Tải bản đầy đủ

KỸ THUẬT THÂM CANH lạc

KỸ THUẬT THÂM CANH LẠC
Ngày tạo: 14/09/2011 Lượt xem: 1581
- Cây lạc (cây đậu phụng) có tên khoa học là Arachis hypogaea là cây công nghiệp, cây
thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao. Cây lạc có nguồn gốc từ Nam Mỹ
- Cây lạc là cây trồng có giá trị kinh tế nhiều mặt bởi nó là một cây họ đậu ngắn ngày có
năng suất cao, các chất dinh dưỡng trong hạt lạc khá đầy đủ. Trong hạt lạc có từ 40 - 57%
lipit (dầu), 20 - 37,5% prôtêin. Trong dầu lạc có hầu hết vitamin nhóm B, trừ B12, ngoài
ra còn có vitamin PP (axit nicotinic), vitamin F. Trong hạt lạc còn chứa hàm lượng
khoáng tổng số từ 1,89 - 4,26%, gấp 1,8 - 2,2 lần so với hạt ngũ cốc. Các nguyên tố
khoáng gồm 27 nguyên tố đa lượng, trung lượng, vi lượng và siêu vi lượng cần thiết cho
cơ thể người và động vật.

- Trên 1ha lạc sinh trưởng tốt thu hoạch kịp thời có thể thu được 8-10 tấn
thân lá tươi, chứa 0,3% Prôtêin. Là nguồn thức ăn chăn nuôi tốt, phơi khô
nghiền nát làm thức ăn cho lợn. Khô dầu lạc sau khi ép dầu làm thức ăn chăn
nuôi tốt, nhất là cho trâu bò sữa.
- Lạc là cây luân canh cải tạo đất tốt. Sau khi thu hoạch lạc để lại cho đất một lượng
đạm khá lớn từ thân lá và nốt sần của bộ rễ.
- Dầu lạc làm nguyên liệu cho công nghiệp thực phẩm như làm
bánh kẹo, bơ, nước chấm... và làm nguyên liệu trong công nghiệp chế
biến xà phòng, chất tẩy rửa.

II. Đặc điểm thực vật học.
1. Rễ: Rễ cây lạc thuộc rễ cọc và gồm 3 phần là cổ rễ, rễ chính,
rễ phụ. Khi hạt lạc nảy mầm thì phôi rễ phát triển trước và chui ra khỏi
vỏ hạt sớm nhất. Phôi rễ có gỗ thứ cấp nên lớn dần và trở thành rễ
chính, trên rễ chính phát sinh nhiều rễ phụ thứ cấp và tạo thành mạng
rễ phân bố chủ yếu ở lớp đất mặt từ 0 - 30cm.
- Rễ lạc không có biểu bì, không có lông hút thật, nước và dinh
dưỡng vào trong cây trực tiếp qua nhu mô vỏ.
- Là cây họ đậu nên rễ lạc có khả năng cố định nitơ khí quyển do
vi khuẩn Rhyzobium sống cộng sinh. Chính nhờ vậy mà cây lạc tự đáp
ứng được phần nào yêu cầu sử dụng đạm.


- Sự phát triển của bộ rễ phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố ngoại
cảnh, chế độ canh tác, lượng phân bón. Khi đất tơi xốp, bón đủ lân, vôi
rễ phát triển mạnh.
2. Thân, cành:
- Thân lạc có nhiều đốt, khi còn non thân hình trụ nhưng khi già
hơi có góc cạnh, bên trong hơi xốp rỗng. Tuỳ theo giống, màu và độ
lông của thân, cành thay đổi từ xanh, xám, tím, hồng đậm hoặc hồng
nhạt, có ít lông hoặc nhiều lông.
- Sự phát triển của cành lạc phụ thuộc vào đặc tính di truyền,
thường có hai cấp cành là chủ yếu: Cành cấp một và cành cấp hai. Có
khoảng 9/11 cành (5 cành cấp 1, 4 cành cấp 2) là cho quả hữu hiệu.
Vì vậy sự xuất hiện đủ 9 cành ở phần gốc thân sớm và các cành sinh
trưởng khoẻ, mập là cơ sở để tạo nên năng suất cao.
3. Lá: Lá lạc thuộc loại lá kép lông chim một lần, mỗi lá có 4 lá
chét, đôi khi có lá biến thái ở một số giống mà có 5 - 7 lá chét.
4. Hoa: Hoa lạc là hoa lưỡng tính, tự thụ phấn nghiêm ngặt (tỷ lệ
ngoại phấn khoảng 0,25%). Khi hoa nở là cây tự thụ phấn xong rồi.
Hoa lạc có đặc điểm nở hoa trên cành nhưng đậu quả ở trong đất. Do
đó những hoa ra muộn, ở trên cao quá không thành quả được.
5. Quả: Quả lạc thuộc loại quả khô, vỏ gồm hai mảnh vỏ khép
kín. Quả lạc hình thành từ ngoài vào trong, vỏ trước hạt sau.
6. Hạt: Gồm có vỏ lụa và phôi, vỏ lụa rất mỏng bao bọc ngoài
phôi. Phôi hạt gồm hai lá mầm và trụ mầm. Hình dạng hạt tuỳ thuộc
vào giống nhưng thường có dạng hạt tròn, bầu dục và bầu dục dài.
II. Yêu cầu ngoại cảnh của cây lạc:
1. Nhiệt độ: Cây lạc là cây trồng có nguồn gốc nhiệt đới nên thích
hợp với khí hậu nóng ẩm và dồi dào ánh sáng.

- Thời kỳ nảy mầm: Nhiệt độ thích hợp là 25 - 30 0C. Khi nhiệt độ
xuống thấp dưới 150C hoặc trên 540C hạt lạc mất sức nảy mầm.


- Thời kỳ cây con: Yêu cầu nhiệt độ từ 23 - 30 0C trong thời gian
sinh trưởng 30 - 40 ngày tuy nhiên có thể chịu rét trong thời gian ngắn
(15 - 160C).
Biên độ giữa ngày và đêm chênh lệch nhau qúa lớn cũng không có
lợi cho sự sinh trưởng và kéo dài thời kỳ cây con. Nhiệt độ ngày đêm
chênh lệch 200C thì cây lạc không ra hoa được (chú ý không nên trồng
ở nơi có độ cao hơn 600m so với mực nước biển).
- Thời kỳ ra hoa: Nhiệt độ thích hợp cho lạc ra hoa từ 24 - 33 0C,
vượt quá 34 - 350C sẽ làm giảm số hoa có ích.
- Thời kỳ chín: Yêu cầu nhiệt độ chỉ 25 - 28 0C, dưới 15 - 160C quá
trình tích luỹ chất khô trong hạt có thể bị đình chỉ.
2. Nước:
Hạt chỉ nảy mầm khi đồng ruộng có độ ẩm đất từ 70-80%. Thiếu
nước trong thời kỳ ra hoa sẽ làm giảm nghiêm trọng đến số hoa và
năng suất.
3. Ánh sáng:
Lạc là cây ưa sáng nhưng phản ứng với ánh sáng không chặt. Ở
thời kỳ ra hoa làm quả có số giờ nắng 200 giờ/tháng là thuận lợi nhất,
ra hoa nhiều và tập trung. Vì vậy, việc bố trí thời vụ sao cho lạc ra hoa
vào thời gian có số giờ nắng thích hợp là biện pháp kỹ thuật chủ động
đem lại hiệu quả kinh tế cao.
4. Đất trồng lạc:
Lạc là loại cây thích ứng trên nhiều loại đất miễn là dễ thoát nước
và không phải đất thịt nặng. Lạc có thể chịu được pH từ 3,8 - 9 nhưng
thích hợp nhất là 5,5 - 6. Đất mới khai hoang, độ pH thấp, thiếu lân và
kali quả thường bị lép.

QUY TRÌNH KỸ THUẬT THÂM CANH LẠC
I. Chọn đất và làm đất


Lạc có thể trồng trên nhiều chân đất nhưng thích hợp nhất vẫn là
thịt nhẹ, cát pha kết cấu đất phải thoáng tơi xốp sạch cỏ dại, đất đủ
ẩm và chủ động tưới tiêu.
Cày sâu hết tầng đế cày, là một trong những biện pháp tăng năng
suất lạc, bừa kỹ sao cho đất phải tơi xốp để hạt dễ nảy mầm và thuận
tiện cho việc chăm sóc.
Chân đất thấp, thoát nước kém phải lên luống cao 15 - 20cm, mặt
luống rộng 1,2 - 1,5m có thể làm phẳng hoặc mu thuyền phụ thuộc
vào mùa vụ. Đất cao thoát nước tốt, làm đất thành từng băng 4 - 6m,
các băng cách nhau 1 rãnh thoát nước.
II. Giống và chuẩn bị hạt giống.
Có thể chọn các giống lạc có thời gian sinh trưởng 90 - 110 ngày,
phù hợp sản xuất 2 vụ ĐX và HT như: Chùm Cam Lộ, Lỳ Tây Nguyên,
MD7, L14, L18.
Phải kiểm tra kỹ hạt giống trước khi gieo, giống tốt, tỷ lệ hạt nảy
mầm cao >70%, hạt giống không bị sâu bệnh, nên chọn quả to, đều
hạt. Nên thử tỷ lệ nảy mầm trước khi gieo.
Lượng giống 180 -200kg lạc vỏ /ha (9 - 10kg/sào - 500m 2). Trước
khi gieo cần phải phơi giống lạc (cả vỏ) trong nắng nhẹ 2 - 3 ngày,
phơi trước khi gieo 5 - 7 ngày, phơi xong mới bóc vỏ.
Xử lý thúc mầm: Ngâm hạt giống trong nước ấm ở nhiệt độ 30
-35 C (2 sôi:3 lạnh) trong 15 - 20 phút, ngâm tiếp 6 - 8 giờ, vớt để
ráo nước, sau đó ủ cho đến hạt nhú phôi trắng (thời gian 24 - 36 giờ),
chọn và loại bỏ hạt không nảy mầm trước khi gieo nhằm đảm bảo mật
độ về sau.
0

Chú ý: Trường hợp đất khô hạn kéo dài không nên thúc mầm.
III. Mật độ khoảng cách.
Trong vụ Đông Xuân mật độ tốt nhất của các giống là 33 cây/m 2.
Cách gieo: Trời rét gieo sâu 3 - 4cm, thời tiết ấm thuận lợi gieo
cạn 1 - 2cm.


Chú ý: Không nên gieo hạt trực tiếp trên phân bón, bón phân
xong phải lấp một lớp đất mỏng sau đó mới gieo hạt.
IV. Thời vụ.
Vụ Đông Xuân
Ở vùng cao không chủ động nước gieo từ 20/12 - 20/1, ở vùng
chủ động nước tưới đất đủ ẩm gieo từ 1 - 20/1.
Vụ Hè Thu
Gieo từ 20/5 - 20/6.
V. Bón phân
Mức đầu tư phân bón như sau
TT

Loại phân

kg/ha

1
2
3

Phân chuồng
Đạm Sunphat

6.000 - 8.000
120 - 140
350 - 400

kg/sào
(500m2)
300 - 400
6-7
18 - 20

120 - 140
300 - 500

6-7
15 - 25

4
5

Lân nung chảy
Kali
Vôi bột

Cách bón
1. Bón lót. Toàn bộ phân chuồng, lân, 70% vôi và 50% lượng
đạm.
Vôi rắc đều trên mặt ruộng trước khi bừa lần cuối, phân chuồng
hoai,phân lân, đạm bón rắc theo hàng, sau đó lấp một lớp đất mỏng 12cm rồi mới gieo hạt.
2. Bón thúc.
Lần 1: Giai đoạn lạc có 3-4 lá thật với 50% lượng Kali và 50%
lượng đạm còn lại, bón phân cách gốc 6 - 8cm, bỏ phân rồi lấp đất kết
hợp với làm cỏ đợt 1. (Lưu ý: không nên vun gốc).


Lần 2: Bón lúc hoa tàn đợt một với 50% lượng Kali còn lại và
30% vôi kết hợp với vun gốc làm cỏ đợt 2.
VI. Chăm sóc
Làm cỏ lần 1: Lúc cây lạc có 3 - 4 lá thật (khoảng 12 - 20 ngày
sau khi gieo tùy theo thời tiết kết hợp với bón phân lần 1).
Cách làm: Xẻ rãnh 1 bên luống lạc cách gốc 6 - 8cm, sâu 5 6cm, trộn đều đạm và kali bón vào rãnh lấp phân, bới thoáng gốc để lộ
2 lá sò trên mặt đất, nhổ sạch cỏ gốc, bắt sâu non, biện pháp này tuy
tốn công nhưng quyết định phần lớn năng suất lạc và đã làm thoáng
gốc và cung cấp dinh dưỡng cho cây lạc hình thành và phát triển các
cành, quả, ra nhiều hoa đậu nhiều quả, hạn chế sâu cỏ dại.
Làm cỏ lần 2: Khi cây đạt 7 - 8 lá thật, tức là sau khi ra hoa rộ
đợt đầu vừa tàn, làm sạch cỏ xới sâu 4 - 5cm bón phân, vôi kết hợp
vun gốc cho lạc.
Tưới nước: Nếu đất khô hạn cần tưới vào các thời kỳ sau: Giai
đoạn cây con 3 - 4 lá, giai đoạn ra hoa đâm tia, phương pháp tưới tốt
nhất là tưới thấm, cho nước vào ½ rãnh ngâm 3 - 4 giờ sau đó tháo đi.
VII. Sâu bệnh hại
Phải thường xuyên kiểm tra đồng ruộng, phát hiện sâu bệnh, úng
hạn chết cây làm giảm năng suất, các đối tượng sâu bệnh cần chú ý:
1. Sâu xám
Đặc điểm hình thái: Bướm màu xám hoặc nâu đen, gần mép đầu
mép cánh có 3 vệt nhỏ hình tam giác.
Trứng hình quả bí ngô lúc mới đẻ màu trắng sữa, sau đó chuyển
sang màu vàng, khi gần nở có màu xám đen.
Sâu non màu xám, có 5 tuổi, nhộng màu cánh gián.
Bướm hoạt động ban đêm, đẻ trứng rải rác mặt dưới lá hoặc đẻ
thành từng cụm 3 - 5 hoặc vài chục trứng. Bướm cái đẻ 800 - 1.000
trứng.


Sâu ưa hoạt động mạnh về ban đêm, ban ngày ẩn nấp ở dưới đất,
thường chui sâu 3 - 10cm, cách cây 10 - 20cm, sâu tuổi 1 - 2 cắn lá,
tuổi 3 - 5 cắn ngang cành, thân cây. Ngoài lạc, sâu xám còn phá hoại
các loại đậu, đỗ, ớt, ngô, thuốc lá.
Sâu phá hoại chủ yếu vụ Đông Xuân:
Vòng đời: 41 - 60 ngày. Trong đó thời gian: trứng: 4 - 11 ngày,
sâu non: 4 - 11 ngày, nhộng: 9 - 13 ngày, trưởng thành: 3 - 5 ngày.
* Biện pháp phòng trừ:
- Cày bừa đất kỹ, vệ sinh đồng ruộng trước khi gieo lạc, có thể để
ải hoặc ngâm ruộng.
- Diệt trưởng thành bằng bả chua ngọt.
- Đào đất để bắt vào sáng sớm.
- Khi sâu có mật độ cao có thể dùng các loại thuốc như Padan,
Ofatox, Fastac..., để phun.
Chú ý: Phun thuốc vào chiều tối lúc sâu chuẩn bị chui lên cắn
phá.
2. Bệnh héo xanh
Triệu chứng: Cây bị héo đột ngột, có thể bị héo cả cây hoặc một
vài cành. Lá vẫn xanh không chuyển vàng trước khi héo. Ở gốc thân
gần mặt đất xuất hiện vết bệnh màu nâu, ban đầu khó thấy.
Nhổ cây lạc, bổ dọc rễ thấy bị biến màu nâu có các bó mạch màu
nâu đậm, rễ hơi khô. Bệnh nặng rễ màu nâu đen và có thể bị thối.
* Đặc điểm lây lan phát triển:
Bệnh héo xanh do vi khuẩn gây ra, vi khuẩn tồn tại trong đất do
tàn dư của cây bệnh vụ trước hoặc qua nguồn phân bón, vi khuẩn xâm
nhập cây chủ yếu qua vết thương cơ giới hoặc do vết cắn của sâu hại.
* Biện pháp phòng trừ:


- Sử dụng giống kháng bệnh.
- Tiến hành luân canh với các cây trồng khác họ như : lúa, mía.
- Làm đất kỹ, phơi ải cũng có tác dụng hạn chế bệnh.
- Tăng cường bón vôi và làm rãnh thoát nước có tác dụng hạn chế
bệnh.
Các thuốc hoá học trừ bệnh hiện nay rất ít. Một số loại thuốc có
thể hạn chế như Mirage, Staner.
- Sử dụng các chế phẩm vi sinh vật đối kháng như Psendomanas,
Bacillus Polymyxa...
3. Bệnh héo vàng
Bao gồm: 2 loại héo gốc mốc đen và héo gốc mốc trắng.
Triệu chứng: bệnh héo gốc mốc đen: Cổ rễ có vết màu nâu phủ
một lớp mốc đen.
Bệnh héo gốc mốc trắng: Cổ rễ có vết bệnh màu nâu phủ kín một
lớp mốc trắng gồm sợi nấm và hạch. Cả 2 loại bệnh đều gây triệu
chứng cây chết dần dần, lá biến màu vàng.
* Đặc điểm phát triển:
Sợi nấm xâm nhập vào cây qua vết thương, nấm lan truyền theo
nước tưới, nước mưa.
Nấm tồn tại trong đất và tàn dư cây trồng của vụ trước.
Ở giai đoạn cây con có nhiều héo mốc đen, còn các giai đoạn sau
thì bệnh héo xanh và héo mốc trắng nhiều hơn.
* Biện pháp phòng trừ:
- Cày sâu, dọn sạch cỏ dại. Bón phân cân đối, giữ độ ẩm thích
hợp.
- Luân canh với các cây trồng khác họ.


- Dùng giống kháng.
-Khi bị bệnh nặng có thể dùng các loại thuốc như: Viben-C,
Benlat, Rorral, Bavistin, Mirage.. để trừ.
VIII. Thu hoạch bảo quản.
Thu hoạch: Chỉ thu hoạch khi lạc có trên 70% số quả già, thu
hoạch chọn ngày nắng ráo, sau đó phải phơi ngay liên tục trong 3 - 5
ngày, phơi cả vỏ khi thuỷ phần đạt dưới 10% là được. Đối với lạc giống
không phơi trong nắng gắt trên nền gạch xi măng dễ gây chết mầm.
Bảo quản: Cất lạc ở nơi khô ráo, tránh tiếp xúc với không khí ẩm
ướt, bảo quản cả vỏ, riêng lạc giống cần bỏ trong vại, chum có lớp
chống ẩm ở đáy và trên mặt. Trong thời gian bảo quản không nên xáo
trộn, chỉ kiểm tra lại sức nảy mầm và tỷ lệ hạt nảy mầm trước khi gieo
khoảng 10 - 15 ngày.
PHỤ LỤC 1: Tiêu chuẩn hạt giống (10 TCN 315-2003):
Siêu nguyên
chủng

Nguyên
chủng

Xác
nhận

99,0

99,0

99,0

0

0

0

0

1

5

70

70

70

- Trong bao thường

12,0

12,0

12,0

- Trong bao kín không thấm nước

10,0

10,0

10,0

Chỉ tiêu
1. Độ sạch, % khối lượng, không
nhỏ hơn
2. Hạt cỏ dại, số hạt/kg, không
lớn hơn
3.Hạt khác giống có thể nhận biết
được, số hạt/kg, không lớn hơn
4. Tỷ lệ nảy mầm, % số hạt,
không nhỏ hơn
5. Độ ẩm, % khối lượng, không
lớn hơn

PHỤ LỤC 2 :GIỚI THIỆU GIỐNG LẠC MỚI


I. GIỐNG LẠC L20
Để giúp nông trồng Lạc có thêm thông tin trong việc lựa chọn
và cơ cấu các giống Lạc mới có tiềm năng năng suất cao, chất lượng
tốt phù hợp với các điều kiện canh tác như đất đai, nguồn nước tưới và
các biện pháp kỹ thuật thâm canh tiên tiến, đặc biệt đáp ứng yêu cầu
thị trường hiện nay, mang lại hiệu quả cao nhất cho người sản xuất.
Trên cơ sở kết quả sản suất thử đạt hiệu quả cao từ vụ Hè thu 2007,
với qui mô 2 ha tại xã Cam Thành - Cam Lộ và thị trấn Hồ Xá - Vĩnh
Linh.
Chúng tôi xin giới thiệu giống Lạc mới L20 với một số nội dung
cơ bản sau
1. Nguồn gốc: Giống Lạc L20 được tạo ra từ tổ hợp lai BG78 x
FR551 do Viện KHKTNN Bắc Trung Bộ phối hợp với bộ môn di truyền
miễn dịch viện KHKTNN Việt Nam (trước đây) chọn tạo. Qua sản xuất
thử từ năm 2005, giống Lạc L20 là giống có triển vọng: năng suất cao,
có khả năng chịu hạn tốt và thích ứng rộng ở các vùng sinh thái .
2. Đặc tính nông học
- Thời gian sinh trưởng:
Vụ Xuân 115 - 120 ngày.
Vụ Hè Thu 100 ngày.
- Chiều cao cây trung bình 45 - 55 cm.
- Số cành cấp 1 trên cây 4- 4,5 cành.
- Thời gian ra hoa tập trung.
- Số quả bình quân/cây 15-22 quả , tỉ lệ quả chắc cao 72,3%.
- Khối lượng 100 quả:160 - 165 gram. Khối lượng 100 hạt 60 - 65
gram (hạt to) Vỏ lụa màu hồng nhạt đảm bảo yêu cầu tiêu dùng và
xuất khẩu.


- Khả năng cho năng suất 4 - 4,5 tấn /ha.Vụ Hè Thu năm 2007
đạt 23 - 25tạ /ha ở Cam Lộ, 22 - 25 tạ /ha ở Hồ Xá.
- Giống Lạc L20 có khả năng chống úng, hạn tốt, ít sâu bệnh, chịu
thâm canh, trồng được trên nhiều loại đất, đất đủ ẩm giàu dinh dưỡng,
lạc L20 phát triển tốt và cho năng suất cao.
3. Hướng sử dụng
- Giống Lạc L20 có thể gieo trồng cả 2 vụ Đông Xuân và Hè Thu ở
các địa phương trong tỉnh .
- Mật độ gieo 30 - 33 cây /m2.
- Phân bón cho 1 ha:
+ Phân chuồng 10 - 20 tấn hoặc phân hữu cơ vi sinh 1 - 2 tấn.
+ Vôi bột 600 kg.
+ Đạm Urê 100 kg, Lân Supe 600 kg, Kali Clo rua 200 kg. Chú ý
bón phân theo nguyên tắc 4 đúng.
- Gieo trồng khi đất đủ ẩm, gieo trên luống cao 20 cm tuyệt đối
không gieo vãi.
II. GIỐNG LẠC MD7
- MD7 hiện đang trồng phổ biến ở các tỉnh Nghệ An, Thanh Hoá,
Quảng Bình, Quảng Trị.
- Giống lạc MD7 được chọn từ tập đoàn nhập nội của Trung Quốc
năm 1996 theo hướng kháng bệnh héo xanh vi khuẩn, được công nhận
giống TBKT năm 2002.
- Giống lạc MD7 có dạng hình thân đứng, góc phân cành hẹp, có
là màu xanh đậm, quả to trung bình, vỏ quả có gân rõ, eo quả trung
bình, kích cỡ hạt to đều đẹp (60-65gam/100 hạt). Vỏ lụa màu hồng
sáng phù hợp cho xuất khẩu và tiêu dùng nội địa, tỷ lệ nhân cao 7075%.


- MD7 chịu hạn khá, kháng bệnh khá với héo xanh vi khuẩn, thích
ứng rộng.
- Thời gian sinh trưởng: 110-120 ngày.
- Năng suất: 25-30 tạ/ha.
II. GIỐNG LẠC L14
Được công nhận là giống TBKT năm 2002 sau thời gian chọn lọc
quần thể từ tập đoàn giống Trung Quốc từ năm 1996.
- L14 có dạng hình thân đứng, góc phân cành hẹp, là hình elip
thuôn màu xanh đậm, quả to trung bình, kích cỡ hạt to đều đẹp. Khối
lượng hạt 58 - 60 gam/100 hạt. Tỷ lệ nhân 73 - 75%. Vỏ lụa màu
hồng sáng phù hợp cho xuất khẩu và tiêu dùng nội địa.
- L14 kháng bệnh lá cao, tỷ lệ thối quả 0,7%, chết cây 0,6%.
- Có khả năng chịu hạn khá.
- Thời gian sinh trưởng: 110 - 120 ngày, đạt năng suất ổn định từ
30 - 40 tạ/ha trong vụ xuân và 20 - 25 tạ/ha trong vụ thu đông.
- Hiện L14 là giống lạc chủ lực đang được trồng trên diện tích lớn
hàng vạn ha ở hầu hết các vùng sinh thái trong cả nước từ Hà Tĩnh,
Nghệ An, Thanh Hoá, Hà Tây, Ninh Bình, Bắc Ninh, Bắc Giang, Hà Nội,
Đắc Lắc, Gia Lai...
Ở Tỉnh Quảng Trị, giống lạc L14 đã và đang được các địa phương
mở rộng ở các vùng có khả năng trồng lạc.
II. GIỐNG LẠC L18
- L18 là giống lạc được khu vực hoá tháng 4/2004 sau quá trình
chọn lọc từ tập đoàn nhập nội các giống lạc của Trung Quốc năm 2001.
- L18 có dạng hình thân đứng, là hình trứng màu xanh đậm, quả
to, vỏ quả có gân rõ, eo quả trung bình, kích cỡ hạt to đều đẹp phù
hợp cho xuất khẩu, có khối lượng hạt 63 - 65 gam/100 hạt. Tỷ lệ nhân
69 - 70% (thuộc giống có vỏ dày).


- Giống L18 kháng khá với bệnh gỉ sắt và đốm nâu, chống sâu ăn
lá khá, là giống thích hợp cho vùng có điều kiện đầu tư thâm canh cao.
Thời gian sinh trưởng: 110 - 120 ngày. Có khả năng cho năng suất 50 - 55 tạ/ha khi
thâm canh cao và chủ động tưới tiêu. Năng suất bình quân đạt 30 - 35 tạ/ha trong vụ thu



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×