Tải bản đầy đủ

đề cương ôn thi triết học cao học

Câu 1:
Khái niệm Thế giới quan Là toàn bộ những quan điểm, quan niệm của con người về thế giới.
con người sống trên thế giới dù muốn hay không, họ vẫn phải tìm hiểu về những thứ xung quanh mình.
Bao hàm cả những cái thuộc về thế giới tự nhiên, trong xã hội loài người,
Nguồn gốc của thế giới quan: TGQ ra đời từ cuộc sống; nó là kết quả trực tiếp của quá trình
nhận thức; song, suy cho đến cùng nó là kết quả của cả những yếu tố khách quan và chủ quan, của cả
hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn, những cài thuộc về con người, thuộc xã hội loài người.
Nội dung của TGQ : cực kỳ phức tạp, nhưng khái quát lại có 3 mảng nội dung chính :
- Những cái bên ngoài con người : TGQ là TGQ của con người, là kết quả nhận thức của con
người, khi con người nhận thức những cái bên ngoài bản thân mình sẽ hình thành những mảng nội
dung riêng
- Những cái bên trong-chính bản thân con người : con người hiểu về mình, nhận thức về mình…
Mối quan hệ của con người và cái bên ngoài con người : con người có sự hiểu biết những cái bên
ngoài mình, những cái bên trong mình và hiểu mối quan hệ giữa cái bên trong con người về thế
giới bên ngoài con người.
Cấu trúc của TGQ: hết sức phức tạp nhưng hai yếu tố cơ bản là Tri thức và Niềm tin. Một TGQ
coi là nhất quán, hoàn chỉnh khi tri thức và niềm tin thống nhất với nhau và con người hành động theo
niềm tin đó.
I. Những hình thức cơ bản của TGQ: Sự phát triển của TGQ đã là TGQ thể hiện dưới ba hình
thức cơ bản: TGQ huyền thoại, TGQ tôn giáo, TGQ triết học.
1. TGQ Huyền thoại hình thành và phát triển trong giai đoạn đầu của XH loài người. Đặc

trưng cơ bản về TGQ huyền thoại:
- Về hình thức thể hiện: TGQ huyền thoại thể hiện chủ yếu qua các câu chuyện thần thoại.
- Về tính chất: Nội cung của truyền thần thoại có sự pha trộn giữa thần và người, giữa thật và
ảo, trật tự không gian và thời gian bị đảo lộn không tự giác. Trong tất cả những câu chuyện thần thoại
thì thần thoại Hy Lạp thể hiện rõ nét nhất đặc điểm của TGQ. TGQ huyền thoại thể hiện nổi bật nhất
trong thần thoại Hy Lạp. Yếu tố thần và người có sự hòa trộn, đan xen.
- Về trình độ nhận thức: TGQ huyền thoại thể hiện trình độ nhận thức thấp, chủ yếu ở cấp độ
nhận thức cảm tính nên những gì trừu trượng thường được con người hình dung dưới những sự vật hữu
hình, cụ thể.
2. TGQ tôn giáo: yếu tố niềm tin là yếu tố giữa vai trò tuyệt đối. sức mạn h của thế lực siêu
nhiên.
- Về hình thức thể hiện: TGQ tôn giáo thể hiện qua giáo lý của các tôn giáo.
- Về tính chất: Niềm tin cao hơn lý trí, hư ảo, tuyệt đối yếu tố thần thánh, vai trò con người bị
hạ thấp.
3. Về trình độ nhận thức: TGQ tôn giáo ra đời khi trình độ nhận thức và khả năng hoạt động
thực tiễn của con người còn rất thấp nên con người bất lực, sợ hãi trước những lực lượng tự nhiên cũng
như những lực lượng xã hội dẫn đến việc họ thần thánh hoá chúng, quy chúng về sức mạnh siêu tự
nhiên và tôn thờ chúng. Trong tất cả các tôn giáo chỉ có tôn giáo phật giáo là nói đến sức mạnh của con
người.
4. TGQ triết học
TGQ triết học là TGQ có hạt nhân lý luận là các học thuyết triết học. TGQ triết học, các học
thuyết triết học là bộ phận quan trọng nhất vì nó chi phối tất cả những quan điểm, quan niệm khác của
TGQ con người.
- Về hình thức thể hiện: TGQ triết học thể hiện chủ yếu qua các học thuyết triết học. TGQ
triết học không chỉ thể hiện quan điểm, quan niệm của con người về TG mà nó còn chứng minh các
quan điểm, quan niệm ấy bằng lý luận.
- Về tính chất: đề cao vai trò trí tuệ. Cụ thể hơn tính chất của TGQ triết học bị tính chất của
các học thuyết triết học qui định và tất cả các học thuyết triết học điều thể hiện cấp độ nhận thức cao.

1


- Về trình độ nhận thức: TGQ triết học ra đời khi nhận thức của con người đã đạt đến trình độ
cao của sự khái quát hoá, trừu tượng hoá và khi các lực lượng xã hội đã ý thức được sự cần thiết phải
có định hướng về tư tưởng để chỉ đạo cuộc sống.
*Lịch sử phát triển của thế giới quan duy vât:
Biểu hiện qua ba hình thức cơ bản:
Giai đoạn 1: thế giới quan duy vật thời cổ đại có các tính chất: duy vật trực quan và thể hiện tính
phỏng đoán và biện chứng. Thể hiện rõ nét ở thời cổ đại, con người đã thoát khỏi tình trạng mông muội
nhưng mọi mặt của đs xh còn rất thấp, lao động đã từng bước được phân thành lao động chân tay, trí oc

Tuy còn nhiều hạn chế nhưng … đã có những đóng góp lớn lao vào quá trình phát triển nhận thức,
đánh dấu bước chuyển hóa từ giải thích thế giới dực trên thần linh sang giải thích dựa vào TG tư nhiên
TG quan duy vật siêu hình: phát triển mạnh ở Châu Âu vào các thế kỉ XVI - XVIII. Thời kì này,
triết học gắn liền với khoa học tự nhiên, các nhà triết học đồng thời là những nhà khoa học tự nhiên.
*Đặc trưng cơ bản của chủ nghĩa duy vật siêu hình:
a) Xem xét sự vật một cách hoàn toàn cô lập, tách rời với các sự vật khác;
b) Xem xét sự vật trong trạng thái tĩnh tại không vận động, không biến đổi, vĩnh viễn cố định;
c) Quá trình phát triển được xem như là sự tăng trưởng đơn thuần về mặt số lượng chứ không có
sự thay đổi về chất lượng;
d) Tìm nguồn gốc của sự vận động và phát triển ở bên ngoài sự vật (ở Thượng đế, ở cái hích đầu
tiên, vv.), chứ không tìm trong sự đấu tranh giữa các mặt đối lập ở ngay trong lòng sự vật;
e) Có quan điểm cứng nhắc chỉ dựa trên những phản đề tuyệt đối không thể dung hợp được; nói
có là có, không là không, cái gì vượt ra ngoài phạm vi đó chẳng có giá trị gì hết.
Giai đoạn 2: TGDV thời cận đại: siêu hình.CN duy vật siêu hình thế kỷ XVII - XVIII do ảnh
hưởng của cơ học cổ điển nên chủ nghĩa duy vật thời kỳ này chịu sự tác động mạnh mẽ của phương
pháp tư duy siêu hình, máy móc - phương pháp nhìn nhận thế giới trong trạng thái biệt lập, tĩnh tại. Tuy
không phản ánh đúng hiện thực, nhưng chủ nghĩa duy vật siêu hình vẫn đóng vai trò quan trọng trong
cuộc đấu tranh chống lại thế giới quan duy tâm và tôn giáo
Giai đoạn 3: TGDV thời hiện đại: Thế giới quan duy vât biện chứng: do Mác – Anghen xây dựng
vào những năm 40 của thế kỷ XIX, sau đó được Lênin phát triển. Với sự kế thừa tinh hoa của các học
thuyết triết học trước đó và vận dụng triệt để thành tựu của khoa học đương thời, CNDVBC ngay từ
khi mới ra đời đã khắc phục được những hạn chế của CN duy vật chất phác cổ đại, chủ nghĩa duy vật
siêu hình thế kỷ XVII – XVIII và nó đã thể hiện được sự thống nhất giữa TG quan duy vật khoa học và
phương pháp nhận thức khoa học. Chủ nghĩa duy vật biện chứng không chỉ phản ánh đúng đắn hiện
thực mà còn là một công cụ hữu hiệu giúp các lực lượng tiến bộ trong xã hội cải tạo hiện thực đó.
TG quan duy vật bc ko chi là một bức tranh chân thực về TG mà còn đem lai cho con người
định hướng phương pháp tư duy khoa hoc để con người tiếp tục nhận thức và cải tạo TG
Câu 2: ND & bản chất của CNDVBC với tính cách là hạt nhân lý luận của TG quan khoa
học
1. Nội dung: của CNDVBC với tính cách là hạt nhân lý luận của TG quan khoa học bao gồm 2
nhóm quan niệm. Đó là nhóm quan niệm duy vật về TG nói chung và nhóm DV về xã hội nói riêng:
a)Quan điểm duy vật về TG:
o Tồn tại của TG là tiền đề thống nhất TG: Trước khi TG có thể là một thể thống nhất thì trước
hết TG phải tồn tại. Tính thống nhất thật sự của TG là ở tính vật chất của nó, tính vật chất này được
chứng minh bằng một sự phát triển lâu dài và khó khăn của triết học và khoa học tự nhiên.
o Nguyên lý về tính thống nhất vật chất của TG, có nội dung như sau:
 TG vật chất tồn tại khách quan, vĩnh viễn, vô hạn, vô tận.
 Trong TG vật chất chỉ tồn tại các quá trình vật chất cụ thể, có mức độ tổ chức nhất định; đang
biến đổi chuyển hóa lẫn nhau là nguồn gốc, nguyên nhân của nhau; cùng chịu sự chi phối bởi các quy
luật khách quan của TGVC.
 Ý thức, tư duy con người chỉ là sản phẩm của một dạng vc có tổ chức cao; TG thống nhất và
duy nhất.

2


Phạm trù vật chất: vc là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại
cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không
phụ thuộc vào cảm giác.
o Phạm trù ý thức, quan hệ giữa ý thức và vật chất: Ý thức của con người tồn tại trước hết trong
bộ óc con người, sau đó thông qua thực tiễn lao động nó tồn tại trong các vật phẩm do con người sáng
tạo ra. Ý thức gồm nhiều yếu tố: tri thức, tình cảm, niềm tin, ý chí… trong đó tri thức và tình cảm có
vai trò rất quan trọng. Thông qua hoạt động thực tiễn, ý thức con người xâm nhập vào hiện thực vật
chất tạo nên sức mạnh tinh thần tác động lên TG góp phần biến đổi TG.
*Quan điểm duy vật về xã hội:
o Xã hội là một bộ phận đặc thù của tự nhiên, nó là kết quả phát triển lâu dài của tự nhiên, có
quy luật vận động, phát triển riêng, sự vận động, phát triển của xã hội phải thông qua hoạt động thực
tiễn.
o Sản xuất vật chất là cơ sở đời sống xã hội: Nền sản xuất vật chất trong từng giai đoạn lịch sử
gắn liền với một phương tiện sản xuất nhất định, sự thay đổi PTSX sẽ làm thay đổi mọi mặt của đời
sống xã hội.
o Sự phát triển của xã hội là quá trình lịch sử tự nhiên, là lịch sử phát triển các hình thái kinh tế
xã hội một cách đa dạng nhưng thống nhất từ thấp đến cao, mà thực chất là lịch sử phát triển của xh.
LLSX   QHSX   PTSX   (CSHT + KTTT)   HTKTXH 
o Quần chúng nhân dân (QCND) là chủ thể chân chính sáng tạo ra lsử: QCND là lực lượng trực
tiếp s.xuất ra của cải vật chất, sáng tạo ra mọi giá trị tinh thần, quyết định thành bại của mọi cuộc cách
mạng. Vai trò chủ thể QCND biểu hiện khác nhau ở những điều kiện l.sử khác nhau và ngày càng lớn
dần; sức mạnh của họ chỉ được phát huy khi họ được hướng dẫn, tổ chức, lãnh đạo.
2. Bản chất của CNDVBC:
o CNDVBC đã giải quyết vấn đề c.bản của triết học từ quan điểm thực tiễn:
CNDV cũ thiếu quan điểm thực tiễn, máy móc  không thấy được tính năng động của ý thức;
riêng CNDVBC khẳng định vật chất có trước và quyết định ý thức; trong hoạt động thực tiễn ý thức tác
động tích cực làm biến đổi hiện thực vật chất theo nhu cầu của con người.
o CNDVBC đã thống nhất TGQDV với phép biện chứng: CNDV cũ mang nặng tính siêu hình,
PBC được nghiên cứu trong hệ thống triết học duy tâm  Mác cải tạo CNDV cũ, giải thoát PBC ra
khỏi tính thần bí, tư biện  xây dựng nên CNDVBC; thống nhất giữa TGQDV với PBC.
o CNDVBC là CNDV triệt để; nó không chỉ duy vật trong lĩnh vực tự nhiên mà còn trong lĩnh
vực xã hội. CNDVLS là cống hiến vĩ đại của C.Mác cho kho tàng tư tưởng của loài người: CNDV cũ
không triệt để; CNDV lịch sử ra đời là kết quả vận dụng CNDV vào nghiên cứu lĩnh vực xã hội, tổng
kết lịch sử, kế thừa có phê phán toàn bộ tư tưởng xã hội trên cơ sở khái quát thực tiễn mới của giai cấp
vô sản. Với CNDVLS nhân loại tiến bộ có được một công cụ vĩ đại trong nhận thức, cải tạo TG
o CNDVBC mang tính thực tiễn - cách mạng, hướng dẫn con người trong h.động thực tiễn cải
tạo TG:
 CNDVBC là vũ khí lý luận của giai cấp vô sản: Lợi ích giai cấp vô sản phù hợp lợi ích nhân
loại tiến bộ, được luận chứng bằng những cơ sở lý luận khoa học CNDVBC trở thành hệ tư tưởng
của giai cấp vô sản có sự thống nhất tính khoa học và tính cách mạng.
 CNDVBC không chỉ giải thích thế giới mà còn góp phần cải tạo TG.
 CNDVBC khẳng định sự tất thắng của cái mới: nó xóa bỏ cái cũ lỗi thời, xây dựng cái mới
tiến bộ.
 CNDVBC là một hệ thống mở, là kim chỉ nam cho mọi hành động.
o

Câu 3: phân tích nội dung, ý nghĩa phương pháp luận của các quy luật cơ bản của phép biện
chứng duy vật và sự vận dụng nó trong nhận thức và thực tiễn

3


Phép biện chứng DV là sự thống nhất hữu cơ giữa lý luận và phương pháp. Hệ thống
các quy luật, phạm trù của nó không chỉ phản ánh đúng đắn TG quan mà còn chỉ ra những cách
thức định hướng cho con người trong nhận thức và cải tạo TG
Phép biện chứng DV bao gồm 2 nguyên lý cơ bản, 3 quy luật và 6 cặp phạm trù, vừa là
lý luận duy vật biện chứng, vừa là lý luận nhận thức khoa học, vừa là logic của chủ nghĩa Mác.
*Hai nguyên lý cơ bản của phép biện chứng duy vật :
Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến: khái quát bức tranh toàn cảnh những mối liên hệ
của TG (tự nhiên, xã hội và tư duy). PBCDV khẳng định rằng trong tự nhiên, x.hội và tư duy,
không có sự vật, hiện tượng nào tồn tại một cách riêng lẻ, cô lập tuyệt đối, mà trái lại chúng
tồn tại trong sự liên hệ, ràng buộc, phụ thuộc, tác động, chuyển hóa lẫn nhau.
* Ý nghĩa :
+ Phải xem xét toàn diện các mối liên hệ
+ Trong tổng số các mối liên hệ phải rút ra được những mối liên hệ bản chất, chủ yếu để thấu
hiểu bản chất của sự vật.
+ Từ bản chất của sự vật quay lại hiểu rõ toàn bộ sự vật trên cơ sở liên kết các mối liên hệ bản
chất, chủ yếu với tất cả các mối liên hệ khác của sự vật để đảm bảo tính đồng bộ khi giải quyết
mọi vấn đề trong đời sống. Quan điểm toàn diện đối lập với mọi suy nghĩ và hành động phiến
diện, chiết trung, siêu hình.
Nguyên lý về phát triển: phản ánh đặc trưng biện chứng phổ quát nhất của thế giới.
Phát triển là sự vận động theo hướng đi lên, từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ chưa
hoàn thiện đến hoàn thiện.
PBCDV khẳng định rằng mọi lĩnh vực trong TG (vô cơ và hữu cơ; tự nhiên, xã hội và tư duy)
đều nằm trong quá trình phát triển không ngừng từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ
chưa hoàn thiện đến hoàn thiện.
Mọi sự vật, hiện tượng luôn vận động, biến đổi không ngừng và về phương diện bản chất của
mọi sự vận động, biến đổi của thế giới có xu hướng phát triển.
Phát triển được coi là khuynh hướng chung, là khuynh hướng chủ đạo của thế giới.
* Ý nghĩa :
Yêu cầu của nguyên tắc này đòi hỏi phải xem xét sự vật trong sự vận động, biến đổi và phát
triển của nó, phải tư duy năng động, linh hoạt, mềm dẻo, phải nhận thức được cái mới và ủng
hộ cái mới. Phát triển không loại trừ sự thụt lùi, tức sự thoái hóa, sự diệt vong của cái cũ, cái lạc
hậu, cái lỗi thời. Thậm chí cái mới cũng phải trải qua những thất bại tạm thời. Tuy nhiên, thụt
lùi là khuynh hướng không chủ đạo, chẳng những không ngăn cản sự phát triển, mà trái lại là
tiền đề, là điều kiện cho sự phát triển
- Các quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật:
Quy luật là những mối liên hệ khách quan, bản chất, tất nhiên, phổ biến và lặp lại giữa các mặt,
các yếu tố, các thuộc tính bên trong mối sự vật hay giữa các sự vật, hiện tượng với nhau.
Trong thế giới tồn tại nhiều laọi quy luật; chúng khác nhau về mức độ phổ biến, về phạm vi bao
quát, về tính chất, về vai trò của chúng đối với quá trình vận động và phát triển của sự vật trong giới tự
nhiên, xã hội và tư duy.
Việc phân loại quy luật là cần thiết để nhận thức và vận dụng có hiệu quả các quy luật vào hoạt
động thực tiễn của con người.
Căn cứ vào mức độ của tính phổ biến thì các quy luật được chia thành:
Quy luật riêng: là những quy luật chỉ tác động trong phạm vi nhất định của các sự vật, hiện
tượng cùng loại. Ví dụ như quy luật vận động sinh học, quy luật vận động hóa học, quy luật vận động
cơ học...
Quy luật chung: là những quy luật tác động trong phạm vi rộng hơn, trong nhiều loại sự vật,
hiện tượng khác nhau. Ví dụ như quy luật bảo toàn khối lượng, bảo toàn năng lượng...
4


Quy luật phổ biến: là những quy luật tác động trong tất cả các lĩnh vực trong tự nhiên, xã hội và
tư duy. Đây là quy luật của phép biện chứng duy vật.
Căn cứ vào lĩnh vực tác động, các quy luật được chia thành:
Quy luật tự nhiên: là quy luật nảy sinh và tác động trong giới tự nhiên, kể cả cơ thể con người.
Quy luật xã hội: là quy luật hoạt động của chính con người trong các quan hệ xã hội.
Quy luật của tư duy: là những quy luật thuộc mối liên hệ nội tại của những khái niệm, phạm trù,
phán đoán, suy luận và của quá trình phát triển nhận thức lý tính ở con người.
*3 quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật có ý nghĩa phương pháp luận chỉ đạo mọi hoạt
động của con người để thực hiện quan điểm toàn diện, quan điểm phát triển và quan điểm lịch sử - cụ
thể về phương diện vạch ra nguồn gốc, động lực, cách thức và xu hướng phát triển tiến lên của các sự
vật, hiện tượng trong thế giới. Đó là 3 quy luật:
1. Quy luật chuyển hóa từ những sự thay đổi về lượng thành những sự thay đổi về chất và
ngược lại
Quy luật chuyển hóa từ những sự thay đổi về lượng thành những sự thay đổi về chất và ngược
lại là quy luật cơ bản, phổ biến thể hiện hình thức và cách thức của các quá trình vận động, phát triển
trong tự nhiên, xã hội và tư duy.
a. Khái niệm chất, lượng
- Khái niệm “chất” dùng để chỉ tính quy định khách quan vốn có của sự vật, hiện tượng; là sự
thống nhất hữu cơ các thuộc tính cấu thành nó, phân biệt nó với cái khác.
Chất của sự vật là các thuộc tính khách quan vốn có của sự vật nhưng không đồng nhất với khái
niệm thuộc tính. Mỗi sự vật, hiện tượng đều có những thuộc tính cơ bản và không cơ bản. Chỉ những
thuộc tính cơ bản mới hợp thành chất của sự vật, hiện tượng. Khi các thuộc tính cơ bản thay đổi thì chất
của sự vật thay đổi.
Chất của sự vật, hiện tượng không những được xác định bởi chất của các yếu tố cấu thành mà
còn bởi cấu trúc và phương thức liên kết giữa chúng,thông qua các mối liên hệ cụ thể do đó việc phân
biệt thuộc tính cơ bản và không cơ bản, chất và thuộc tính chỉ có ý nghĩa tương đối.
Mỗi sự vật, hiện tượng không chỉ có một chất, mà có nhiều chất, tùythuộc vào các mối quan hệ
cụ thể của nó với những cái khác. Chất không tồn tại thuần túy tách rời sự vật, biểu hiện tính ổn định
tương đối của nó.
- Khái niệm “lượng” dùng để chỉ tính quy định khách quan vốn có của sự vật về các phương
diện: số lượng các yếu tố cấu thành, quy mô của sự tồn tại, tốc độ, nhịp điệu của các quá trình vận
động, phát triển của sự vật.
Một sự vật có thể tồn tại nhiều loại lượng khác nhau, được xác định bằng các phương thức khác
nhau phù hợp với từng loại lượng cụ thể của sự vật.
Chất và lượng là hai phương diện khác nhau của cùng một sự vật, hiện tượng. Hai phương diện
đó tồn tại một cách khách quan, tuy nhiên sự phân biệt giữa chất và lượng chỉ có ý nghĩa tương đối: có
cái trong mối quan hệ này đóng vai trò là chất nhưng trong mối quan hệ khác lại là lượng.
Quy luật này phản ánh cách thức, cơ chế của quá trình phát triển, là cơ sở phương pháp luận
chung để nhận thức và thúc đẩy quá trình phát triển của sự vật với 3 yêu cầu cơ bản là:
> Thường xuyên và tăng cường tích luỹ về lượng để tạo điều kiện cho sự thay đổi về chất. Chống chủ
nghĩa duy ý chí muốn đốt cháy giai đoạn.
> Khi lượng được tích luỹ đến giới hạn độ, phải mạnh dạn thực hiện bước nhảy vọt cách mạng, chống
5


thái độ bảo thủ, trì trệ.
> Vận dụng linh hoạt các hình thức nhảy vọt để đẩy nhanh quá trình phát triển.
b. Quan hệ biện chứng giữa chất và lượng
- Tính thống nhất giữa chất và lượng trong một sự vật
Sự vật, hiện tượng nào cũng là thể thống nhất giữa hai mặt chất và lượng.
Hai mặt đó không tách rời nhau mà tác động lẫn nhau một cách biện chứng.
Sự thay đổi về lượng tất yếu sẽ dẫn tới sự thay đổi về chất nhưng không phải sự thay đổi về
lượng bất kỳ nào cũng dẫn đến sự thay đổi về chất. Ở một giới hạn nhất định sự thay đổi về lượng chưa
dẫn đến sự thay đổi về chất.
Giới hạn mà sự thay đổi về lượng chưa làm chất thay đổi được gọi là độ.
Khái niệm độ chỉ tính quy định, mối liên hệ thống nhất giữa chất và lượng, là khoảng giới hạn
mà trong đó sự thay đổi về lượng chưa làm thay đổi căn bản chất của sự vật, hiện tượng. Trong giới
hạn của độ, sự vật, hiện tượng vẫn còn là nó mà chưa chuyển hóa thành sự vật, hiện tượng khác.
- Quá trình chuyển hóa từ những sự thay đổi về lượng thành những sựthay đổi về chất.
Sự vận động, biến đổicủa sự vật, hiện tượng bắt đầu từ sự thay đổi về lượng. Lượng biến đổi
trong phạm vi “độ” chưa làm chất thay đổi nhưng khi lượng thay đổi đến một giới hạn nhất định thì sẽ
dẫn tới sự thay đổi về chất.
Giới hạn đó chính là điểm nút. Sự thay đổi về lượng khi đạt tới điểm nút, với những điều kiện
xác định tất yếu sẽ dẫn đến sự ra đời của chất mới. Sự thay đổi về chất gọi là bước nhảy. Bước nhảy là
sự chuyển hóa tất yếu trong quá trình phát triển của sự vật, hiện tượng; là sự kết thúc một giai đoạn vận
động,phát triển đồng thời là điểm khởi đầu cho một giai đoạn mới, là sự gián đoạn trong quá trình vận
động, phát triển liên tục của sự vật.
- Quá trình chuyển hóa từ những sự thay đổi về chất thành những sự thay đổi về lượng: Khi chất
mới ra đời, sẽ tác động trở lại lượng mới. Chất mới tác động tới lượng mới làm thay đổi kết cấu, quy
mô, trình độ, nhịp điệu của sự vận động, phát triển của sự vật.
Như vậy, bất kỳ sự vật, hiện tượng nào cũng là sự thống nhất biện chứng giữa hai mặt chất và
lượng. Sự thay đổi về lượng tới điểm nút sẽ dẫn đến sự thay đổi về chất thông qua bước nhảy. Chất mới
ra đời sẽ tác động trởlại sự thay đổi của lượng mới. Quá trình đó liên tục diễn ra, tạo thành phương thức
phổ biến của các quá trình vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội, tư duy.
c. Ý nghĩa phương pháp luận
- Bất kỳ sự vật, hiện tượng nào cũng có phương diện chất và lượng tồn tại trong tính quy định
lẫn nhau, tác động và làm chuyển hóa lẫn nhau do đó trong thức tiễn và nhận thức phải coi trọng cả hai
phương diện chất và lượng. - Những sự thay đổi về lượng sẽ dẫn đến sự thay đổi về chất trong điều
kiện nhất định và ngược lại do đó cần coi trọng quá trình tích lũy về lượng để làm thay đổi chất của sự
vật đồng thời phát huy tác động của chất mới để thúc đẩy sự thay đổi về lượng của sự vật. - Sự thay đổi
về lượng chỉ làm thay đổi chất khi lượng được tích lũy đến giới hạn điểm nút do đó trong thực tiễn cần
khắc phục bệnh nôn nóng tả khuynh, bảo thủ trì trệ. - Bước nhảy của sự vật, hiện tượng là hết sức đa
dạng, phong phú do vậy cần vận dụng linh hoạt các hình thức của bước nhảy cho phù hợp với điều kiện
cụ thể. Đặc biệt trong đời sống xã hội, quá trình phát triển không chỉ phụ thuộc vào điều kiện khách
quan, mà còn phụ thuộc vào nhân tố chủ quan của con người. Do đó, cần phải nâng cao tính tích cực
chủ động của các chủ thể để thúc đẩy quá trình chuyển hóa từ lượng đến chất một cách hiệu quả nhất.
2. Quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập

6


Quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập là quy luật ở vị trí “hạt nhân” của phép
biện chứng duy vật; quy luật này vạch ra nguồn gốc, động lực cơ bản, phổ biến của mọi quá trình vận
động và phát triển.
a. Khái niệm mâu thuẫn và các tính chất chung của mâu thuẫn
- KN mâu thuẫn:
Quan điểm siêu hình: coi mâu thuẫn là cái đối lập phải lôgic, không có sự thống nhất, không có
sự chuyển hóa biện chứng giữa các mặt đối lập.
Ngược lại, phép biện chứng quan niệm, mâu thuẫn để chỉ mối liên hệthống nhất và đấu tranh,
chuyển hóa giữa các mặt đối lập của mỗi sự vật, hiện tượng hoặc giữa các sự vật, hiện tượng với nhau.
Nhân tố tạo thành mâu thuẫn là mặt đối lập.
Mặt đối lập là khái niệm dùng để chỉ những mặt, những thuộc tính,những khuynh hướng vận
động trái ngược nhau nhưng là điều kiện, tiền đề tồn tại của nhau. Ví dụ: điện tích âm và điện tích
dương trong một nguyên tử, đồng hóa và dị hóa của một cơ thể sống, sản xuất và tiêu dùng trong hoạt
động kinh tế...
-Tính chất chung của mâu thuẫn
Tính khách quan và phổ biến: bất kỳ sự vật, hiện tượng nào trong tự nhiên, xã hội và tư duy
cũng tồn tại, vận động trên cơ sở các mâu thuẫn nội tại của các mặt đối lập của nó hoặc giữa nó với các
sự vật, hiện tượng khác.
Tính đa dạng, phong phú của mâu thuẫn: mỗi sự vật, hiện tượng, quá trình đều có thể bao hàm
nhiều loại mâu thuẫn khác nhau, biểu hiện khác nhau trong những điều kiện lịch sử cụ thể khác nhau;
giữ vị trí vai trò khác nhau đối với sự tồn tại, vận động, phát triển của sự vật. Đó là mâu thuẫn bên
trong, mâu thuẫn bên ngoài, cơ bản và không cơ bản, chủ yếu và thứ yếu, đối kháng và không đối
kháng...Trong các lĩnh vực khác nhau cũng tồn tại những mâu thuẫn với những tính chất khác nhau tạo
nên tính phong phú trong sựbiểu hiện của mâu thuẫn.
Quy luật này là hạt nhân của phép b.chứng,vạch ra nguồn gốc, động lực phát triển,p.ánh quá
trình đ.tranh giải quyết mâu thuẫn bên trong s.vật, phải vận dụng nguyên tắc mâu thuẫn mà yêu cầu
c.bản của nó là phải nhận thức đúng đắn mâu thuẫn của s.vật, trước hết là mâu thuẫn c.bản và mâu
thuẫn chủ yếu, phân tích mâu thuẫn và q.trình đ.tranh giải quyết m.thuẫn. Đ.tranh là phương thức giải
quyết mâu thuẫn. h.thức đ.tranh rất đ.dạng. linh hoạt, tuỳ thuộc m.thuẫn cụ thể và h.cảnh l.sử cụ thể.
b. Quá trình vận động của mâu thuẫn
Sự thống nhất, đ.tranh và chuyển hóa giữa các mặt đối lập Khái niệm thống nhất của các mặt
đối lập dùng để chỉ sự liên hệ, ràng buộc, không tách rời nhau, quy định lẫn nhau của các mặt đối lập,
mặt này lấy mặt kia làm tiền đề tồn tại. Xét về phương diện nào đó giữa các mặt đối lập bao giờ cũng
có một số yếu tố giống nhau. Sự thống nhất của các mặt đối lập bao hàm sự đồng nhất của nó.
Khái niệm sự đ.tranh giữa các mặt đối lập dùng để chỉ khuynh hướng tác động qua lại, bài trừ,
phủ định nhau của các mặt đối lập. Hình thức đ.tranh của các mặt đối lập rất phong phú tùy thuộc vào
tính chất, mối quan hệ và điều kiện cụ thể của sự vật, hiện tượng.
Quá trình thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập tất yếu dẫn đến sự chuyển hóa giữa
chúng. Sự chuyển hóa của các mặt đối lập diễn ra hết sức phong phú, đa dạng tùy thuộc vào tính chất
của các mặt đối lập cũng như tùy thuộc vào những điều kiện lịch sử cụ thể.

7


Trong sự thống nhất và đ.tranh giữa các mặt đối lập, sự đ.tranh giữa chúng là tuyệt đối, sự
thống nhất giữa chúng là tương đối, có điều kiện, tạm thời; trong sự thống nhất đã có sự đ.tranh, đ.tranh
trong tính thống nhất của chúng.
Vai trò của mâu thuẫn đối với quá trình vận động và phát triển của sự vật: Sự liên hệ, tác động
và chuyển hóa giữa các mặt đối lập là nguồn gốc, động lực của sự vận động và phát triển trong TG. “Sự
phát triển là một cuộc đ.tranh giữa các mặt đối lập”.
c. Ý nghĩa phương pháp luận
Vì mâu thuẫn có tính khách quan, tính phổ biến và là nguồn gốc, động lực của sự vận động,
phát triển do vậy trong nhận thức và thực tiễn cần phải tôn trọng mâu thuẫn, phát hiện mâu thuẫn, phân
tích đầy đủ các mặt đối lập, nắm được nguồn gốc, bản chất, khuynh hướng của sự vận động phát triển.
Vì mâu thuẫn có tính đa dạng, phong phú do đó trong việc nhận thức và giải quyết mâu thuẫn
cần phải có quan điểm lịch sử cụ thể tức là biết phân tích cụ thể từng loại mâu thuẫn và phương pháp
giải quyết phù hợp. Trong quá trình hoạt động nhận thức và thực tiễn, cần phân biệt đúng vai trò, vị trí
của các loại mâu thuẫn trong từng hoàn cảnh, điều kiện nhất định; những đặc điểm của mâu thuẫn đó
để tìm ra phương pháp giải quyết từng loại mâu thuẫn một cách đúng đắn nhất
3. Quy luật phủ định của phủ định
Quy luật phủ định của phủ định, thể hiện khuynh hướng cơ bản phổ biến của mọi vận động,
phát triển diễn ra trong các lĩnh vực tự nhiên, xã hội và tư duy; đó là khuynh hướng vận động, phát
triển của sự vật thông qua những lần phủ định biện chứng, tạo thành hình thức mạng tính chu kỳ “phủ
định của phủ định”.
a. Khái niệm phủ định, phủ định biện chứng
Phủ định là khái niệm chỉ sự mất đi của sự vật này, sự ra đời của sự vật khác.
-Phủ định biện chứng là sự phủ định tạo ra đ.kiện, tiền đề cho q.trình phát triển của s.vật.
Với tư cách không chỉ là học thuyết về sự biến đổi nói chung mà căn bản là học thuyết về sự
phát triển, phép biện chứng d.vật chú trọng phân tích không phải sự phủ định nói chung mà căn bản là
sự phủ định biện chứng.
-Hai đặc trưng cơ bản của phủ định biện chứng là tính khách quan và tính kế thừa.
Tính khách quan: Phủ định biện chứng có tính khách quan vì nguyên nhân của sự phủ định
nằm trong chính bản thân sự vật, hiện tượng; là kết quả tất yếu của của quá trình đấu tranh giải quyết
mâu thuẫn bên trong bản thân sự vật. Phủ định biện chứng là sự phủ định tự thân.
Tính kế thừa: Phủ định biện chứng có tính kế thừa những nhân tố hợp quy luật và loại bỏ các
nhân tố phản quy luật. Phủ định biện chứng không phải là phủ định sạch trơn cái cũ mà trái lại cái mới
ra đời trên cơ sở nhứng hạt nhân hợp lý của cái cũ để phát triển thành cái mới, tạo nên tính liên tục của
sự phát triển.
b. Phủ định của phủ định
Phủ định biện chứng có vai trò to lớn đối với các quá trình vận động, phát triển:
Phủ định biện chứng là dây chuyền vô tận. Trong quá trình vận động, phát triển, không có sự
vật, hiện tượng nào tồn tại vĩnh viễn. Sự vật ra đời, trải qua những giai đoạn nhất định rồi trở thành lỗi
thời và bị thay thế bởi sự vật mới tiến bộ hơn. Sự vật mới này đến lượt nó cũng sẽ trở thành lỗi thời và
bị thay thế bởi sự vật mới khác. Sự phát triển là quá trình vô tận không có sự phủ định cuối cùng.

8


Qua mỗi lần phủ định, sự vật loại bỏ được những yếu tố lạc hậu, lỗi thời, tích lũy những yếu tố
mới, tiến bộ hơn. Do đó, sự phát triển thông qua phủ định biện chứng là quá trình đi lên từ thấp đến
cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện.
Hình thức “phủ định của phủ định” của các quá trình vận động, phát triển:
Tính chất chu kỳ của các quá trình phát triẻn thường diễn ra theo hình thức “xoáy ốc”, đó cũng
là tính chất phủ định của phủ định. Theo tính chất này, mỗi chu kỳ phát triển của sự vật thường trải qua
hai lần phủ định cơ bản với ba hình thái tồn tại chủ yếu của nó, trong đó hình thái cuối mỗi chu kỳ lặp
lại những đặc trưng cơ bản của hình thái ban đầu nhưng trên cơ sở cao hơn vềtrình độ phát triển nhờ kế
thừa được những nhân tố tích cực và loại bỏ được những nhân tố tiêu cực qua hai lần phủ định.
Quy luật phủ định của phủ định khái quát tính chất chung, phổ biến của sự phát triển: đó không
phải là sự phát triển theo đường thẳng mà theo hình thức “xoáy ốc”, thể hiện tính chất biện chứng của
sự phát triển, đó là tính kế thừa, tính lặp lại và tính tiến lên.
Tóm lại, nội dung cơ bản của quy luật phủ định của phủ định trong phép biện chứng duy vật
phản ánh mối quan hệ biện chứng giữa cái phủ định và cái khẳng định trong quá trình phát triển của
sự vật. Phủ định biện chứng là điều kiện cho sự phát triển, cái mới ra đời là kết quả của sự kế thừa
những nội dung tích cực từ trong sự vật cũ, phát huy nó trong sự vật mới và tạo nên tính chu kỳ của sự
phát triển. Nhận xét về vai trò của quy luật này,Ph.Ăngghen khẳng định: “Phủ định cái phủ định là gì?
Là một quy luật vô cùng phổ biến và chính vì vậy mà có một tầm quan trọng và có tác dụng vô cùng to
lớn về sự phát triển của tự nhiên, của lịch sử và tư duy
c. Ý nghĩa phương pháp luận
Quy luật phủ định của phủ định là cơ sở để nhận thức một cách đúng đắn về xu hướng vận
động, phát triển của sự vật, hiện tượng. Quá trình đó diễn ra không phải theo đường thẳng mà là con
đường quanh co, phức tạp, gồm nhiều giai đoạn, nhiều quá trình khác nhau. Tuy nhiên, tính đa dạng và
phức tạp của quá trình phát triển chỉ là sự biểu hiện của khuynh hướng chung, khuynh hướng tiến lên
theo quy luật. Do đó, cần phải nắm được bản chất, đặc điểm, các mối liên hệ của sự vật, hiện tượng để
xác định phương thức, biện pháp tác động thích hợp thúc đẩy sự phát triển.
Trong TG khách quan, cái cũ tất yếu sẽ bị thay thế bởi cái mới, đó là sự vận động có tính quy
luật nhưng cũng cần phát huy vai trò của nhân tốchủ quan để thúc đẩy sự thay thế đó, khắc phục tư
tưởng trông chờ, ỷ lại, bảo thủ, kìm hãm sự ra đời của cái mới.
Cần phải có quan điểm biện chứng trong quá trình kế thừa sự phát triển. Quan điểm đó đòi hỏi
không được phủ định hoàn toàn cái cũ tức phủ định sạch trơn nhưng cũng không được kế thừa toàn bộ
cái cũ mà phải kế thừa các yếu tố hợp lý của cái cũ cho sự phát triển của cái mới, tức là kế thừa một
cách khoa học.
- Các cặp phạm trù không cơ bản
Bên cạnh 3 quy luật cơ bản, nội dung của phép biện chứng duy vật còn bao gồm các cặp phạm
trù không cơ bản:
+ cặp phạm trù cái riêng - cái chung
+ tất nhiên - ngẫu nhiên
+ nguyên nhân - kết quả
+ bản chất - hiện tượng
+ khả năng - hiện thực
+ nội dung - hình thức.
Tóm lại, mỗi nguyên lý, phạm trù, quy luật của phép biện chứng duy vật có ý nghĩa phương
pháp luận quan trọng. Vì vậy, chúng phải được vận dụng tổng hợp trong nhận thức khoa học
thực tiễn cách mạng.
2. Sự vận dụng các quy luật cơ bản trong nhận thức và hoạt động thực tiễn
9


Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và nguyên lý về sự phát triển của PBCDV là cơ sở lý luận
của nguyên tắc toàn diện, nguyên tắc lịch sử-cụ thể và nguyên tắc phát triển.
- Nguyên tắc toàn diện trong nhận thức và thực tiễn
Nguyên tắc toàn diện đòi hỏi chúng ta phải xem xét sự vật, hiện tượng với tất cả các mặt, các
mối liên hệ; đồng thời phải đánh giá đúng vai trò, vị trí của từng mặt, từng mối liên hệ; nắm
được mối liên hệ chủ yếu có vai trò quyết định.
Sự vận dụng quan điểm toàn diện trong sự nghiệp cách mạng:
- Trong Cách mạng dân tộc dân chủ: Đảng ta vận dụng quan điểm toàn diện trong phân tích
mâu thuẫn xã hội, đánh giá so sánh lực lượng giữa ta với địch, tạo ra và sử dụng sức mạnh tổng
hợp.
- Trong công cuộc đổi mới, Đảng ta tiến hành đổi mới toàn diện, triệt để; đồng thời phải xác
định khâu then chốt. Nắm vững mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế, đổi mới chính trị và đổi mới
tư duy.
Đối lập với nguyên tắc toàn diện của PBC, quan điểm siêu hình xem xét sự vật, hiện tượng một
cách phiến diện. Nó không xem xét tất cả các mặt, các mối liên hệ của sự vật, hiện tượng; hoặc
xem mặt này tách rời mặt kia, sự vật này tách rời sự vật khác.
Chủ nghĩa chiết trung thì kết hợp các mặt một cách vô nguyên tắc, kết hợp những mặt vốn
không có mối liên hệ với nhau hoặc không thể dung hợp được với nhau. Thuật nguỵ biện thì
cường điệu một mặt, một mối liên hệ; hoặc lấy mặt thứ yếu làm mặt chủ yếu.
- Nguyên tắc lịch sử-cụ thể trong nhận thức và thực tiễn
Nguyên tắc lịch sử-cụ thể đòi hỏi phải xem xét sự vật hiện tượng trong quá trình vận động phát
triển: nó ra đời trong điều kiện như thế nào? trải qua những giai đoạn phát triển như thế nào?
mỗi giai đoạn có tính tất yếu và đặc điểm như thế nào?
Nguyên tắc phát triển trong nhận thức và thực tiễn
Nguyên tắc phát triển đòi hỏi khi xem xét sự vật, hiện tượng phải nhìn thấy khuynh hướng biến
đổi trong tương lai của chúng: cái cũ, cái lạc hậu sẽ mất đi; cái mới, cái tiến bộ sẻ ra đời thay
thế cái cũ, cái lạc hậu.

Câu 4: phương pháp, phương pháp luân ? nội dung nguyên tắc phương pháp luận của phép
biện chứng duy vật.
Phương pháp: là hệ thống những nguyên tắc được rút ra từ tri thức về các quy luật khách quan,
để điều chỉnh hđ nhận thức và thực tiễn nhằm thực hiện mục tiêu nhất định.
Phương pháp luận là; hệ thống những quan điểm những nguyên tắc xuât phát, những cách thức
chung nhằm lựa chọn được những phương pháp thích hợp để thực hiện hoạt đông nhận thức và thực
tiễn đạt kết quả cao
Sự khác biêt:
Phương pháp là những nguyên tắc dc rút ra từ những quy luật của một đối tượng cụ thế
Phương pháp luận là quan điểm quan niệm chung nhất của nhiều đối tương cụ thế
Một số nguyên tắc:

10


Nguyên tắc toàn diện trong nhận thức và thực tiễn
- Nguyên tắc toàn diện trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn là một trong những
nguyên tắc phương pháp luận cơ bản, quan trọng của phép biện chứng duy vật. Cơ sở lý luận của
nguyên tắc toàn diện là nguyên lý về mối liên hệ phổ biến. Nguyên tắc toàn diện đòi hỏi, muốn nhận
thức được bản chất của sự vật hiện tượng chúng ta phải xem xét sự tồn tại củ nó trong mối liên hệ qua
lại giữa các yếu tố, bộ phận, thuộc tính khác nhau trong tính chỉnh thể của sự vật, hiện tượng ấy và
trong mối liên hệ qua lại giữa sự vật hiện tượng đó với sự vật, hiện tượng khác, tránh xem xét phiến
diện một chiều.
- Nguyên tắc toàn diện đòi hỏi để nhận thức được sự vật, hiện tượng chúng ta cần xem xét nó
trong mối liên hệ với nhu cầu thực tiễn của con người. Mối liên hệ giữa sự vật, hiện tượng với nhu cầu
của con người rất đa dạng.
- Nguyên tắc toàn diện đòi hỏi phải xem xét, đánh giá từng mặt, từng mối liên hệ, và phải nắm
được đâu là mối liên hệ chủ yếu, bản chất quy định sự vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng.
Trong nhận thức, nguyên tắc toàn diện là yêu cầu tất yếu của phương pháp tiếp cận khoa học, cho phép
tính đến mọi khả năng của vận động, phát triển có thể có của sự vật, hiện tượng đang nghiên cứu, nghĩa
là cần xem xét sự vật, hiện tượng trong một chỉnh thể thống nhất với tất cả các mặt, các yếu tố, các bộ
phận, các thuộc tính, cùng các mối quan hệ của chúng.
- Nguyên tắc toàn diện đối lập với cách nhìn phiến diện, một chiều; đối lập với chủ nghĩa chiết trung và
thuật ngữ nguỵ biện.
Nguyên tắc phát triển trong nhận thức và nhận thức
- Nguyên tắc phát triển cũng là một trong những nguyên tắc phương pháp luận cơ bản, quan trọng
của hoạt động nhận thức thực tiễn. Cơ sở lý luận của nguyên tắc phát triển là nguyên lý về sự phát triển
của phép biện chựng duy vật. Theo đó, sự phát triển là vận động tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản
đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn. Phát triển là trường hợp đặc biệt của sự đặc biệt
của sự vận động và trong sự phát triển sẽ nảy sinh những tính quy định quy định mới, cao hơn về chất,
nhờ đó, làm cho cơ cấu tổ chức, phương thức tồn tại và vận động của sự việc, hiện tượng cùng chức
năng của nó ngày càng hoàn thiện hơn. Do vậy, để nhận thức được sự tự vận động, phát triển của sự
vật, hiện tượng chúng ta phải thấy được sự thống nhất giữa sự biến đổi về lượng với sự biến đổi về chất
trong quá trình phát triển, phải chỉ ra được nguồn gốc và động lực bên trong, nghĩa là tìm ra và biết
cách giải quyết mâu thuẫn, phải xác định xu hướng phát triển của sự vật, hiện tượng do sự phủ định
biện chứng quy định; coi phủ định là tiền đề cho sự ra đời của sự vật hiện tượng mới.
- Nguyên tắc phát triển yêu cầu, phải nhận thức sự phát triển là quá trình trải qua nhiều giai đoạn
từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn. Mỗi giai đoạn phát
triển lại có những đặc điểm, tính chất, hình thức khác nhau.
- Nguyên tắc phát triển yêu cầu, khi xem xét sự vật, hiện tượng phải đặt nó trong trạng thái vận
động, biến đổi chuyển hoá để không chỉ nhận thức sự vật, hiện tượng trong trạng thái hiện tại mà còn
thấy được khuynh hướng phát triển của nó trong tương lai, nghĩa là phải phân tích để làm rõ những
biến đổi của sự vật, hiện tượng.
- Nguyên tắc phát triển đòi hỏi trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn phải nhạy cảm
với cái mới, sớm phát hiện ra cái mới, ủng hộ cái mới hợp quy luật, tạo điều kiện cho cái mới đó phát
triển thay thế cái cũ, phải chống lại quan điểm bảo thủ, trì trệ …Sự thay thế cái cũ bằng cái mới diễn ra
rất phức tạp bởi cái mới phải đấu tranh chống lại cái cũ, chiến thắng cái cũ.
- Vận dụng nguyên tắc phát triển vào việc nhận thức về con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội chủ nghĩa
ở nước ta có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.
Nguyên tắc lịch sử cụ thể: đòi hỏi chúng ta khi nhận thức về sự vật và tác động vào sự vật phải
chú ý điều kiện, hoàn cảnh lịch sử - cụ thể, môi trường cụ thể trong đó sự vật sinh ra tồn tại và phát
triển. Một luận điểm nào đó là luận điểm khoa học trong điều kiện này nhưng sẽ không phải là luận
điểm khoa học trong điều kiện khác. Chẳng hạn, thường thường trong các định luật của hoá học bao
giờ cũng có hai điều kiện: nhiệt độ và áp suất xác định. Nếu vượt khỏi những điều kiện đó định luật sẽ
không còn đúng nữa. Trong lịch sử triết học khi xem xét các hệ thống triết học bao giờ chúng ta cũng
xem xét hoàn cảnh ra đời và phát triển của các hệ thống đó .
11


- Kết luận: Với tư cách là những nguyên tắc phương pháp luận, quan điểm toàn diện, quan điểm
lịch sử - cụ thể, quan điểm phát triển góp phần định hướng, chỉ đạo hoạt động nhận thức và hoạt động
thực tiễn cải tạo hiện thực, cải tạo chính bản thân chúng ta. Song để thực hiện được chúng, mỗi chúng
ta cần nắm chắc cơ sở lý luận của chúng - nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và nguyên lý về sự phát
triển, biết vận dụng chúng một cách sáng tạo trong hoạt động của mình. Đối với sinh viên, ngay từ khi
còn ngồi trên ghế nhà trường, vẫn có thể sử dụng các nguyên tắc phương pháp luận đó vào việc thực
hiện nhiệm vụ chính trị của mình góp phần xây dựng đất nước ngày càng phồn vinh, xã hội ta ngày
càng tươi đẹp.
Câu 5: Khái niệm thực tiễn và lí luận? Những yêu cầu cơ bản và ý nghĩa phương pháp
luận của nguyên tắc thống nhất giữa lí luận và thực tiễn? Sự vận dụng nguyên tắc thống nhất
giữa lí luận và thực tiễn trong cách mạng Việt Nam
Thực tiễn là những hoạt động vật chất có mục đích, có tính lịch sử - xã hội của con người trực
tiếp cải tạo tự nhiên và xã hội.
Thực tiễn là hoạt động vật chất. Tất cả những hoạt động bên ngoài hoạt động tinh thần của con
người đều là hoạt động thực tiễn.
- Là hoạt động có mục đích. Khác hoạt động bản năng của động vật.
- Có tính lịch sử - xã hội: Là hoạt động của con người trong xã hội và trong những giai đoạn lịch sử
nhất định.
- Hoạt động thực tiễn rất đa dạng, cơ bản có 3 hình thức:
+ Hoạt động sản xuất vật chất
+ Hoạt động chính trị - xã hội.
+ Hoạt động thực nghiệm khoa học
- Trong 3 hoạt động trên, hoạt động sản xuất vật chất có vai trò quan trọng nhất, là cơ sở cho
các hoạt động khác của con người và cho sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người
Lí luận là sự tổng kết kinh nghiệm của loài người, là sự tổng hợp những tri thức về tự nhiên và
xã hội tích trữ trong quá trình lịch sử (theo Hồ Chí Minh)
Xét về bản chất: Lý luận là hệ thống tri thức chặt chẽ mang tính trừu tượng, khái quát, đúc kết
từ thực tiễn, được diễn đạt thông qua các khái niệm, phạm trù, nguyên lý, quy luật…phản ánh bản chất
của sự vận động, biến đổi, phát triển của sự vật, hiện tượng trong thế giới quan.
Lý luận là sản phẩm của sự phát triển cao của nhận thức, được hình thành trong mối quan hệ
với thực tiễn
*Mối quan hệ biện chứng giữa lí luận và thực tiễn (Nội dung nguyên tắc thống nhất giữa lí
luận và thực tiễn)
Vai trò quyết định của thực tiễn đối với lý luận
Thực tiễn là cơ sở, động lực, mục đích của nhận thức, của lý luận đồng thời là tiêu chuẩn để
kiểm tra nhận thức, lý luận. Thực tiễn là nguồn gốc cơ sở sinh ra lý luận, nếu không có thực tiễn thì
không có lý luận, thực tiễn cao hơn lý luận không những ở tính phổ biến mà còn ở tính hiện thực trực
tiếp.
Sự phản ánh vượt trước của lý luận qua nỗ lực sáng tạo của những thiên tài ở những giai đoạn
lịch sử nhất định xét cho đến cùng thì cái làm nên sự vượt trước ấy cũng được nảy mầm từ mảnh đất
thực tiễn sinh động, đều do thực tiễn gợi ý mach bảo
Chỉ có thông qua thực tiễn con người mới vật chất hóa được lý luận vào đời sống hiện thực. Lý
luận không có sức mạnh tự thân mà chỉ có thông qua thực tiễn thì lý luận mới phát huy tác dụng, mới
tham gia vào quá trình biến đổi hiện thực
Đánh giá vai trò của thực tiễn với lý luận, Lenin viết: “Thực tiễn cao hơn nhận thức, lý luận. Vì
nó có ưu điểm không những của tính phổ biến mà còn của tình hiện thực trực tiếp”
Vai trò tác động trở lại của lý luận đối với thực tiễn
Sự tác động của lý luận thể hiện qua vai trò xác định mục tiêu, khuynh hướng cho hoạt động
thực tiễn (lý luận là kim chỉ nam cho hoạt động thực tiễn), vai trò điều chỉnh hoạt động thực tiễn, làm
cho hoạt động thực tiễn có hiệu quả hơn. Lý luận cách mạng có vai trò to lớn trong thực tiễn cách
mạng. Lênin viết “không có lý luận cách mạng thì không thể có phong trào cách mạng”. Như vậy, giữa
12


lý luận và thực tiễn có sự liên hệ, tác động qua lại, tạo điều kiện cho nhau cùng phát triển và gắn bó
hữu cơ với nhau do đó sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là nguyên lý cao nhất của triết học Mác
Lênin. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng chỉ rõ “Thực tiễn không có lý luận hướng dẫn thì thành thực tiễn
mù quáng”, “Lý luận mà không có thực tiễn là lý luận suông”
Lý luận có thể thúc đẩy tiến trình phát triển của thực tiễn nếu đó là lý luận khoa học và ngược
lại có thể kìm hãm sự phát triển của thực tiễn nếu đó là lí luận phản khoa học, phản động, lạc hậu
Lý luận khoa học sẽ trở thành kim chỉ nam cho hoạt động thực tiễn. Nó hướng dẫn, chỉ đạo, soi
sáng cho thưc tiễn, vạch ra phương pháp giúp hoạt động thực tiễn đi tới thành công. Hồ CHí Minh đã
nói rănng “Không có lí luận thì lúng túng như nhắm mắt mà đi”. Lí luận mang lại cho thực tiễn nhưng
tri thức đúng đắn về quy luật vận động và phát triển của thế giới quan, giúp con người xác định đúng
mục tiêu để hành động có hiệu quả hơn, tránh được những sai lầm, vấp váp.
Ý nghĩa phương pháp luận
Việc quán triệt nguyên tắc giữa lí luận và thực tiễn có ý nghĩa quan trọng, giúp chúng ta tránh
được bệnh kinh nghiệm cũng như bệnh giáo điều và rút ra được những quan điểm đúng đắn trong cuộc
sống.
Trước hết cần quán triệt quan điểm thực tiễn. Quan điểm này yêu cầu việc nhận thức phải xuất
phát từ thực tiễn, dựa trên cơ sở thực tiễn, tổ chức hoạt động thực tiễn để triển khai lý luận, phải coi
trọng công tác tổng kết thực tiễn để bổ sung phát triển lý luận. nghiên cứu lý luận phải liên hệ với thực
tiễn, học đi đôi với hành, tránh tình trạng quan liêu, sách vở, xa rời thực tiễn.
Đồng thời phát huy vai trò của lý luận đôi với thực tiễn. yêu cầu nâng cao trình độ tư duy lý
luận, đổi mới phương pháp tư duy do toàn Đảng, toàn dân nghĩa là chuyển từ tư duy kinh nghiệm sang
tư duy lý luận, tư duy siêu hình, duy tâm sang tư duy biện chứng duy vật; đổi mới công tác lý luận,
hướng công tác lý luận vào vấn đề do cuộc sống đặt ra, làm rõ căn cứ khách quan của đường lối chính
sách của Đảng.
Nếu coi lý luận và thực tiễn tách rời sẽ dẫn đến sai lầm của bệnh kinh nghiệm và bệnh giáo
điều.
- Bệnh kinh nghiệm: tuyệt đối hóa kinh nghiệm, nhận thức và hành động chỉ dựa vào kinh
nghiệm, đề cao vai trò thực tiễn, hạ thấp lý luận, không chịu học hỏi để vươn lên, không coi trọng việc
tổng kết thực tiễn để khái quát thành lý luận. Thể hiện ở chỗ tuyệt đối hóa kinh nghiệm, coi thường lý
luận “chỉ biết tối ngày vùi đầu vào công tác sự vụ”, ít đào sâu suy nghĩ, nhất là đối với những người
trình độ văn hóa kém, ít quen đọc sách và suy nghĩ, áp dụng kinh nghiệm 1 cách thiếu sáng tạo.
-Bênh giáo điều: tuyệt đối hóa lý luận, nhận thức và hành động chỉ dựa vào lý luận, coi lý luận
là chìa khóa vạn năng cho tư duy và hành động, bất chấp điều kiện, hoàn cảnh cụ thể. Coi trí thức là
chân lí tuyệt đối, là cứng nhắc, tách lý luận khỏi thực tiễn, rơi vào bệnh lý luận suông, không cụ thể hóa
lý luận cách mạng cho thích hợp với điều kiện, hoàn cảnh của từng lúc, từng nơi, không bổ sưng lý
luận mới rút ra từ thực tiễn sinh động và vận dụng 1 cách máy móc, rập khuôn, thiếu sáng tạo.
Để khắc phục 2 căn bệnh trên cần phải xuất phát từ thực tiễn, bám sát thực tiễn, thường
xuyên tổng kết thực tiễn bổ sung, phát triển lý luận, coi trọng lý luân, nâng cao trình độ tư duy lí
luận.
*Sự vân dụng của Đảng ta
Trước đổi mới:
Những sai lầm trong chính sách Đảng thời kỳ trước đổi mới xuất phát từ căn bệnh giáo điều,
sự lạc hậu, yếu kém về lý luận cách mạng xã hội, làm cho chúng ta tiếp thu lý luận chủ nghĩa Mac
lenin đơn giản, phiến diện, cắt xén sơ lược, không đến nơi đến chốn, CNXH được hiểu đơn giản, ấu
trĩ. Trong thời kỳ này, có lúc ta bắt chước rập khuôn mô hình CNXH ở Liên Xô trong việc thành lập
các bộ ngành của bộ máy nhà nước. Áp dụng theo học thuyết của Mac về kinh tế là xóa bỏ tư hữu,
khi áp dụng vào nước ta, Đảng có biểu hiện nóng vội trong việc tiến hành cải tạo XHCN nhằm xóa
bỏ tất cả các thành phần kinh tế mà không tháy đc vai trò quan trọng của tp kinh tế trong thời kỳ đi
lên CNXH ở nước ta. Đảng cũng vấp phải những sai lầm trong việc đề ra chủ trương, đường lói
chính sách phát triển của đất nước: Chủ trương tập trung cho công nghiệp hóa đát nước mà chủ lực
là phát triển công nghiệp nặng không chú ý đến điều kiện vật chất và lực lượng sản xuất của ta còn
13


chưa tương xứng, xuất phát điểm thấp từ nền kinh tế lạc hậu, sản xuất nông nghiệp là chính, trình
độ LLSX không cao, sản xuất thủ công là chủ yếu. việc bố trí cơ cấu kinh tế trước hết là sản xuất và
đầu tư, chúng ta thường chỉ xuất phát từ lòng mong muốn đi nhanh, không tính đến điều kiện, khả
năng thực tế.
Thời kỳ đổi mới
Trên cơ sở vận dụng sáng tạo những nguyên lý của chủ nghĩa MacLenin, tổng kết kinh
nghiệm thành công và chưa thành công trong thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta và các
nước khác, đặc biệt là kinh nghiệm của những năm đổi mới, Đảng nêu ra những phương hướng căn
bản xây dựng CNXH ở nước ta gồm:
Một là: Xây dựng nhà nước xã hooijc chủ nghĩa, nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì
nhân dân, lấy liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức làm nền tảng
do Đảng cộng sản lãnh đạo. Thực hiện đầy đủ quyền dân chủ của nhân dân, giữ nguyên kỉ cương xã
hội, chuyên chính với mọi hành động xâm phậm lợi ích Tổ quốc của nhân dân.
Hai là: phát triển lực lượng sản xuất, công nghiệp hóa đất nước theo hướng hiện đại gắn
liền với phát triển nền nông nghiệp toàn diện là nhiệm vụ trung tâm nhằm từng bước xây dựng cơ
sở vật chất kĩ thuat của chủ nghĩa xã hội, không ngừng nâng cao năng suất ld xã hội và cải tiến đời
sống nhân dân.
Ba là: Phù hợp với sự phát triển lực lượng sản xuất, thiếp lập từng bước quan hệ sản xuất xã
hội chủ nghĩa từ thấp đến cao với sự đa dạng về hình thức sở hữu. Phát triển nền kinh tế hàng hóa
nhiều thành phần, định hướng xẫ hội chủ nghĩa, vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của
nhà nước. Kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng của nền kinh tế quốc
dân.
Bốn là: Tiến hành cách mạng XHCN trên lĩnh vực tư tưởng và văn hóa làm cho thế giới
quan MacLennin và tư tưởng đạo đức HCM giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần xã hội. Kế
thừa và phát huy những truyền thống văn hóa tốt đẹp của tất cả các dân tộc trong nước, tiếp thu
những tinh hóa văn hóa nhân loại, xậy dựng xã hội dân chủ, văn minh, vì lợi ích chân chính, phẩm
giá con người với trình độ tri thức, đạo đức, thể lực và thẩm mỹ ngày càng cao.
Năm là: Thực hiện chính sách đại đoàn kết dân tộc, củng cố và mở rộng mặt trận đại đoàn
kết dân tộc, thống nhất, tập hợp mọi lực lượng phấn đấu vì sự nghiệp dân giàu, nước mạnh. Thực
hiện chính sách đối ngoại hòa bình, hợp tác hữu nghị với tất cả các nước, trung thành với chủ nghĩa
đế quốc của giai cấp công nhân, đoàn kết với các nước xã hội chủ nghĩa, với tất cả các lực lượng
đầu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới.
Sáu là: Xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ tổ quốc là hai nhiệm vụ chiến lược của cách
mạng việt nam. Đặt lên hàng đầu nhiệm vụ xây dựng đất nước, nhân dân ta luôn nâng cao cảnh
giác, củng cố quốc phòng, bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ Tổ quốc và các
thành quả cách mạng.
Bảy là: Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức ngang tầm
nhiệm vụ, bảo đảm cho Đảng làm tròn trách nhiệm lãnh đạo sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa
ở nước ta.
Hiện nay công cuộc đổi mới ở nươc ta ngày càng đi vào chiều sâu, những biến đổi trên thế
giới nhanh chóng, phức tạp, khó lường thfi nhwunxg vấn đề mới đặt ra ngày càng nhiều, những vấn
đề liên quan đến nhận thức CNXH và con đường xây dựng CNXH. Không ít vấn đề nhận thức lí
luận còn chưa đủ rõ, không ít vấn đề thực tiễn, nhất là vấn đề bức xúc nảy sinh từ cuộc sống còn
chưa được giải quyết kịp thời và tốt nhất
Câu 6: Phân tích biện chứng của LLSX và QHSX. Sự vận dụng quy luật này ở nước ta
trong quá trình xây dựng CNXH.
1.Khái niệm: Phương thức sản xuất là cách thức con người thực hiện quá trình sản xuất vật chất
ở một quá trình lịch sử nhất định. Phương thức sản xuất bao gồm 2 mặt là LLSX và QHSX.
a. Lực lượng sản xuất: Là mối quan hệ giữa con người với giới tự nhiên hay quá trình thực hiện
sản xuất là phương thức kết hợp giữa người lao động với tư liệu sản xuất tạo ra 1 sức sản xuất nhất
định trong sản xuất vật chất.
14


- Người lao động: Phải có sức khỏe, kinh nghiệm, kỹ năng và trình độ tri thực khoa học.
- TLSX: bao gồm tư liệu lao động và đối tượng lao động.
+ Đối tượng lao động: Công cụ lao động, phương tiễn sản xuất.
+ Trong tư liệu sản xuất thì công cụ lao động là yếu tố động nhất, cách mạng nhất thường xuyên
nhất vì trình độ sản xuất phát triển của thời đại đều do trình độ của tư liệu sản xuất mà trước hết là công
cụ lao động quyết định. Khi công cụ lao động thay đổi hoàn thiền và phát triển thì kinh nghiệm kỹ năng
lao động của người lao động thay đổi, phát triển và hoàn thiện hơn.
↔ Công cụ lao động phản ánh trình độ phát triển của LLSX là yếu tố cơ bản nhân sức mạnh của
con người trong quá trình cải tạo tự nhiên nó là thước đo trình độ phát triển chinh phục tự nhiên của
con người là thước đo phân biệt các thời đại kinh tế kỹ thuật khác nhau trong lịch sử.
+ Trong các yếu tố cấu thành của LLSX thì người lao động là quan trọng nhất, là chủ thể của nền
sản xuất vật chất là nhân tố cơ bản giữ vị trí hàng đầu và có tính quyết định vì chính người lao động đã
chế tạo ra công cụ lao động, cải tiến hoàn thiện và sử dụng nó để tiến hành ra của cải vật chất cần thiết
phục vụ cho sự tồn tại và phát triển của con người.
+ Trong thời đại ngày nay khoa học đã trở thành LLSX trực tiếp là nguyên nhân trực tiếp của mọi
biến đổi to lớn trong sản xuất quản lý, điều hành các quá trình công nghệ.
↔ LLSX là yếu tố khách quan là nền tảng vật chất của toàn bộ lịch sử nhân loại.
b. Quan hệ sản xuất. Là quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất được thể hiện ở 3
mặt.
- Quan hệ sở hữu với tư liệu sản xuất.
- Quan hệ trong tổ chức và quản lý.
- Quan hệ trong phân phối sản phẩm lao động làm ra.
↔ Trong 3 yếu tố trên chúng có mối quan hệ khăng khít không tách rời nhau trong đó quan hệ sở
hữu với TLSX là quan trọng nhất, có ý nghĩa quyết định đối với 2 mặt. Tuy phụ thuộc vào quan hệ sở
hữu nhưng quan hệ tổ chức và quan hệ phân phối sản phẩm lao động làm ra cũng tác động trở lại quan
trọng đối với chế độ sở hữu đó là góp phần củng cố, phát triển và hoàn thiện chế độ sở hữu hay cũng có
thể làm xói mòn biến dạng quan hệ sở hữu.
↔ QHSX do con người tạo ra nhưng khi đã hình thành mang tính khách quan không phụ thuộc
vào ý chủ quan của con người.
2. Quy luật về sự phù hợp của QHSX với phát triển của LLSX.
a. Vai trò quyết định của LLSX đối với QHSX
- LLSX quy định sự hình thành biến đổi và phát triển của LLSX là khuynh hướng chung của xã
hội là không ngừng biến đổi và phát triển, sự phát triển đó bao giờ cũng bắt nguồn từ biến đổi và phát
triển của LLSX trước hết là công cụ lao động như vậy chính LLSX là yếu tố động nhất cách mạng nhất
của phương thức sản xuất có tác dụng quyết định đối với phương thức sản xuất nên nó là nội dung của
quá trình sản xuất.
- Trong mối quan hệ giữa nội dung và hình thức thì nội dung quy định hình thức do đó LLSX quy
định QHSX. Trình độ sản xuất ở trình độ tính chất nào thì QHSX ở tính chất đó khi LLSX phát triển thì
QHSX phải biến đổi theo cho phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của LLSX.
+ Tính chất của LLSX thể hiện tính chất cá nhân và tính chất xã hội hóa.
Θ Tính chất cá nhân phản ánh sản xuất còn ở trình độ thủ công thô sơ 1 người có thể làm ra 1 sản
phẩm.
Θ Tính chất xã hội hóa phản ánh sản xuất ở trình độ cao sản phẩm làm ra là kết quả hợp tác của
nhiều người.
+ Trình độ của LLSX được thể hiện trước hết là sự phát triển của lực lượng lao động ở việc ứng
dụng công nghệ vào sản xuất ở kinh nghiệm và kỹ năng lao động của con người ở trình độ tổ chức
quản lý phân công lao động trong xã hội, trình độ LLSX càng cao thì sự phân công lao động càng tỷ
mỉ.
↔ Tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất là không tách rời nhau của LLSX nói lên cả tính
chất và trình độ của lực lượng sản xuất.

15


+ Khi LLSX phát triển đến 1 trình độ mới QHSX không phù hợp với LLSX nữa sẻ nảy sinh mâu
thuẫn gay gắt dẫn đến việc xóa bỏ QHSX cũ lỗi thời lạc hậu thay thế bằng QHSX mới phù hợp với tính
chất và trình độ phát triển của LLSX để mở đường thúc đẩy LLSX phát triển.
Như vậy sự phù hợp biện chứng giữa LLSX và QHSX được hiểu ra là phù hợp- không phù hợpphù hợp tạo nên sự phát triển không ngừng của lịch sử xã hội loài người đưa xã hội loài người chuyển
từ phương thức sản xuất này sang phương thức sản xuất mới cao hơn tiên tiến hơn từ phương thức sản
xuất nguyên thủy lên phương thức sản xuất phong kiến- phương thức sản xuất TBCN- phương thức sản
xuất CSCN mà giai đoạn thấp là CNXH.
b. Sự tác động trở lại của QHSX đối với LLSX.
- Quan hệ sản xuất quy định mục đích của sản xuất, quy định tổ chức quản lý tác động trực tiếp
đến lợi ích của các bên tham gia sản xuất, lợi ích của người lao động, chủ đầu tư, của xã hội từ đó hình
thành hệ thống những yếu tố thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của LLSX.
- Sự tác động trở lại của QHSX đối với LLSX được thể hiện ở 2 mặt.
+ Khi QHSX phù hợp với tính chất trình độ LLSX sẽ thúc đẩy LLSX phát triển mạnh mẽ đó là sự
kết hợp đúng đắn giữa các yếu tố cấu thành của QHSX và sự kết hợp đúng đắn giữa các yếu tố cấu
thành nên LLSX, giữa QHSX và LLSX phải đem lại những phương thức liên kết phù hợp có hiệu quả
cao.
+ Khi QHSX không phù hợp với tính chất và trình độ của LLSX sẽ kìm hãm LLSX. Khi QHSX
trở nên lỗi thời lạc hậu so với sự phát triển của LLSX sẽ kìm hãm sự phát triển của LLSX nó trở thành
lực cản lớn nhất đối với sản xuất, đối với sự phát triển của toàn xã hội. Khi QHSX “đi trước” một cáh
tách rời hay “tiên tiến” giả tạo so với sự phát triển của LLSX sẽ kìm hãm sự phát triển của LLSX.
Như vậy để giải quyết mâu thuẫn giữa QHSX và LLSX phải thông qua hoạt động của con người
trong xã hội có đối kháng giai cấp mâu thuẫn đó chỉ được giải quyết triệt để bằng cuộc cách mạng xã
hội chủ nghĩa chứ không phải bằng sự điều hòa, điều chỉnh hay thích nghi.
Quy luật QHSX phù hợp với tính chất trình độ của LLSX có vị trí vô cùng quan trọng. Là quy
luật phổ biến tác động trong toàn bộ tiến trình lịch sử nhân loại, là quy luật cơ bản nhất chi phối sự vận
động và phát triển của nền sản xuất xã hội nó là nguồn gốc sâu xa của sự phát triển đưa xã hội từ hình
tháo kinh tế này sang hình thái kinh tế xã hội khác cao hơn. Nó tồn tại trong mọi chế độ kể cả chế độ
XHCN.
Trong CNXH mâu thuẫn giữa LLSX và QHSX vẫn là khách quan cũng biểu hiện đưới hình thức
phù hợp- không phù hợp- phù hợp… và đó là nguồn gốc động lực của sự vận động và phát triển của
LLSX nhưng mâu thuẫn ấy không phải là mâu thuẫn đối kháng như trong các chế độ xã hội có chế độ
tư hữu tư nhân về TLSX.
c. Sự vận dụng quy luật về sự phù hợp của QHSX với trình độ phát triển của LLSX ở Việt
Nam.
- Trước đổi mới: Chúng ta vận dụng quy luật này chưa tốt cả nhận thức và hoạt động thực tiễn
xóa bỏ chế độ tư hữu tư nhân về TLSX một cách ồ ạt trong khi đó đang tạo địa bàn cho sự phát triển
của LLSX. Xây dựng chế độ công hữu về TLSX một cách tràn lan, trong khi đó trình độ LLSX còn
thấp kém và phát triển không đồng đều.
- Từ đổi mới 1986 đến nay: Chúng ta có những chủ trương đổi mới để sửa chữa những sai lầm để
cải tạo XHCN và quản lý kinh tế. Đó là xóa bỏ chế độ tập trung quan liêu bao cấp phát triển nề kinh tế
thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
+ Đối với LLSX: Đảng và nhà nước ta đã quan tâm đến việc phát triển LLSX thông qua sự công
nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước.
+ Đối với QHSX: Được chú trọng trên cả 3 mặt quan hệ xã hội đối với TLSX, quan hệ trong tổ
chức quản lý, quan hệ trong.
Vận dụng quy luật QHSX với trình độ phát triển của llsx để luận chứng cho tính tất yếu của sự
tồn tại và phát triển cho sự tồn tại và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xhcn ở VN hiện nay:
Đảng ta đã nhận thức và vận dụng quy luật này như thế nào? Có thể tóm tắt thành 2 thời kỳ lớn:
thời kỳ trước Đại hội 6 (Đại hội đổi mới toàn diện của Đảng) và thời kỳ sau Đại hội 6 cho đến nay.
Trong thời kỳ trước Đại hội 6, Đảng ta đã có những sai lầm, thiếu sót trong việc nhận thức và vận dụng
16


quy luật XH, đặc biệt là sai lầm trong việc nhận thức và vận dụng quy luật quan hệ SX phù hợp với
trình độ của lực lượng SX.. Những sai lầm, thiếu sót biểu hiện qua quan điểm chỉ đạo và chính sách cải
tạo quan hệ SX cũ, xây dựng quan hệ SX mới. Do nóng vội, nhận thức chưa đúng quy luật khách quan,
Đảng ta đã sai lầm khi cho rằng đối với một nước lạc hậu, trình độ lực lượng sản xuất còn thấp như
nước ta để tiến lên chủ nghĩa xã hội thì QHSX XHCN tiên tiến có thể đi trước mở đường cho LLSX lạc
hậu phát triển nhanh lên hiện đại. Từ quan điểm sai lầm này, thực tế đường lối chính sách của Đảng và
Nhà nước ta giai đoạn này chỉ chú ý đến việc xây dựng quan hệ SX mới mà không quan tâm đến việc
phát triển lực lượng sản xuất, do đó đã kéo dài quá lâu trình độ SX thấp, thủ công, đầu tư công nghiệp
nặng không đúng hướng, đầu tư dàn trải, không chú ý đầu tư chiều sâu mà chỉ đầu tư chiều rộng.
Trong quan hệ sản xuất, Đảng và Nhà nước ta đã đưa QHSX lên quá cao so với trình độ lạc hậu
của LLSX ở nước ta làm cho LLSX không phát triển được và SX bị đình trệ. Văn kiện Đại hội VI đánh
giá như sau: “Trong nhận thức cũng như hành động, chúng ta chưa thật sự thừa nhận cơ cấu KT nhiều
thành phần ở nước ta còn tồn tại trong một thời gian tương đối dài nên đã nóng vội muốn nhanh chóng
xóa bỏ KT tư bản tư nhân, KT cá thể để sớm có KT XHCN chiếm ưu thế tuyệt đối. Việc xác lập quan hệ
SX còn không đồng bộ và có yếu tố đẩy quá xa, vượt lên trên trình độ của LLSX thể hiện ở chỗ. Trong
việc tổ chức hình thức sản xuất, chúng ta đã có xu hướng tổ chức quá nhanh mô hình sản xuất, tập đoàn,
hợp tác xã … với quy mô lớn mà không tính đến khả năng trang bị kỹ thuật, trình độ quản lý và năng lực
của cán bộ. “Về nội dung cải tạo, thường nhấn mạnh việc thay đổi quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất mà
không coi trọng giải quyết các vấn đề tổ chức quản lý và chế độ phân phối”. Mặt khác chúng ta cũng
không thừa nhận nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ. Do đó không chấp nhận
kinh tế thị trường, đa dạng hoá hình thức sở hữu, quản lý phân phối. Không thấy được đòi hỏi của lực
lượng SX đang ở trong tình trạng đan xen những trình độ, tính chất khác nhau để mà xác lập quan hệ SX.
Bỏ qua tư bản chủ nghĩa nhưng lại không thấy tính chất quá độ là đan xen tồn tại lâu dài của cả lực lượng
SX, quan hệ SX và kiến trúc thượng tầng. Một sai lầm thiếu sót khác là ta đã duy trì quá lâu cơ chế quản
lý kinh tế quan liêu bao cấp vào quan hệ SX vốn đã xác lập không phù hợp với lực lượng SX, do đó cơ
chế này đã làm ngưng động tính sáng tạo của người lao động, kìm hãm LLSX và đã coi thường tính tất
yếu kinh tế của SX nhỏ đang chuyển sang SX lớn, nghĩa là thông qua SX hàng hoá thị trường mới đi lên
được.
Cương lĩnh xây dựng đất nước đã nêu rõ : “Trong cách mạng XHCN Đảng ta đã có nhiều cố
gắng nghiên cứu, tìm tòi, xây dựng đường lối xác định đúng mục tiêu và phương hướng XHCN. Nhưng
Đảng đã phạm sai lầm chủ quan duy ý chí, vi phạm quy luật khách quan, nóng vội cải tạo XHCN, xóa
bỏ ngay nền KT nhiều thành phần, có lúc đẩy mạnh quá mức việc xây dựng công nghiệp nặng, duy trì
quá lâu, cơ chế quản lý KT tập trung quan liêu bao cấp, có nhiều chủ trương sai trong việc cải cách giá
cả, tiền tệ, tiền lương. Công tác tư tưởng và tổ chức các bộ phạm nhiều khuyết điểm nghiêm trọng”. Từ
những sai lầm đó đã dẫn đến khủng hoảng kinh tế - xã hội trầm trọng, lạm phát đạt đến mức khủng
khiếp 774%, sản xuất bị đình trệ. Qua thực tiễn cuộc sống, Đảng ta đã rút ra được những bài học thấm
thía là không thể nóng vội, làm trái với quy luật khách quan.
Để khắc phục những sai lầm trên và vận dụng hiệu quả quy luật này, Đại hội 6 của Đảng đã đề xuất
quan điểm đổi mới toàn diện, trong đó đặc biệt chú ý đổi mới nhận thức và vận dụng các quy luật khách quan,
trong đó quy luật quan hệ SX phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng SX. Quan điểm ấy đã được ĐH IX
tiếp tục khẳng định “Phát triển lực lượng sản xuất hiện đại gắn liền với xây dựng quan hệ sản xuất trên cả 3
mặt : sở hữu, quản lý, phân phối”
Như vậy, từ Đại hội VI đến nay, Đảng đã căn cứ vào thực trạng lực lượng sản xuất hiện có của đất
nước ta đối chiếu với lý luận quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất để xây dựng chế độ quan hệ sản xuất
phù hợp với trình độ lực lượng sản xuất ở nước ta. Thực tiễn cho thấy hệ thống trình độ lực lượng sản xuất
nước ta nhìn chung còn thấp, sản xuất nhỏ ở nước ta còn phổ biến. Do đó để bắt đầu xây dựng một chế độ
xã hội mới nhất thiết bắt đầu từ việc đẩy mạnh lực lượng sản xuất phát triển trước rồi sau đó mới phát triển
quan hệ sản xuất theo sự phát triển của lực lượng sản xuất, tuy nhiên chúng ta không chờ quan hệ sản xuất
phát triển một cách tự nhiên mà tạo điều kiện cho ra đời quan hệ sản xuất mới phù hợp.
Việc phát triển lực lượng SX chỉ có thế thực hiện được khi chúng ta tăng cường tính khoa học
và hiện đại vào trong lực lượng sản xuất hiện tại, vì vậy Đảng đã chủ trương đẩy mạnh công nghiệp
17


hóa hiện đại hóa và xem đây là trọng tâm của suốt thời kỳ quá độ. Văn kiện Đại hội Đảng lần 9 cũng đã
chỉ rõ nước ta quá trình từng bước xây dựng và phát triển lực lượng SX là: ”Phát huy những lợi thế của
đất nước, tận dụng mọi khả năng để đạt trình độ công nghệ tiên tiến, đặc biệt là nghệ công nghệ thông
tin và công nghệ sinh học, tranh thủ ứng dụng ngày càng nhiều hơn, ở mức độ cao hơn và phổ biến hơn
những thành tựu mới về khoa học và công nghệ, từng bước phát triển kinh tế trí thức.
Về quan hệ SX. Đại hội VII đã nêu : để phù hợp với sự phát triển của LLSX, chúng ta phải thiết
lập từng bước quan hệ SX XHCN từ thấp đến cao với sự đa dạng về hình thức sở hữu, phát triển nền
kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng XHCN, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản
lý của Nhà nước. Đại hội VIII của Đảng đã đề ra chủ trương: “Nếu CNH, HĐH tạo nên LLSX cần thiết
cho chế độ XH mới thì việc phát triển nền KT nhiều thành phần chính là để xây dựng hệ thống QHSX
phù hợp”. Các văn kiện Đại hội Đảng cũng đã khẳng định các thành phần kinh tế là những bộ phận cấu
thành phần kinh tế thống nhất, được phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh với nhau.
Trong xu hướng vận động chung, thành phần kinh tế Nhà nước phải giữ vai trò chủ đạo, hỗ trợ các
thành phần kinh tế khác phát triển. Chủ trương này đã khơi dậy tiềm năng SX, khơi dậy năng lực sáng
tạo, chủ động của các chủ thể lao động trong sản xuất kinh doanh, thúc đẩy SX phát triển.
Với chủ trương phát triển nhiều thành phần kinh tế, Đảng ta đã thừa nhận sự tồn tại của nhiều
hình thức sở hữu và các loại hình tổ chức kinh tế gắn liền với các hình thức sở hữu đó do lịch sử để lại,
phù hợp với từng thành phần kinh tế. Chính điều này đã tạo ra sức sống động cho sự phát triển kinh tế,
tạo ra được nhiều sản phẩm do khơi dậy tiềm năng, sức sản xuất và năng động vốn có của các thành
phần kinh tế. Việc xây dựng chế độ công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu không thể xác lập nhanh
chóng ồ ạt như trước đây mà phải là một quá trình kinh tế - xã hội lâu dài, qua nhiều bước, nhiều hình
thức từ thấp đến cao … Tiêu chuẩn căn bản để đánh giá hiệu quả xây dựng quan hệ sản xuất theo định
hướng XHCN là thúc đẩy phát triển lực lượng sản xuất, cải thiện đời sống nhân dân, thực hiện công
bằng xã hội. Về quản lý, văn kiện Đại hội VI và Đại hội IX cũng đã nêu chính sách phát triển nền kinh
tế thị trường theo định hướng XHCN có sự quản lý của Nhà nước là mô hình kinh tế tổng quát trong
thời kỳ quá độ. Việc quản lý nền kinh tế của Nhà nước phải bằng pháp luật, chiến lược, quy hoạch, kế
hoạch, chính sách và sử dụng cơ chế thị trường, áp dụng các hình thức kinh tế và phương pháp quản lý
kinh tế để kích thích sản xuất, giải phóng sức sản xuất, phát huy mặt tích cực, hạn chế và khắc phục
mặt tiêu cực của cơ chế thị trường, bảo vệ lợi ích của nhân dân lao động, của toàn thể nhân dân”
Về phân phối, Đại hội IX cũng đã nhấn mạnh “thực hiện phân phối chủ yếu theo kết quả lao
động và hiệu quả kinh tế, đồng thời phân phối theo mức đóng góp vốn và các nguồn lực khác vào sản
xuất kinh doanh và thông qua phúc lợi xã hội. Tăng trưởng kinh tế gắn liền với bảo đảm tiến bộ và
công bằng xã hội ngay trong từng bước phát triển”. Thực tế cho thấy với sự đổi mới trên phù hợp với
quy luật giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất đã gắn kết các điều kiện sản xuất lại với nhau tạo
ra năng suất cao, các ngành nghề truyền thống khởi sắc, phát triển rộng và khá mạnh, nền kinh tế phát
triển và đã đưa đất nước ra khỏi cuộc khủng hoảng để từng bước phát triển một cách ổn định và bền
vững.
Tóm lại, nhận thức và vận dụng đúng đắn quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ của
lực lượng sản xuất cùng các hệ thống, các quy luật KT-XH khác của nền kinh tế hàng hoá thị trường
dưới sự lãnh đạo của Đảng, quản lý Nhà nước theo định hướng XHCN, nhất định chúng ta sẽ thực hiện
được mục tiêu dân giàu, nước mạnh, XH công bằng, dân chủ văn minh. Những thành tựu to lớn mà
chúng ta đã đạt được sau gần 19 năm đổi mới là những minh chứng xác thực nhất cho điều đó.
Câu 7: Phân tích mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng của
xã hội. Đặc điểm của cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
xã hội ở Việt Nam.
Khái niệm cơ sở hạ tầng:
Cơ sở hạ tầng là toàn bộ những QHSX hợp thành cơ cấu kinh tế của một x.hội nhất định.
Cơ sở hạ tầng của xã hội, trong sự vận động của nó, được tạo nên bởi cả ba loại hình QHSX:
QHSX thống trị, QHSX tàn dư và quan hệ sản xuất mới tồn tại dưới hình thức mầm mống, đại biểu cho
sự phát triển của xã hội tương lai, trong đó QHSX thống trị chiếm địa vị chủ đạo, chi phối các QHSX
18


khác, định hướng sự phát triển của đời sống kinh tế xã hội và giữ vai trò là đặc trưng cho chế độ kinh tế
của một xã hội nhất định. Sự tồn tại của ba loại hình qhsx cấu thành cơ sở hạ tầng của một xã hội phản
ánh tính chất vận động, phát triển liên tục của LLSX với các tính chất: kế thừa, và phát triển.
Hệ thống QHSX hiện thực của một xã hội đóng vai trò hai mặt: một mặt là hình thức kinh tế
cho sự phát triển của LLSX và mặt khác với các quan hệ chính trị xã hội, nó đóng vai trò là cơ sở hình
thành kết cấu kinh tế, làm cơ sở cho sự thiết lập hệ thống kiến trúc thượng tầng của xã hội đó.
- Khái niệm kiến trúc thượng tầng:
Kiến trúc thượng tầng là toàn bộ những quan điểm, tư tưởng chính trị, pháp quyền, triết học, đạo
đức, tôn giáo, nghệ thuật… cùng với những thiết chế tương ứng như nhà nước, đảng phái, giáo hội, các
đoàn thể xã hội… được hình thành trên một cơ sở hạ tầng nhất định.
Trong kiến trúc thượng tầng có nhiều yếu tố, mỗi yếu tố có đặc điểm riêng, có quy luật phát triển
riêng, nhưng chúng liên hệ với nhau tác động qua lại với nhau. Tất cả các yếu tố đều hình thành, phát
triển trên cơ sở hạ tầng, song yếu tố khác nhau có quan hệ khác nhau đối với cơ sở hạ tầng. Như chính
trị, pháp quyền có quan hệ trực tiếp với cơ sở hạ tầng; còn triết học, tôn giáo, nghệ thuật chỉ quan hệ
gián tiếp.
Trong kiến trúc thượng tầng của xã hội có giai cấp, nhà nước là thiết chế trung tâm.
- Mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng:
+ Mỗi hình thái kinh tế-xã hội có cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng của nó. Do đó, cơ sở hạ
tầng và kiến trúc thượng tầng mang tính lịch sử cụ thể, giữa chúng có mối quan hệ biện chứng với
nhau, trong đó cơ sở hạ tầng giữ vai trò quyết định.
+ Vai trò quyết định của cơ sở hạ tầng đối với kiến trúc thượng tầng thể hiện:
Mỗi cơ sở hạ tầng sẽ hình thành nên một kiến trúc thượng tầng tương ứng với nó. Giai cấp nào
chiếm địa vị thống trị về kinh tế thì cũng chiếm địa vị thống trị trong đời sống tinh thần. Quan hệ sản
xuất nào thống trị thì tạo ra kiến trúc thượng tầng chính trị tương ứng. Mâu thuẫn trong lĩnh vực kinh tế
quyết định tính chất mâu thuẫn trong lĩnh vực tư tưởng.
Do đặc điểm nói trên, bất kỳ hiện tượng nào thuộc kiến trúc thượng tầng: nhà nước, pháp luật,
đảng phái chính trị, triết học, đạo đức,.. đều không thể giải thích từ chính nó, bởi vì, chúng đều trực tiếp
hoặc gián tiếp phụ thuộc vào cơ sở hạ tầng và do cơ sở hạ tầng quyết định.
VD: Trong XHSXPK, QHSX thống trị là phong kiến, nhà nước phải là nhà nước PK, đạo đức
PK. Và trong xã hội VN ta hiện nay, những quan niệm đạo đức từ thời phong kiến mà tốt thì vẫn được
giữ lại và phát huy.
Những biến đổi căn bản trong cơ sở hạ tầng sớm hay muộn sẽ dẫn đến sự biến đổi căn bản trong
kiến trúc thượng tầng. Sự biến đổi đó diễn ra trong từng hình thái kinh tế-xã hội và rõ rệt hơn khi
chuyển từ hình thái kinh tế-xã hội này sang hình thái kinh tế-xã hội khác.
Khi cơ sở hạ tầng cũ mất đi thì kiến trúc thượng tầng do nó sinh ra cũng mất theo, khi cơ sở hạ
tầng mới ra đời thì một kiến trúc thượng tầng mới phù hợp với nó cũng xuất hiện. Trong xã hội có giai
cấp đối kháng, sự biến đổi đó diễn ra thông qua cuộc đấu tranh giai cấp gay go phức tạp. Khi cuộc cách
mạng xã hội xóa bỏ cơ sở hạ tầng cũ thay thế bằng cơ sở hạ tầng mới, sự thống trị về chính trị của giai
cấp cách mạng được thiếp lập, bộ máy nhà nước mới hình thành, sự thống trị về tư tưởng của giai cấp
cách mạng cầm quyền được xác lập.
Sự biến mất của một kiến trúc thượng tầng không diễn ra một cách nhanh chóng, có những yếu tố
của kiến trúc thượng tầng cũ còn tồn tại dai dẳng sau khi cơ sở kinh tế của nó đã bị tiêu diệt. Có những
yếu tố của kiến trúc thượng tầng cũ được giai cấp cầm quyền mới sử dụng để xây dựng kiến trúc
thượng tầng mới.
Do đó, tính quyết định của cơ sở hạ tầng đối với kiến trúc thượng tầng diễn ra rất phức tạp trong
quá trình chuyển từ hình thái kinh tế-xã hội này sang hình thái kinh tế-xã hội khác.
+ Sự tác động trở lại của kiến trúc thượng tầng đối với cơ sở hạ tầng:
Sự tác động trở lại của kiến trúc thượng tầng đối với cơ sở hạ tầng được thể hiện ở chức năng xã
hội của kiến trúc thượng tầng là bảo vệ, duy trì, củng cố và phát triển cơ sở hạ tầng sinh ra nó, đấu
tranh xóa bỏ cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng cũ.
19


Nếu KTTT phù hợp thì nó sẽ tạo điều kiện mở đường và thúc đẩy cho QHSX phát triển, ngược
lại, nếu KTTT không phù hợp thì nó sẽ kìm hãm sự phát triển của QHSX.
Trong xã hội có giai cấp đối kháng, kiến trúc thượng tầng bảo đảm sự thống trị chính trị và tư
tưởng của giai cấp giữ địa vị thống trị trong kinh tế.
Trong các bộ phận của kiến trúc thượng tầng, nhà nước giữ vai trò đặc biệt quan trọng, có tác
dụng to lớn đối với cơ sở hạ tầng. Nhà nước không chỉ dựa vào hệ tư tưởng mà còn dựa vào chức năng
kiểm soát xã hội để tăng cường sức mạnh kinh tế của giai cấp thống trị. Ăngghen viết: “bạo lực (nghĩa
là quyền lực nhà nước) cũng là một lực lượng kinh tế” (C.Mác, Ăngghen tuyển tập, Nxb Sự thật, Hà
Nội, 1971, T.II, tr.604).
Các bộ phận khác của kiến trúc thượng tầng như triết học, đạo đức, tôn giáo, nghệ thuật cũng tác
động đến cơ sở hạ tầng, nhưng thường thường phải thông qua nhà nước, pháp luật.
Kiến trúc thượng tầng là một hệ thống, nó có quá trình biến đổi phát triển do sự tác động của các
yếu tố nội tại, do đó nó có tính độc lập tương đối. Quá trình đó phát triển phù hợp với cơ sở hạ tầng thì
sự tác động của nó đối với cơ sở hạ tầng càng có hiệu quả.
Chủ nghĩa duy vật lịch sử khẳng định, chỉ có kiến trúc thượng tầng tiến bộ nảy sinh trong quá
trình của cơ sở kinh tế mới - mới phản ánh nhu cầu của sự phát triển kinh tế, mới có thể thúc đẩy sự
phát triển kinh tế-xã hội. Nếu kiến trúc thượng tầng là sản phẩm của cơ sở kinh tế đã lỗi thời thì gây tác
dụng kìm hãm sự phát triển kinh tế-xã hội. Tất nhiên sự kìm hãm chỉ là tạm thời, sớm muộn nó sẽ bị
cách mạng khắc phục.
+ Đặc điểm của cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
xã hội ở nước ta:
Cơ sở hạ tầng trong thời kỳ quá độ ở nước ta bao gồm các thành phần kinh tế, các kiểu tổ chức
kinh tế, các kiểu quan hệ sản xuất gắn liền với các hình thức sở hữu khác nhau, thậm chí đối lập nhau,
cùng tồn tại trong một cơ cấu kinh tế quốc dân thống nhất.
Tương ứng với sự đồng nhất về bản chất kinh tế là sự tác động của nhiều hệ thống quy luật kinh
tế. Hệ thống quy luật kinh tế xã hội chủ nghĩa; hệ thống quy luật kinh tế của nền sản xuất hàng hóa nhỏ
và hệ thống quy luật kinh tế tư bản chủ nghĩa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đối với nền kinh tế hàng
hóa nhiều thành phần là Nhà nước xã hội chủ nghĩa tạo ra một hành lang pháp lý, tạo điều kiện cho sự
phát triển của các thành phần kinh tế, đồng thời Nhà nước sử dụng tổng thể các biện pháp - trong đó
biện pháp kinh tế là quan trọng nhất - nhằm từng bước xã hội hóa nền sản xuất. Kinh tế Nhà nước
không ngừng được củng cố và phát triển cả về chất và về lượng ở những vị trí nòng cốt của nền kinh tế.
- Kiến trúc thượng tầng xã hội chủ nghĩa ở nước ta:
Đảng ta khẳng định chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm cơ sở nền tảng của tư
tưởng và kim chỉ nam cho mọi hành động cách mạng.
Xây dựng hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa mang bản chất giai cấp công nhân, do đội tiên
phong của nó là Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Thực hiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, quyền
lực thuộc về nhân dân.
Các tổ chức, thiết chế, các lực lượng xã hội tham gia vào hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa là vì
một mục tiêu chung, lợi ích chung, hướng tới mục tiêu xã hội chủ nghĩa, đảm bảo quyền làm chủ của
nhân dân trong quản lý kinh tế-xã hội và mọi lĩnh vực hoạt động khác.
Các tổ chức, bộ máy tạo thành hệ thống chính trị-xã hội không tồn tại như một mục đích tự thân
mà vì phục vụ con người, vì lợi ích và quyền lực của nhân dân lao động.
Vận dụng mqh biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng xã hội này để phân
tích mqh giữa ĐCS VN với ..
Cơ sở hạ tầng quyết định thượng tầng , nhưng thượng tầng cũng gây ảnh hưởng trực tiếp cho cơ
sở hạ tầng vì hạ tầng không tự có mà do thượng tầng xây dựng lên. Ví dụ cụ thể : kinh tế là hạ tầng của
xã hội quyết định thượng tầng là tri thức , nhưng cái kinh tế ấy là do thượng tầng tri thức của các nhà
lảnh đạo quyết định đưa ra những chính sách kinh tế để kinh tế ấy được phát triển bền vững . Kinh tế
xã hội không tự có mà do tri thức của con người làm nên . Nếu kinh tế tự có được thì không cần lao
động gì cả cũng có cái ăn , điều đó là không tưởng. Kinh tế là kết quả của sức lao động mà thôi chứ
không gì khác. Kinh tế đó tùy thuộc vào chính sách kinh tế có hợp lý để phát triển bền vững hay không.
20


Chính thượng tầng xã hội đề ra và quyết định những chính sách kinh tế đó.
Thời kỳ quá độ từ CNTB lên CNXH là thời kỳ cải biến cách mạng sâu sắc và triệt để, là một
giai đoạn lịch sử chuyển tiếp nó. Bởi vì, cơ sở hạ tầng mang tính chất quá độ với một kết cấu kinh tế
nhiều thành phần đan xen của nhiều loại hình kinh tế xã hội khác nhau. Còn kiến trúc thượng tầng có
sự đối kháng về tư tưởng và có sự đấu tranh giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản trên lĩnh vực tư
tưởng văn hóa.
Chính vì những lý do đó mà nước ta từ một nước thuộc địa nửa phong kiến với nền kinh tế lạc
hậu sản xuất nhỏ là chủ yếu, đi lên CNXH (bỏ qua chế độ phát triển TBCN) chúng ta đã gặp rất nhiều
khó khan trong quá trình xây dựng CNXH. Cơ sở hạ tầng thời kỳ quá độ ở nước ta bao gồm các thành
phần kinh tế như: kinh tế nhà nước, kinh tế hợp tác, kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế cá thể, kinh tế tư
bản tư nhân, cùng các quan hệ sản xuất gắn liền với hình thức sở hữu khác nhau, thậm chí đối lập nhau
cung tồn tại trong một cơ cấu kinh tế quốc dân thống nhất.
Kiến trúc thượng tầng XHCN phản ánh cơ sở hạ tầng của xã hội chủ nghĩa, vì vậy mà có sự
thống trị về chính trị và tinh thần NHà nước phải thực hiện biện pháp kinh tế có vai trò quan trọng
nhằm từng bước xã hội hóa nền kinh tế quốc doanh được củng cố và phát triển vươn lên giữ vai trò chủ
đạo, kinh tế tập thể dưới hình thức thu hút phần lớn những người sản xuất nhỏ trong các ngành nghề,
các hình thức xí nghiệp, công ty cổ phần phát triển mạnh, kinh tế tư nhân và gia đình phát huy được
mọi tiềm năng để phát triển lực lượng sản xuất, xây dựng cơ sở kinh tế hợp lý.
Trong văn kiện Hội nghị đại biểu Đảng giữa nhiệm kỳ khóa VII, Đảng ghi rõ “ phải tập trung
nguồn vốn đầu tư nhà nước cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng KTXH và một số công trình công nghiệp
then chốt đã được chuần bị vốn và công nghệ. Nâng cấp xây dựng mới hệ thống giao thông, sân bay,
bến cảng, thông tin liên lạc, giáo dục và đào tạo, y tế”. Và từ nay tới cuối thập kỷ, phải quan tâm tới
công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và kinh tế nông thôn, phát triển toàn diện nông, lâm, ngư
nghiệp gắn với công nghiệp chế biến nông lâm thủy sản, công nghiệp sản xuất hàng tiêu dung và hàng
xuất khẩu.
Về kiến trúc thượng tầng, Đảng ta khẳng định lấy chủ nghĩa Mác- Lê nin và tư tưởng Hồ Chí
Minh làm kim chỉ nam cho mọi hành động của toàn Đảng, toàn dân ta. Nội dung cốt lõi của chủ nghĩa
Mác- leenin và tư tưởng Hồ Chí Minh là tư tưởng về sự giải phóng con người khỏi chế độ bóc lột thoát
khỏi nỗi nhục của mình là đi làm thuê bị đánh đập, lương ít. Trong cương lĩnh xây dựng đất nước thời
kỳ quá độ lên CNXH, Đảng ghi rõ: “xây dựng nhà nước XHCN, nhà nước của dân, do dân và vì dân,
liên minh giai cấp công dân với tầng lớp trí thức làm nền tảng, do Đảng cộng sản lãnh đạo.’
Câu 8:
Câu 7+ Câu 10:Khái niệm và kết cấu của hình thái kinh tế-xã hội? Tại sao nói sự phát triển
của các hình thái kinh tế-xã hội là một quá trình lịch sử tự nhiên?
- Xuất phát điểm:
Các nhà triết học duy tâm trước Mác đã tiếp cận các vấn đề xã hội từ góc độ nhân tố tinh thần n
hư: đạo đức, niềm tin tôn giáo, chính trị…, đã “lấy sự thống trị của tôn giáo làm tiền đề. Và dần dà, ng
ười ta tuyên bố mọi quan hệ thống trị là một quan hệ tôn giáo và người ta biến quan hệ đó thành sự sùn
g bái: sùng bái pháp luật, sùng bái nhà nước”. Từ việc phê phán quan điểm duy tâm đó, C Mác đã đưa r
a một hướng tiếp cận mới khoa học và thuyết phục nhằm lý giải các vấn đề của đời sống xã hội và làm
tiền đề, xuất phát điểm cho học thuyết của mình
Trước hết, Mác nghiên cứu xã hội từ việc xem xét yếu tố con người cụ thể, hiện đang sống đời s
ống thực trong từng xã hội cụ thể. Sự tồn tại của con người là một sự tồn tại hiển nhiên và phổ biến tro
ng đời sống xã hội, quy định sự tồn tại của toàn thể xã hội.
Mác cho rằng tiền đề đầu tiên của tất cả mọi sự tồn tại của người, và do đó, cũng là tiền đề của
mọi quá
trình lịch sử, đó là:” người ta phải có khả năng sống đã rồi mới có thể “làm ra lịch sử”. Nhưng muốn số
ng được
thì trước hết cần phải có thức ăn, thức uống, nhà ở, quần áo và một vài thứ khác nữa. Như vậy, hành vi
21


lịch sử
đầu tiên là việc sản xuất ra những tư liệu để thoả mãn những nhu cầu ấy, việc sản xuất ra bản thân đời s
ống vật chất”.
Nhu cầu và lợi ích của con người quy định hành vi lịch sử đầu tiên và là động lực thúc đẩy con
người
hoạt động, phát triển. Khi nhu cầu này được thoả mãn thì ngay lập tức xuất hiện nhu cầu mới. Cứ như v
ậy, nhu
cầu của con người là động lực thúc đẩy sự phát triển của chính con người và qua đó là động lực phát tri
ển của cả xã hội.
Để thoả mãn nhu cầu, đáp ứng lợi ích cho mình, con người phải liên kết trong các cộng đồng, tứ
c hệ thống các mối liên hệ giữa cá nhân con người cụ thể, từ đó tạo thành xã hội.
Khi đề cập tới hoạt động sản xuất vật chất với tính cách là hành vi lịch sử đầu tiên của con ngườ
i, Mác
cũng đồng thời chỉ ra các hoạt động sản xuất khác của con người như hoạt động sản xuất tinh thần và h
oạt động sản xuất ra bản thân con người, cũng như các quan hệ xã hội khác. Trong hoạt động đó, hoạt đ
ộng sản xuất vật chất đóng vai trò là nền tảng, là cơ sở cho toàn bộ đời sống xã hội và là điểm đánh dấu
sự khác biệt cơ bản giữa
con người và con vật. Mác viết: “ Bản thân con người bắt đầu bằng tự phân biệt với súc vật ngay khi co
n người
bắt đầu sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt của mình”. Chính thông qua sản xuất vật chất để duy trì tồn
tại và
phát triển của mình, con người đồng thời sáng tạo ra toàn bộ đời sống vật chất và tinh thần phong phú
của xã
hội. Do đó, việc xuất phát từ con người hiện thực để nghiên cứu đời sống xã hội đòi hỏi phải bắt đầu t
ừ sản xuất vật chất của họ, qua đó đi đến việc xem xét các mặt khác của xã hội nhằm tìm ra các quy luậ
t vận động và phát triển khách quan của xã hội.
Từ việc nghiên cứu quá trình sản xuất vật chất, Mác phát hiện ra 2 mặt không tách rời nhau là l
ực lượng sản xuất (quan hệ giữa con người với tự nhiên ) và quan hệ sản xuất (quan hệ giữa con người
với con người). Hai mặt này của sản xuất vật chất tồn tại thống nhất với nhau, tạo thành phương thức sả
n xuất. Sự tác động qua lại
giữa chúng trong một phương thức sản xuất đã tạo nên quy luật: QHSX phù hợp với trình độ phát triển
của LLSX
Trên cơ sở nghiên cứu hoạt động sản xuất, Mác đi tới việc nghiên cứu các mặt của đời sống xã
hội như:chính trị, pháp quyền, đạo đức, tôn giáo…có liên hệ ràng buộc với nhau. Ở đây, Mác đã phát hi
ện ra các quy luật: cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng; tồn tại xã hội quyết định ý thức xã h
ội; phương thức sản xuất
quyết định mọi mặt của đời sống xã hội. Từ kết quả này, trong tư duy Mác hình thành quan niệm cho rằ
ng xã
hội là một hệ thống, trong đó các mặt liên hệ, tác động lẫn nhau làm cho xã hội vận động và phát triển t
heo các
quy luật khách quan; tuy nhiên các quy luật đó không tác động bên ngoài hoạt động sống có ý thức của
con người cụ thể. Xã hội là sự thống nhất mặt khách quan và mặt chủ quan.
Tóm lại, xuất phát từ vai trò quyết định của sản xuất vật chất, Mác đã phân tích một cách khoa
học mối quan hệ của tất cả các lĩnh vực, các mặt của đời sống xã hội; cũng như phát hiện ra các quy luậ
22


t cơ bản chi phối
sự vận động và phát triển của xã hội. Trên cơ sở đó, Ông đã đi tới sự khái quát khoa học về lý luận hình
thái kinh tế xã hội.
- Khái niệm hình thái kinh tế-xã hội:
Hình thái kinh tế-xã hội là một phạm trù của chủ nghĩa duy vật lịch sử dùng để chỉ xã hội ở từng
giai đoạn phát triển lịch sử nhất định, với những quan hệ sản xuất của nó (cơ sở hạ tầng) thích ứng với
lực lượng sản xuất ở một trình độ nhất định và với một kiến trúc thượng tầng được xây dựng trên
những quan hệ sản xuất đó.
- Sự phát triển của các hình thái kinh tế–xã hội là một quá trình lịch sử tự nhiên.
Một hình thái kinh tế - xã hội gồm 3 bộ phận: LLSX, QHSX (xét ở cơ cấu kinh tế là CSHT), và
KTTT.
Quá trình tự nhiên bởi nó bị chi phối bởi các quy luật khách quan của các hiện tượng tự nhiên (2 quy
luật về sự phù hợp giữa QHSX – LLSX, CSHT - KTTT). Một yếu tố khách quan không kém đó là sự tác
động trở lại, chính trong sự trở lại này cũng thể hiện yếu tố chủ quan (Nếu phù hợp thì các yếu tố chủ
quan sẽ làm nó phát triển, nếu không sẽ kìm hãm).
Tính lịch sử: Các hình thái xã hội phát triển theo 1 cách trình tự, theo tuần tự. Nhân loại trải qua 4
hình thái KT XH: CSNT-CHNL-PK-TB-(XHCN) CSCN.Trong quá trình đó, sự phát triển của mỗi quốc
gia còn có lịch sử của nó và còn có sự bỏ qua. Nếu như chúng ta có đủ điều kiện lịch sử thì chúng ta có
thể bỏ qua.Như ở Việt Nam bỏ qua Tư Bản, từ PK-XHCN.
C.Mác viết: “Tôi coi sự phát triển của những hình thái kinh tế-xã hội là một quá trình lịch sử tự
nhiên” (C.Mác, Tư bản, quyển 1, T.1, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1973, tr.20).
Hình thái kinh tế-xã hội được xem như là một cơ thể, một hệ thống hoàn chỉnh luôn luôn vận
động và phát triển. Đó là hệ thống các quan hệ xã hội, bao gồm những quan hệ vật chất và quan hệ tư
tưởng. Quan hệ tư tưởng được xây dựng trên những quan hệ vật chất-quan hệ hình thành ngoài ý chí và
ý thức của con người, như một kết quả của sự hoạt động của con người để đảm bảo sự sinh tồn của
mình.
Học thuyết hình thái kinh tế–xã hội cho phép đi sâu vào bản chất của quá trình lịch sử, hiểu được
logic khách quan của quá trình đó, nhìn thấy sự phát triển của xã hội loài người như là một quá trình
lịch sử tự nhiên, một quá trình diễn ra nhiều mặt và chứa đầy mâu thuẫn, quá trình vận động hợp với
quy luật khách quan. Đó là những quy luật nội tại, tự thân trong cấu trúc của hình thái kinh tế-xã hội,
quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất, quy luật
cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng.
Lịch sử phát triển của xã hội loài người đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển nối tiếp nhau từ
thấp đến cao. Tương ứng với mỗi giai đoạn là một hình thái kinh tế - xã hội: cộng sản nguyên thủy,
chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa. - Lịch sử phát triển của xã hội
loài người. Sự vận động thay thế nhau của các hình thái kinh tế - xã hội trong lịch sử đều do tác động
của các quy luật khách quan, đó là quá trình lịch sử tự nhiên của xã hội.Chủ nghĩa duy vật lịch sử cho
rằng, mỗi hình thái kinh tế-xã hội đều có những quy luật riêng của nó khi nó phát sinh, phát triển và
chuyển sang một hính thái khác cao hơn. Đồng thời cũng khẳng định đến sự tồn tại của những quy luật
phản ánh những đặc điểm chung của mọi hình thái kinh tế-xã hội, những quy luật phổ biến phát huy tác
dụng trong tất cả các giai đoạn phát triển của lịch sử, trong tất cả các hình thái kinh tế-xã hội.
Trong các quy luật khách quan chi phối sự vận động phát triển của các hình thái kinh tế-xã hội,
quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất có vai trò
quyết định nhất. Con người làm ra lực lượng sản xuất bằng năng lực thực tiễn của mình. Tuy nhiên,
năng lực thực tiễn lại bị quy định bởi nhiều điều kiện khách quan. Mỗi thế hệ làm ra lực lượng sản xuất
của mình phải dựa trên những lực lượng sản xuất đã đạt được của thế hệ trước ở hình thái kinh tế-xã
hội trước đó. Vì vậy, bản thân các lực lượng sản xuất không phải là sản phẩm riêng của thời đại nào, mà
là sản phẩm của cả một quá trình phát triển liên tục từ thấp lên cao qua các hình thái kinh tế-xã hội.
23


Nhưng, chính tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất đã quy định một cách khách quan tính chất
và trình độ của quan hệ sản xuất, do đó, xét đến cùng lực lượng sản xuất quyết định quá trình vận động
phát triển của hình thái kinh tế-xã hội như một quá trình lịch sử tự nhiên.
Sự vận động phát triển thay thế nhau của các hình thái kinh tế-xã hội từ thấp lên cao trước hết
được giải thích bằng sự tác động của quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với tính chất và trình
độ của lực lượng sản xuất. Lực lượng sản xuất, một mặt của phương thức sản xuất, là yếu tố đảm bảo
tính kế thừa trong sự phát triển tiến lên của lịch sử. Quan hệ sản xuất là mặt thứ hai của phương thức
sản xuất biểu hiện tính gián đoạn trong sự phát triển của lịch sử.
Lịch sử loài người là lịch sử phát triển và thay thế nhau của các hình thái kinh tế-xã hội, nhưng
lịch sử cụ thể vô cùng phong phú, không thể xem quá trình lịch sử là một công thức hoặc như một
đường thẳng. Thực tế lịch sử diễn ra những hình thức quá độ khác nhau của các dân tộc, một số dân tộc
phải trải qua tuần tự các hình thái kinh tế-xã hội, một số dân tộc lại bỏ qua một số hình thái để đạt được
những bước phát triển nhanh hơn.
Nhân loại hiện nay đang và sẽ trải qua hình thái kinh tế-xã hội cộng sản chủ nghĩa. Hình thái kinh
tế-xã hội cộng sản chủ nghĩa có ba giai đoạn phát triển: Thời kỳ quá độ từ tư bản chủ nghĩa lên chủ
nghĩa xã hội; Chủ nghĩa xã hội; Chủ nghĩa Cộng Sản
Như vậy, quá trình phát triển lịch sử tự nhiên của sự phát triển xã hội chẳng những diễn ra bằng
con đường phát triển tuần tự, mà còn bao hàm cả sự bỏ qua một vài hình thái kinh tế - xã hội trong
những điều kiện nhất định.
Câu 9 :Luận chứng khoa học và vai trò phương pháp của lý luận hình thái kinh tế - xã hội
của Mác
Hình thái Kinh tế - Xã hội là một phạm trù của Chủ nghĩa duy vật lịch sử dùng để chỉ xã hội ở
từng giai đoạn lịch sử nhất định với một kiểu quan hệ sản xuất đặc trưng cho xã hội đó, phù hợp với
một trình độ nhất định của lực lượng sản xuất và với một kiến trúc thượng tầng được xây dựng trên
những quan hệ ấy.
Hình thái Kinh tế - Xã hội đặt nguyên tắc phương pháp luận khoa học để nghiên cứu tất cả các
mặt của xã hội. Chẳng những nó đã đưa ra bản chất của một xã hội cụ thể, phân biệt chế độ xã hội này
với chế độ xã hội khác, mà còn thấy được tính lặp lại, tính liên tục của mối quan hệ giữa người với
người trong quá trình sản xuất và sinh hoạt ở những xã hội khác nhau. Nói cách khác, phạm trù Hình
thái Kinh tế - Xã hội cho phép nghiên cứu xã hội cả về mặt loại hình và về mặt lịch sử. Xem xét đời
sống xã hội ở một giai đoạn phát triển lịch sử nhất định, coi như một cấu trúc thống nhất tương đối ổn
định đang vận động trong khuôn khổ của chính hình thái ấy.
- Sự ra đời lý luận hình thái kinh tế - xã hội là một bước chuyển biến cách mạng trong nhận thức
về đời sống xã hội.
- Lý luận đó cũng chỉ ra xã hội là một hệ thống có cấu trúc phức tạp, trong đó các mặt, các lĩnh
vực có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động qua lại với nhau một cách biện chứng.
- Lý luận đó đưa ra quan điểm duy vật về xã hội, chỉ ra sản xuất là là cơ sở của đời sống xã hội, phương
thức sản xuất quyết định quá trình sinh hoạt chính trị và tinh thần nói chung.
- Lý luận đó đã mang lại một phương pháp luận thật sự khoa học cho nhận thức và hoạt động thực tiễn
cải tạo xã hội theo con đường tiến bộ.
* Vai trò phương pháp luận của lý luận hình thái kinh tế - xã hội thể hiện ở chỗ:
- Thứ nhất: Lý luận hình thái kinh tế - xã hội chỉ ra, sản xuất vật chất là cơ sở của đời sống xã hội,
phương thức sản xuất quyết định quá trình sinh hoạt xã hội, chính trị và tinh thần nói chung.
- Thứ hai: Lý luận hình thái kinh tế - xã hội chỉ ra rằng, sự phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội
là một quá trình lịch sử - tự nhiên, tức là diễn ra theo quy luật khách quan chứ không phải theo ý muốn
chủ quan.
- Thứ ba: Lý luận hình thái kinh tế - xã hội chỉ ra, xã hội không phải là sự kết hợp một cách ngẫu
nhiên, máy móc giữa các cá nhân mà là một cơ thể sống sinh động, các mặt thống nhất chặt chẽ với
nhau.
- Thứ tư: Lý luận hình thái kinh tế - xã hội vừa chỉ ra quy luật phát triển chung của nhân loại, vừa chỉ ra
mỗi dân tộc do điều kiện lịch sử - cụ thể mà con đường phát triển riêng, đặc thù.
24


Theo cô giáo:
Tính khoa học thể hiện ở 2 nội dung:
+ Học thuyết HTKT-CT nó thể hiện quan điểm duy vật triệt để của triết học Mác, đưa quan niệm
duy vật giải quyết, giải thích các vấn đề về XH, đưa ra phương pháp nhận thức đúng về các hiện tượng
XH.
Xét đến cùng TH Mác muốn truyển tải : “ Trong xã hội, vật chất quyết định ý thức, yếu tố kinh tế
sẽ thể hiện, quyết định, chi phối. => Bất kì hiện tượng phức tạp, rối ren trên thế giới xét đến cùng cũng
là do yếu tố kinh tế chi phối, vì vậy phải xem xét đến yếu tố kinh tế.
+ Nó cung cấp cách thức phân chia lịch sử phát triển của nhan loại một cách khoa học và nó chỉ
ra yếu tố quyết định và tính quy luật khách quan của sự phát triển xã hội. => Như vậy, muốn phát triển
xã hội phải bắt đầu phát triển từ kinh tế. Theo triết học Mác, lịch sử phát triển của xã hội theo hình thái
phát triển KT-XH.
Ý nghĩa phương pháp luận (4 ý nghĩa):
+ Phải tạo ra sự thay đổi của XH bằng sự bắt đầu của yếu tố kinh tế (sự phát triển kinh tế).
+ Xã hội phải nằm trong tổng thể các liên hệ, quan hệ.
+ Xã hội rất phức tạp vì vậy phải nhận thức đúng các liên hệ, quan hệ này và muốn cải tạo xã hội
thì phải tiến hành đồng bộ, bắt đầu từ lực lượng sản xuất.
+ Vì sự phát triển XH là 1 quá trình lịch sử tự nhiên nên phải nhận thức đúng các quy luật khách
quan trong xã hội để tác động, có thể thúc đẩy sự phát triển nhanh của XH.
VD: Việt Nam ra nhập WTO, những ưu thế và thách thức phải nhận thức đúng.
* Vận dụng lý luận HTKT-XH đối với việc nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con đường đi
lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay?
C.Mác và Ph.Ăngghen đã vận dụng lý luận HTKT-XH để phân tích về xã hội hiện thực là xã hội
tư bản. Hai ông đã tìm ra quy luật phát sinh, phát triển và diệt vong của nó, đồng thời dự báo về sự ra
đời hình thái kinh tế - xã hội mới cao hơn – hình thái cộng sản chủ nghĩa – mà giai đoạn đầu là chủ
nghĩa xã hội.
C.Mác và Ph.Ăngghen đánh giá cao vai trò lịch sử của chủ nghĩa tư bản trong việc phát triển lực
lượng sản xuất, tạo ra nền đại công nghiệp cơ khí và gắn liền với nó là giai cấp vô sản cách mạng. Đó
là lực lượng sản xuất có tính chất xã hội. Chủ nghĩa tư bản càng phát triển thì nền đại công nghiệp và
giai cấp vô sản càng phát triển. Chính sự ra đờicủa nền đại công nghiệp đã quyết định thắng lợi của chủ
nghĩa tư bản đối với xã hội phong kiến, thì đến lượt nó, sự phát triển của nền đại công nghiệp làm cho
nền sản xuất có tính chất xã hội mâu thuẫn với chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa. Sự phát
triển của lực lượng sản xuất có tính chất xã hội đòi hỏi phải “thủ tiêu mâu thuẫn ấy”, phải “tự giải thoát
khỏi cái tính chất tư bản của chúng, đến chỗ thực tế thừa nhận tính chất của chúng là những lực lượng
sản xuất xã hội.
+ Lý luận về hình thái kinh tế – xã hội nói chung và nguyên lý về sự phát triển các hình thái kinh
tế, là một quá trình lịch sử tự nhiên giúp chúng ta có một cơ sở khoa học để đi sâu nhận thức xã hội,
quy luật phát triển của nó, chống CNDT, CNDV máy móc về xã hội.
+ Đảng ta nhất quán cho rằng, trong thời đại ngày nay, thời đại quá độ từ CNTB lên CNXH trên phạm
vi thế giới, mở đầu bằng Cách mạng tháng 10 Nga, việc Việt Nam đi từ cách mạng dân tộc dân chủ
nhân dân lên CNXH, bỏ qua chế độ TBCN là sự chọn đúng đắn, phù hợp với sự phát triển lịch sử nhân
loại và đất nước ta (Phân tích những khó khăn, thuận lợi và bài học của 10 năm đổi mới ở nước ta).
+ Để tiến lên một xã hội mới – xã hội XHCN, chúng ta phải phát triển mạnh mẽ LLSX, tiến hành
CNH-HĐH, từng bước thiết lập QHSX XHCN từ thấp đến cao phù hợp với trình độ phát triển của
LLSX và củng cố, hoàn thiện KTTT XHCN.
Đảng ta cho rằng, theo quy luật phát triển các hình thái kinh tế – xã hội ở Việt Nam hiện nay là phát
triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng XHCN, phải làm cho kinh tế quốc doanh
và kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng của nền kinh tế quốc dân. Xây dựng KTTT XHCN, xây
dựng nhà nước XHCN của dân, do dân và vì dân dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản, trên cơ sở lấy
chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi hoạt
động cách mạng
25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×