơn. Toàn cầu hóa kinh tế đang là một xu hướng
nổi trội và đang trở thành môi trường của những cuộc cạnh tranh gay gắt giữa các
nước trên thế giới. Đứng trước thực trạng như vậy, phát triển đất nước theo đường nối
đổi mới, Chính phủ Việt Nam ngày càng nhận thẩy rõ sự cần thiết phải tham gia vào
quá trình đó.
Chúng ta đang sống trong một thời đại cách mạng công nghiệp. Quanh ta khắp
mọi nơi trên thế giới đã và đang diễn ra quá trình chuyển đổi trong đời sống kinh tế.
Quá trình đổi mới kinh tế là quá trình khó khăn nhất đối với mỗi dân tộc và các chế độ
muốn thay đổi mô hình kinh tế của mình. Có nhiều xu hướng khác nhau, song có một
chủ đề chung là chuyển nền kinh tế chung sang định hướng thị trường. Với xu hướng
phát triển tất yếu của thời đại, Việt Nam cũng chọn cho mình một con đường phát triển
kinh tế. Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam đã chọn cho đất nước của mình con
đường phát triển nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã
hội chủ nghĩa. Đó là con đường phát triển tất yếu phù hợp với những điều kiện vốn có.
Nước ta thuộc vào nhóm nước đang phát triển, là một trong nhóm nước nghèo
trên thế giới, nông nghiệp lạc hậu còn chưa thoát khỏi xã hội truyền thống để sang “Xã
hội văn minh công nghiệp”. Do đó khách quan cần tiến hành công nghiệp hóa hiện đại
hóa là nội dung, phương thức là con đường phát triển nhanh có hiệu quả. Đối với nước
ta quá trình công nghiệp hóa gắn liền với hiện đại hóa, nó làm chuyển xã hội truyền
thống thành xã hội hiện đại, làm biến đổi căn bản bộ mặt của xã hội trên tất cả các lĩnh
vực chính trị, kinh tế, xã hội...
Từ Đại Hội Đảng VI của Đảng xác định đây là thời kỳ phát triển mới – “ Thời kỳ
đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” định hướng phát triển nhằm mục
5


tiêu “Xây dựng đất nước ta thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất kỹ thuật
hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát
triển của lực lượng sản xuất, đời sống vất chất và tinh thần cao, quốc phòng an ninh
vững chắc, dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh”.
Muốn thoát khỏi tình trạng nghèo nàn, lạc hậu, nâng cao đời sống nhân dân thì
không còn đương nào khác là chúng ta phải đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa hiện
đại hóa. Để làm được như vậy một vấn đề được đặt lên hàng đầu đó là vấn đề phát
triển lưc lượng sản xuất, nâng cao kỹ thuật công nghệ, và trong đó đặc biệt là phát
triển nguồn nhân lực. Quan trọng hơn cả khi phát triển nguồn nhân lực, đó là tri thức,
gắn với nền kinh tế tri thức. Đại Hội lần Thứ X của Đảng đã khẳng định: “Tranh thủ
cơ hội thuận lợi do bối cảnh quốc tế tạo ra và tiềm năng, lợi thế của nước ta để rút
ngắn quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo định hướng xã hội chủ
nghĩa gắn với phát triển kinh tế tri thức, coi kinh tế tri thức là yếu tố quan trọng của
nền kinh tế và của công nghiệp hóa, hiện đại hóa”. Chính vì vậy, nhóm chúng tôi lựa
chọn đề tài: “Công nghiệp hóa – hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức”.

6


Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA VÀ
KINH TẾ TRI THỨC
1.1. Khái niệm và quan điểm về công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Đảng Cộng sản
Việt Nam
1.1.1. Khái niệm
Tại Hội nghị Trung ương lần 7 khoá VII (tháng 1-1994), Đảng ta đã đưa ra khái
niệm công nghiệp hóa, hiện đại hóa như sau: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là quá
trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và
quản lý kinh tế - xã hội, từ sử dụng sức lao động thủ công là chính sang sử dụng một
cách phổ biến sức lao động với công nghệ, phương tiện, phương pháp tiên tiến hiện
đại, dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học công nghệ, tạo ra năng
suất lao động xã hội cao.
1.1.2. Quan điểm về công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Đảng Cộng sản Việt Nam
Bước vào thời kỳ đổi mới, trên cơ sở phân tích khoa học các điều kiện trong
nước và quốc tế, Đảng ta nêu ra những quan điểm mới chỉ đạo quá trình thực hiện
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong điều kiện mới. Những quan điểm này
được Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương khóa VII nêu ra và được phát
triển, bổ sung qua các Đại hội VIII, IX, X, XI của Đảng. Những quan điểm cơ bản của
Đảng về công nghiệp hóa, hiện đại hóa thời kỳ đổi mới:
Một là, công nghiệp hóa gắn với hiện đại hóa và công nghiệp hóa, hiện đại hóa
gắn với phát triển kinh tế tri thức.
Từ thế kỷ XVII, XVIII, các nước Tây Âu đã tiến hành công nghiệp hóa. Khi đó,
công nghiệp hóa được hiểu là quá trình thay thế lao động thủ công bằng lao động sử
dụng máy móc. Nhưng trong thời đại ngày nay, Đại hội X của Đảng nhận định: “Khoa
7


học và công nghệ sẽ có bước tiến nhảy vọt và những đột phá lớn”. Kinh tế tri thức có
vai trò ngày càng nổi bật trong quá trình phát triển lực lượng sản xuất. Cuộc cách
mạng khoa học và công nghệ hiện đại tác động sâu rộng tới mọi lĩnh vực của đời sống
xã hội. Bên cạnh đó, xu thế hội nhập và tác động của quá trình toàn cầu hóa đã tạo ra
nhiều cơ hội cũng như thách thức đối với đất nước. Trong bối cảnh đó, nước ta cần
phải và có thể tiến hành công nghiệp hóa theo kiểu rút ngắn thời gian khi biết lựa chọn
con đường phát triển kết hợp công nghiệp hóa với hiện đại hóa.
Nước ta thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa khi trên thế giới kinh tế tri thức
đã phát triển. Chúng có thể và cần thiết không trải qua các bước phát triển tuần tự từ
kinh tế nông nghiệp lên kinh tế công nghiệp rồi mới phát triển kinh tế tri thức. Đó là
lợi thế của các nước đi sau, không phải là nóng vội duy ý chí. Vì vậy, Đại hội X của
Đảng chỉ rõ: đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri
thức, coi kinh tế tri thức là yếu tố quan trọng của nền kinh tế và của công nghiệp hóa,
hiện đại hóa.
Đại hội XI của Đảng nhấn mạnh thêm: “Thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức và bảo vệ tài nguyên, môi trường; xây dựng
cơ cấu kinh tế hợp lý, hiện đại, có hiệu quả và bền vững, gắn chặt chẽ công nghiệp,
nông nghiệp, dịch vụ”.
Hai là, công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế.
Khác với công nghiệp hóa ở thời kỳ trước đổi mới, được tiến hành trong nền
kinh tế kế hoạch hóa tập trung, lực lượng làm công nghiệp hóa chỉ có Nhà nước, theo
kế hoạch của Nhà nước thông qua các chỉ tiêu pháp lệnh. Thời kỳ đổi mới, công
nghiệp hóa, hiện đại hóa được tiến hành trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa, nhiều thành phần. Do đó, công nghiệp hóa, hiện đại hóa không phải chỉ là
việc của Nhà nước mà là sự nghiệp của toàn dân, của mọi thành phần kinh tế, trong đó
8


kinh tế nhà nước là chủ đạo. Ở thời kỳ trước đổi mới, phương thức phân bổ nguồn lực
để công nghiệp hóa được thực hiện bằng cơ chế kế hoạch hóa tập trung của Nhà nước,
còn ở thời kỳ đổi mới dược thực hiện chủ yếu bằng cơ chế thị trường. Công nghiệp
hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế thị trường không những khai thác có hiệu
quả mọi nguồn lực trong nền kinh tế, mà còn sử dụng chúng có hiệu quả để đẩy nhanh
quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Bởi vì, khi đầu tư vào lĩnh vực nào,
ở đâu, quy mô thế nào, công nghệ gì đều đòi hỏi phải tính toán, cân nhắc kỹ càng, hạn
chế đầu tư tràn lan, sai mục đích, kém hiệu quả và lãng phí, thất thoát.
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế ở nước ta hiện nay diễn ra trong bối
cảnh toàn cầu hóa kinh tế, tất yếu phải hội nhập và mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế.
Hội nhập kinh tế quốc tế, mở rộng quan hệ kinh tể đối ngoại nhằm thu hút nguồn vốn
đầu tư nước ngoài, thu hút công nghệ hiện đại, học hỏi kinh nghiệm quản lý tiên tiến
của thế giới…sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển. Hội nhập kinh tế
quốc tế còn nhằm khai thác thị trường thế giới để tiêu thụ các sản phẩm mà nước ta có
nhiều lợi thế, có sức cạnh tranh cao. Nói cách khác, đó là việc kết hợp sức mạnh dân
tộc với sức mạnh thời đại để phát triển kinh tế nói chung và công nghiệp hóa, hiện đại
hóa nói riêng nhanh hơn, hiệu quả hơn.
Ba là, lấy phát huy nguồn lực con người là yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh
và bền vững.
Trong các yếu tố tham gia vào quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, yếu tố
con người luôn được coi là yếu tố cơ bản. Để tăng trưởng kinh tế cần 5 yếu tố chủ yếu
là: vốn; khoa học và công nghệ; con người; cơ cấu kinh tế; thể chế chính trị và quản lý
nhà nước, trong đó con người là yếu tố quyết định. Để phát triển nguồn lực con người
đáp ứng yêu cầu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước cần đặc biệt chú ý đến
phát triển giáo dục, đào tạo.

9


Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là sự nghiệp của toàn dân, của mọi thành phàn
kinh tế, trong đó lực lượng cán bộ khoa học và công nghệ, khoa học quản lý cũng như
đội ngũ công nhân lành nghề giữ vai trò đặc biệt quan trọng. Nguồn nhân lực của công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đòi hỏi phải đủ số lượng, cân đối về cơ cấu và trình độ, có
khả năng nắm bắt và sử dụng các thành tựu khoa học và công nghệ tiên tiến của thể
giới và có khả năng sáng tạo công nghệ mới. Đại hội XI chỉ rõ: “Phát triển và nâng
chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao là một đột phá
chiến lược, là yếu tố quyết định đẩy mạnh phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ,
cơ cấu lại nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng và là lợi thế cạnh tranh quan
trọng nhất, bảo đảm cho phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững”.
Bốn là, khoa học và công nghệ là nền tảng và động lực của công nghiệp hóa, hiện
đại hóa.
Khoa học và công nghệ có vai trò quyết định đến tăng năng suất lao động, giảm
chi phí sản xuất, nâng cao lợi thế cạnh tranh và tốc độ phát triển kinh tế nói chung.
Nước ta nên lên chủ nghĩa xã hội từ một nền kinh tế kém phát triển và tiềm lực khoa
học, công nghệ còn ở trình độ thấp. Muốn đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện
đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức thì phát triển khoa học và công nghệ là yêu
cầu tất yếu và bức xúc. Phải đẩy mạnh việc chọn lọc nhập công nghệ, mua sáng chế
kết họp với phát triển công nghệ nội sinh để nhanh chóng đổi mới và nâng cao trình độ
công nghệ, nhất là công nghệ thông tin, công nghệ sinh học và công nghệ vật liệu mới.
Năm là, phát triển nhanh và bền vững; tăng trưởng kinh tế đi đôi với phát triển
văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; bảo vệ môi trường tự nhiên, bảo tồn đa
dạng sinh học.
Xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta thực chất là nhằm thực hiện mục tiêu dân
giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Để thực hiện mục tiêu đó, trước hết
kinh tế phải phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững. Chỉ như vậy mới có khả năng xóa
10


đói, giảm nghèo, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, phát triển văn
hóa, giáo dục, y tế, rút ngắn khoảng cách chênh lệch giữa các vùng... Mục tiêu đó thể
hiện sự phát triển vì con người, mọi con người đều được hưởng thành quả của phát
triển.
1.2. Khái niệm và quan điểm về kinh tế tri thức của đảng cộng sản Việt Nam
1.2.1. Khái niệm kinh tế tri thức
Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) đã đưa ra định nghĩa về kinh tế tri
thức như sau: Kinh tế tri thức là nền kinh tế trong đó sự sản sinh ra, phổ cập và sử
dụng tri thức giữ vai trò quyết định nhất đối với sự phát triển kinh tế, tạo ra của cải,
nâng cao chất lượng cuộc sống. Trong nền kinh tế tri thức, những ngành kinh tế có tác
động to lớn tới sự phát triển là những ngành dựa nhiều vào tri thức, dựa vào các thành
tựu mới của khoa học công nghệ. Đó là những ngành kinh tế mới dựa trên công nghệ
cao như công nghệ thông tin, công nghệ sinh học và cả những ngành kinh tế truyền
thống như nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ được ứng dụng khoa học, công nghệ
cao.
1.2.2. Quan điểm về kinh tế tri thức của Đảng Cộng sản Việt Nam
Xuất phát từ thực tiễn nền kinh tế nước ta, Đảng ta đề ra chiến lược phát triển
kinh tế tri thức gắn với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Nghị quyết
Đại hội Đảng lần IX đã chỉ rõ: Phát triển kinh tế, công nghiệp hoá, hiện đại hoá là
nhiệm vụ trung tâm. Con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá của nước ta cần và có
thể rút ngắn thời gian, vừa có những bước tuần tự, vừa có bước nhảy vọt. Phát huy
những lợi thế của đất nước, tận dụng mọi khả năng để đạt trình độ công nghệ tiên tiến,
đặc biệt là công nghệ thông tin và công nghệ sinh học, tranh thủ ứng dụng ngày càng
nhiều hơn, ở mức cao hơn và phổ biến hơn những thành tựu mới về khoa học và công
nghệ, từng bước phát triển kinh tế tri thức. Phát huy nguồn lực trí tuệ và sức mạnh tinh

11


thần của người Việt Nam; coi phát triển giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ là
nền tảng và động lực của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Nước ta muốn thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước thì phải tận dụng những cơ hội do sự phát triển của khoa học công nghệ tạo ra.
Phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam thực chất là đẩy mạnh ứng dụng các thành tựu
khoa học công nghệ hiện đại ở tất cả các ngành, các lĩnh vực.
Chương 2
CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA GẮN LIỀN VỚI PHÁT TRIỂN KINH
TẾ TRI THỨC
2.1. Phát triển kinh tế tri thức là xu hướng tất yếu khách quan
Lịch sử cho thấy, lao động sản xuất luôn luôn dựa vào tri thức, chỉ khác nhau ở
mức độ sử dụng. Cách đây vài ngàn năm, kinh tế nông nghiệp phát triển, phải dựa
nhiều vào hiểu biết về canh tác, chăn nuôi, thời tiết... tức là những kiến thức cơ bản về
nông nghiệp. Nhưng đất đai, lao động thủ công, sức người quan trọng hơn, nên tri thức
chưa thể phát huy hết sức mạnh của nó. Đến khoảng giữa thế kỷ XVIII, kinh tế công
nghiệp cơ giới xuất hiện và phát triển mạnh, dựa vào các tri thức cơ học cổ điển để chế
tạo ra máy móc cơ khí phục vụ sản xuất. Nhưng để hình thành được thị trường hàng
hóa của kinh tế công nghiệp cổ điển thì tài nguyên và vốn (tư bản) lại quan trọng hơn
cả nên tri thức cũng chỉ có vai trò thứ yếu.
Đến giữa thế kỷ XX, kinh tế công nghiệp cổ điển không còn khả năng phát triển
và bắt đầu suy thoái, vì tài nguyên trở nên cạn kiệt, ô nhiễm ngày càng nghiêm trọng,
chiến tranh hủy diệt đe dọa thường xuyên... Trong bối cảnh đó cuộc cách mạng khoa
học công nghệ hiện đại xuất hiện và phát triển bùng nổ, dựa trên những khối tri thức
khổng lồ, rất mới và vô cùng phong phú về thế giới vật chất vĩ mô và vi mô, với thuyết
tương đối và thuyết lượng tử. Lực lượng sản xuất mới được hình thành dựa trên nguồn

12


lực chủ yếu là tri thức, tạo nên hệ thống công nghệ cao với máy móc thông minh mà
điển hình là máy tính điện tử (máy điện toán) mô phỏng não người.
Sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất mới này đã dẫn tới một hình thái
kinh tế mới. Đó là một nền kinh tế trong đó việc sáng tạo tri thức, sự lan truyền và
quảng bá nhanh tri thức đưa vào ứng dụng là động lực chủ yếu của tăng trưởng kinh tế,
tạo ra của cải, tạo ra việc làm cho tất cả các ngành kinh tế. Nhà kinh tế học P.F.Durker
gọi đó là nền kinh tế tri thức và tên gọi này hiện nay đã trở thành phổ biến với việc sử
dụng chính thức của Ngân hàng thế giới. Trong nền kinh tế mới, kinh tế tri thức sản
xuất chủ yếu dựa vào nguồn lực tri thức. Tài nguyên và vốn dù quan trọng nhưng đã
trở thành thứ yếu.
Như vậy, trong tiến trình lịch sử phát triển của nhân loại con người là động vật
duy nhất có năng lực sáng tạo tri thức, do đó biết lao động sản xuất và tiến dần tới nền
kinh tế dựa vào tri thức là chính. Bởi vậy, kinh tế tri thức là một lịch sử tất yếu.
Cách mạng khoa học công nghệ hiện đại, khoảng từ giữa thế kỷ XX, dựa trên
những tri thức sáng tạo, đi sâu vào thế giới vĩ mô và thế giới vi mô, dẫn tới sự phát
minh ra các máy móc, thuộc loại hoàn toàn mới, gọi là máy móc thông minh. Điển
hình là máy điện toán, mô phỏng được những chức năng chủ yếu của não người: biết
nhớ, biết tính toán kể cả các bài toán rất phức tạp, biết thực hiện các lệnh, biết tư vấn
cho người dùng trong một số việc..., đóng vai trò chính trong các hệ tự động hóa toàn
phần của sản xuất và trong các mạng thông tin toàn cầu. Máy móc thông minh kết hợp
với tri thức sáng tạo trở thành nguồn lực của các công nghệ cao như: công nghệ thông
tin hoặc công nghệ thông tin và truyền thông, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu
tiên tiến - nano..., trong đó công nghệ thông tin và truyền thông giữ vai trò dẫn đầu. Hệ
thống công nghệ cao là cốt lõi của lực lượng sản xuất mới. Sự phát triển mạnh mẽ của
lực lượng sản xuất mới đã thúc đẩy hình thành nền kinh tế tri thức trong nửa sau của
thế kỷ XX.

13


Tại Việt Nam, một đất nước phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Kinh
tế tri thức là xu hướng tất yếu của quá trình phát triển kinh tế thị trường mấy trăm năm
qua. Bản chất của kinh tế thị trường là xã hội hóa lao động và sản xuất ngày càng sâu
sắc cả về chiều rộng và chiều sâu, mà giai đoạn lịch sử đầu gắn liền với chủ nghĩa tư
bản. Sau cuộc cách mạng kỹ thuật thế kỷ XVIII, nền kinh tế thị trường hiện đại phát
triển đầy biến động và nhanh dần, nó để lại đằng sau những gì là lỗi thời về cơ sở kỹ
thuật, về quan hệ kinh tế, xã hội và thể chế chính trị. Đồng thời, nó cũng luôn phát
hiện ra những lực lượng sản xuất mới, những quan hệ kinh tế, xã hội, chính trị mới để
không ngừng phát triển. Do đó, kinh tế thị trường không ngừng mở rộng không gian
sản xuất và trao đổi, từ phạm vi vùng, miền ra phạm vi quốc gia, khu vực và toàn cầu.
Trong thực tiễn, bản chất kinh tế thị trường luôn gắn liền với hình thái lịch sử
về quan hệ sản xuất và thể chế chính trị. Chỉ có quan niệm duy vật lịch sử mới giúp ta
nhận thức đúng cơ sở chung của kinh tế thị trường ở các giai đoạn khác nhau. C. Mác
đã từng chỉ rõ về phương pháp luận: Nếu người ta trút bỏ tính chất đặc trưng tư bản
chủ nghĩa của tiền công, cũng như của giá trị thặng dư, của lao động cần thiết cũng
như của lao động thặng dư, thì tất cả hình thái biến mất và chỉ còn lại là cơ sở của
chúng, những cơ sở này là chung cho tất cả mọi phương thức sản xuất xã hội. Đây là
căn cứ để chúng ta nhận thức đúng về kinh tế thị trường và giai đoạn cao là kinh tế tri
thức. Chỉ có nắm chắc những cơ sở chung mới có khả năng vận dụng vào thực tiễn có
hiệu quả. Thực tiễn cho thấy: Không nhận thức đúng kinh tế thị trường thì khó nhận
thức đúng kinh tế tri thức, càng không thể vận dụng kinh tế tri thức.
Xu hướng phát triển lực lượng sản xuất hiện đại tất yếu đi đến ra đời kinh tế tri
thức. Thực tiễn phát triển lực lượng sản xuất hiện đại khoảng 300 năm qua cho thấy,
sức sống và trình độ phát triển lực lượng sản xuất hiện đại đều bắt nguồn từ trình độ xã
hội hóa, tạo ra mối quan hệ giữa các nguồn lực xã hội với các nhu cầu xã hội. Bởi vì,
khi sản xuất và tiêu dùng ngày càng có tính chất xã hội thì sẽ đánh thức mọi tiềm năng
về vật chất và trí tuệ của xã hội vào phát triển kinh tế thị trường. Mức độ khai thác các
tiềm năng vật chất của xã hội thể hiện rõ ở quy mô phát triển của lực lượng sản xuất,
14


còn mức độ huy động và sử dụng tốt các tiềm năng trí tuệ của xã hội lại là chỉ số về
chất lượng và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất hiện đại. Do tương tác thường
xuyên giữa các nguồn lực xã hội với các nhu cầu xã hội nên lực lượng sản xuất hiện
đại luôn phát triển.
Sự vận động của lực lượng sản xuất trong kinh tế thị trường cho thấy: mức độ
huy động và sử dụng tiềm năng trí tuệ của xã hội có ý nghĩa quyết định mức độ khai
thác và hiệu quả của tiềm năng vật chất của xã hội. Vì vậy, trong các nền kinh tế thị
trường trên thế giới hiện có hai xu hướng phát triển khác nhau:
Một là, những nền kinh tế thị trường dựa chủ yếu vào huy động và sử dụng tiềm
năng trí tuệ của quốc gia và thế giới. Đây là những nước hiện nay đã bước vào giai
đoạn kinh tế tri thức.
Hai là, những nền kinh tế thị trường chủ yếu dựa vào khai thác tiềm năng vật chất
(về tài nguyên và lao động giản đơn). Đây là những nước đang phát triển và kém phát
triển, thường thiệt nhiều trong cạnh tranh thị trường, có nhiều nguy cơ là "bãi rác" của
các nước phát triển trong hợp tác đầu tư nước ngoài.
Vai trò ngày càng tăng của lao động tri thức là cơ sở chung của tiến trình từ giai
đoạn kinh tế công nghiệp lên giai đoạn kinh tế tri thức
Nhìn từ chiều sâu của tiến trình lịch sử phát triển, người ta thấy rõ vai trò ngày
càng tăng của lao động tri thức. Cùng với quá trình hình thành cơ sở vật chất - kỹ thuật
của nền kinh tế tri thức là sự hình thành lực lượng lao động mới, được gọi là lao động
tri thức vừa có tính chất chuyên nghiệp, vừa có tính chất liên ngành, tiêu biểu cho giai
đoạn "khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp".
Hiện nay, cơ sở vật chất - kỹ thuật mới và cơ cấu lao động xã hội mới của nền
kinh tế tri thức vẫn còn vận động trong quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản. Nhưng xét về
tiến trình lịch sử, cơ sở kinh tế - xã hội ấy không phải là cơ sở của chủ nghĩa tư bản,
mà của một xã hội hậu tư bản đang lớn mạnh trong lòng chủ nghĩa tư bản. Các cuộc
15


khủng hoảng từ nay trở đi không chỉ là khủng hoảng kinh tế- tài chính, mà thực chất là
khủng hoảng thể chế kinh tế chính trị tư bản chủ nghĩa.
2.2. Phát triển kinh tế tri thức giúp rút ngắn và nâng cao hiệu quả công nghiệp
hóa, hiện đại hóa
Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nước ta có thuận lợi cơ bản là
nước đi sau, có thể học hỏi được kinh nghiệm thành công của những nước đi trước và
có cơ hội rút ngắn thời gian thực hiện quá trình này. Trước đây, nước Anh thực hiện
CNH đầu tiên, phải mất 120 năm; nước Mỹ đi sau, chỉ mất 90 năm; sau nữa là Nhật
Bản xuống còn 70 năm; và các nước công nghiệp mới (NICs) có hơn 30 năm. Việt
Nam thực thực hiện quá trình này trong bối cảnh loài người đang bắt đầu chuyển sang
phát triển kinh tế tri thức (KINH TẾ TRI THỨC), với sự bùng nổ của tự động hóa,
công nghệ thông tin, công nghệ gen, công nghệ nano, công nghệ vật liệu mới... Đúng
như tiên đoán của C. Mác và Ph. Ăng-ghen từ giữa thế kỷ XIX: “Tri thức sẽ trở thành
lực lượng sản xuất trực tiếp”. Đây chính là cơ hội lịch sử hiếm hoi mà thời đại tạo ra
để các nước đi sau như Việt Nam rút ngắn khoảng cách và đuổi kịp các nước đi trước.
Việc chuyển nền kinh nước ta sang hướng phát triển dựa vào tri thức trở thành yêu cầu
cấp thiết không thể trì hoãn.
2.2.1. Kinh tế qua các thời kỳ
2.2.1.1. Thời kỳ nền kinh tế nông nghiệp
Nền kinh tế nông nghiệp xuất hiện cách đây khoảng hơn 10 nghìn năm, từ lao
động thủ công thời trung cổ, đại công trường thủ công thời phong kiến đến thời phục
hưng và hiện nay. Công cụ sản xuất lúc bấy giờ là công cụ thủ công, năng lượng chủ
yếu là năng lượng cơ bắp con người, sức kéo của súc vật và các loại năng lượng sơ cấp
khác. Tri thức được sử dụng trong nông nghiệp ở mức độ rất thấp cho nên khoa học –
công nghệ chậm phát triển.
2.2.1.2. Thời kỳ nền kinh tế công nghiệp
16


Là thời kỳ diễn ra hai cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất và lần thứ hai
của thế giới (từ cuối thế kỷ 19 đến giữa thế kỷ 20). Sản xuất thủ công chuyển sang nền
sản xuất dùng máy móc cơ khí, máy móc, điện, cơ khí. Khoa học công nghệ và tri thức
của con người được phát triển mạnh mẽ là động lực thúc đẩy kinh tế - xã hội loài
người mở rộng. Nhiều nước công nghiệp ra đời. Chủ nghĩa tư bản thịnh hành. Tuy
nhiên, nền sản xuất đại công nghiệp chủ yếu vẫn dựa vào tài nguyên thiên nhiên, đặt ra
cho loài người nhiều thách thức mới về tài nguyên, môi trường, thị trường, bất bình
đẳng xã hội… Trong đó vấn đề cạn kiệt tài nguyên và biến đổi khí hậu tác động đến
sinh thái trái đất là những vấn đề cấp thiết của hành tinh xanh. Để giải quyết những
vấn đề nêu trên, thì khoa học công nghệ và “chất xám” của loài người phải phát triển
hơn nữa để đáp ứng yêu cầu mới về đời sống và sản xuất xã hội.
2.2.1.3. Thời kỳ nền kinh tế tri thức
Nền kinh tế tri thức sinh ra trên cơ sở đồng vốn và tài nguyên thiên nhiên của nền
kinh tế công nghiệp, chủ yếu dựa vào “tri thức” con người và khoa học công nghệ hiện
đại, tạo ra của cải vật chất cho xã hội nhiều hơn, trình độ dân trí được nâng cao, môi
trường sinh thái đi dần vào ổn định. Khởi đầu là cuộc cách mạng khoa học công nghệ
của thế giới và sự cho ra đời sản phẩm điển hình là máy tính điện tử (điện toán) vào
giữa thế kỷ 20. Đặc trưng của giai đoạn này là phát triển hệ thống công nghệ cao (vi
điện tử, máy tính xách tay, điện thoại di động nhiều chức năng, quang điện tử, laze,
nano, gen, tế bào gốc…) cùng với việc xuất hiện truyền thông vệ tinh, mở rộng xa lộ
thông tin toàn cầu, cáp quang, truyền hình kỹ thuật số, sử dụng người máy thông minh,
máy tính siêu tốc để quản lý và điều hành sản xuất kinh doanh cũng như phục vụ cuộc
sống dân sinh.
2.2.2. Bài học của một số quốc gia tương đồng
Phần Lan trước đây là nước nông - lâm nghiệp thuần túy, kém phát triển ở Bắc
Âu. Năm 1950, dân nông thôn chiếm 90% dân số, đến nay chỉ còn 6% và tỷ trọng
17


nông - lâm nghiệp đóng góp cho GDP quốc gia là 3%. Diện tích rừng và ao hồ của
quốc gia này chiếm 80% lãnh thổ, thế mạnh trước đây là công nghiệp sản xuất giấy và
bột giấy. Năm 1980 Phần Lan đi thẳng vào công nghệ cao và phát triển mạnh mẽ các
ngành dịch vụ. Đến nay trở thành một trong những quốc gia hàng đầu của thế giới về
công nghệ thông tin. Những doanh nghiệp của nước này đã đầu tư cho R&D (Research
and Development) hàng năm 10% doanh thu, cao gấp đôi các quốc gia châu Âu khác.
Phần Lan là nước điển hình có tốc độ chuyển nhanh từ nền sản xuất nông nghiệp sang
nền kinh tế tri thức.
Hàn Quốc là quốc gia kém phát triển ở châu Á trước đây, trước và trong thế
chiến thứ hai (1940-1945) bị Nhật Bản chiếm đóng. Sau đó phải gánh chịu cuộc chiến
tranh khốc liệt giữa hai khối Đông - Tây, kết thúc năm 1953, bị tàn phá nặng nề, coi
như phải kiến thiết lại từ đầu. Năm 1970 dân số nông nghiệp chiếm 70% dân số cả
nước, nay chỉ còn 6%. Với thế mạnh là nhân công rẻ, lao động cần cù có kỹ năng cao,
được Mỹ hỗ trợ tài chính và công nghệ hiện đại lúc ban đầu. Nước này đã đi thẳng vào
phát triển công nghiệp nặng, công nghệ cao và dịch vụ tổng hợp hoàn chỉnh. Nét nổi
bật là tốc độ nội địa hóa các sản phẩm công nghiệp phụ trợ, nên đã đưa Hàn Quốc từ
điểm xuất phát không có gì vào năm 1960, đến năm 1993 trở thành cường quốc hàng
đầu thế giới về đóng tàu biển, với hơn 110.000 công nhân chuyên nghiệp và 58 nhà
máy đóng tàu tầm cỡ thế giới, đóng được tất cả các chủng loại tàu, có qui mô đến
300.000DWT, năm 2008 doanh thu công nghiệp đóng tàu Hàn Quốc đạt 43,1 tỷ USD.
Ngoài ra, từ năm 1990, nước này có chiến lược phát triển kinh tế tri thức và xã hội
thông minh. Siêu xa lộ thông tin của Hàn Quốc đã nối kết với 14 triệu gia đình và hầu
hết các trường học trong nước, cũng như hòa mạng khắp thế giới. Đây có thể coi là
nước điển hình đã rút ngắn bước phát triển từ kinh tế nông - công nghiệp sang nền
kinh tế tri thức bằng con đường tắt nhờ biết sử dụng hiệu quả lao động chất xám và
thành quả KH-CN hiện đại, kết hợp nhuần nhuyễn với việc tận dụng thời cơ và sự
chuyển động của thế giới đa cực.

18


2.2.3. Sự cần thiết phải đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển
kinh tế tri thức ở Việt Nam.
Thứ nhất, công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển kinh tế tri thức là con
đường tất yếu của mọi quốc gia trong quá trình phát triển.
Thứ hai, công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức là cách
thức để đất nước sớm ra khỏi tình trạng nghèo và kém phát triển
Thứ ba, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri
thức là yêu cầu bắt buộc để tạo lập cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội.
2.2.4. Quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ của CNH – HĐH gắn với phát triển kinh tế
tri thức của Việt Nam.
Mục tiêu lâu dài của CNH – HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức là cải
biến nước ta thành một nước công nghiệp nó có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, có cơ
cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiên bộ phù hợp với trình độ phát triển
của lực lượng sản xuất, mức sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng – an ninh
vững chắc, dân giàu, nước mạnh xã hội công bằng - dân chủ - văn minh.
Đại hội X của Đảng đã xác định: Mục tiêu của CNH – HĐH là đẩy mạnh CNH –
HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức để sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát
triển, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước CNH theo hướng
hiện đại.
Đại hội XI tiếp tục khẳng định chủ trương trên và cụ thể hóa thành các tiêu
chí sau:
Ra sức phấn đấu để đến năm 2020 Việt Nam cơ bản trở thành nước công nghiệp
với tỷ trọng ngành công nghiệp vượt trội hơn các ngành khác. Mức tăng tổng sản
phẩm trong nước (GDP) bình quân 7 – 8%/năm; tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ

19


chiếm khoảng 85% GDP. Giá trị sảm phẩm công nghệ cao, sản phẩm ứng dụng công
nghệ đạt khoảng 45% trong tổng GDP.
2.2.5. Định hướng phát triển các ngành và lĩnh vực kinh tế
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn. Tạo ra giá trị gia tăng
ngày càng cao, đẩy nhanh tiến bộ khoa học - kỹ thuật và công nghệ sinh học vào sản
xuất. Quy hoạch phát triển nông thôn, thực hiện chương trình xây dựng nông thôn
mới, nâng cao trình độ dân trí, bài trừ các tệ nạn xã hội, hủ tục mê tín dị đoan. Giải
quyết lao động, việc làm ở nông thôn. Chú trọng dạy nghề, giải quyết việc làm cho
nông dân.
Phát triển mạnh công nghiệp và xây dựng theo hướng hiện đại, nâng cao sức chất
lượng và sức cạnh tranh. Khuyến khích phát triển công nghiệp công nghệ cao, công
nghiệp chế tác, công nghiệp phần mềm và công nghiệp bổ trợ có lợi thế cạnh tranh, ưu
tiên thu hút đầu tư của các tập đoàn kinh tế lớn nước ngoài và các công ty lớn xuyên
quốc gia. Thu hút chuyên gia giỏi, cao cấp của nước ngoài và trong cộng đồng người
việc định cư ở nước ngoài.
Dịch vụ: Tận dụng tốt thời cơ hội nhập kinh tế quốc tế để tạo bước phát triển
ngành “công nghiệp không có khói”.

20


Chương 3
GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA GẮN VỚI
PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRI THỨC
Đại hội VI (12- 1986) của Đảng khởi xướng công cuộc đổi mới, đánh dấu bước
đột phá về tư duy lý luận, trong đó có những quan điểm, nhận thức mới về công
nghiệp hóa. Đại hội đã xác định vấn đề cốt lõi của công nghiệp hóa là: “Khoa học, kỹ
thuật là một động lực thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội” và chủ trương “phải vận dụng
khoa học xã hội, khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật trong việc nghiên cứu chiến
lược phát triển kinh tế, xã hội, trong việc xác định các chủ trương, chính sách, trong tổ
chức quản lý kinh tế và xã hội”.
Tại Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII (1-1994), Đảng chủ
trương “thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại
hóa”. Đây là lần đầu tiên, Đảng đưa ra quan điểm gắn kết công nghiệp hóa, hiện đại
hóa trong một chỉnh thể thống nhất. Hội nghị Trung ương 7 khóa VII (7-1994) đã đưa
ra khái niệm công nghiệp hóa, hiện đại hóa, coi việc sử dụng khoa học kỹ thuật tiên
tiến là điểm cốt lõi của công nghiệp hóa nhằm tạo ra năng suất cao.
21


Sau 10 năm đổi mới, Việt Nam cơ bản hoàn thành nhiệm vụ chuẩn bị tiền đề cho
công nghiệp hóa, Đại hội VIII khẳng định, chúng ta có điều kiện để chuyển sang thời
kỳ mới, thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Đại hội VIII tiếp tục nhấn
mạnh vai trò động lực của khoa học - công nghệ đối với sự nghiệp công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước: “Phát triển khoa học và công nghệ, nâng cao năng lực nội sinh
để thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa; nắm bắt các thành tựu khoa học
và công nghệ thế giới, lựa chọn và làm chủ công nghệ phù hợp để chuyển giao vào
Việt Nam. Trong đó, bước đầu phát triển một số lĩnh vực công nghệ cao về điện tử,
thông tin, sinh học, vật liệu mới và tự động hóa”.
Thập niên cuối thế kỷ XX, kinh tế tri thức trở thành xu thế nổi bật, có vai trò
quyết định trong phát triển lực lượng sản xuất hiện đại. Trước bối cảnh chung đó, Đại
hội IX đã bổ sung nhiều luận điểm mới quan trọng về công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Đó là: tiến hành “công nghiệp hóa rút ngắn theo hướng hiện đại” và “từng bước phát
triển kinh tế tri thức”. Đây là một nội dung mới của quá trình công nghiệp hóa, hiện
đại hóa, là cơ hội để những nước đi sau như Việt Nam có thể đi tắt đón đầu, từng bước
đuổi kịp các nước tiên tiến trên thế giới.
Khi xác định kinh tế tri thức đang trở thành xu thế nổi bật trong phát triển lực
lượng sản xuất hiện đại, lần đầu tiên, Đại hội IX nêu luận điểm quan trọng về phát
triển kinh tế tri thức: Đi nhanh vào công nghệ hiện đại ở những ngành và lĩnh vực then
chốt để tạo bước nhảy vọt về công nghệ và kinh tế, tạo tốc độ tăng trưởng vượt trội ở
những sản phẩm và dịch vụ chủ lực. Công nghiệp hóa gắn với hiện đại hóa ngay từ
đầu và trong suốt các giai đoạn phát triển. Nâng cao hàm lượng tri thức trong các nhân
tố phát triển kinh tế - xã hội, từng bước phát triển kinh tế tri thức ở nước ta’’.
Tiếp tục phát triển quan điểm của Đại hội IX, Đại hội X nhấn mạnh: “Tranh thủ
cơ hội thuận lợi do bối cảnh quốc tế tạo ra và tiềm năng, lợi thế của nước ta để rút
ngắn quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước theo định hướng xã hội chủ

22


nghĩa gắn với phát triển kinh tế tri thức, coi kinh tế tri thức là yếu tố quan trọng của
nền kinh tế và công nghiệp hoá, hiện đại hoá”.
Trên cơ sở tổng kết 25 năm đổi mới, Đại hội XI của Đảng đã bổ sung và phát
triển đường lối đổi mới và phát triển đất nước. Đối với chủ trương công nghiệp hóa,
hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức, Đại hội XI có sự phát triển mới về nhận
thức lý luận và thực tiễn khi khẳng định phát triển kinh tế tri thức cùng với công
nghiệp hóa, hiện đại hóa là nội dung trọng tâm của phát triển kinh tế, là nhiệm vụ
trung tâm của cả thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Phát triển khoa học và công
nghệ, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phát triển kinh tế tri thức là
con đường “rút ngắn” của quá trình phát triển đất nước. Phát triển khoa học và công
nghệ nhằm mục tiêu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, “phát triển
kinh tế tri thức, vươn lên trình độ tiên tiến của thế giới”. Đây là sự lựa chọn đúng đắn,
phù hợp với xu thế phát triển của thời kỳ toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế.
Như vậy, Đại hội XI đã tiếp tục phát triển quan điểm của Đảng về công nghiệp
hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức phù hợp với khả năng, điều kiện và
đặc điểm của Việt Nam trong bối cảnh đổi mới và hội nhập quốc tế.
Trong quá trình lãnh đạo thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Đảng ta rất coi
trọng việc tạo ra động lực cho sự phát triển kinh tế tri thức. Tuy nhiên, những yếu tố
cho sự ra đời và phát triển kinh tế tri thức mới đang ở thời kỳ hình thành. Về cơ bản,
nền kinh tế của Việt Nam vẫn mang những dấu ấn của kinh tế nông nghiệp, đang
chuyển dần sang kinh tế công nghiệp. Theo đánh giá của Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế
giới (WIPO) và Học viện Kinh doanh (INSEAD) Pháp, xếp hạng chỉ số sáng tạo toàn
cầu (Global Innovation Index - GII) năm 2011, Việt Nam xếp thứ 51 trong tổng số 125
nước xếp hạng; năm 2012, Việt Nam xếp thứ 76 so với 141 nước và nền kinh tế được
đánh giá dựa trên năng lực và kết quả sáng tạo, tụt 25 bậc so với năm 2011. Năm 2014,
Việt Nam xếp thứ 71/143 nền kinh tế trên thế giới, xếp thứ 4 trong khối các nước
ASEAN (kết quả do WIPO và Đại học Cornell (Hoa Kỳ), INSEAD thực hiện. Xếp
23


hạng về chỉ số sáng tạo là để nhấn mạnh vai trò của hoạt động sáng tạo công nghệ, coi
đây là trung tâm của sự tăng trưởng kinh tế và tạo ra việc làm mới tốt hơn, là chìa khóa
để cải thiện năng lực cạnh tranh của các nền kinh tế, các ngành công nghiệp và các
doanh nghiệp. Những chỉ số trên cho thấy những thách thức lớn mà Việt Nam cần phải
vượt qua.
Trong thời gian tới, để thực hiện có hiệu quả chủ trương của Đảng về công
nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức, cần thực hiện tốt một số
giải pháp sau:
3.1.Thứ nhất, nhóm giải pháp về chủ trương, chính sách
Xây dựng mô hình công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo hướng hiện đại. Trong đó,
cần hoàn chỉnh khung tiêu chí nước công nghiệp hiện đại. Đó là hệ các tiêu chí về tăng
trưởng kinh tế vĩ mô, các tiêu chí phản ánh về sự phát triển xã hội, các tiêu chí đánh
giá mức độ hội nhập quốc tế.
Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tạo môi
trường pháp lý lành mạnh, thúc đẩy sự đổi mới, sáng tạo, phát huy vai trò của khoa
học, công nghệ khuyến khích phát triển năng lực trí tuệ con người.
Tái cấu trúc nền kinh tế theo hướng tăng nhanh các ngành giá trị gia tăng cao dựa
nhiều vào tri thức, công nghệ mới, tập trung phát triển công nghiệp năng lượng, công
nghiệp chế tạo, công nghiệp tự động, các ngành công nghiệp mũi nhọn với sự huy
động các nguồn lực của tất cả các thành phần kinh tế. Đồng thời, cắt giảm các dự án
đầu tư lớn nhưng hiệu quả thấp; phát triển các ngành công nghiệp chế biến và dịch vụ
dựa nhiều vào tri thức, chấm dứt bán tài nguyên thô; nhập công nghệ thay cho nhập
sản phẩm chế biến - FDI phải đi kèm chuyển giao khoa học, công nghệ; tăng mạnh
vốn đầu tư vào giáo dục - đào tạo. Thực hiện sự chuyển hướng chiến lược từ sự phát
triển dựa vào tài nguyên sang phát triển dựa vào tri thức, năng lực trí tuệ của con
người, gia tăng nhanh hàm lượng tri thức trong GDP, giảm mạnh tiêu hao nguyên liệu,
năng lượng.
24


Thiết lập hệ thống đổi mới sáng tạo trong toàn bộ nền kinh tế, tạo sự liên kết hữu
cơ khoa học, đào tạo với sản xuất - kinh doanh, nhằm đẩy nhanh quá trình đổi mới
sáng tạo.
Cải cách hành chính gắn với tin học hóa, đẩy nhanh xây dựng Chính phủ điện tử
để bộ máy nhà nước hoạt động ngày càng có hiệu lực, hiệu quả hơn,...
3.2.Thứ hai, nhóm giải pháp về xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao
Xây dựng chiến lược phát triển nguồn nhân lực phải gắn kết với chiến lược phát
triển kinh tế - xã hội, với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế tri
thức. Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội (2011- 2020) khẳng định: “Phát triển và
nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao là một đột
phá chiến lược, là yếu tố quyết định quá trình cơ cấu lại nền kinh tế, chuyển đổi mô
hình tăng trưởng và là lợi thế cạnh tranh dài hạn, bảo đảm kinh tế - xã hội phát triển
nhanh, hiệu quả, bền vững... Thực hiện các chương trình, đề án đào tạo nhân lực chất
lượng cao đối với các ngành, lĩnh vực chủ yếu, mũi nhọn. Chú trọng phát hiện, bồi
dưỡng, phát huy nhân tài; đào tạo nhân lực cho phát triển kinh tế tri thức”.
Tiến hành cải cách giáo dục một cách triệt để, bắt đầu từ những vấn đề căn bản
về triết lý và mục tiêu của nền giáo dục Việt Nam. Đây là yếu tố quyết định nhất thúc
đẩy Việt Nam đi nhanh vào kinh tế tri thức.
Cần có chính sách khuyến khích sáng tạo, cơ cấu trình độ đào tạo phù hợp với
yêu cầu phát triển của trình độ kinh tế-xã hội, hiệu quả của các hoạt động khoa học công nghệ, mối liên hệ giữa nhà trường và doanh nghiệp. Xây dựng và phát huy đội
ngũ trí thức và công nhân trí thức, đó là lực lượng tiên phong và chủ lực để phát triển
nền kinh tế tri thức.
Mở rộng quan hệ hợp tác giáo dục - đào tạo và khoa học - công nghệ với nước
ngoài; tuyển chọn đưa đi đào tạo ở các nước tiên tiến cán bộ khoa học - kỹ thuật thuộc
các lĩnh vực ưu tiên chiến lược.
25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×