Tải bản đầy đủ

Bài thảo luận Lí Thuyết Xác Suất và Thống kê Toán: khảo sát nguyện vọng về nơi làm việc của sinh viên sau khi ra trường

Bài thảo luận : lí thuyết xác suất và thống kê toán.


I.Lời mở đầu
Ngày nay, đi lên cũng với sự phát triển của thế giới, những ứng dụng của ngành
khoa học xác xuất thống kê ngày càng trở nên quan trọng trong hầu hết mọi lĩnh
vực: kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội,… cũng như đời sống hàng ngày. Việc
nghiên cứu các số liệu trở nên cần thiết hơn nhằm có thể giúp chúng ta trong
công việc nghiên cứu khoa học và xã hội để từ đó đưa ra những điều chỉnh hợp
lý đưa thực tiễn cuộc sống vào nghiên cứu khoa học và vận dụng những thành
tựu đạt được nhằm xây dựng xã hội tốt đẹp hơn.
Nền kinh tế của nước ta đang trên đà phát triển mạnh mẽ. Sinh viên là tầng lớp
xã hội luôn được quan tâm và trông đợi nhất, là cánh cửa bước vào tương lai
của cả quốc gia. Tầng lớp sinh viên được xã hội đánh giá không chỉ thông qua
trí tuệ, trình độ học vấn mà còn đánh giá qua sự nhanh nhạy trong xử lý công
việc và kỹ năng cuộc sống. Cùng với đó, hầu hết sinh viên ra trường đều mong
muốn có một công việc ổn định và thuận lợi, và có một môi trường làm việc tốt
để phát triển sự nghiệp. Gắn với mong muốn đó là tìm được một nơi làm việc
phù hợp với điều kiện của mình.Nhưng có rất nhiều yếu tố khác nhau tác động
đến mong muốn này. Dựa vào đó, nhóm 4 chúng em đã lựa chọn đề tài nghiên
cứu là : ‘khảo sát nguyện vọng của sinh viên sau khi ra trường về nơi làm việc’

cho bài thảo luận.
Đề tài này có ý nghĩa giúp:









Trường có thể nắm bắt được xu hướng, nguyện vọng của sinh viên ngoại
tỉnh đang học tập ở trường về nơi làm việc sau khi ra trường .
Trường có thể tổng hợp các lý do khác nhau tác động đến mong muốn
chọn nơi làm việc của sinh viên, từ đó đưa ra một số lời khuyên phù hợp
với từng nhóm sinh viên của trường.
Phân nhóm theo lý do có sự tác động, hỗ trợ hay định hướng từ cha mẹ,
người thân hay là từ bản thân sinh viên , từ đó biết được sự ảnh hưởng
của lý do nào là chủ yếu.
Có thể nghiên cứu thêm để nắm bắt được mong muốn của nhóm sinh viên
khác như: không muốn ở lại Hà Nội làm việc, hay tình nguyện về các
vùng sâu vùng xa,…
Ngoài ra từ số liệu thống kê đã điều tra được ta có thể kiểm định được các
giả thiết về mức độ mong muốn làm việc tại Hà Nội và những nơi khác
của sinh viên.

2


Khi thực hiện đề tài này nhóm sẽ tiến hành ước lượng về tỉ lệ sinh viên đại học
thương mại có nguyện vọng ở lại hà nội, về quê hay lên vùng sâu vùng xa ….
làm việc. Sau phần ước lượng là phần kiểm định giả thiết về những tỉ lệ đó.

II.Cơ sở lí thuyết
Lí thuyết ước lượng, lí thuyết kiểm định các giả thiết thống kê là những bộ phận
quan trọng của thống kê toán. Nó là phương tiện giúp ta giải quyết những bài
toán nhìn từ góc độ khác liên quan đến dấu hiệu cần nghiên cứu trong tổng thể.
Trong quá trình nghiên cứu đề tài này nhóm sẽ sử dụng cơ sở lí thuyết ước
lượng giả tỉ lệ đám đông và kiểm định giả thiết về tỉ lệ đám đông.
1.ước lượng tỉ lệ đám đông

2. kiểm định giả thiết vầ tỉ lệ đám đông.
(vì 2 phần này trong giáo trình lí thuyết xác suất và thống kê toán đã viết rất cụ
thể, rõ ràng nên nhóm không đưa vào đây nữa

3


III.Giải bài toán
Nhóm đã tiến hành điều tra 2 mẫu số liệu và tổng hợp được thành 2 bảng
sau

Bảng 1: khảo sát nguyện vọng của sinh viên về nơi làm việc sau khi ra trường
n1 =138
Số
LÝ DO
lượng

STT

NGYỆN VỌNG

1

Ở lại Hà Nội Quyết tâm 48

Có cơ hội thăng tiến cao

Số
lượng
14
4


Muốn thoát khỏi cảnh nông thôn

bằng mọi
giá
phải
làm việc tại
Hà Nội
làm việc
(Tổng :104)

2

3

Không
quyết tâm
56
chỉ mong
muốn

Về quê làm việc

26

Tình nguyện lên vùng sâu
8
vùng xa làm việc

3

28
Đặc thù công việc của ngành
nghề đang học
Lý do khác
3
Có sự hộ trợ từ phía gia đình
5
Thích cuộc sống, làm việc tại Hà 10
Nội
38
Muốn có công việc tốt, thu nhập
cao
3
Lý do khác
Muốn gần gia đình
14
Gia đình đã có định hướng công 8
việc ở quê
Không muốn sống và làm việc 3
trong môi trường cạnh tranh,áp
lực như Hà Nội
1
Lý do khác
Đưa văn minh lên vùng núi
0
Muốn mang kiến thức của mình 5
để giúp đỡ đồng bào vùng sâu
vùng xa
Muốn trải nghiệm đời sống văn 3
hóa nơi vùng sâu vùng xa
Lý do khác

0

Bảng 2: : khảo sát nguyện vọng của sinh viên về nơi làm việc sau khi ra trường
n2 = 138
ST
T

1

NGYỆN VỌNG

SỐ
LÝ DO
LƯỢNG

Ở lại Hà Nội Quyết tâm 66
làm việc
bằng mọi
(tổng :96)
giá phải làm
việc tại Hà
Nội

Có cơ hội thăng tiến cao

SỐ
LƯỢNG

15
14

Muốn thoát khỏi cảnh nông thôn
34
Đặc thù công việc của ngành
nghề đang học
Lý do khác
3
5


5

Không
quyết tâm
30
chỉ
mong
muốn

2

3

Về quê làm việc

32

Tình nguyện lên vùng sâu
10
vùng xa làm việc

Có sự hộ trợ từ phía gia đình
Thích cuộc sống, làm việc tại Hà 3
Nội
20
Muốn có công việc tốt, thu nhập
cao
2
Lý do khác
Muốn gần gia đình
22
Gia đình đã có định hướng công 5
việc ở quê
Không muốn sống và làm việc 3
trong môi trường cạnh tranh,áp
lực như Hà Nội
2
Lý do khác
Đưa văn minh lên vùng núi
Muốn mang kiến thức của mình
để giúp đỡ đồng bào vùng sâu
vùng xa
Muốn trải nghiệm đời sống văn
hóa nơi vùng sâu vùng xa
Lý do khác

0
8
2
0

Từ 2 bảng số liệu này nhóm sẽ giải quyết các bài toán sau :

Ước
lượng
(số liệu
bảng 1)

Bài toán 1

Bài toán 2

Bài toán 3

Bài toán 4

Ước lượng tỉ lệ
sinh viên ngoại
tỉnh của trường
ĐHTM

mong muốn ở
lại Hà Nội làm
việc sau khi ra
trường

Ước lượng tỉ lệ
sinh viên ngoại
tỉnh của trường
ĐHTM có mong
muốn ở lại Hà
Nội làm việc sau
khi ra trường

Ước lượng
Tỉ lệ sinh viên
ngoại
tỉnh
muốn về quê
làm việc sau
khi ra trường

Ước lượng tỉ
lệ sinh viên
ngoai
tỉnh
tình nguyện
lên vùng sâu
vùng xa làm
việc

6


Kiểm
định ( tỉ Kiểm định giả
lệ được thiết tỉ lệ sinh
tính
từ viên muốn ở lại
bảng 1 và
hà nội làm việc
dùng số
liệu
ở là 75%
bảng 2 để
kiểm định
lại tỉ lệ
đó)

Kiểm định giả
thiết sinh viên
quyết tâm bằng
mọi giá ở lại hà
nội làm việc là
45%

Kiêm định giả
thiết thiết về tỉ
lệ sinh viên
muốn về quê
làm việc là 19%

Kiểm
định
giả thiết tỉ lệ
sinh viên tình
nguyện lên
vùng
sâu
vùng xa làm
việc là 6%

Bài 1: phần ước lượng


Ước lượng tỉ lệ sịnh viên ngoại tỉnh đại học thương mại có muốn ở lại
hà nội làm việc sau khi ra trường,biết khi điều tra 138 sinh viên đại
học thương mại thấy có 104 sinh viên có nguyện vọng này (độ tin cậy
95%)
Giải

Gọi f là tỉ lệ sinh viên Đại Học Thương Mại có nguyện vọng ở lại Hà Nội làm
việc trên mẫu.
P là tỉ lệ sinh viên Đại Học Thương Mại có nguyện vọng ở lại Hà Nội làm việc
trên đám đông.
Vì n=138 khá lớn nên :
Ta có : f



N(p; ) => U = N(0;1)

Khi đó ta tìm được sao cho :
P( |u| ) 1 - = (*)
thay biểu thức U vào công thức (*) ta có
p( f – < p < f + ) 1 - =
trong đó : =
Vì p, n lớn nên ta lấy và q
vì = u0,025 = 1,96

7


Vậy khoảng tin cậy của p là (0,678 ;0,822)
Với độ tin cậy 95% có thể nói tỉ lệ sinh viên ngoại tỉnh nguyện vọng ở lại Hà
Nội làm việc nằm trong khoảng 67.8% đến 82.2%.

Phần kiểm định
 Từ bảng số liệu số 1 ta có tỉ lệ sinh viên ngoại tỉnh ĐHTM muốn ở lại
hà nội làm việc sau khi ra trường là75%. Điều tra 138 sinh viên thấy có
96 sinh viên có nguyện vọng ở lại làm việc tại Hà Nội (số liệu ở bảng 2)
Dựa trên số liệu thống kê này với mức ý nghĩa 5% kiểm định giả thuyết
trên.
Gọi f là tỉ lệ sinh viên ĐHTM sau khi ra trường có nguyện vọng ở lại Hà Nội làm
việc trên mẫu.
P là tỉ lệ sinh viên ĐHTM sau khi ra trường có nguyện vọng ở lại Hà Nội làm
việc trên đám đông.
Vì n khá lớn nên f có phân phối xấp xỉ chuẩn f



N(p; )

Với mức ý nghĩa cần kiểm định : H0
Xây dựng tiêu chuẩn kiểm định : U=

Trong đó : q0 = 1- p0
Nếu H0 đúng thì U tìm được phân vị sao cho :
P( ) =
Vì khá bé nên theo nguyên lí xác suất nhỏ ta có miền bác bỏ :
W = { utn : |utn| > } trong đó utn =
Ta có

=

u0,025 = 1,96 ; f =

utn= ,utn W => chấp nhận H0 bác bỏ H1

8


Với mức ý nghĩa ta có thể nói rằng tỉ lệ sinh viên Thương Mại sau khi ra trường
có nguyện vọng ở lại Hà Nội làm việc là 75%

Bài toán 2
Phần ước lượng


Ước lượng tỉ lệ sinh viên ngoại tỉnh trường đại học thuơng mại có
quyết tâm bằng mọi giá phải ở lại hà nội làm việc trong số những
người muốn ở lại Hà Nội. Biết rằng điều tra trong số 104 người muốn
ở lại hà nôi làm việc thì có 48 người có quyết tâm bằng mọi giá phải ở
lại hà nội (số liệu bảng 1) Độ tin cậy 95%

Gọi f là tỉ lệ sinh viên đại học thương mại quyết tâm bằng mọi giá phải ở lại Hà
Nội làm việc trên mẫu.
Gọi p là tỉ lệ sinh viên đại học thương mại quyết tâm bằng mọi giá phải ở lại Hà
Nội làm việc trên đám đông.
Vì n=104 >30 khá lớn nên:

f~ N(p)=>U= ≃ N(0,1)

Khi đó ta tìm được sao cho: P(|U| < ≃ 1- =
Thay biểu thức của U vào công thức trên, ta có:
P(|f-p| < . ) ≃ 1- =
P(f−�<�<�+�) ≃1−�=�. Trong đó: � =.
Vì chưa biết p, n khá lớn nên ta lấy
P~ f=()0.46 => q=1-f 1-0.46=0.54
Theo bài
=>1- =0.95 <=> =1-0.95=0.05 => =u0.025=1.96
Suy ra: � =.1.96 0.095
Vậy khoảng tin cậy của p là (0.46-0.095 ; 0.46+0.095) hay (0.356 ; 0.555)
Kết luận: Với độ tin cậy 95% có thể nói rằng tỉ lệ sinh viên ĐHTM quyết tâm
bằng mọi giá ở lại Hà Nội làm việc nằm trong khoảng từ 35,6 % đến 55,5%.

9


Phần kiểm định
Từ bảng số liệu 1 ta có tỉ lệ sinh viên ngoại tỉnh ĐHTM có quyết tâm bằng
mọi giá phải ở lại hà nội làm việc so với những người muốn ở lại Hà Nội là
46%, để kiểm tra lại nhóm đã phỏng vấn 96 người có mong muốn ở lại hà nội
làm việc thấy có 50 người có quyết tâm đó (số liệu bảng 2) dựa trên số liệu
này,với mức ý nghĩa 5% hãy kiểm tra lại tỉ lệ trên
Gọi f là tỉ lệ sinh viên dhtm có quyết tâm bằng mọi giá ở lại Hà Nội làm việc sau
khi ra trường trên mẫu.
Gọi p là tỉ lệ sinh viên dhtm có quyết tâm bằng mọi giá ở lại Hà Nội làm việc sau
khi ra trường trên đám đông.
Vì n =276 khá lớn nên f có phân phối xấp xỉ chuẩn f



N(p; )

Với mức ý nghĩa =0.05 cần kiểm định:H0:
Xây dựng tiêu chuẩn kiểm định:
U=
Trong đó = 1- .
Nếu Nếu đúng thì U≃ N(0,1). Tìm được phân vị sao cho
P(|U|> ) =
Vì khá bé nên theo nguyên lí xác suất nhỏ ta có miền bác bỏ;
= , trong đó =
Ta có: =u0.025=1.96; f= 0.52
Utn = =1.2
Suy ra utn= 1.2, do đó: utn W� . Chấp nhận H0 bác bỏ H1
Kết luận: Với mức ý nghĩa =0.05 ta có thể nói rằng tỉ lệ sv ĐHTM có quyết tâm
bằng mọi giá ở Hà Nội làm việc sau khi ra trường là 46%

10


Bài toán 3
Phần ước lượng


Ước lượng tỉ lệ sinh viên ngoại tỉnh của Đại học thuơng mại có nguyện
vọng về quê làm việc sau khi ra trường khi điều tra 138 sinh viên thấy
có 26 người có nguyện vọng này ( số liệu bảng 1 ). Với độ tin cậy 95%.

Gọi f là tỉ lệ sinh viên trường Đại Học Thương Mại có nguyện vọng về quê làm
việc sau khi ra trường trên mẫu.
Gọi p là tỉ lệ sinh viên trường Đại Học Thương Mại có nguyện vọng về quê làm
việc sau khi ra trường trên đám đông.
Vì n = 138 khá lớn nên:
f≃N(p,) => U= ≃ N(0,1)
Khi đó ta tìm được u sao cho:
P( < ) ≃ 1- =
Thay biểu thức của U vào công thức trên ta có:
P(|f-p| < . ) ≃ 1- =
P(f−�<�<�+�) ≃1−�=�
Trong đó:
� =.
Vì chưa biết p, n lớn ta lấy p = 0,19 và q 1-f= 0,81.
Vì = 1−� = 0,95, nên = u0,025 =1,96. Suy ra:
�=. .1,96 0,065
Vậy khoảng tin cậy của p là: (0,19-0,065 ; 0,19+0,065) hay (0,125 ; 0,255)
Kết luận: Với độ tin cậy 95% có thể nói rằng tỉ lệ sinh viên có nguyện vọng về
quê làm việc sau khi ra trường nằm trong khoảng từ 12.5% đến 25.5%.

11


Phần kiểm định


Từ bảng số liệu 1 nhóm tính được tỉ lệ sinh viên ngoại tỉnh trường đại
học thương mại sau khi ra trường có nguyện vọng về quê làm việc là
19%. Điều tra 138 sinh viên thấy có 32 người có nguyện vọng về quê
làm việc (số liệu bảng 2). dựa trên số liệu thống kê này, với mức ý
nghĩa 5% kiểm định lại nhận định trên.

Giải
Gọi f là tỉ lệ sinh viên có nguyện vọng sau khi ra trường về quê làm việc trên
mẫu.
Gọi p là tỉ lệ sinh viên có nguyện vọng sau khi ra trường về quê làm việc trên
đám đông.
Vì n khá lớn nên f có phân phối xấp xỉ chuẩn: f ≃ N(p, ).
Với mức ý nghĩa = 0,05 cần kiểm định:
XDTCKĐ:
U=
Trong đó = 1- .
Nếu đúng thì U≃ N(0,1). Tìm được phân vị sao cho
P(|U|> ) =
Vì khá bé nên theo nguyên lí xác suất nhỏ ta có miền bác bỏ;
= , trong đó =
Ta có: = = 1,96; f = = 0,23
Suy ra = = 1,21

chấp nhận . Bác bỏ H1

Kết luận: Với mức ý nghĩa = 0,05 ta có thể nói rằng tỷ lệ sinh viên trường đại
học thương mại sau khi ra trường có nguyện vọng về quê làm việc là 19%

12


Bài toán 4
Phần ước lượng
Điều tra ngẫu nhiên 138 sinh viên ngoại tỉnh trường đại học thương mại thấy
có 8 sinh viên tình nguyện lên vùng sâu vùng xa làm việc sau khi ra
trường(số liệu bảng 1)..Với độ tin cậy 95 % hãy ước lượng tỉ lệ sinh viên
trường đại học thương mại tình nguyện lên vùng sâu vùng xa làm việc sau
khi ra trường?
Giải
Gọi f là tỉ lệ sinh viên trường Đại Học Thương Mại tình nguyện lên vùng sâu
vùng xa làm việc sau khi ra trường.
Gọi p là tỉ lệ sinh viên trường Đại Học Thương Mại tình nguyện lên vùng sâu
vùng xa làm việc sau khi ra trường trên đám đông.
Vì n = 138 khá lớn nên:
f≃N(p,)=> U= ≃ N(0,1)
Khi đó ta tìm được u sao cho:
P(< ) ≃ 1- =
Thay biểu thức của U vào công thức trên ta có:
P(|f-p|<. ) ≃ 1- =
P(f−�<�<�+�) ≃1−�=�
Trongđó:
�=.
Vì chưa biết p, n lớn ta lấy p = 0,06 và q 1-f = 0,04.
Vì = 1−�= 0,95, nên = u0,025 =1,96.
Suy ra:�=..1,960,039
Vậykhoảng tin cậycủa p là: (0,06-0,039 ; 0,06+0,039) hay (0,021;0,099)

13


Kết luận: Với độ tin cậy 95% có thể nói rằng tỉ lệ sinh viên tình nguyện lên vùng
sâu vùng xa làm việc sau khi ra trường nằm trong khoảng từ 2.1% đến 9,9%

Phần kiểm định
Từ số liệu bảng 1 nhóm tính được tỷ lệ sinh viên ngoại tỉnh trường đại học
thương mại sau khi ra trường tình nguyện lên vùng sâu vùng xa làm việc là
5,8%. Để kiểm tra lại điều tra 138 sinh viên thấy có 10 tình nguyện lên vùng
sâu vùng xa làm việc (số liệu bảng 2). dựa trên số liệu thống kê này, với mức
ý nghĩa 5% hãy kiểm định lại nhận định trên.
Giải
Gọi f là tỉ lệ sinh viên tình nguyện lên vùng sâu vùng xa làm việc trên mẫu.
Gọi p là tỉ lệ sinh viên tình nguyện lên vùng sâu vùng xa làm việc trên đám
đông.
Vì n khá lớn nên f có phân phối xấp xỉ chuẩn: f ≃N(p, ).
Với mức ý nghĩa = 0,05cần kiểm định:
XDTCKĐ:
U=
Trongđó = 1- .
Nếu đúng thì U≃N(0,1). Tìm được phân vịsaocho
P(|U|>) =
Vìkhá bé nên theo nguyên lí xác suấtnhỏ ta có miền bác bỏ;
= , trong đó =
Ta có: = = 1,96; f = = 0,072
Suy ra = = 0,6 bác bỏ H1 chấp nhận H0

14


Kết luận: Với mức ý nghĩa = 0,05 ta có thể nói rằng tỷ lệ sinh viên trường đại
học thương mại sau khi ra trường có nguyện vọng lên vùng sâu, vùng xa làm
việc là 6%

Sau quá trình tính toán nhóm tổng hợp được bảng số liệu sau :
Nguyện vọng
Muốn ở lại Hà Nội làm việc

Tỉ lệ
Ước lượng
67,8% 82,2%.

Kiểm định
75%

Muốn về quê làm việc

12.5% 25.5%.

19%

Muốn lên vùng sâu vùng xa

2.1% 9,9%

6%

ở lại Hà Nội làm với quyết tâm rất cao 35,6 % 55,5%.
(trong số những người muốn ở lại Hà
Nội)

46%

IV.Phần kết luận
Qua quá trình tìm hiểu , điều tra lấy số liệu và giải quyết những bài toán mà đề
tài đặt ra chúng ta nhận thấy tỉ lệ sinh viên ngoại tỉnh của trường đại học thuơng
15


mại có nguyện vọng ở lại hà nội làm việc rất cao, với mức tỉ lệ mà nhóm đã
ước lượng được là khoảng từ 67,8 82,2% và sau khi kiểm định thì xác định
được tỉ lệ đó là 75%.trong đó tỉ lệ sinh viên muốn về quê làm việc sau khi ra
trường lại chỉ ở trong khoảng 12,5 25,5% điều đó cho thấy xu hướng của sinh
viên ngoại tỉnh là muốn tìm được một công việc ổn định ở Hà Nội. Trong số họ
lại có những người không chỉ mong muốn đơn thuần mà còn quyết tâm rất cao
(chiếm khoảng 35,6 55,5% )là phải ở lại hà nội làm việc vì những nguyên nhân
chủ yếu như là :muốn có 1 công việc tốt thu nhập cao, do đặc thù của ngành
nghề đang học hay muốn có cơ hội thăng tiến cao.. . có thể họ nghĩ rằng về quê
thì cơ hội việc làm ít hơn ở thành phố và lương cũng thấp hơn… nên vì phát
triển sự nghiệp họ nhất định phải ở lại Hà Nội làm việc.
Điều này cho thấy tư tưởng học đại học là phải tìm được một công việc ngon
lành ở thành phố vẫn đang đè nặng lên tâm lí của các bạn sinh viên, khiến rất
nhiều bạn có quyết tâm bằng mọi giá phải tim được một công việc ở Hà Nội sau
khi ra trường. Điều này khiến cho tình trạng dân số ở thành phố Hà Nội trở nên
quá tải vì mỗi năm có hàng nghìn tân sinh viên về đây để học tập trong khi đó
hàng nghìn sinh viên đã tốt nghiệp vẫn trụ lại ở thành phố với hi vọng tìm kiếm
việc làm. Điều đó gây nên tình trạng quá tải và tỉ lệ số sinh viên ra trường mà
vẫn thất nghiệp ngày càng tăng.
Tuy nhiên có một điều đáng mừng là trong khi rất nhiều thì sinh viên muốn ở
lại thành phố làm việc thì vẫn có những ngưởi tình nguyện lên vùng sâu, vùng
xa làm việc,tuy rằng tỉ lệ này rất ít chỉ chiếm 2,19,9 % nhưng điều đó cũng cho
thấy vẫn có những bạn trẻ muốn mang kiến thức của mình để giúp đỡ đồng bào
vùng sâu vùng xa hay muốn trải nghiệm đời sống văn hóa nơi, vùng sâu vùng
xa.
Như vậy nhờ sự ứng dụng môn học lí thuyết xác suất và thống kê toán vào trong
thực tiễn mà đã tính toán được những con số cụ thể về mong muốn về nơi làm
việc sau khi ra trường của sinh viên ngoại tỉnh trường Đại Học Thương Mại.
Từ đó giúp nhà trường nắm bắt được nguyện vọng của sinh viên và những lí do
khiến họ có nguyện vọng như vậy. Từ đó có những lời khuyên phù hợp trong
lĩnh vực tư vấn và giới thiệu việc làm cho sinh viên

16



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×