Tải bản đầy đủ

HỌC PHẦN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA CHÍNH SÁCH CẠNH TRANH VÀ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ (SHTT

HỌC PHẦN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA CHÍNH
SÁCH CẠNH TRANH VÀ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ
TUỆ (SHTT)
Mục lục
Giới thiệu .........................................................................................................................2
Chương 1 .........................................................................................................................3
Tổng quan về chính sách cạnh tranh và quyền SHTT .....................................................3
1.1 Chính sách cạnh tranh ..........................................................................................3
1.2 Quyền SHTT ........................................................................................................5
1.3 Cạnh tranh và quyền SHTT tại Việt Nam ............................................................7
Chương 2 .........................................................................................................................12
Những quan ngại về cạnh tranh từ cơ chế quyền SHTT .................................................12
2.1 Các thoả thuận hạn chế cạnh tranh liên quan đến cấp giấy phép.........................12
2.2. Lạm dụng vị trí thống lĩnh có được nhờ quyền SHTT .......................................15
2.3. Những vụ sáp nhập và mua lại liên quan đến quyền SHTT ...............................16
2.4. Một số ví dụ của hành vi phản cạnh tranh liên quan đến quyền SHTT ..............16
2.5. Quyền SHTT và luật cạnh tranh: Đối lập hay bổ sung .......................................21
Chương 3 .........................................................................................................................23
Giải quyết các quan ngại liên quan đến quyền SHTT .....................................................23
3.1. Cấp phép bắt buộc ...............................................................................................23
3.2. Nhập khẩu song song ..........................................................................................25

Tài liệu tham khảo ..........................................................................................................27


Giới thiệu
Chính sách cạnh tranh là để đảm bảo cạnh tranh công bằng trong nền kinh tế. Điều đó có nghĩa là
nó cho phép sử dụng các biện pháp và hành vi can thiệp nhằm đảm bảo rằng quá trình kinh tế
không bị độc quyền bởi những thành tố nhất định mà trái lại khuyến khích các công ty tham gia
thị trường và cạnh tranh với các công ty đã có mặt ở đó trên cơ sở công bằng. Trái lại quyền
SHTT (IPR) cho phép người nắm giữ được độc quyền từ đó tạo ra hiện tượng độc quyền đối với
sản phẩm hay dịch vụ được bảo hộ. Về mặt này, nếu chỉ nhìn bề ngoài, chính sách cạnh tranh và
quyền SHTT có vẻ như có những mục tiêu đối lập.
Do đó một số vấn đề cần phải được giải quyết. Một vấn đề là liệu chính sách cạnh tranh và các
mục tiêu quyền SHTT có thực sự mâu thuẫn hay chúng cũng có thể bổ sung cho nhau. Vấn đề
khác là làm thế nào mà những người nắm giữ quyền SHTT vẫn có thể có quyền lợi độc quyền
trong những hạn chế của luật cạnh tranh, vì rằng chúng gần như là doanh nghiệp độc quyền.
Cũng tương tự, một điều cần quan tâm là liệu có biện pháp nào mà chính phủ và các cơ quan
cạnh tranh có thể sử dụng để đảm bảo tồn tại những cơ chế cho phép những người nắm giữ
quyền SHTT có quyền lợi độc quyền mà không bằng việc lạm dụng.
Hợp phần này sẽ đề cập đến những vấn đề về mối quan hệ giữa cạnh tranh và quyền SHTT. Hợp
phần này sẽ chỉ đề cập ngắn gọn đến những vấn đề chung về hai nội dung này làm nền tảng từ đó
thảo luận về các vấn đề về mối quan hệ giữa chúng mà không định đề cập đến những vấn đề về
chính sách cạnh tranh và quyền SHTT. Do đó, hợp phần này chủ yếu dựa trên giả định rằng
người đọc đã có hiểu biết về hai vấn đề này nếu không người đọc có thể tham khảo danh sách tài
liệu tham khảo trong mục 5 để biết thêm chi tiết. Chương 1 sẽ đề cập đến những vấn đề chung về
chính sách cạnh tranh và quyền SHTT, cũng như nội dung ngắn gọn về thực trạng cạnh tranh và
quyền SHTT tại Việt Nam. Chương 2 đề cập đến những quan ngại thông thường về cạnh tranh
cùng với cơ chế quyền SHTT, và một số ví dụ để minh hoạ cách giải quyết những lo ngại này.
Chương 3 đề cập đến hai phương thức xử lý chung đối với việc kiểm soát lạm dụng độc quyền
do quyền SHTT là cấp giấy phép bắt buộc và nhập khẩu song song. Kết thúc hợp phần là một số
sách tham khảo.

2


CHƯƠNG 1.
TỔNG QUAN VỀ CHÍNH SÁCH CẠNH TRANH VÀ QUYỀN SHTT
1.1. Chính sách cạnh tranh
Là một gói các cải cách và chính sách được chính phủ ban hành để tác động lên cạnh tranh trên
thị trường trong nước; chính sách cạnh tranh gồm có nhiều thành phần. Chính sách này bao gồm
cơ chế điều tiết thương mại quốc tế, bởi vì một chính sách thương mại đóng sẽ làm cản trở cạnh

tranh trên thị trường và dẫn đến việc một số doanh nghiệp độc quyền trong nước sẽ lũng đoạn thị
trường. Tự do hoá thương mại dẫn tới số lượng hàng hoá ngày càng tăng, điều này cũng có thể
tác động lớn đến bản chất và mục tiêu của cạnh tranh trên thị trường.
Các quy định liên quan chủ yếu đến việc gia nhập thị trường và thành lập doanh nghiệp trong
nước, là một phần của cơ chế chính sách công nghiệp, cũng góp phần quan trọng thúc đẩy cạnh
tranh. Một chính sách cạnh tranh hiệu quả tạo điều kiện dỡ bỏ những trở ngại và khuyến khích
những dòng chảy đầu tư bằng cách tạo ra một môi trường pháp luật và quy định có thể dự đoán
được làm giảm quy mô quyết định mang tính chuyên quyền, từ đó đưa tính minh bạch vào hệ
thống.
Các sáng kiến tư nhân hoá cũng là một phần của chính sách cạnh tranh vì chúng quyết định bản
chất của cạnh tranh trên thị trường. Sự tham gia trực tiếp của chính phủ vào quá trình sản xuất và
phân phối của nền kinh tế thường làm mất tính chất trung lập trong cạnh tranh, vì sự hỗ trợ của
chính phủ đối với các công ty của mình sẽ không giống như đối với các công ty tư nhân. Tương
tự, các cải cách tư nhân hoá có thể chỉ đơn giản là chuyển giao độc quyền từ khu vực nhà nước
sang khu vực tư nhân và nếu không được chú trọng thậm chí có thể gây ra các tác hại nghiêm
trọng lên cạnh tranh của nền kinh tế.
Chính sách cạnh tranh thường bao gồm các quy định riêng của ngành. Thông qua vai trò điều
tiết, hành động và kiến nghị của các cơ quan pháp lý có ảnh hưởng trực tiếp đến cạnh tranh, vì
các quan này sẽ quyết định điều kiện gia nhập (thông qua việc cấp giấy phép) và sự tồn tại
(thông qua quy định về thuế). Một số cơ quan, đặc biệt là những cơ quan được thành lập trước
khi có sự ra đời của cơ quan cạnh tranh cũng tham gia giải quyết các vấn đề liên quan đến cạnh
tranh. Do đó, hướng tiếp cận các cải cách pháp lý của một nước thông qua các chính sách của nó
sẽ quyết định bản chất chủ yếu của cạnh tranh của một nền kinh tế.
1.1.1 Luật Cạnh tranh
Luật cạnh tranh, một thành phần khác của chính sách cạnh tranh, cần phải được đặc biệt chú
trọng. Luật này thường bao gồm các điều khoản tập trung vào 3 vấn đề: điều tiết các hành vi hợp
3


nhất và sáp nhập phản cạnh tranh, cấm việc lạm dụng vị trí độc quyền và cấm hành vi phản cạnh
tranh giữa các công ty. Ở một số quốc gia khác, luật cạnh tranh cũng gồm việc kiểm soát hành vi
thương mại không công bằng.
Các doanh nghiệp có thể sử dụng hợp nhất và sáp nhập như là một công cụ thực hiện các hành vi
phản cạnh tranh, đặc biệt là nếu nhờ sáp nhập các công ty có thể có được quyền lực thị trường.
Luật cạnh tranh là để xác định xem liệu hợp nhất và sáp nhập có khả năng làm giảm đáng kể
cạnh tranh trên thị trường. Nếu khả năng đó là có thì sáp nhập sẽ bị cấm, hoặc được chấp nhận
nếu sự sáp nhập này mang lại lợi ích nhất định cho công chúng và đảm bảo thiệt hại ở mức thấp
nhất.
Các hành vi hạn chế thương mại (RBPs) gồm có hai loại - thoả thuận phản cạnh tranh và lạm
dụng vị trí độc quyền. Các thoả thuận phản cạnh tranh có thể được phân thành thoả thuận theo
chiều ngang và theo chiều dọc; cũng tương tự hành vi lạm dụng vị trí độc quyền có thể được
phân loại thành lạm dụng bóc lột và lạm dụng loại trừ. Có trường hợp một phân tích chi phí-lợi
ích phải được tiến hành trước khi hành vi RBPs bị cấm; trong các trường hợp khác, chỉ cần sự
tồn tại của hành vi là đủ để khẳng định sự trái pháp luật.
Các thoả thuận hạn chế cạnh tranh theo chiều ngang hoặc cácten từ trước đến nay vẫn được coi
là có khả năng gây hậu quả nghiêm trọng nhất trong tất cả các hành vi phản cạnh tranh và hay bị
phạt nhất. Cácten là các thoả thuận giữa các công ty sản xuất và bán cùng một loại sản phẩm với
mục đích thu được và chia sẻ lợi nhuận độc quyền. Các cách thức thường thấy là thống nhất một
mức giá tiêu chuẩn tương đối cao trên một sản phẩm và các doanh nghiệp thành viên sẽ không
được bán thấp hơn mức đó (ví dụ như cácten cố định giá), phân chia thị trường theo lãnh thổ địa
lý hoặc phân khúc người tiêu dùng và trao cho nhau quyền hạn độc quyền tại các địa
phương/phân đoạn thị trường riêng lẻ (ví dụ cácten phân bổ thị trường hoặc chia sẻ khách hàng),
đồng ý hạn chế số lượng đầu ra (cácten hạn chế số lượng đầu ra) hoặc cấu kết trong việc bỏ thầu
(thông đồng đấu thầu).
Các thoả thuận theo chiều dọc là muốn nói đến những thoả thuận giữa các doanh nghiệp đều có
mối quan hệ nhà cung cấp-khách hàng, ví dụ như giữa một nhà sản xuất và người bán buôn, hoặc
một người bán buôn và người bán lẻ. Những thoả thuận như vậy là phản cạnh tranh1 nếu chúng
dẫn tới việc ngăn cản sự gia nhập thị trường, đặc biệt khi các công ty khác có nhu cầu tương tự
về dịch vụ không còn có thể tiếp cận với sản phẩm bởi vì đối thủ cạnh tranh đã thoả thuận với
nhà cung cấp và được quyền chọn đầu tiên. Điều này bao gồm việc duy trì giá bán lại, (nếu một
nhà cung cấp và nhà phân phối thoả thuận rằng nhà phân phối sẽ bán sản phẩm của nhà cung cấp
với một mức giá nhất định bằng hoặc trên/dưới mức giá sàn/trần), độc quyền kinh doanh (nếu
một nhà bán lẻ hoặc nhà bán buôn bị “buộc” phải mua từ một nhà cung cấp) và hành vi bán kèm
1

Thoả thuận theo chiều dọc nói chung không phải là phản cạnh tranh nếu chúng có thể không ảnh hưởng đến hoặc
có ảnh hưởng mang tính tích cực đến cạnh tranh. Do đó, cần phải phân biệt rõ giữa những thoả thuận bị phạt theo
luật cạnh tranh như đã xem xét ở phần này với các thoả thuận có thể không bị cấm theo luật cạnh tranh.

4


(nếu các doanh nghiệp ở khâu sau buộc phải đồng ý mua một sản phẩm nhất định để được phép
mua một sản phẩm không liên quan).
Lạm dụng vị trí độc quyền tồn tại nếu một doanh nghiệp giữ vị trí độc quyền thực hiện các hành
vi với mục đích làm giảm hoặc chặn đứng cạnh tranh trên thị trường. Một doanh nghiệp có vị trí
độc quyền nếu nó ở vị trí có thể kiểm soát các kết quả của thị trường đối với một hàng hoá hoặc
dịch vụ cụ thể, thông qua hành vi cá nhân. Vấn đề chính không phải là độc quyền, bởi vì đây có
thể chỉ là kết quả của việc có được lợi thế trong kinh doanh, nhưng nếu vị trí độc quyền đó bị
lạm dụng sẽ ảnh hưởng xấu đến cạnh tranh trên thị trường. Điều này bao gồm hành vi bóc lột
(những hành vi mà một doanh nghiệp ở một vị trí độc quyền tham gia vào các hành vi với mục
đích thu được lợi nhuận bằng cách lợi dụng khách hàng hoặc đối thủ cạnh tranh) và hành vi loại
trừ (với mục đích đàn áp cạnh tranh hoặc loại bỏ các đối thủ cạnh tranh ra khỏi thị trường).
1.2. Quyền SHTT
Nói chung SHTT là muốn nói đến những sản phẩm về trí óc, sự sáng tạo và những nỗ lực mang
tính trí tuệ. Quyền SHTT (IPR) là những quyền mà những người tạo ra và sở hữu tài sản trí tuệ
được hưởng, ví dụ tài sản là những tác phẩm do sự sáng tạo trí tuệ của con người trong lĩnh vực
công nghiệp, khoa học, văn học và nghệ thuật. Những người sở hữu có quyền không cho người
khác được tiếp cận hoặc sử dụng tác phẩm trong một khoảng thời gian nhất định. Những người
sở hữu IPR cũng có quyền cấp phép cho người khác được sử dụng những cải biến này nếu bản
thân họ không có khả năng khai thác về mặt thương mại trên quy mô lớn. Luật cũng quy định
các biện pháp chế tài trong những trường hợp quyền của người sở hữu bị vi phạm.
Nhìn chung, quyền SHTT là cách khuyến khích những đổi mới cũng như đảm bảo rằng những
người mang lại những đổi mới sẽ được bù đắp những chi phí nghiên cứu và phát triển phát sinh
trong việc phát triển sản phẩm mới mà không bị sao chép bởi “những kẻ ăn theo”. Điều này bắt
nguồn từ việc nhận thức rằng những người đổi mới sẽ không có động lực để bỏ ra những nguồn
lực để phát triển những ý tưởng mới nếu các đối thủ cạnh tranh khác có thể dễ dàng sao chép
những tác phẩm của họ mà lại không phải bỏ ra chi phí tương tự.


Quyền tác giả
Quyền tác giả sẽ cho người nắm giữ được độc quyền thực hiện hoặc uỷ quyền cho người
khác thực hiện những hoạt động nhất định trong các lĩnh vực như các tác phẩm văn học,
nhạc kịch và nghệ thuật, phim điện ảnh, thu âm. Thời gian quyền tác giả được bảo hộ là
suốt cuộc đời và 60 năm sau khi người đó qua đời. Người sở hữu bản quyền được độc
quyền sao chép tác phẩm và đưa ra công chúng cũng như quyền tái sản xuất, dịch, thay đổi
và biểu diễn trước công chúng. Tuy nhiên, chủ sở hữu có thể chỉ định hoặc cấp giấy phép
toàn bộ hoặc một phần cho người khác.



Bằng sáng chế
5


Trường hợp này muốn nói đến quyền lợi độc quyền đối với một phát minh, đó có thể là
một sản phẩm hoặc một quy trình cho phép hướng tiếp cận mới khi làm một việc gì đó,
hoặc một phương án giải quyết vấn đề về mặt kỹ thuật. Sáng chế được bảo hộ trong một
khoảng thời gian nhất định, thường là 20 năm kể từ ngày nộp hồ sơ cấp bằng sáng chế. Một
số quốc gia cho phép kéo dài thời gian này trong một số trường hợp ngoại lệ (ví dụ các sản
phẩm thuốc nông dược mà chỉ được cho phép đưa ra thị trường sau một quy trình mất rất
nhiều thời gian). Tuy nhiên, bằng sáng chế không được cấp cho những phát minh phù
phiếm, tức là những thứ đã rõ ràng hoặc trái với luật tự nhiên/quốc tế đã có từ xưa hoặc trái
với đạo đức; phát minh ảnh hưởng đến sức khoẻ và tài sản công cộng; hoặc chỉ là tìm ra
cách sử dụng mới đối với một chất, quy trình, máy móc hoặc bộ máy đã biết nếu quy trình
đã biết đó không dẫn tới sự ra đời một sản phẩm mới.


Thương hiệu
Một thương hiệu là một biểu tượng về hình ảnh dưới hình thức một từ, một hình vẽ hay
một một nhãn mác để phân biệt sản phẩm với những hàng hoá tương tự do người khác sản
xuất. Ví dụ như chữ “H” trong nhãn hiệu của Honda, “M” trong MacDonalds và kiểu cách
và hình dáng của chữ “Cocacola” chính là thương hiệu của hãng này. Thương hiệu thường
được bảo hộ trong vòng 10 năm, mặc dù chúng có thể được gia hạn sau khi nộp phí gia hạn
với người đăng ký. Việc sử dụng thương hiệu đã đăng ký mà không được sự cho phép của
người sở hữu hoặc cố ý phát triển một thương hiệu tương tự là hành vi vi phạm thương
hiệu.



Kiểu dáng công nghiệp
Quyền đối với kiểu dáng công nghiệp muốn nói tới việc độc quyền đối với thiết kế về hình
ảnh của sản phẩm. Đây là quyền của người sở hữu đối với thiết kế công nghiệp, bao gồm
việc tạo ra một hình dạng, kết cấu hoặc bố cục hoa văn hoặc màu sắc, hoặc sự kết hợp màu
sắc và hoa văn.



Chỉ dẫn địa lý
Quyền đối với chỉ dẫn địa lý là muốn nói tới một sản phẩm được hình thành ở một vùng đất
hoặc một lãnh thổ nhất định của người nắm giữ, và chính nguồn gốc địa lý này góp phần
quan trọng hình thành tính chất, uy tín hoặc các đặc điểm nhất định của hàng hoá. Cũng
giống như thương hiệu, đây là những đặc điểm nhận dạng về nguồn gốc và sự bảo đảm về
chất lượng.



Bí quyết thương mại
6


Quyền đối với bí quyết thương mại cho người sở hữu quyền đối với một công thức, thiết kế
hay tập hợp các thông tin mà đối thủ cạnh tranh hoặc người tiêu dùng sẽ không được biết
đến hoặc có thể biết chắc một cách hợp lý. Do đó bí quyết thương mại gắn với những thông
tin thường không được biết đến một cách rộng rãi mang lại lợi ích kinh tế nhất định cho
người sở hữu bởi vì lợi ích đó có được chủ yếu là vì thông tin đó không được biết đến.
Trong bối cảnh đa quốc gia, việc thoả thuận các khía cạnh thương mại của hiệp định quyền
SHTT (hiệp định TRIPS), có hiệu lực kể từ ngày 1 tháng 1 năm 1995 và cho đến này vẫn là hiệp
định đa phương toàn diện nhất về quyền SHTT điều tiết đa dạng về quyền SHTT. Mục đích của
hiệp định này là giảm những méo mó và trở ngại trong thương mại quốc tế và ủng hộ các biện
pháp bảo hộ phù hợp đối với quyền SHTT. Để đảm bảo điều này, hiệp định TRIPS về cơ bản là
nhằm bảo hộ lợi ích của người sáng chế.
1.3. Cạnh tranh và quyền SHTT tại Việt Nam
1.3.1. Luật cạnh tranh

Vào ngày 3 tháng 12 năm 2004, kỳ họp 6 Quốc hội IX đã thông qua Luật Cạnh tranh, có hiệu lực
vào tháng 7 năm 2005. Luật áp dụng với tất cả các doanh nghiệp thương mại và các hiệp hội
thương mại và nghề nghiệp ở Việt Nam; các doanh nghiệp và hiệp hội nước ngoài đăng ký tại
Việt Nam; các doanh nghiệp phục vụ lợi ích công và các doanh nghiệp độc quyền nhà nước; và
các cơ quan hành chính Nhà nước. Luật này thay thế tất cả các luật khác ban hành tại Việt Nam
liên quan đến hành vi hạn chế cạnh tranh và hành vi thương mại không công bằng.
Hai cơ quan nhà nước được lập ra để thực thi luật là - Cục quản lý cạnh tranh (với quyền hạn
điều tra), thuộc Bộ Công thương Việt Nam và Hội đồng Cạnh tranh (với quyền hạn xét xử).
Năm hành vi phản cạnh tranh bị cấm là:


thoả thuận hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể (Điều 8)



lạm dụng vị trí thống lĩnh hoặc vị trí độc quyền (điều 13 & 14)



“tập trung kinh tế” hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể (Điều 18)



hành vi cạnh tranh không lành mạnh (Điều 39); và



hành vi/quyết định phản cạnh tranh bởi các quan chức hoặc các cơ quan hành chính Nhà
nước, lợi dụng quyền lực của họ (điều 120).

Các thoả thuận phản cạnh tranh bao gồm ấn định giá, chia sẻ thị trường, hạn chế sản lượng đầu
ra, hạn chế đầu tư hoặc phát triển kỹ thuật; áp đặt điều kiện hợp đồng lên các doanh nghiệp khác;
hạn chế sự gia nhập thị trường; loại trừ các bên không phải là thành viên khỏi thị trường; và
thông đồng đấu thầu.
7


Luật quy định nhóm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường nếu các doanh nghiệp có tổng
thị phần là 50% (đối với hai thực thể); 65% (đối với ba thực thể); và 75% (đối với bốn) của thị
trường liên quan. (Điều 11) Doanh nghiệp được coi là có vị trí thống lĩnh thị trường nếu có thị
phần từ 30% trở lên, hoặc “có khả năng hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể”. Doanh nghiệp
thống lĩnh thường bị cấm không tham gia các hành vi bóc lột với mục đích loại bỏ đối thủ cạnh
tranh, phân biệt đối xử giữa những quốc gia khác nhau trong giao dịch như nhau, ngăn cản sự
tham gia thị trường, và tham gia vào “các hành vi khác” nhằm hạn chế cạnh tranh như được quy
định bởi luật…(Điều 13)
Một công ty có vị trí độc quyền thị trường nếu không có đối thủ cạnh tranh đối với những hàng
hoá và dịch vụ mà doanh nghiệp đó kinh hoanh hoặc cung cấp. (Điều 12) Doanh nghiệp độc
quyền bị cấm không được tiến hành các hành vi lạm dụng như quy định tại điều 13 của Luật này,
cũng như áp đặt các điều kiện bất lợi cho khách hàng; đơn phương thay đổi hoặc huỷ bỏ hợp
đồng mà không có lý do chính đáng; từ chối giao dịch hoặc phân biệt đối xử với khách hàng mà
không có lý do chính đáng hoặc bất kỳ hành vi nào bị cấm theo pháp luật. (Điều 14)
Các hoạt động tập trung kinh tế được định nghĩa là bất kỳ hành vi nào của doanh nghiệp có mục
đích kiểm soát hoạt động của các doanh nghiệp khác, bao gồm nhưng không giới hạn đối với
hành vi sáp nhập, mua lại và hợp nhất. (Điều 16-17)
Tất cả các vụ việc tập trung kinh tế mà thị phần kết hợp của các doanh nghiệp liên quan chiếm
trên 50% đều bị cấm trừ trường hợp, (1) doanh nghiệp sau khi thực hiện tập trung kinh tế vẫn là
doanh nghiệp vừa và nhỏ (khái niệm được định nghĩa trong luật) hoặc (2) Thủ tướng cho phép
miễn trừ (Điều 18-19)
Liên quan đến các hành vi cạnh tranh không lành mạnh, Luật cấm: chỉ dẫn gây nhầm lẫn; xâm
phạm bí mật kinh doanh; hành vi hối lộ, xúi giục hoặc cưỡng ép; gièm pha doanh nghiệp khác;
gây rối hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác, quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành
mạnh; khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh; phân biệt đối xử trong phạm vi hoặc bởi
hiệp hội ngành và bán hàng đa cấp bất chính (Điều 39)
1.3.2. Quyền SHTT tại Việt Nam

Cơ chế bảo hộ SHTT (IP) của Việt Nam, trước năm 1995, khi đất nước Đông Nam Á này nộp
đơn xin gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO), chủ yếu được áp dụng dựa vào “văn bản
dưới luật”. Do đó trung tâm của khung pháp lý chung là Bộ luật Dân sự 1995 (Phần VI), bên
cạnh một số văn bản quy phạm pháp luật dưới luật khác ví dụ như, Sắc lệnh 1994 về bảo hộ bản
quyền, Nghị định 63/1996/CP của Chính phủ quy định chi tiết về tài sản công nghiệp; hoặc Nghị
định 76/1996/CP hướng dẫn thực thi các điều khoản về bản quyền trong Bộ luật Dân sự 1995.
Những quy định trên bảo hộ những đối tượng như sau: phát minh (trong thời hạn 15 năm), giải
pháp hữu ích (6 năm), kiểu dáng công nghiệp (5 năm, được gia hạn 2 đợt, mỗi đợt 5 năm),
8


thương hiệu (10 năm, gia hạn liên tiếp với mỗi đợt là 10 năm), và tên gọi xuất xứ và các tác
phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học. Các vi phạm về quyền SHTT chủ yếu được xử lý bởi các
biện pháp hành chính. Mặc dù có quyền hạn xử lý các vụ việc tranh chấp về SHTT, mức độ tham
gia của toà án vào các vụ việc liên quan đến IP vẫn còn rất hạn chế bởi toà án chưa xử lý các vụ
việc như vậy và các văn bản có liên quan cũng chưa phải là luật, ít nhất là cho đến khi Luật Dân
sự 1995 (Phần VI) được ban hành.
So với Cam kết WTO về các khía cạnh thương mại của Quyền SHTT (từ đây gọi là “Cam kết
TRIPS”) tại thời điểm đó cơ chế IP của Việt Nam chưa thể được gọi là hoàn thiện hoặc tuân thủ
TRIPS. Nhìn chung, cơ chế này lúc đó là chưa đầy đủ và không hiệu quả. Một số đối tượng được
yêu cầu bởi Cam kết TRIPS vẫn chưa được bảo hộ tại Việt Nam (ví dụ bí quyết thương mại, chỉ
dẫn địa lý, thiết kế bố trí mạch tích hợp, quyền ngăn chặn cạnh tranh). Về những đối tượng được
luật bảo hộ, thậm chí có nhiều điều khoản không tuân thủ Cam kết TRIPS (ví dụ như thời hạn
bảo hộ 15 năm đối với phát minh, việc thiếu cơ chế bảo hộ đối với những thương hiệu nổi
tiếng…).
Bước ngoặt đầu tiên là vào năm 2000, khi Việt Nam ký hiệp định thương mại song phương
(BTA) với Hoa Kỳ. Hiệp định thể hiện cam kết của chính phủ Việt Nam từng bước thực thi có
hiệu quả các cam kết của TRIPS trong WTO. Kể từ đó, song song với đàm phán gia nhập WTO,
và quá trình này đã thành công vào năm ngoái, cơ chế IP của Việt Nam đã trải qua những chuyển
biến quan trọng, đặc biệt là với sự ban hành nhiều luật mới trong lĩnh vực này. Thách thức lớn
nhất đối với Việt Nam, tuy nhiên lại ở việc thực thi có hiệu quả những điều khoản được quy định
trong luật mới, bởi vì các vấn đề liên quan đến SHTT vẫn còn khá mới đối với nền kinh tế thị
trường non trẻ này. Nhiều khó khăn còn ở phía trước; do đó Việt Nam cần phải có sự khoan
dung hơn từ phía các thành viên khác của WTO.
Năm 2005, Việt Nam đã ban hành những sửa đổi Bộ luật Dân sự và một lần nữa khẳng định
những nguyên tắc dân sự cơ bản của quyền SHTT (Phần VI của Bộ luật), cũng như Luật SHTT
điều chỉnh tất cả các khía cạnh của quyền SHTT. Bộ luật Dân sự mới này (từ đây gọi là Bộ luật
dân sự 2005) có hiệu lực vào ngày 1 tháng 1 năm 2006; và Luật SHTT mới (từ đây gọi là luật
SHTT 2005) có hiệu lực vào ngày 1 tháng 7 năm 2006. Hai văn bản này đã hình thành một hệ
thống các quy định hoàn chỉnh và thống nhất hơn về SHTT của Việt Nam, thay thế cho các luật
trước đó.
Tuy nhiên, luật mới vẫn dựa chủ yếu vào luật trước đó. Trong trường hợp có xung đột giữa Luật
SHTT 2005 và các điều khoản về SHTT của Bộ luật Dân sự 2005, luật SHTT 2005 sẽ được áp
dụng (Điều 5.2 của luật). Các quyết định và nghị định khác về bản quyền, SHTT, giống cây
trồng, và thực thi quyền SHTT hướng dẫn thực thi Luật SHTT 2005 cũng đã được ban hành
trong tháng 9 năm 2006.

9


Điểm nổi bật của Luật SHTT 2005 là các điều khoản mới, rõ ràng hơn về việc bảo hộ các thương
hiệu nổi tiếng, và các cơ chế thực thi mạnh mẽ hơn. Đáng chú ý là, điều 75 của Luật đã đưa ra 8
tiêu chuẩn cụ thể mà một thương hiệu nổi tiếng phải đáp ứng. Tiêu chuẩn này bao gồm, không kể
những cái khác, số lượng các quốc gia tại đó mà thương hiệu này đăng ký, và số lượng “các
khách hàng có liên quan” biết đến sản phẩm nhờ mua hoặc sử dụng hàng hoá hay dịch vụ khi
biết đến thương hiệu đó hoặc qua quảng cáo. Nhận dạng và bảo hộ các thương hiệu là hết sức
quan trọng tại Việt Nam bởi vì: (i) Việt Nam áp dụng nguyên tắc người đăng ký đầu tiên, (ii)
thương hiệu của nhiều công ty dễ bị loại bỏ bởi không sử dụng đến, và (iii) những thương hiệu
nổi tiếng thường được sao chép ở những hàng hoá và dịch vụ không tương tự.
Về mặt thực thi, Luật SHTT 2005 đã có nhiều điểm tiến bộ, trong đó có một điều khoản quy định
trong những trường hợp không xác định được mức độ thiệt hại gây ra bởi vi phạm (kể cả vi phạm
thương hiệu, bằng sáng chế hay bản quyền), toà án đã đưa ra mức bồi thường thiệt hại từ
5.000.000VND (US$300) đến 500.000.000 (US$30.000). Điều khoản này cho phép quan toà đưa
ra mức thiệt hại nhằm hạn chế đáng kể vi phạm. Trước đây, các quy định không cho phép được
đưa ra mức bồi thường thiệt hại đáng kể trong những trường hợp như vậy.
Các bộ và cơ quan nhà nước chính chịu trách nhiệm tạo lập và thực thi chính sách SHTT là Bộ
Khoa học và Công nghệ; Bộ Văn hoá và Thông tin; Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; Bộ
Tư pháp; Bộ Tài chính; và Bộ Thương mại; Cục xuất nhập cảnh (trực thuộc Bộ Tài chính), Văn
phòng quốc gia về SHTT (NOIP- trực thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ); và Cục Bản quyền
(trực thuộc Bộ Văn hoá và Thông tin). Việc thực thi các luật SHTT về mặt hành chính được giao
cho cơ quan hải quan, các cơ quan kiểm soát thị trường, cảnh sát kinh tế, cơ quan thanh tra Văn
hoá và Thông tin, cơ quan thanh tra Khoa học và công nghệ và uỷ ban nhân dân tại cấp tỉnh và
huyện.
1.3.3. Điểm chung giữa quyền SHTT và Luật cạnh tranh?

Liên quan đến bảo hộ quyền SHTT, Luật cạnh tranh miễn trừ đối với các hành vi cản trở cạnh
tranh, “thúc đẩy các tiến bộ khoa học và kỹ thuật, nâng cao chất lượng hàng hoá và dịch vụ”2.
Các vụ việc tập trung kinh tế, nếu không bị cấm bởi luật pháp sẽ được miễn trừ nếu chúng góp
phần “tiến bộ khoa học và kỹ thuật”3. Trong các trường hợp khác, luật cấm các thỏa thuận hạn
chế cạnh tranh, lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường và lạm dụng vị trí độc quyền ngầm bao gồm
các hành vi đó, mặc dù IPRs có được coi là một nhân tố của hành bi đó hay không.
Hơn nữa, điều 5(1) của Luật cũng quy định rằng “nếu có sự không nhất quán giữa các điều
khoản của Luật này và các điều khoản của các luật khác, liên quan đến các hành vi phản cạnh
tranh và cạnh tranh không công bằng, các điều khoản của Luật này sẽ được áp dụng”. Luật
SHTT 2005 cũng củng cố điều này như sau “việc thực hiện các quyền SHTT sẽ không xâm
2
3

Điều 10 (1), VCL
Điều 19 (2), VCL

10


phạm lợi ích của nhà nước và của quần chúng, lợi ích và quyền lợi hợp pháp của các tổ chức và
cá nhân khác” và không vi phạm các luật và quy định có liên quan”.4
Trong khi phân loại thoả thuận cấp phép cho tài sản công nghiệp, luật SHTT 2005 công nhận các
thoả thuận độc quyền.5 Tuy nhiên, luật cũng quy định rằng các thoả thuận này sẽ không được
hạn chế quyền của người nhận giấy phép một cách bất hợp lý. Đặc biệt, chúng sẽ không bao gồm
các điều khoản hạn chế mà không xuất phát từ quyền của người cấp phép, ví dụ như sự cải thiện
trong tài sản được cấp giấy phép; quyền xuất khẩu hàng hoá; điều khoản mua hàng và điều
khoản ngăn chặn bên nhận công nghệ khiếu nại về giá trị pháp lý của công nghệ được chuyển
giao.

4
5

Luật quyền SHTT 2005, Điều 7(2)
Luật quyền SHTT 2005, Điều 143 (1)

11


CHƯƠNG 2
NHỮNG QUAN NGẠI VỀ CẠNH TRANH TỪ CƠ CHẾ BẢO VỆ QUYỀN
SHTT
Những quan ngại xuất hiện khi quyền được hưởng theo luật SHTT lại bị lợi dụng để vi phạm các
điều khoản của luật cạnh tranh. Như đã được giải thích trong Chương 1, luật cạnh tranh thường
điều chỉnh các hành vi có liên quan đến 3 lĩnh vực, các thoả thuận phản cạnh tranh, lạm dụng vị
trí độc quyền và các hành vi hợp nhất và sáp nhập phản cạnh tranh. Những người có quyền
SHTT có khả năng tham gia vào các hành vi thuộc ba lĩnh vực trên, với sức mạnh khó cưỡng của
quyền lực thị trường và siêu lợi nhuận. Nội dung bên dưới sẽ giải thích rõ hơn điều này.
2.1. Các thoả thuận hạn chế cạnh tranh liên quan đến cấp giấy phép
Một trong những quyền quan trọng nhất mà các cá nhân được hưởng khi nắm quyền SHTT là
quyền được cấp giấy phép cho các bên khác được khai thác sáng tạo của mình nếu bản thân
người đó có những hạn chế hoặc không có khả năng đáp ứng thị trường một cách đầy đủ. Do đó
bên nhận giấy phép phải cam kết với bên cấp giấy phép về cách thức mà mình sẽ sử dụng giấy
phép. Bởi những thoả thuận như vậy có thể là giữa các đối thủ cạnh tranh hoặc những người
tham gia khác ở thị trường phân khúc sau, chúng có thể làm nảy sinh những quan ngại đối với
những thoả thuận không liên quan đến SHTT.
Những thoả thuận cấp giấy phép ảnh hưởng đến những hoạt động bổ trợ cho nhau, ví dụ như
giữa những người có quyền SHTT và các doanh nghiệp sử dụng sản phẩm được bảo hộ là đầu
vào cho hoạt động của họ thuộc phạm vi những thoả thuận dọc như định nghĩa trong luật cạnh
tranh. Cũng có trường hợp hai bên là đối thủ thực tế hoặc tiềm năng trên thị trường liên quan
trước khi ký thoả thuận cấp và nhận giấy phép có thể được coi là một các-ten theo luật cạnh
tranh. Mặc dù các thoả thuận cấp giấy phép không phải lúc nào cũng dẫn đến hệ quả phản cạnh
tranh, chúng có thể là nguyên nhân dẫn đến các vấn đề về cạnh tranh.
Những hành vi liên quan đến những thoả thuận thúc đẩy bởi quyền SHTT có thể dẫn đến những
quan ngại trong cạnh tranh bao gồm:
(a) Rào cản địa lý
Hành vi này có thể xảy ra khi thoả thuận giữa người cấp và người nhận giấy phép dẫn tới việc
người cấp phép dành riêng cho người nhận giấy phép một lãnh thổ nhất định-đồng nghĩa với việc
cho phép marketing độc quyền. Kết quả là sẽ dễ dàng xuất hiện một doanh nghiệp có vị trí thống
lĩnh hoặc độc quyền trong lãnh thổ đó. Rào cản địa lý có thể gây hại cho cạnh tranh bởi có thể
trở thành cái cớ của một thoả thuận chia sẻ thị trường, do đó chúng sẽ khuyến khích các thoả
thuận phân bổ thị trường giữa các cácten. Chúng hoàn toàn có thể được sử dụng như một công cụ
12


trực tiếp khuyến khích sự cấu kết giữa những người cấp phép cạnh tranh, bằng cách có thể tạo
điều kiện cho vi phạm ở những khâu sau thực hiện những thoả thuận cácten.
(b) Giao dịch độc quyền
Thoả thuận cấp giấy phép có thể yêu cầu người nhận giấy phép phải cam kết chỉ giao dịch độc
quyền với người cấp mà không được giao dịch với các bên khác. Theo các thoả thuận độc quyền
như vậy, người nhận giấy phép sẽ bị cấm không được bán, phân phối hoặc sản xuất sản phẩm sử
dụng những công nghệ của đối thủ cạnh tranh của người cấp giấy phép. Mặc dù điều đó chưa hẳn
là vì mục đích phản cạnh tranh, đặc biệt là trong trường hợp mà mục đích là để tránh việc lợi
dụng ăn theo giữa các đối thủ cạnh tranh, hoặc thúc đẩy sự phát triển của công nghệ được cấp
phép bởi hai bên, những hành vi như vậy cần phải được phân tích một cách kỹ lưỡng. Nếu các
doanh nghiệp tham gia vào các thoả thuận giao dịch độc quyền đã nắm giữ thị phần lớn trên thị
trường sản phẩm liên quan, như vậy sẽ có rủi ro là cạnh tranh có thể bị thu hẹp. Mức độ thiệt hại
đến cạnh tranh cũng phụ thuộc vào sự sẵn có của các năng lực sản xuất thay thế của những nhà
cấp phép hiện tại hoặc mới.
(c) Cấp phép đi kèm
Nếu một người chỉ có thể được cấp giấy phép một hoặc một số tài sản trí tuệ khi phải chấp nhận
điều kiện mua một mặt hàng SHTT hoặc một hàng hoá hoặc một dịch vụ khác (cấp phép đi kèm)
những quan ngại tương tự trong cạnh tranh về những hành vi đi kèm liên quan đến quyền SHTT
sẽ phát sinh. Những rủi ro trong cạnh tranh có thể phát sinh trong các trường hợp:


Thỏa thuận có liên quan tới hai sản phẩm hoặc dịch vụ riêng biệt có ràng buộc với nhau;



Người cấp giấy phép có quyền lực thị trường đối với sản phẩm chính và có khả năng mở
rộng quyền lực thị trường của sản phẩm được bán kèm, do điều kiện thị trường thuận lợi;



Thỏa thuận có tác động xấu đến cạnh tranh trên thị trường liên quan đối với sản phẩm được
bán kèm;



Hiệu quả của vụ dàn xếp không lớn hơn tác động phản cạnh tranh.

(d) Cấp phép ngược (Grant backs)
Cấp phép ngược là các thoả thuận nếu một trong những điều kiện cấp giấy phép công nghệ là
người nhận giấy phép “chuyển giao độc quyền” quyền sử dụng các cải tiến trong quá trình sử
dụng công nghệ cho bên cấp giấy phép. Điều này ám chỉ rằng người cấp giấy phép có quyền sử
dụng những đổi mới công nghệ của người nhận giấy phép. Hành vi “cấp phép ngược” có thể là
đơn phương, tức là những đổi mới của người nhận giấy phép sẽ được sử dụng bởi người cấp giấy
phép hoặc giữa hai bên, tức là người nhận giấy phép cũng sẽ được tận dụng những sáng tạo mới
của người cấp giấy phép. Trong khi vẫn có những quan ngại đối với cạnh tranh liên quan đến
13


hành vi này, cũng cần phải hiểu rằng cấp phép ngược có những tác dụng ủng hộ cạnh tranh, bởi
vì chúng là một công cụ giúp cho người nhận giấy phép và người cấp giấy phép chia sẻ rủi ro và
chi phí, do đó thúc đẩy đổi mới ban đầu và ở các thời kỳ tiếp theo.
Cấp phép ngược dẫn tới những quan ngại phản cạnh tranh nếu chúng bao gồm cả công nghệ vượt
khỏi phạm vi tài sản trí tuệ được cấp phép lúc đầu hoặc nếu thời gian thực hiện nghĩa vụ cấp
phép ngược của người nhận giấy phép quá dài một cách không cần thiết. Hơn nữa, cấp phép
ngược có thể dẫn đến các quan ngại trong cạnh tranh nếu một trong các bên hoặc cả hai bên đều
có quyền lực thị trường hoặc nếu nó tạo điều kiện việc nâng cao hoặc duy trì không hợp lý vị trí
thống lĩnh.
(e) Cấp phép chéo
Thoả thuận cấp phép chéo là một thoả thuận mà hai hoặc nhiều bên, đều sở hữu sản phẩm được
bảo hộ quyền SHTT sẽ cấp giấy phép cho nhau khai thác các đổi mới độc quyền hoặc phát minh
mà họ nắm giữ. Vì thế điều này có thể được coi như một mối quan hệ có đi có lại, tức là để được
cho phép khai thác các quyền của doanh nghiệp kia, một doanh nghiệp cũng phải trao cho doanh
nghiệp kia các quyền khác tương ứng. Mặc dù cũng có những lợi ích từ những vụ dàn xếp như
vậy, việc cấp phép chéo có thể dẫn đến những quan ngại về cạnh tranh. Nếu hai doanh nghiệp có
liên quan là đối thủ cạnh tranh, ít có khả năng họ cạnh tranh quyết liệt với nhau khi đang sử dụng
các quyền lợi của nhau. Đây có thể là cách tạo ra các hành vi phối hợp và do đó có thể dẫn đến
các tình huống “tương tự độc quyền”. Cấp phép chéo cũng có thể được sử dụng là công cụ ngăn
cản gia nhập thị trường, bởi chúng tạo ra các rào cản gia nhập. Một người mới gia nhập khó mà
tham gia một ngành nếu các bên đã tham gia đã cấp bằng sáng chế chéo cho nhau. Kết quả là
doanh nghiệp mới này buộc phải trả phí bản quyền cho tất cả các đối thủ cạnh tranh chính, phải
chịu thêm một khoản chi phí đáng kể.
(f) Nhóm cấp bằng sáng chế
Nhóm cấp bằng sáng chế cũng tương tự đối với cấp phép chéo. Chúng bao gồm một dàn xếp mà
theo đó các doanh nghiệp cam kết cho nhau sử dụng một số bằng sáng chế của họ. Một số nhóm
cho phép các thành viên sử dụng miễn phí trong khi những nhóm khác đưa ra các chính sách bản
quyền chi tiết. Nhóm cấp bằng sáng chế cũng khuyến khích việc câu kết ngầm giống như cấp
phép chéo, mặc dù trên thực tế có thể gây ra những quan ngại trầm trọng hơn. Trước hết, do
nhóm thường bao gồm một số lượng các sáng chế, không phải tất cả các thành viên sẽ sử dụng
được các công nghệ này. Do đó một số doanh nghiệp dù có quyền khai thác sáng chế nhưng lại
không tận dụng được, trong khi những doanh nghiệp thực sự cảm thấy hứng thú nhưng lại không
phải là một phần của nhóm. Thứ hai, số bằng sáng chế có liên quan cũng tăng khả năng “liên hệ
giữa nhiều thị trường” giữa các thành viên của nhóm, làm cho các thoả thuận ngầm còn dễ dàn
xếp hơn.

14


2.2. Lạm dụng vị trí thống lĩnh có được nhờ quyền SHTT
Mục đích lớn nhất của việc bảo hộ quyền SHTT là có vị trí thống lĩnh hoặc độc quyền đối với
quá trình sản xuất hoặc sản phẩm được bảo hộ. Luật cạnh tranh, mặc dù nói chung khuyến khích
cạnh tranh hơn độc quyền, sẽ không phạt hành vi thống lĩnh hoặc độc quyền thông qua các công
cụ không liên quan đến hành vi phản cạnh tranh. Do đó điều mà cơ quan cạnh tranh lo ngại
không phải là vị trí thống lĩnh có được từ IPR mà là việc lạm dụng vị trí thống lĩnh đó để bóp
méo cạnh tranh trên thị trường. Có nhiều cách mà doanh nghiệp có thể lạm dụng vị trí thống lĩnh
hoặc độc quyền mà họ có được. Đó là những cách sau:
2.2.1. Cản trở các đối thủ cạnh tranh

Những người sở hữu quyền SHTT có thể sử dụng vị trí thống lĩnh của mình để kiểm soát một thị
trường bằng cách thực hiện các hành vi với mục đích ngăn chặn các đối thủ cạnh tranh tiềm năng
phát triển sản phẩm tương tự như sản phẩm của họ để tính giá cao cho sản phẩm của mình. Điều
đó có thể gây ra bất lợi không mong muốn đối với đối thủ cạnh tranh hoặc người tiêu dùng.
Những người sở hữu quyền SHTT cũng có thể kiện những đối thủ cạnh tranh do cố ý phát triển
sản phẩm mà không cần cấu thành một vi phạm. Hầu hết các luật về bằng sáng chế, luật thiết kế
và luật thương hiệu đều có các chế tài đối với những đe doạ kiện tụng do vi phạm không có cơ sở
và đó là một vi phạm giả để thể hiện rằng thương hiệu đã được đăng ký.
2.2.2. Định giá vượt mức

Tại các nước đã phát triển những lo lắng về cạnh tranh không nhiều do thị trường có nhiều sự
thay thế. Tuy nhiên, ở các nước đang phát triển số lượng các thay thế sẵn có thấp việc kiểm soát
quyền SHTT có thể được sử dụng như biện pháp khuyến khích khai thác khách hàng và các
doanh nghiệp ở khâu sau bằng cách tính giá cao quá mức như là cách để đạt siêu lợi nhuận. Điều
đó có thể dẫn tới số lượng lớn người sử dụng không tiếp cận được với sản phẩm được bảo hộ
mặc dù chúng tồn tại trên thị trường.
2.2.3. Cản trở lên người sử dụng cuối cùng

Chủ sở hữu quyền SHTT cũng có thể áp đặt nhiều trở ngại đối với các doanh nghiệp ở khâu sau
nhằm giành lợi thế không công bằng so với các doanh nghiệp chi nhánh hoặc các hoạt động khâu
sau của chính mình. Một phương pháp để đạt được điều đó là từ chối cấp phép. Điều này xảy ra
khi một doanh nghiệp khác tạo ra một đổi mới mà không thể sử dụng được nếu không nhờ đến
sáng chế ban đầu. Trường hợp này là khi sản xuất một sản xuất mang tính khả thi về thương mại
đòi hỏi sự kết hợp một đổi mới mới và một đổi mới cũ được bảo hộ bởi quyền SHTT. Như là
cách duy trì sự thống trị lên thị trường ở khâu sau, chủ sở hữu quyền SHTT sẽ từ chối cấp phép
cho doanh nghiệp khâu sau (theo những điều khoản thương mại hợp lý), từ đó phá hoại sự phát
triển của sản phẩm mới.

15


Một hành vi phản cạnh tranh nghiêm trọng khác mà có thể dẫn đến hạn chế đối với người sử
dụng cuối cùng là thông qua việc đòi bán kèm không cần thiết, khi nhà sản xuất một sản phẩm
được bảo hộ sẽ bán sản phẩm kèm các sản phẩm phụ thuộc khác, không phải là một phần của
quyền SHTT và là những dịch vụ cạnh tranh đối với các dịch vụ khâu sau. Điều này ám chỉ rằng
người mua sản phẩm được bảo hộ cũng có thể bị buộc phải mua những sản phẩm mà chủ sở hữu
quyền SHTT đã bán kèm. Điều này cũng ám chỉ rằng các nhà cung cấp khác của nhãn hiệu cạnh
tranh đối với các sản phẩm bán kèm phải tự rút lui khỏi thị trường dù cho sản phẩm đó có tốt hơn
dịch vụ đi kèm hay không.
Những người sở hữu quyền SHTT cũng có thể phá hoại các nhà sản xuất khâu sau khác bằng
cách làm cho sản phẩm được bảo hộ không phù hợp với sản phẩm của họ. Điều này cũng ám chỉ
rằng những người tham gia ở khâu sau có thể có sản phẩm tốt hơn những sản phẩm ở khâu sau
của người sở hữu, nhưng lại không cạnh tranh được bởi vì sản phẩm đã được thiết kế như vậy để
chỉ những sản phẩm của người sở hữu mới phù hợp.
Ví dụ về Microsoft làm sáng tỏ cách thức hạn chế lên người sử dụng cuối cùng sẽ được đề cập
trong phần 2.4 dưới đây.
2.3. Những vụ sáp nhập và mua lại liên quan đến quyền SHTT
Các doanh nghiệp tham gia các liên doanh sáp nhập và hợp nhất cũng có thể đưa vào các điều
khoản cụ thể đối với việc sử dụng, từ bỏ hoặc cấp phép quyền SHTT của các bên có liên quan.
Về mặt kỹ thuật, những điều khoản này có thể hạn chế cạnh tranh; và có trường hợp sự hạn chế
này là đáng kể và không thể chấp nhận được. Những hạn chế này cũng có khả năng trở nên phản
cạnh tranh nếu chúng không phụ thuộc vào giao dịch chính, nhưng thực sự là động lực đằng sau
giao dịch, với mục đích giành được độc quyền hoặc vị trí thống lĩnh đối với sản phẩm. Do đó,
một số vụ sáp nhập, cũng có thể là ủng hộ cạnh tranh, có thể trở nên phản cạnh tranh chỉ bởi vì
vấn đề quyền SHTT.
2.4. Một số ví dụ của hành vi phản cạnh tranh liên quan đến quyền SHTT
2.4.1. Thoả thuận phản cạnh tranh liên quan đến quyền SHTT
Thoả thuận phản cạnh tranh trên thị trường Hạt giống
Toà Tư pháp Châu Âu (ECJ), trong vụ việc 258/78 Nungesser vs Commission, xem xét một kết
luận phản đối của Uỷ ban Châu Âu (EC) đối với những thoả thuận liên quan đến tiếp thị một hạt
giống màu vàng nhạt lai mới.
Một viện nghiên cứu của Pháp, INRA giữ quyền của người nuôi hạt giống cấy trồng trong những
hạt giống này, mà nó phát triển. INRA ký hợp đồng với Nungesser để tái tạo lại và bán các hạt
giống ở Đức. Hợp đồng với INRA và Nungesser quy định, không kể những cái khác, rằng
Nungenser có được giấy phép độc quyền cho Đức (ví dụ nó sẽ không cấp thêm giấy phép trong
16


lãnh thổ của Đức) và rằng INRA sẽ cố gắng để ngăn những hạt giống phát triển ở Pháp không
được xuất khẩu sang Đức, trừ đối với Nungesser. Cuối cùng thì các chủng loại hạt giống có ưu
thế hơn hạt giống INRA, và ít nhất hai thương nhân ở Đức nhập khẩu những hạt giống đã được
cải thiện từ những người buôn bán ở Pháp. Nungesser khởi xướng quyền cấp phép và hạn chế
thành cong việc nhập khẩu bởi hai thương nhân này. EC đã kết luận thoả thuận này về bản chất
là một hành vi cấp phép độc quyền, vi phạm Điều 85(1) và không bị loại trừ theo điều 85 (3).
Trong khi rà soát kết luận phản đối của Uỷ ban, ECJ nhận thấy rằng việc cấp giấy phép độc
quyền cho Đức, nếu xét một mình chỉ tạo ra một “giấy phép độc quyền mở” cần thiết để giới
thiệu thành công công nghệ mới vào thị trường và không kìm hãm việc nhập khẩu song song từ
những nơi khác ở Cộng đồng, do đó không dẫn tới cản trở cạnh tranh theo điều 85(1). Trên cơ sở
đó ECJ thay đổi kết luận của Uỷ ban về vấn đề đó.
Tuy nhiên, về những trở ngại địa lý đối với giấy phép độc quyền mở, từ đó INRA sẽ cố gắng
ngăn chặn những hạt giống được trồng ở Pháp không được xuất khẩu sang Đức trừ phi đến
Nungesser; những nỗ lực này là của Toà án nhằm tạo ra một sự bảo hộ về lãnh thổ tuyệt đối và
do đó trái với các điều khoản của Hiệp ước Rome vì chúng có thể dẫn đến “việc duy trì nhân tạo
các thị trường quốc gia riêng lẻ”. Từ đó, toà án khẳng định từ chối miễn trừ theo điều 85(3) về
bản chất đối với các điều khoản tạo ra bảo hộ lãnh thổ tuyệt đối, vượt khỏi những điều kiện tất
yếu để khuyến khích thương nhân trồng trọt và marketing giống lúa lai6.
2.4.2. Lạm dụng vị trí thống lĩnh nhờ quyền SHTT
(i) Trường hợp lạm dụng vị trí thống lĩnh của Microsoft
Microsoft là người sở hữu hợp pháp quyền SHTT đối với hệ điều hành máy tính cá nhân
(PC/OS), là sáng tạo gốc của công ty. PC/OS là một thiết bị cần thiết giúp người sử dụng thực
hiện các ứng dụng như xử lý dữ liệu, bảng tính…; và giúp những người phát triển phần mềm ứng
dụng đưa ra một sản phẩm bán được sản phẩm cho người sử dụng. Nhờ đó Microsoft đã có được
quyền lực thị trường khi cấp phép cho hệ thống điều hành của PC (với trên 90% thị phần và một
rào cản giao nhập đáng kể đối với các ứng dụng). Hai trong số các hành vi lạm dụng quyền lực
của ông lớn của ngành phần mềm là cản trở đối với người sử dụng cuối cùng và định giá độc
quyền.
Microsoft không bán phần mềm mà chỉ cung cấp các các gói quyền lợi liên quan đến phần mềm.
Những quyền này, được gộp chung như là một “giấy phép” và là những sản phẩm “duy nhất” của
Microsoft. Trừ các quyền đó, Microsoft giữ quyền sở hữu và tất cả các quyền khác đối với phần
mềm , điều này sẽ được thể hiện một cách rõ ràng thông qua một trong các giấy phép.

6

Pham, Alice (2008) - Luật cạnh tranh và quyền SHTT – Kiểm soát các lạm dụng hay Lạm dụng quyền kiểm soát –
CUTS International, Jaipur, Ấn Độ

17


Microsoft chỉ cấp phép cho các nhà sản xuất thiết bị gốc (OEMs). Mục đích của việc cấp phép
này là để có thể “lắp đặt trước (phần mềm) lên các PCs bán cho người sử dụng cuối cùng”.
Mặt khác, Microsoft cũng cung cấp một giấy phép hoàn toàn khác cho người tiêu dùng, đây là
thoả thuận cấp phép cho người sử dụng cuối cùng (EULA). Microsoft cung cấp quyền để “sử
dụng phần mềm trên PCs” với đối tượng duy nhất là người sử dụng cuối cùng. Giấy phép cho
người sử dụng cuối cùng của Microsoft mang tính lựa chọn chứ không phải là một sản phẩm có
thể thương lượng.
EULA quy định rằng: “Bằng cách lắp đặt, sao chép, download, truy cập hoặc nếu không thì sử
dụng sản phẩm phần mềm tức là bạn chấp nhận bị ràng buộc bởi các điều khoản của điều này
(Thoả thuận)”. Do đó, người sử dụng cuối cùng chấp nhận EULA bằng cách đánh dấu vào mục
“Thoả thuận” của máy tính hoặc bằng các hành vi khác thể hiện đã chấp thuận đề nghị của
Microsoft về quyền cấp phép. Người sử dụng cuối cùng tuỳ chọn tham gia thoả thuận cấp giấy
phép EULA với Microsoft ngay từ khi bắt đầu sử dụng OS, không phải tại thời điểm mua hàng,
thanh toán, hoặc các hành vi giao dịch khác.
Cùng lúc đó, do Microsoft độc quyền đối việc việc cấp phép các PC/OS, các OEMs không có
“thoả thuận khác (và Microsoft) …ép buộc OEMs lắp đặt trước các Microsoft lên máy tính và
đóng vai trò đại lý của Microsoft trong việc đưa ra các giấy phép với người sử dụng cuối cùng
trên cơ sở thoả thuận hoặc từ chối theo các điều khoản nghiêm ngặt và độc quyền của Microsoft.
Cũng giống như các OEMs, người bán lẻ và những người khác cũng đóng vai trò đại lý thể hiện
các yêu cầu giao dịch EULA. Người bán lẻ cũng không mua hoặc sở hữu quyền của người sử
dụng cuối cùng hoặc các khía cạnh khác của sản phẩm, như là EULA, bởi thoả thuận này được
quy định rõ ràng là chỉ giữa Microsoft và người sử dụng cuối cùng.
Là kết quả trực tiếp của hành vi hạn chế và loại trừ của Microsoft, người sử dụng cuối cùng phải
chịu tổn hại riêng biệt. Họ không được hưởng các lợi ích của cạnh tranh, bao gồm nhưng không
giới hạn đối với đổi mới công nghệ, sự lựa chọn trên thị trường, đa dạng hoá sản phẩm và nguồn
cung có thể thay thế.
Từ năm 1995 trở đi, Microsoft tiếp tục mở rộng vi phạm độc quyền. Trước đó, theo điều khoản
EULA với Microsoft và trong các thị trường phần mềm nói chung, người sử dụng cuối cùng có
vô số quyền, ví dụ như tái sử dụng giấy phép lên một PC khác; bán lại giấy phép; và quyền hoàn
lại giấy phép và được trả lại tiền nếu không muốn nhận giấy phép…Tuy nhiên, cùng với việc
PC/OS và các sản phẩm rẻ hơn và ưu việt về mặt công nghệ khác không còn được quảng bá
trong các thị trường biên do sự lạm dụng vị trí độc quyền, Microsoft do đó đã tuỳ ý tính một mức
giá cao hơn để tối đa hoá lợi nhuận và áp đặt các hành vi phản cạnh tranh hơn lên người sử dụng
cuối cùng.
Đó là những việc mà Microsoft đã làm. Giá được tăng lên 3 lần và các hạn chế mới được đưa ra
trong giấy phép đối với người sử dụng cuối cùng mua PC thông qua kênh OEM. Ví dụ,
18


Microsoft ngăn cản người sử dụng cuối cùng trả lại Microsoft PC/OS để được hoàn tiền (kể cả
các điều khoản của hợp đồng cấp phép với người sử dụng cuối cùng của Microsoft có cho phép).
Cũng vậy, Microsoft cấm người sử dụng cuối cùng sử dụng các PCs và PC/OS mới mua được
lắp đặt lên các PCs cũ. Tương tự, Microsoft cấm người sử dụng cuối cùng bán lại trên cơ sở độc
lập các giấy phép đối với PC/OS khi họ mua PCs.
Các hạn chế mới trong EULA của Microsoft là để buộc người tiêu dùng đạt được một EULA
mới với mỗi PC và từ đó không cho người dùng tiếp cận các sản phẩm khác. Dần dần Microsoft
đã tăng số lượng các hạn chế với các hành vi phản cạnh tranh khác. Điều này bao gồm việc năm
1998 Microsoft đã tăng lên gần như gấp đôi giá bản quyền các PC/OS cũ và không hợp thời
(nhưng không lạc hậu) gần bằng với mức giá tính đối với giấy phép cho các PC/OS mới (từ
$49.00 lên $89.00)7.
(ii) Lạm dụng vị trí thống lĩnh nhờ quyền SHTT trên thị trường giống bông
Ví dụ về định giá quá mức là ở Ấn Độ đối với thị trường giống bông. Mahyco-Monsanto bị kết
tội gian lận giá (định giá cao hơn giá trị trường dù không có người bán lẻ thay thế) trong vụ việc
về bông Bt do chính phủ Andhra Pradesh và một số tổ chức dân sự xã hội khởi kiện đưa ra trước
Uỷ ban Độc quyền và Các hành vi hạn chế cạnh tranh (MRTPC). Một mức phí bản quyền cao
bất hợp lý cho giống BT mà Mahyco-Monsanto phải nộp khiến cho giá cả tăng cao đến mức
khiến người nông dân không mua được. Do có quyền SHTT đối với giống bông Bt dẫn tới thị
trường không có sự cạnh tranh, Mahyco-Monsanto nắm giữ vị trí độc quyền và có hành vi
chuyên quyền.
Ngày 11 tháng 5 năm 2006, MRTPC đã phát lệnh cấm tạm thời và yêu cầu Mahyco-Monsanto
không tính trị giá 900 Rs đối với một gói giống bông Bt 450 gr khi vụ việc còn chưa được giải
quyết mà phải tính một trị giá hợp lý căn cứ vào cách tính giá của công ty mẹ tại các nước lân
cận như Trung Quốc.8
(iii) Vụ việc NutraSweet
Vào ngày 4 tháng 10 năm 1990, Toà án cạnh tranh liên bang của Canada phát lệnh cấm công ty
NutraSweet có trụ sở tại Hoa Kỳ không được tham gia vào những hành vi kinh doanh nhất định
mà Toà án xem xét cho thấy đó là hành vi bán kèm và giao dịch độc quyền như quy định trong
mục 79 và 77 của Luật Cạnh tranh đối với một chất làm ngọt được cấp bằng sáng chế.
G.D Searle & Co, công ty mẹ của NutraSweet, được cấp bằng sáng chế đối với Aspartame, một
chất siêu ngọt với vị gần giống vị ngọt của đường. Thời điểm bị khiếu nại bởi đối thủ cạnh tranh
cũng là bên bán aspartame, NSC chiếm giữ 95% thị phần dù thời hạn bảo hộ sáng chế đã hết.
7

Pham, Alice (2008) - Luật cạnh tranh và quyền SHTT – Kiểm soát các lạm dụng hay Lạm dụng quyền kiểm soát –
CUTS International, Jaipur, Ấn Độ
8
CUTS (2007) - Cạnh tranh và điều ti ết kinh tế ở Ấn Độ” - CIRC

19


Một trong những hành vi phản cạnh tranh của NSC trong thời kỳ bảo hộ sáng chế được kết luận
bởi Toà án là giảm giá đáng kể cho những khách hàng cam kết trưng bày logo của nhà sản xuất
(thiết kế hình xoắn) và nhãn hiệu “NutraSweet” lên sản phẩm. Đây là một sự lựa chọn mang tính
“bất đắc dĩ” đối với người tiêu dùng, bởi vì nếu người tiêu dùng quyết định rằng họ không muốn
sử dụng logo cho một dòng sản phẩm nhất định hoặc không cam kết sử dụng với đối với tất cả
sản phẩm của dòng sản phẩm đó, họ gần như sẽ phải tìm nguồn cung chọn nhà cung cấp khác bởi
nếu không mua logo và được giảm giá giá sản phẩm của NSC sẽ trở nên vô cùng đắt.
Theo diễn giải của Toà án, việc trưng bày logo và trợ cấp khuyến mại, được biết đến như chính
sách ưu đãi cho khách hàng trung thành, dẫn tới “thúc đẩy độc quyền”. Để đi đến kết luận về
việc bị đơn tập trung vào các hợp đồng cung cấp aspartame hơn là quảng cáo thương hiệu riêng
của mình, Toà án chỉ ra rằng nhà sản xuất “Coke” và “Pepsi" cũng được hưởng lợi từ những thúc
đẩy này kể cả đối với những sản phẩm nhất định không gắn với tên hoặc logo của bị đơn9.
(iv) Lạm dụng độc quyền đối với thuốc kháng HIV (ARV)
Năm 2002, Chương trình hành động điều trị đã nộp một đơn kiện lên Uỷ ban Cạnh tranh của
Nam Phi kiện Công ty Trách nhiệm hữu hạn GlaxoSmithKline Nam Phi (GSK) và Boehringer
Ingelheim, vì tội định giá quá mức đối với các sản phẩm thuốc ARV là ritonavir, lamivudine,
ritonavir+lamivudine và nevirapine. Gần một năm sau, kết quả điều tra của Uỷ ban cho thấy hai
doanh nghiệp dược phẩm đã vi phạm Luật cạnh tranh năm 1998. Uỷ ban đã phát hiện các doanh
nghiệp ngăn cản các đối thủ cạnh tranh tiếp cận các tiện ích cần thiết, định giá quá mức và tham
gia vào hành vi loại trừ và đưa vấn đề ra trước Toà án Cạnh tranh.
Một trong các bị đơn là GSK phải thừa nhận đã thực hiện một vụ dàn xếp cuối cùng vào tháng
12 năm 2003, trong đó GSK cam kết:


cấp phép tự nguyện cho khu vực tư nhân tương tự như cấp giấy phép cho Aspen
Pharmacare vào tháng 10 năm 2001 cho khu vực công;



cấp thêm ba giấy phép khác với các điều khoản không kém thuận lợi hơn giấy phép được
cấp cho Aspen Pharmacare, dựa trên tiêu chí hợp lý trong đó bao gồm việc đăng ký với
Hội đồng kiểm soát thuốc và đáp ứng các tiêu chuẩn an toàn và hiệu quả;



cho phép người được cấp phép xuất khẩu thuốc kháng virus có liên quan cho các nước
châu Phi tiểu vùng Sahara;



nếu giấy phép không cho phép thuốc được sản xuất ở Nam Phi, GSK phải cho phép nhập
khẩu các loại thuốc để phân phối ở Nam Phi;

9

Brahm G. Segal, “Thật ngọt ngào: Nhà sản xuất Aspartame khổng lồ cho phép sử dụng bằng sáng chế và thương
hiệu một cách phản cạnh tranh”, Leger Robic Richard, 1991

20




tính phí bản quyền không cao hơn 5% cho doanh số dòng của ARVs có liên quan.

2.4.3. Các vụ việc IPR có liên quan đến hợp nhất và sáp nhập
Một ví dụ về sáp nhập là có liên quan đến hai công ty, Sandoz AG và Ciba-Geigy AG, dẫn đến
việc hình thành Norvatis AG, được phân tích ở Hoa Kỳ và Châu Âu. Uỷ ban Châu Âu đã lưu ý
một số quan ngại về vị trí thống lĩnh của các bên cung cấp các sản phẩm bảo hộ sức khoẻ động
vật. Các bên tham gia sáp nhập kiểm soát 3 trong 5 hoạt chất trên toàn thế giới. Hình thức xử lý
được đưa ra là các bên phải cấp giấy phép không độc quyền cho bên thứ ba theo những điều
khoản công bằng và hợp lý và cam kết cung cấp cho bên nhận giấy phép methoprene (một chất
để sản xuất một sản phẩm trừ ký sinh trùng như con bọ chét và con ve) cho đến khi các bên thứ
ba có thể tung ra được sản phẩm riêng. Ở Hoa Kỳ, những quan ngại của Uỷ ban thương mại liên
bang (FTC) về những tác động của việc sáp nhập đến “các thị trường sáng tạo” cũng được giải
quyết thông qua việc chấm dứt hoạt động kinh doanh chợ giời của Sandoz tại Hoa Kỳ và Canada
cùng với một thoả thuận chuyển giao công nghệ cho người mua được tự sản xuất methoprene,
cũng như nghĩa vụ phải cung cấp giấy phép không độc quyền đối với những quyền sáng chế liệu
pháp gien nhất định và công nghệ khác, và không giành độc quyền đối với những gen khác10.
2.5. Quyền SHTT và luật cạnh tranh: Đối lập hay bổ sung
Mối quan hệ giữa luật cạnh tranh và chính sách về quyền SHTT trong một thời gian dài chỉ được
hiểu là mối quan hệ đối lập. Về mặt cơ bản, quyền SHTT hoạch định các biên giới trong đó các
đối thủ cạnh tranh có thể thực hiện quyền độc nhất pháp lý (độc quyền) đối với những sáng tạo
của mình, và kết quả là người có độc quyền sẽ có được quyền lực thị trường. Do đó, thoạt nhìn
chúng sẽ mâu thuẫn với các nguyên tắc tiếp cận thị trường mở và các sân chơi công bằng được
tạo ra bởi các quy định về cạnh tranh. Tuy nhiên thực tế thì không hẳn như vậy.
Cùng với việc đảm bảo không cho phép các doanh nghiệp đối thủ khai thác các công nghệ được
bảo hộ và sản phẩm và quy trình phái sinh, các quyền về SHTT về cơ bản sẽ không trao cho
người nắm giữ quyền lực thị trường bởi nhiều công nghệ khác nhau cùng tồn tại có thể thay thế
cho nhau và là rào cản hữu hiệu chống lại các hành vi độc quyền của người có quyền SHTT. Ví
dụ, tập đoàn Microsoft nắm giữ bản quyền của Windows, một hệ điều hành rất thông dụng sử
dụng cho máy tính cá nhân dùng bộ xử lý Intel. Tuy nhiên, việc sở hữu tài sản trí tuệ và độc
quyền pháp lý đối với việc sử dụng/khai thác không giúp Microsoft có được quyền lực đối với
thị trường này, bởi vì có những sản phẩm khác thay thế, ví dụ như Mac OS hoặc Linux.
Microsoft có được sức mạnh độc quyền trên thị trường này nhờ rào cản gia nhập đối với các ứng
dụng, làm thay đổi cán cân cạnh tranh có lợi cho tập đoàn phần mềm này11.
10

Pham, Alice (2008) - Luật cạnh tranh và quyền SHTT – Kiểm soát các lạm dụng hay Lạm dụng quyền kiểm soát –
CUTS International, Jaipur, Ấn Độ
11
Để biết thêm thông tin, xem thêm Pham, Alice (2008), “Cửa sổ/Windows mới về cạnh tranh: Vụ án Microsoft,
CUTS International, Jaipur, India

21


Các luật về quyền SHTT và cạnh tranh có thể thực sự được coi như đóng vai trò bổ sung cho
nhau. Quyền SHTT tạo ra và bảo hộ quyền của người sáng chế để loại trừ việc người khác sử
dụng ý tưởng hay các hình thức biểu đạt khác của họ. Chúng thúc đẩy các thành phần kinh tế
tham gia vào các nỗ lực tạo ra những đổi mới công nghệ và/hoặc các hình thức biểu đạt nghệ
thuật mới. Chúng sẽ tạo ra nhiều đầu vào hơn cho cạnh tranh trên thị trường tương lai, cũng như
thúc đẩy hiệu suất động, có thể được hiểu là tăng chất lượng và sự đa dạng của hàng hoá và thúc
đẩy tăng trưởng nhờ hiệu quả sản xuất ngày càng tăng. Cạnh tranh có thể thúc đẩy một cuộc chạy
đua về mặt đổi mới sáng tạo, bởi công ty nào cũng có muốn có được lợi thế người dẫn đầu cũng
như được bảo hộ quyền SHTT. Do đó cả luật cạnh tranh và quyền SHTT đều hết sức cần thiết để
đảm bảo cạnh tranh trong cuộc chạy đua đổi mới sáng tạo được thực hiện một cách công bằng,
trong đó bảo hộ quyền SHTT là động lực quan trọng để đổi mới.
Cả hai cơ chế này do đó sẽ có chức năng thúc đẩy và nâng cao lợi ích của người tiêu dùng theo
phương thức giống nhau, mặc dù có những điểm tương đồng và khác biệt về cách tiếp cận. Bằng
cách tạo ra các động lực để đổi mới và phổ biến những đổi mới này để ngăn chặn những kẻ bắt
chước khai thác những nỗ lực của người sáng chế và nhà đầu tư mà không phải trả phí, quyền
SHTT đảm bảo lợi ích của người tiêu dùng được tiếp cận nhiều sự lựa chọn do sự phát triển các
sản phẩm mới. Luật cạnh tranh thúc đẩy đổi mới và tăng lợi ích của người tiêu dùng bằng cách
cấm những hành vi nhất định có thể gây hại cho cạnh tranh có liên quan đến các cách thức đã có
hoặc mới xuất hiện trong việc phục vụ lợi ích người tiêu dùng.
Cũng cần phải lưu ý một thực tế rằng luật SHTT và luật cạnh tranh có xu hướng can thiệp vào
những giai đoạn khác nhau của vòng đời kinh tế của tài sản. Quyền SHTT thông thường được
trao ngay sau khi tạo ra tài sản, trong khi luật cạnh tranh chỉ cần đến khi việc sử dụng tài sản là
nền tảng của việc lạm dụng quyền lực thị trường. Đặc biệt, các cơ quan sẽ hiểu biết hơn về tầm
quan trọng kinh tế của một sáng tạo nhất định và về cấu trúc của những thị trường vận dụng sự
sáng tạo đó.

22


CHƯƠNG 3
GIẢI QUYẾT CÁC QUAN NGẠI LIÊN QUAN ĐẾN QUYỀN SHTT
Mặc dù các chính phủ và cơ quan cạnh tranh có nhiều cách thức để loại bỏ những quan ngại về
quyền lực mà người có quyền SHTT nắm giữ, hai cách thức phổ biến đầu tiên cần được bàn đến
là cấp phép bắt buộc và nhập khẩu song song.
3.1. Cấp phép bắt buộc
Cấp phép bắt buộc về mặt định nghĩa là một tình huống mà chính phủ cấp phép việc sản xuất
hoặc phân phối một sản phẩm được cấp bằng sáng chế cho một cá nhân hoặc cho chính mình, mà
không cần sự đồng ý của chủ sở hữu sáng chế. Do đó đây có thể được coi là hợp đồng không tự
nguyện có sự cưỡng chế của nhà nước giữa một người mua sẵn sàng (người sử dụng/nhà sản
xuất) và một người bán không sẵn sàng (người sở hữu sáng chế). Do không cần có sự đồng ý của
người sở hữu sáng chế, hiệp định TRIPS đã quy định một số điều kiện theo đó một chính phủ có
thể áp đặt cấp phép bắt buộc về mặt pháp lý đó là:


Việc sử dụng chỉ có thể được cho phép nếu như, trước khi sử dụng, người sử dụng dự
kiến đã hết sức cố gắng được sự cho phép của người có quyền bằng những điều kiện và
điều khoản thương mại hợp lý nhưng không thành công trong một khoảng thời gian hợp
lý, trừ trường hợp khẩn cấp quốc gia hoặc những tình huống khẩn cấp đặc biệt khác hoặc
trong trường hợp sử dụng công không vì mục đích thương mại;



Phạm vi và thời hạn sử dụng sẽ tuỳ thuộc vào mục đích được cho phép, và đối với sáng
chế trong lĩnh vực công nghệ bán dẫn thì quyền sử dụng chỉ bị bắt buộc chuyển giao
nhằm mục đích công, phi thương mại hoặc là biện pháp xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh
theo quy định của pháp luật về cạnh tranh;



Quyền sử dụng thuộc dạng không độc quyền, không thể chuyển nhượng (trừ trường hợp
chuyển giao cùng với cơ sở kinh doanh của mình) và được uỷ quyền cung cấp cho thị
trường nội địa của Thành viên được uỷ quyền sử dụng;



Việc chuyển giao quyền sử dụng sẽ chấm dứt khi các điều kiện bắt buộc chuyển giao
không còn tồn tại và không có khả năng tái xuất hiện, với điều kiện việc chấm dứt quyền
sử dụng đó không gây thiệt hại cho người được chuyển giao quyền sử dụng bắt buộc;



Các nước có thể ban hành quyết định bắt buộc chuyển giao quyền sử dụng để cho phép
các công ty nội địa xuất khẩu các sản phẩm dược phẩm cho các nước phát triển phải đối
mặt với các vấn đề sức khoẻ công nhưng không có năng lực để sản xuất sản phẩm được
cấp bằng sáng chế;
23




Người có quyền phải được trả tiền bản quyền hợp lý trong mỗi vụ việc, căn cứ vào giá trị
kinh tế của việc chuyển giao quyền sử dụng12.

Có nhiều yếu tố dẫn đến tầm quan trọng của cấp phép bắt buộc, chủ yếu là liên quan đến việc
lạm dụng quyền lực của người nắm giữ quyền SHTT, như đã bàn ở trên. Các hành vi lạm dụng
bao gồm định giá quá mức, cố ý hạn chế các công ty khác tiếp cận thị trường nhằm nâng giá, áp
dụng các nguyên tắc marketing có chọn lọc để hạn chế sự tiếp cận và sử dụng độc quyền nhờ
sáng chế để kìm hãm đổi mới động/khâu sau, thường bởi các công ty quốc tế. Trong những điều
kiện này, những quốc gia thường xuất phát từ đề xuất của các cơ quan quyền lực cạnh tranh, yêu
cầu cấp phép bắt buộc để cho phép sản xuất hoặc phân phối thay thế sản phẩm độc quyền bởi
một công ty nội địa.
Trường hợp khác để cấp phép bắt buộc là tình huống khẩn cấp quốc gia. Đó là những tình huống
mà các nước lâm vào khủng hoảng không dự đoán trước, trong khi năng lực xử lý khủng hoảng
để bảo hộ người dân thì hạn chế. Tình huống này xảy ra khi có một đại dịch nghiêm trọng bất
ngờ tấn công hoặc một tình huống đe doạ đến hoà bình và ổn định. Đại dịch HIV/AIDS, khi mà
các nước nhận thấy nhu cầu đối với điều trị bằng thuốc kháng HIV (ARV) lớn hơn rất nhiều so
với nguồn cung sẵn có, cũng như nỗi lo sợ về bệnh than là những ví dụ điển hình. Trong tình
huống như vậy, chính phủ sẽ cảm thấy buộc phải áp dụng cấp phép bắt buộc đối với các công ty
trong nước, hoặc để sản xuất thuốc generic của ARVs được cấp bằng sáng chế hoặc nhập khẩu
sản phẩm để phân phối trong nước từ những công ty mà sản phẩm này đã được sử dụng hoặc
bằng sáng chế không áp dụng (sẽ giảm giá đáng kể).
Một cuộc họp WTO, thường được biết đến là Quyết định thực thi hiệp định TRIPS vào tháng 8
năm 2003, quyết định rằng ngoài mục đích sử dụng trong nước các quốc gia có thể áp dụng cấp
phép bắt buộc để cho phép các công ty trong nước sản xuất sản phẩm được cấp bằng sáng chế
với mục đích xuất khẩu cho các quốc gia phát triển đang đối mặt với tình trạng thiếu hụt nghiêm
trọng của sản phẩm, và gặp khó khăn trong việc nhập khẩu trực tiếp từ người sở hữu bằng sáng
chế. Nhiều quốc gia đang phát triển có thể không sử dụng đặc quyền trong việc áp dụng cấp phép
bắt buộc, chỉ bởi vì công ty trong nước không đủ năng lực sản xuất sản phẩm được cấp bằng
sáng chế. Trong những trường hợp này, các nước này có thể lựa chọn các công ty ở các nước
khác có năng lực sản xuất và hợp tác với các nước đó để sản phẩm sẽ được xuất khẩu đến tay họ
nhờ cấp phép bắt buộc.
Những nước như Indonesia, Zambia và Zimbabwe đã sử dụng cấp phép bắt buộc để các công ty
trong nước có thể phép nhập khẩu các thuốc kháng virus để điều trị các bệnh liên quan đến
HIV/AIDS.
Từ chối giao dịch là nền tảng cấp giấy phép bắt buộc đã được quy định trong các luật quốc gia,
ví dụ luật sáng chế của Trung Quốc, Ác-hen-ti-na và Ixraen. Ở vương quốc Anh và các quốc gia
12

Điều 31 của TRIPS (đã sửa đổi)

24


khác theo mô hình lập pháp Anh, từ chối giao dịch có thể dẫn tới cấp phép bắt buộc khi thị
trường xuất khẩu không có nguồn cung, việc tạo ra các phát minh được cấp bằng sáng chế khác
có đóng góp quan trọng bị kìm hãm và ngăn cản, việc thực hiện hoặc phát triển các hoạt động
thương mại hoặc công nghiệp trong nước bị hệ luỵ một cách không công bằng. Tương tự thì ở
Nam Phi, giấy phép có thể được cấp trong trường hợp từ chối cấp giấy phép theo những điều
khoản hợp lý, nếu thương mại hoặc công nghiệp hoặc nông nghiệp hoặc sự thành lập một ngành
hoặc kinh doanh mới trong nước bị thiên kiến, và việc cấp giấy phép vì quyền lợi của công
chúng. Một ví dụ liên quan đến các hành vi phản cạnh tranh, Luật Cạnh tranh Canada trao cho
Toà án liên bang quyền loại bỏ thương hiệu, cấp bằng sáng chế (bao gồm xác lập các điều kiện
và điều khoản), vô hiệu hoá các hợp đồng cấp phép đã có và nói chung tước đi hoặc vô hiệu hoá
quyền thông thường đối với bằng sáng chế hoặc thương hiệu nếu việc sử dụng thương hiệu hoặc
bằng sáng chế đã gây hại đến thương mại hoặc kinh doanh một cách không phù hợp hoặc ngăn
chặn hoặc giảm cạnh tranh một cách không phù hợp.
Các điều kiện và thủ tục cấp giấy phép bắt buộc được quy định trong Phần 3, Chương X của Luật
SHTT 2005 (Điều 145 đến 147) của Việt Nam. Cấp phép bắt buộc chỉ có thể áp dụng với những
lý do sau:
(a) an ninh quốc phòng, phòng và chữa bệnh hoặc các lý do cấp thiết của xã hội;
(b) không sử dụng hoặc sử dụng không đúng;
(c) nếu người sử dụng dự kiến không đạt được một thoả thuận với người sở hữu trên những điều
kiện và điều khoản thương mại hợp lý trong một khoảng thời gian hợp lý; hoặc
(d) trong trường hợp hành vi phản cạnh tranh.
3.2. Nhập khẩu song song
Nhập khẩu song song là các hàng hoá đưa vào một nước mà không có sự uỷ quyền của người sở
hữu bằng sáng chế, thương hiệu hoặc quyền tác giả sau khi người sở hữu quyền SHTT đã đưa
những hàng hoá giống hệt vào lưu thông ở các quốc gia khác. Mặc dù không có sự đồng ý của
người sở hữu, nhập khẩu song song là các hàng hoá hợp pháp ở chỗ là người sở hữu quyền
SHTT đã đồng ý đưa sản phẩm ra thị trường và do đó ngầm hiểu sẽ cho phép sử dụng, kể cả khi
thông qua việc nhập khẩu bởi một nhà phân phối không được uỷ quyền. Nhìn chung có hai hành
vi của người sở hữu quyền SHTT có thể được xem là nguyên nhân dẫn đến nhập khẩu song
song:
(a) Một công ty sản xuất ra các phiên bản khác nhau của cùng một loại sản phẩm để bán ở
các quốc gia khác nhau. Điều này sẽ khuyến khích một số nhà phân phối tận dụng sự
khác biệt này để tạo ra cầu đối với sản phẩm chuyên biệt không được sản xuất ở quốc gia
đó, ví dụ nếu Tạp chí Top Gear (Ấn phẩm Anh) được bán chính thức ở Anh và Tạp chí
25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×