Tải bản đầy đủ

Quản lý hoạt động giáo dục theo chủ đề ở một số trường mầm non trên địa bàn phường 3, quận 10, thành phố hồ chí minh

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ THU LƯƠNG

QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC THEO CHỦ ĐỀ
Ở TRƯỜNG MẦM NON CÔNG LẬP
PHƯỜNG 3, QUẬN 10, TP. HỒ CHÍ MINH

CHUYÊN NGÀNH:QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã số: 60.14.01.14

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC : TS. PHẠM VĂN TƯ

HÀ NỘI, 2016


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu ghi
trong luận văn là trung thực. Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được
công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
TP. Hồ Chí Minh, ngày 25 tháng 7 năm 2016
Tác giả

Nguyễn Thị Thu Lương


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ..................................................................................................................... 1
Chương 1:CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC THEO
CHỦ ĐỀ Ở TRƯỜNG MẦM NON ......................................................................... .9
1.1. Một số khái niệm cơ bản của đề tài ...................................................................... 9
1.2. Hoạt động giáo dục theo chủ đề ở trường mầm non ........................................... 13
1.3. Quản lý hoạt động giáo dục theo chủ đềở trường mầm non .............................. 17
1.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt độnggiáo dục theo chủ đềở trường mầm non .. 22
Chương 2:THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC THEO CHỦ
ĐỀ Ở TRƯỜNG MẦM NON CÔNG LẬP PHƯỜNG 3, QUẬN 10, THÀNH
PHỐ HỒ CHÍ MINH ................................................................................................26
2.1.Vài nét về địa bàn nghiên cứu .............................................................................. 26
2.2.Vài nét về khách thể khảo sát............................................................................... 28
2.3. Thực trạng việc tổ chức thực hiện hoạt động giáo dục theo chủ đề ở các trường
mầm non phường 3, quận 10...................................................................................... 29
2.4. Thực trạng quản lýhoạt động giáo dục theo chủ đề ở các trường mầm non
phường 3, quận 10. ..................................................................................................... 34
2.5. Đánh giá chung về thực trạng quản lýhoạt động giáo dục theo chủ đề ở các
trường mầm non phường 3, quận 10. ......................................................................... 48
Chương 3: BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC THEO CHỦ ĐỀ
Ở TRƯỜNG MẦM NON CÔNG LẬP PHƯỜNG 3, QUẬN 10, THÀNH PHỐ
HỒ CHÍ MINH ..........................................................................................................55
3.1. Nguyên tắc đề xuất các biện pháp....................................................................... 53
3.2. Các biện pháp quản lý thực hiện hoạt độnggiáo dục theo chủ đề của Hiệu trưởng
trường mầm non công lập phường 3, quận 10, Tp.Hồ Chí Minh .............................. 55
3.3. Mối quan hệ giữa các biện pháp ......................................................................... 69
3.4. Khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp quản lý thực hiện
chương trình giáo dục theo chủ đề ............................................................................. 70
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ .......................................................................... 74
TÀI LIỆU THAM KHẢO ....................................................................................... 77



MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Giáo dục mầm non là cấp học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân, đặt
nền móng cho sự phát triển về thể chất, nhận thức, tình cảm xã hội và thẩm mỹ cho
trẻ em. Những kiến thức và kỹ năng mà trẻ tiếp thu được qua chương trình giáo dục
mầm non sẽ là nền tảng cho việc học tập, thành công của trẻ sau này. Do vậy, phát
triển giáo dục mầm non, tăng cường khả năng sẵn sàng đi học cho trẻ là yếu tố quan
trọng trong việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho đất nước.
Trong những năm gần đây, Đảng và Nhà nước đã có chính sách cụ thể nhằm
phát triển giáo dục mầm non như: Đầu tư xây dựng trường lớp, cơ sở vật chất; đổi
mới phương pháp giảng dạy; cải tiến chế độ tiền lương đối với giáo viên mầm non;
xã hội hóa giáo dục mầm non… Đặc biệt, chương trình giáo dục mầm non mới ra đời
đã đáp ứng được xu thế đổi mới của thời đại, tạo ra nguồn nhân lực có chất lượng
phục vụ cho sự nghiệp phát triển của đất nước sau này. Chương trình giáo dục mầm
non có tính mở rất cao, giáo viên có nhiều cơ hội thể hiện sự sáng tạo, trẻ được tạo
điều kiện phát huy tính tích cực, phát triển toàn diện về thể lực, trí tuệ và nhân cách.
Có thể nói sự ra đời của chương trình giáo dục mầm non mới, trong đó, trọng tâm là
hình thức giáo dục theo chủ đề đã tạo ra những bước đột phá, giúp giáo viên tiếp cận
với những phương pháp dạy học tích cực và trẻ mầm non trở thành trung tâm của
mọi hoạt động giáo dục.
Giáo dục theo chủ đề trong việc thực hiện chương trình giáo dục mầm non đã
được triển khai rộng khắp cả nước, song cần phải khẳng định rằng đây là một chương
trình rất mới mẻ cả về nội dung, phương pháp, quy trình tổ chức, kiểm tra đánh
giá…và hoàn toàn khác xa so với chương trình mầm non trước đây. Chính vì vậy,
không ít cán bộ quản lý và cả giáo viên lúng túng, khó khăn trong triển khai chương
trình giáo dục theo chủ đề phù hợp với từng lứa tuổi của trẻ. Không những thế, một
số cán bộ quản lí, giáo viên còn thiếu kinh nghiệm, trình độ tiếp cận chương trình
mới càng khiến cho việc thực hiện hoạt động giáo dục theo chủ đề càng bị hạn chế.
Việc quản lý hoạt động giáo dục theo chủ đề ở một số trường mầm non trên
địa bàn Phường 3, quận 10, thành phố Hồ Chí Minh chưa có sự nhất quán, đồng bộ
trong chỉ đạo và triển khai thực hiện, mỗi trường thực hiện theo một quan điểm chỉ
đạo khác nhau và cách tổ chức thực hiện chủ đề khác nhau.
1


Ngoài ra, các yếu tố khác nhau như cơ sở vật chất, trang thiết bị, đồ dùng, đồ
chơi còn thiếu, nhận thức và sự kết hợp giữa nhà trường với phụ huynh với cộng
đồng trong việc thực hiện chương trình đôi khi chưa được thống nhất cũng tạo ra
những tác động tiêu cực đến hiệu quả quản lý và chất lượng giáo dục mầm non.
Trong thực tế các đề tài nghiên cứu lý luận và thực tiễn về quản lý hoạt động
giáo dục theo chủ đề chưa được phong phú, chưa thực sự đáp ứng được nhu cầu tham
khảo của giáo viên các trường.
Xuất phát từ những lí do trên, với cương vị là một người làm quản lý trong
trường mầm non, đồng thời, nhận thấy tầm quan trọng và ý nghĩa của vấn đề này nên
tôi chọn đề tài: “Quản lý hoạt động giáo dục theo chủ đề ở một số trường mầm non
trên địa bàn Phường 3, quận 10, thành phố Hồ Chí Minh” làm đề tài cho Luận văn
tốt nghiệp Thạc sĩ chuyên ngành Quản lý giáo dục của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
 Những nghiên cứu nước ngoài
Tháng 9 - 1968, “Hội nghị tích hợp về việc giảng dạy các khoa học” được tổ
chức tại Varna (Bungary) dưới sự bảo trợ của UNESCO đã tập trung làm rõ hai vấn
đề: tại sao phải dạy học tích hợp và dạy học tích hợp các khoa học là gì? Kết thúc hội
nghị, các nhà khoa học đều thống nhất rằng: “Một cách trình bày các khái niệm và
nguyên lý khoa học cho phép diễn đạt sự thống nhất cơ bản về tư tưởng của khoa
học, tránh nhấn quá mạnh hoặc quá sớm sự sai khác giữa các lĩnh vực khoa học
khác nhau”.
Told.R.J đã đưa ra các tiêu chí quan trọng của dạy học tích hợp theo chủ đề
bao gồm: “Việc học và nghiên cứu các môn học khác nhau, có thời khóa biểu linh
động, giáo viên giảng dạy theo nhóm, việc học lấy học sinh làm trung tâm có sự
tướng tác trình độ giữa học sinh với học sinh, học sinh với giáo viên và giữa các
giáo viên” [dẫn theo 18, tr 19]
Drake M.S trong nghiên cứu của mình thì cho rằng dạy học theo chủ đề là một
mô hình của dạy học tích hợp. Mô hình này đòi hỏi giáo viên phải vận dụng kiến
thức của nhiều môn học khác nhau. Ưu điểm của cách thức dạy học này là giáo viên
vẫn dạy một môn học nhưng trong quá trình dạy lại mở rộng tri thức sang nhiều môn
học liên quan khác [18, tr 15].

2


Beana. J thì đưa ra quan điểm rằng dạy học theo chủ đề rất phù hợp để áp
dụng cho những môn học gần nhau về bản chất và mục tiêu phù hợp đối với trẻ ở bậc
tiểu học [8, tr 20].
Marshall. J đã nghiên cứu về cảm xúc và hứng thú của trẻ với phương pháp
dạy học tích hợp, trong đó có tích hợp theo chủ đề. Tác giả nhận xét: “Chương trình
dạy học tích hợp chú trọng cung cấp kiến thức phù hợp với nhu cầu của học sinh,
học sinh sẽ được học cái mình cần và yêu thích nên việc học trở nên nhẹ nhàng và
hứng thú hơn” [ 8, tr 35].
 Những nghiên cứu trong nước
Trong những năm gần đây, giáo dục mầm non luôn được sự quan tâm đặc biệt
của toàn xã hội. Trong quá trình phát triển giáo dục mầm non ở Việt Nam đã có
nhiều chương trình giáo dục ra đời. Năm 1994, Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành bộ
chương trình mẫu giáo với tên gọi “Chương trình chăm sóc – giáo dục mẫu giáo và
hướng dẫn thực hiện”. Thực hiện chỉ thị số 14/2001/CT-TTg về việc đổi mới nội
dung sách giáo khoa, đổi mới phương pháp giáo dục, đổi mới kiểm tra đánh giá, đổi
mới cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học và công tác quản lí giáo dục, giáo dục mầm
non đã thử nghiệm và đưa ra chương trình thí điểm “Đổi mới hình thức tổ chức hoạt
động giáo dục trẻ”. Đến ngày 25 tháng 7 năm 2009, chương trình giáo dục mầm non
mới chính thức được ban hành theo nguyên tắc chương trình khung với độ mở cao,
phát huy tính sáng tạo của giáo viên và tính tích cực của trẻ. Cấu trúc chương trình
gồm 5 yếu tố: mục tiêu giáo dục, nội dung giáo dục, phương pháp tổ chức các hoạt
động giáo dục, các điều kiện thực hiện đánh giá.
Trên thực tế, giáo dục theo chủ đề đã được nghiên cứu cả về mặt lý luận và thực
tiễn. Giáo dục theo chủ đề được khẳng định là định hướng đúng đắn trong tiến trình đổi
mới giáo dục mầm non hiện nay. Vì vậy, khái niệm, quy trình, nội dung, hình thức,
phương pháp tổ chức giáo dục theo chủ đề được nhiều tác giả nghiên cứu như:
- Đề tài: “Xây dựng chương trình giáo dục trẻ 5 tuổi chuẩn bị đi học lớp 1 tiểu
học năm 2000” (B96-49-TĐ11) đã đề xuất một chương trình khung nhằm chăm sóc
giáo dục trẻ mẫu giáo 5 tuổi theo quan điểm đổi mới nội dung, phương pháp, cấu trúc
chương trình theo hướng tích hợp nội dung theo chủ đề, phù hợp với xu thế chung
của các nước trong khu vực và trên thế giới. Trên cơ sở phân tích nhu cầu của trẻ 5
tuổi chuẩn bị vào học lớp 1 ở nông thôn và căn cứu vào mục tiêu chương trình giáo
3


dục tiểu học năm 2000, tác giả Phan Việt Hoa và nhóm nghiên cứu đã xác định được
quan điểm tích hợp chủ đề trong biên soạn nội dung, phương pháp giáo dục trẻ 5 tuổi
chuẩn bị vào lớp 1 ở nông thôn với một chương trình chuẩn bị được vạch ra rất cụ
thể, khoa học [16, tr 5].
- Tổ Mầm non – Trường Cao đẳng Sư phạm Sóc Trăng với đề tài: “Xây dựng
hoạt động làm quen với môi trường xung quanh chủ đề phương tiện giao thông
đường bộ theo hướng tích hợp”. Đây là một công trình nghiên cứu khoa học cấp
trường nghiên cứu về: giáo dục theo chủ đề phù hợp với xu thế giáo dục mầm non ở
các nước có nền giáo dục tiên tiến như: Anh, Pháp, Thụy Điển, Mỹ. Thông qua đề tài
các giáo viên của trường Cao đẳng Sư phạm Sóc Trăng đã bước đầu hình thành được
cách thức từng bước giúp các em mầm non ở từng lứa tuổi có sự tiếp xúc với môi
trường xung quanh, mà cụ thể ở đây là các em đã tiếp cận với một số phương tiện
giao thông đường bộ quen thuộc hàng ngày. Đây là một nội dung có ý nghĩa rất thiết
thực đối với các em trong quá trình tiếp xúc với cuộc sống.
- Tài liệu “Hướng dẫn tổ chức thực hiện các hoạt động giáo dục trong trường
mầm non theo chủ đề” xuất bản năm 2013 đã cung cấp những nội dung cơ bản về
quan điểm dạy học tích hợp và mô hình giáo dục theo chủ đề. Tài liệu gồm 2 phần,
trình bày những quan niệm chung mang tính lí luận về giáo dục tích hợp, các hướng
dẫn chung, xây dựng kế hoạch giáo dục theo chủ đề và sắp xếp hệ thống các chủ đề
phù hợp với thực tế của trường, lớp, địa phương, gợi ý, hướng dẫn thực hiện nội
dung chương trình và tổ chức thực hiện các hoạt động giáo dục theo chủ đề. Ở phần
một Những vấn đề chung, các tác giả đã đưa ra những quan niệm, mang tính lý luận
chung về lý luận tích hợp, đồng thời là những hướng dẫn chung mang tính nguyên
tắc để lựa chọn nội dung, xây dựng các chủ đề và sắp xếp hệ thống các chủ đề phù
hợp với thực tế của lớp, trường, địa phương. Ở Phần 2, các tác giả đã có những sự
gợi ý, hướng dẫn thực hiện nội dung chương trình và tổ chức thực hiện các hoạt động
giáo dục theo chủ đề (phần này gồm 10 chương là 10 chủ đề khác nhau): chủ đề
trường lớp mầm non, chủ đề bản thân, chủ đề gia đình, chủ đề nghề nghiệp, chủ đề
thực vật, chủ đề động vật, chủ đề nước và các hiện tượng thời tiết, chủ đề giao thông,
chủ đề quê hương, chủ đề trường Tiểu học [35].
Bên cạnh đó, đã có một số công trình nghiên cứu về: Biện pháp quản lý thực
hiện chương trình giáo dục mầm non mới, trong đó giáo dục theo chủ đề được đề cập
4


là hình thức tổ chức của chương trình giáo dục mầm non mới do Bộ Giáo dục và Đào
tạo ban hành. Cụ thể:
- Phạm Thị Hải Yến (2010), Biện pháp quản lý thực hiện chương trình giáo dục
mầm non mới của Hiệu trưởng các trường mầm non trên địa bàn tỉnh Quảng Bình,
Đại học Sư phạm Hà Nội. Đề tài luận văn Thạc sỹ đã nêu lên được thực trạng trong
công tác quản lý thực hiện chương trình mầm non mới ở tỉnh Quảng Bình, từ đó đề
xuất nhiều biện pháp thiết thực không chỉ áp dụng ở địa phương Quảng Bình mà có
thể nhân rộng ra toàn quốc. Đặc biệt trong chương trình giáo dục mầm non mới thì
tác giả đã có sự chú ý đặc biệt đến những biện pháp quản lý để nâng cao hiệu quả
của hoạt động giáo dục mầm non theo chủ đề đã được Bộ giáo dục thực hiện từ trước
đó. [45]
- Nguyễn Thùy Linh (2011), Biện pháp quản lý thực hiện chương trình giáo dục
mầm non mới của Hiệu trưởng trường mầm non quận Cầu Giấy – Thành phố Hà
Nội, Đại học Sư phạm Hà Nội. Luận văn tốt nghiệp Thạc sỹ của Nguyễn Thùy Linh
cũng đi vào tìm hiểu về thực trạng và biện pháp quản lý thực hiện chương trình giáo
dục mầm nọn mới, nhưng cô chỉ đi vào một địa bàn hẹp hơn là ở quận Cầu giấy –
Thành phố Hà Nội. Tuy địa bàn hẹp nhưng nhờ vậy nên ưu thế của Luận văn này là
làm rõ hơn được các giải pháp cụ thể của các trường trong việc áp dụng chương trình
giáo dục mầm non mới, đặc biệt là chương trình giáo dục mầm non theo chủ đề.
Những mặt đạt được cũng như những điểm còn hạn chế mà Tác giả đưa ra là bài học
bổ ích cho những người đi sau [29].
Có thể thấy, các kết quả nghiên cứu trên cũng đã làm phong phú thêm lý luận
về quản lý nói chung và quản lý giáo dục mầm non nói riêng. Tuy nhiên, giáo dục
theo chủ đề ở trường mầm non chỉ là một nội dung nhỏ được lồng ghép trong phần
cơ sở lý luận về chương trình giáo dục mầm non mới. Các công trình chủ yếu tập
trung làm rõ vai trò tổng thể của Hiệu trưởng trong quản lý thực hiện chương trình
giáo dục mầm non mới chứ không đi sâu vào các nội dung cụ thể của quản lý hoạt
động giáo dục theo chủ đề. Các công trình nghiên cứu về thực tiễn quản lý hoạt động
giáo dục theo chủ đề còn hạn chế, đặc biệt chưa có nghiên cứu nào được tiến hành
trên địa bàn phường 3, quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh. Đó chính là những điểm
còn khuyết trong các công trình đã công bố trước đó.

5


Chính vì vậy, tác giả đã mạnh dạn lựa chọn đề tài nghiên cứu “Quản lý hoạt
động giáo dục theo chủ đề ở các trường mầm non công lập trên địa bàn phường 3,
quận 10, thành phố Hồ Chí Minh” nhằm tìm hiểu thực trạng cũng như đề xuất các
biện pháp quản lý thiết thực góp phần nâng cao chất lượng giáo dục mầm non của
Phường 3, quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh một cách đồng bộ và toàn diện hơn.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận thực tiễn, luận văn tiến hành khảo sát thực
trạng quản lý hoạt động giáo dục theo chủ đề và các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý
hoạt động này, từ đó đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý hoạt
động giáo dục theo chủ đề ở các trường mầm non trên địa bàn phường 3, quận 10,
thành phố Hồ Chí Minh.
 Nhiệm vụ nghiên cứu
Hệ thống hóa những vấn đề lý luận liên quan đến quản lý hoạt động giáo dục
theo chủ đề ở trường mầm non
Khảo sát thực trạng thực hiện và quản lý hoạt động giáo dục theo chủ đề ở
trường mầm non công lập phường 3, quận 10, thành phố Hồ Chí Minh.
Đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục theo chủ đề ở các trường
mầm non trên địa bàn phường 3, quận 10, thành phố Hồ Chí Minh. Khảo nghiệm
nhận thức tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp quản lý đã đề xuất.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
 Đối tượng nghiên cứu: Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục theo chủ đề ở
trường mầm non.
 Giới hạn nghiên cứu
 Giới hạn về đối tượng nghiên cứu
Vì thời gian hạn chế nên luận văn chỉ tập trung nghiên cứu thực trạng và một
số biện pháp quản lý hoạt động giáo dục theo chủ đề ở các trường mầm non trên địa
bàn phường 3, quận 10, thành phố Hồ Chí Minh.
 Giới hạn về địa bàn nghiên cứu
Chúng tôi tiến hành nghiên cứu tại 3 trường mầm non công lập trên địa bàn
phường 3, quận 10, thành phố Hồ Chí Minh: Trường Mầm non Thực Hành, trường
Mầm non Phường 3, trường mầm non Măng Non II.
 Giới hạn về khách thể khảo sát
6


Để điều tra thực trạng quản lý hoạt động giáo dục theo chủ đề, chúng tôi khảo sát
trên 69 khách thể, trong đó 9 CBQLvà 60 giáo viên mầm non thuộc 3 trường mầm
non công lập trên địa bàn phường 3, quận 10, thành phố Hồ Chí Minh.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
 Phương pháp luận
Luận văn được nghiên cứu và hoàn thành dựa trên quan điểm của chủ nghĩa
Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề giáo dục. Đồng thời, Luận văn cũng
đã tìm hiểu và tuân thủ những quan điểm, chủ trương đường lối của Đảng, chính sách pháp
luật của nhà nước và cụ thể là các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, các chính sách pháp luật của
nhà nước về công tác giáo dục trẻ mầm non.
 Phương pháp nghiên cứu
 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Mục đích của phương pháp này là: khảo sát thực trạng hoạt động giáo dục theo
chủ đề và thực trạng quản lý hoạt động giáo dục theo chủ đề ở các trường mầm non.


Phương pháp phỏng vấn

Phỏng vấn một số CBQL và giáo viên của các trường mầm non nhằm thu thập
các thông tin có liên quan đến nội dung nghiên cứu của đề tài như: tìm hiểu những
thuận lợi, khó khăn hay các nguyên nhân của thực trạng tổ chức và quản lý hoạt động
giáo dục theo chủ đề; tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp quản lý.
 Phương pháp chuyên gia
Xin ý kiến của các chuyên gia về tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp
mà đề tài đề xuất, từ đó khẳng định sự cần thiết của vấn đề mà Luận văn nghiên cứu.


Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động

Quan sát, nghiên cứu hồ sơ quản lý chuyên môn của Ban giám hiệu và sổ kế
hoạch giáo dục của giáo viên; hồ sơ về công tác kiểm tra, đánh giá; bồi dưỡng tập
huấn chuyên môn cho đội ngũ cán bộ, giáo viên của từng trường để đánh giá thực
trạng quản lý việc lập kế hoạch và tổ chức thực hiện các hoạt động giáo dục theo chủ
đề của các trường.
 Phương pháp phân tích và tổng hợp kinh nghiệm thực tiễn
Phân tích nguyên nhân những thuận lợi và khó khăn của các biện pháp đã áp
dụng, từ đó rút ra kết luận.
 Phương pháp thống kê toán học trong quản lý giáo dục
7


Sử dụng các công thức toán thống kê để định lượng kết quả nghiên cứu, đặc
biệt là thống kê kết quả phỏng vấn mà tác giả thực hiện để đưa ra những kết quả
chính xác, mang tính khách quan.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
 Ý nghĩa lý luận
Luận văn đã bổ sung và làm phong phú thêm hệ thống lý luận về quản lý, quản
lý giáo dục, giáo dục theo chủ đề và quản lý giáo dục theo chủ đề ở trường mầm non.
Luận văn cũng góp phần làm rõ vai trò của giáo dục theo chủ đề đối với việc đổi
mới hoạt động giáo dục ở các trường mầm non. Đồng thời phân tích được các yếu tố
ảnh hưởng đến quản lý giáo dục theo chủ đề ở trường mầm non dưới góc độ lý luận.
 Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn đã cung cấp được thực trạng về quản lý hoạt động giáo dục theo chủ
đề ở các trường mầm non công lập trên địa bàn phường 3, quận 10, thành phố Hồ
Chí Minh và các yếu tố chủ quan, khách quan tác động đến công tác quản lý này.
Những kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần giúp các cơ quan ban
ngành, các nhà quản lý giáo dục, các trường đào tạo sư phạm mầm non có thể đánh
giá lại về cách thức tổ chức, quản lý hoạt động giáo dục theo chủ đề để mang lại hiệu
quả giáo dục tốt nhất cho trẻ.
7. Cơ cấu của luận văn:
Ngoài mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục luận văn bao gồm 3
chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục theo chủ đề ở trường MN
Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục theo chủ đề ở trường mầm non
công lập phường 3, quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh
Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục theo chủ đề ở trường mầm non
công lập phường 3, quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh

8


Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC
THEO CHỦ ĐỀ Ở TRƯỜNG MẦM NON
1.1. Một số khái niệm cơ bản của đề tài
1.1.1. Quản lý
Có nhiều quan điểm khác nhau về quản lý tùy thuộc vào các cách tiếp cận,
góc độ nghiên cứu và hoàn cảnh xã hội, kinh tế, chính trị.
Theo Harold Koontz, quản lý “là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo sự phối
hợp nỗ lực của cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm” [8, tr 23]. Mục tiêu
của mọi nhà quản lý là nhằm hình thành một môi trường mà trong đó con người có
thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn
cá nhân ít nhất. Với tư cách thực hành thì cách quản lý là một nghệ thuật, còn kiến
thức có tổ chức về quản lý là một khoa học.
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “quản lý là sự tác động có mục đích, có kế
hoạch của chủ thể QL đến tập thể người lao động (nói chung là khách thể quản lý)
nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến” [14, tr 43].
Nghiên cứu các định nghĩa trên chúng ta có thể nhận thấy mặc dù các tác giả có
nhiều quan niệm khác nhau về quản lý nhưng họ đều thống nhất ở một số điểm là:
+ Quản lý luôn tồn tại với tư cách là một hệ thống gồm các yếu tố: chủ thể
quản lý, khách thể quản lý và mục đích hay mục tiêu chung của công tác quản lý do
chủ thể quản lý áp đặt hay do yêu cầu khách quan của xã hội hoặc do sự cam kết thỏa
thuận giữa chủ thể quản lý và khách thể quản lý, từ đó nảy sinh các mối quan hệ
tương tác với nhau giữa chủ thể quản lý và khách thể quản lý.
+ Bản chất của hoạt động quản lý là cách thức tác động (tổ chức, điều khiển, chỉ
huy) hợp quy luật của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong một tổ chức nhằm
làm cho tổ chức vận hành đạt hiệu quả mong muốn và đạt được mục tiêu đề ra.
Như vậy, quản lý là một hoạt động mang tính tất yếu của xã hội. Chủ thể quản
lý và khách thể quản lý luôn có mối quan hệ tác động qua lại và chịu tác động của
môi trường. Con người là yếu tố trung tâm của hoạt động quản lý vì thế quản lý vừa
là một khoa học, vừa là một nghệ thuật.

9


Trong luận văn này chúng tôi sử dụng khái niệm “Quản lý là quá trình tác
động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lýlên khách thể quản lý nhằm đạt
được mục tiêu nhất định”
1.1.2. Quản lý giáo dục
Trong lĩnh vực giáo dục, quản lý giáo dục là nhân tố tổ chức, chỉ đạo để giáo
dục thực hiện được vai trò, mục đích tồn tại của mình. Hay nói một cách khác, lịch
sử hình thành và phát triển của quản lý giáo dục có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ hữu
cơ với lịch sử hình thành và phát triển của giáo dục.
Theo tác giả M.I. Kônđacốp, quản lý giáo dục là tác động có hệ thống, có kế
hoạch, có ý thức và định hướng của chủ thể QL ở tất cả các cấp khác nhau đến tất cả
các mắt xích của hệ thống nhằm đảm bảo việc hình thành nhân cách cho các thế hệ trẻ
trên cơ sở nhận thức và vận dụng những quy luật chung của xã hội cũng như quy luật
chung của quá trình giáo dục, của sự phát triển thể lực và tâm lý của trẻ. Quản lý giáo
dục tồn tại ở tầm vĩ mô khi ta xem xét nó đối với một nền giáo dục hay một hệ thống
giáo dục. Ngược lại, trên quy mô một nhà trường quản lý giáo dục được coi là ở tầm
vĩ mô.
Trần Kiểm cho rằng: “Quản lý giáo dục là tác động có hệ thống, có kế hoạch,
có ý thức và định hướng của chủ thể QL ở các cấp khác nhau nhằm đảm bảo sự hình
thành nhân cách cho thế hệ trẻ trên cơ sở nhận thức và vận dụng những quy luật
chung của xã hội cũng như các quy luật của giáo dục, của sự phát triển tâm lý và thể
lực của trẻ em” [11, tr 25].
Về chức năng của quản lý nói chung, quản lý giáo dục nói riêng có bốn chức
năng chính: kế hoạch hóa, tổ chức, điều khiển, kiểm tra.
1.1.3. Hoạt động giáo dục theo chủ đề
Để hiểu thế nào là GDTCĐ, trước hết chúng ta cần tiếp cận khái niệm “Dạy
học tích hợp”. Bởi GDTCĐ thực chất là một trong những hình thức của dạy học
tích hợp.
Tích hợp là một khái niệm được sử dụng trong nhiều lĩnh vực. Trong lĩnh vực
khoa học giáo dục, khái niệm tích hợp xuất hiện từ thời kì khai sáng, dùng để chỉ một
quan niệm giáo dục toàn diện con người, chống lại hiện tượng làm cho con người
phát triển hài hòa, cân đối. Tích hợp còn có nghĩa là thành lập một loại hình nhà
trường mới bao gồm các thuộc tính trội của các loại hình nhà trường vốn có.
10


Tích hợp là một tiến trình của tư duy và nhận thức mang tính chất phát triển tự
nhiên của con người trong mọi lĩnh vực hoạt động khi họ muốn hướng đến hiệu quả
của chúng. Quan điểm tích hợp cho phép con người nhận ra những điều then chốt và
các mối liên hệ hữu cơ giữa các thành tố trong hệ thống và trong tiến trình hoạt động
thuộc một lĩnh vực nào đó. Việc khai thác hợp lý và có ý nghĩa các mối liên hệ này
dẫn nhà hoạt động lý luận cũng như thực tiễn đến những phát kiến mới, tránh những
trùng lắp gây lãng phí thời gian, tài chính và nhân lực. Đặc biệt, quan điểm này dẫn
người ta đến việc phát triển nhiều loại hình hoạt động, tạo môi trường áp dụng những
điều mình lĩnh hội vào thực tiễn, nhờ vậy tác động và thay đổi thực tiễn. Do vậy, tích
hợp là vấn đề của nhận thức và tư duy của con người, là triết lý/nguyên lý chi phối,
định hướng và quyết định thực tiễn hoạt động của con người.
Lý thuyết tích hợp được ứng dụng vào giáo dục trở thành một quan điểm lý
luận dạy học phổ biến trên thế giới hiện nay. Xu hướng tích hợp còn được gọi là xu
hướng liên hội đang được thực hiện trên nhiều bình diện, cấp độ trong quá trình phát
triển các chương trình giáo dục. Chương trình được xây dựng theo quan điểm tích hợp,
trước hết dựa trên quan điểm giáo dục nhằm phát triển năng lực người học.
Tư tưởng tích hợp bắt nguồn từ cơ sở khoa học và đời sống. Trước hết phải
thấy rằng cuộc sống là một bộ đại bách khoa toàn thư, là một tập đại thành của tri
thức, kinh nghiệm và phương pháp. Mọi tình huống xảy ra trong cuộc sống bao giờ
cũng là những tình huống tích hợp. Không thể giải quyết một vấn đề và nhiệm vụ
nào của lí luận và thực tiễn mà lại không sử dụng tổng hợp và phối hợp kinh nghiệm
kĩ năng đa ngành của nhiều lĩnh vực khác nhau. Tích hợp trong nhà trường sẽ giúp
học sinh tư duy và vận dụng sáng tạo kiến thức, kĩ năng, phương pháp của khối
lượng tri thức toàn diện, hài hòa và hợp lí trong giải quyết các tình huống khác nhau
và mới mẻ trong cuộc sống hiện đại.
Mục đích chung của việc học là hiểu sự liên kết của mọi hiện tượng và sự vật.
Tích hợp là cách tư duy trong đó các mối liên kết được tìm kiếm, do vậy tích hợp
làm cho việc học chân chính xảy ra. Như thế, với định nghĩa học tập là tìm kiếm các
mối liên hệ và kết nối kiến thức. Đó là quy luật tích hợp tất yếu của tiến trình học tập
chân chính. Cụ thể, sự thâm nhập có tính chất tìm tòi khám phá của học sinh vào quá
trình kiến tạo kiến thức, học tập có ý nghĩa (meaningful learning), học sâu sắc và ứng
dụng (deep learning) được xem là chủ yếu đối với việc dạy và học hiệu quả. Và cách
11


tiếp cận tìm tòi - khám phá này khuyến khích học sinh thông qua quá trình tìm kiếm
tích cực, sẽ kết hợp hơn là mở rộng các kiến thức rời rạc. Nhiều nghiên cứu ứng dụng
tâm lý học nhận thức vào giáo dục đã khẳng định: mối liên hệ giữa các khái niệm đã
học được thiết lập nhằm đảm bảo cho mỗi học sinh có thể huy động một cách hiệu
quả những kiến thức và năng lực của mình để giải quyết tình huống, và có thể đối
mặt với một khó khăn bất ngờ, một tình huống chưa từng gặp. Nhờ đó, học sinh có
điều kiện phát triển những kỹ năng xuyên môn, những khả năng có thể di chuyển
[18, tr 23]
Như vậy, muốn đạt được mục tiêu của dạy học tích hợp thì trước hết giáo viên
cần xây dựng được “Chương trình giáo dục tích hợp” mà theo Drake, Burn có các
hướng tiếp cận như sau:
- Tích hợp đa môn
- Tích hợp xuyên môn
- Tích hợp liên môn [18, tr 87]
Trong đó, các bài học dựa vào chủ đề (Theme-Based Units) là sự sắp xếp một
chuỗi nội dung các môn học thay vì thực hiện song hành là thiết kế một đơn vị bài
học đa môn. Một bài học dựa vào chủ đề thường có hơn ba lĩnh vực/môn học liên
quan đến việc học một đơn vị bài học theo chủ đề và bài học này thường được kết
thúc bằng một hoạt động đạt đến mức tích hợp cao nhất. Đơn vị bài học (units) kéo
dài trong dăm ba tuần, và toàn trường có thể tham gia vào. Một đơn vị bài học theo
chủ đề được toàn trường thực hiện có thể độc lập với kế hoạch học tập thường xuyên.
Những chương trình học tập theo chủ đề khác có thể được tiến hành ở cùng một khối
lớp[18, tr 53].
Quan điểm tích hợp nhìn nhận đứa trẻ như một nhân cách trọn vẹn và sự
phát triển của trẻ mang tính tổng thể trên các mặt: thể chất – tâm lí và xã hội. Trẻ
sống và lĩnh hội các tri thức hiểu biết trong môi trường tự nhiên – xã hội đan quyện
với nhau và không chia cắt, một hoạt động thúc đẩy sự phát triển một mặt nào đó
thì cũng thúc đẩy phát triển các mặt khác của trẻ. Với quan điểm trên, chương trình
chăm sóc giáo dục trẻ hiện nay đã được đổi mới trên cơ sở dạy học tích hợp cho trẻ
mầm non.

12


Dạy học tích hợp chính là việc học của trẻ được thực hiện thông qua việc
tham gia các hoạt động lồng ghép đa dạng trong môi trường sống của trẻ, nội dung
giáo dục và dạy học trọng tâm được lập lại thông qua tổ chức lồng ghép các hoạt
động, tạo điều kiện cho việc lĩnh hội kiến thức trở nên vững chắc hơn, phù hợp với
nhận thức mang tính tổng thể ở trẻ nhỏ.
Hoạt động dạy học ở mầm non được tổ chức theo hướng tiếp cận tích hợp các
nội dung học. Các nội dung này không phân chia theo các “bộ môn”, không phân bố
cụ thể vào các tiết học như ở cấp học phổ thông mà theo những chủ đề có chứa đựng
những tri thức sơ đẳng của đời sống văn hóa, xã hội và tự nhiên. Cách tổ chức này
tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động học tập của trẻ mẫu giáo hòa lẫn trong hoạt
động tự nhiên đầy hứng thú, sinh động [18, tr 57]
Những nội dung chủ đề ở trường mầm non “Bản thân”, “Gia đình”, “Động
vật”, “Thực vật”, “Nước và một số hiện tượng thời tiết”…làm cho trẻ có nhu cầu học
tập để giải đáp những thắc mắc, phục vụ cho cuộc sống của mình và cộng đồng. Học
tập theo hướng tích hợp giúp cho trẻ quan tâm hơn đến con người và xã hội ở xung
quanh mình, việc học gắn liền với cuộc sống đời thường là yếu tố để trẻ học tập tốt
hơn. Những thắc mắc nảy sinh từ thực tế làm nảy sinh nhu cầu giải quyết vấn đề của
trẻ. Chẳng hạn, trẻ hay đặt câu hỏi “Vì sao có sấm chớp?” “Vì sao cá sống dưới nước
mà không sống được trên cạn?”, “Vì sao không được chặt phá cây?”….
Trẻ mẫu giáo cần được phát triển toàn diện về các mặt: thể chất, nhận thức,
ngôn ngữ, tình cảm - xã hội, thẩm mỹ. Các mặt này có liên quan chặt chẽ với nhau.
Do đó, việc chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trẻ có mối quan hệ chặt chẽ với nhau
và cần được tiến hành đồng thời, không có sự tách bạch.
1.2. Hoạt động giáo dục theo chủ đề ở trường mầm non
1.2.1. Chủ đề giáo dục
Chủ đề là nội dung hoặc phần kiến thức mà trẻ có thể tìm hiểu, khám phá theo
nhiều cách khác nhau, dưới sự tổ chức hướng dẫn của giáo viên và diễn ra trong một
khoảng thời gian thích hợp, thường là 1 - 2 tuần
Một chủ đề lớn (nhóm chủ đề) có thể bao gồm một số chủ đề nhỏ. Phạm vi
kiến thức và hoạt động của một chủ đề không bị khép kín mà đượcmở rộng ra một
cách linh hoạt cho phép trẻ tìm hiểu và lĩnh hội tùy theo trình độ phát triển của độ
tuổi và của cá thể trẻ. Như vậy, chủ đề có thể rộng (lớn) hoặc cũng có thể hẹp (nhỏ).
13


Kiến thức trong một chủ đề thường mang tính tích hợp. Nói cách khác, để hiểu biết
tương đối đầy đủ về một chủ đề nào đó, người dạy và người học phải vận dụng tri
thức của nhiều ngành khoa học (khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, nghệ thuật, sức
khỏe, dinh dưỡng…).
Giáo dục theo chủ đề là hướng đổi mới của chương trình GDMN hiện nay.
Chủ đề là tâm điểm mà xoay quanh nó giáo viên có thể khai thác những vấn đề trẻ
hứng thú, quan tâm...nhằm kích thích hoạt động tư duy của trẻ. Mỗi chủ đề đều xác
định những đơn vị kiến thức, thái độ, kĩ năng cần cung cấp cho trẻ nhằm phát triển
tổng thể các mặt: nhận thức, thể chất, ngôn ngữ, tình cảm và xã hội. Sử dụng hình
thức mạng "mở" giúp giáo viên nhìn rõ các mối quan hệ giữa các nội dung kiến
thức và các hoạt động mang tính tích hợp trong phạm vi chủ đề này với chủ đề
khác. Đồng thời chương trình còn khuyến khích giáo viên áp dụng các phương
pháp dạy học khác nhau một cách sáng tạo. Tạo điều kiện để giáo viên đổi mới
phương pháp dạy học bằng cách xây dựng các góc hoạt động để họ có cơ hội sử
dụng các phương pháp và kĩ thuật nhằm tích cực hóa hoạt động tư duy của trẻ (giao
nhiệm vụ để trẻ suy nghĩ tìm cách giải quyết vấn đề) và phương pháp cùng tham
gia (nhóm nhỏ). Giáo viên có thể xác định, lựa chọn và tổ chức nhiều hoạt động để
tạo điều kiện cho trẻ có thể "học qua chơi", “học qua thực hành”. Nhờ đó trẻ có thể
lĩnh hội kiến thức và kĩ năng liên quan đến chủ đề một cách tự nhiên và có được
những kinh nghiệm mang tính tích hợp cần cho cuộc sống của trẻ. Mỗi chủ đề giáo
dục cần đảm bảo:
-

Xuất phát từ nhu cầu, hứng thú của trẻ và từ cuộc sống.

-

Được thể hiện trong các hoạt động trong ngày ở trường mầm non.

-

Được tự mình lựa chọn nguyên vật liệu, đồ chơi..trong khu vực chơi và trong lớp.

-

Một chủ đề cần được tiến hành tối thiểu từ một đến hai tuần (tùy thuộc nội dung kiến
thức, kỹ năng mà GV mong muốn đứa trẻ đạt được trong chủ đề đó) để đảm bảo vừa
có sự lặp lại và vừa có sự mở rộng cơ hội học cho trẻ hàng ngày.
Trong một chủ đề lớn bao gồm các chủ đề nhỏ. Phạm vi kiến thức và hoạt động
của một chủ đề không bị khép kín mà được mở rộng ra một cách linh hoạt, cho phép
trẻ tìm hiểu và lĩnh hội tùy theo trình độ phát triển của độ tuổi và của từng cá nhân trẻ.
Như vậy kiến thức trong từng chủ đề phụ thuộc vào kinh nghiệm của đứa trẻ và tổ
chức thực hiện chủ đề của giáo viên. Kiến thức trong từng chủ đề thường mang tính
14


tích hợp. Nói một cách khác, để hiểu biết tương đối đầy đủ về một chủ đề nào đó,
người dạy và người học phải vận dụng tri thức của nhiều ngành khoa học (khoa học tự
nhiên, khoa học xã hội, nghệ thuật, sức khỏe, dinh dưỡng...) [17, tr 19].
1.2.2. Mục tiêu giáo dục theo chủ đề ở trường mầm non
Mục tiêu chương trình GDMN được xây dựng cho trẻ cuối độ tuổi nhà trẻ và
cuối độ tuổi mẫu giáo theo từng lĩnh vực phát triển của trẻ nhằm hướng đến phát
triển toàn diện về thể chất, nhận thức, ngôn ngữ, tình cảm – xã hội và thẩm mĩ;
Chú trọng hình thành ở trẻ những chức năng tâm lí, năng lực chung của con
người. Phát triển tối đa tiềm năng vốn có, hình thành những kĩ năng sống cần thiết
cho trẻ và phù hợp với yêu cầu của gia đình, cộng đồng và xã hội;
Chuẩn bị tốt cho trẻ vào học giai đoạn sau [17, tr 28]
1.2.3. Nội dung giáo dục theo chủ đề
Nội dung chăm sóc - giáo dục trẻ được đổi mới theo hướng đảm bảo tính tích
hợp giữa nội dung nuôi dưỡng, chăm sóc sức khỏe với giáo dục phát triển, góp phần
nâng cao chất lượng chăm sóc - giáo dục trẻ trong trường mầm non hiện nay. Bổ
sung một số nội dung thiết thực đảm bảo giáo dục trẻ toàn diện gắn với cuộc sống
thực hàng ngày của đứa trẻ. Hệ thống các chủ đề hoặc các vấn đề giáo dục được thiết
kế theo sơ đồ hình "mạng lưới" với hình thức mạng mở. Mỗi chủ đề được xây dựng
hướng tới thực hiện mục tiêu cụ thể. Mạng hoạt động tích hợp cho phép giáo viên tổ
chức, phối hợp các hoạt động giáo dục trong mối liên hệ, hỗ trợ tác đông qua lại lẫn
nhau giữa các hoạt động trọng tâm và các hoạt động có tính chất bỗ trợ, nhằm mở
rộng và thực hiện nội dung chủ đề có hiệu quả. Các hoạt động và phương tiện giáo
dục được tổ chức lồng ghép, đan cài và mang tính tích hợp được lựa chọn phù hợp
với chủ đề giáo dục đáp ứng nhu cầu hứng thú của trẻ và phù hợp với đều kiện cụ
thể ở địa phương và nhóm lớp.
Nói một cách khái quát hơn, nội dung GDTCĐ bao gồm các nội dung chính
trong từng mặt phát triển của trẻ
- Nội dung giáo dục phát triển thể chất
- Nội dung giáo dục phát triển nhận thức
- Nội dung giáo dục phát triển ngôn ngữ
- Nội dung giáo dục phát triển tình cảm - xã hội
15


- Nội dung giáo dục phát triển thẩm mỹ
1.2.4. Phương pháp giáo dục theo chủ đề
Nội dung GDTCĐ rất phong phú, đa dạng. Chính vì vậy, giáo viên được thỏa
sức lựa chon phương pháp nhằm thực hiện mục tiêu của mỗi chủ đề. Khuyến khích
giáo viên tận dụng các điều kiện, hoàn cảnh ở trong môi trường lớp học và trường
học, các nguyên vật liệu sẵn có và các phế liệu thích hợp, an toàn với trẻ để hướng
dẫn trẻ tìm hiểu, khám phá và tạo ra các sản phẩm mới mang tính sáng tạo. Khi tổ
chức các hoạt động giáo dục, giáo viên có thể tổ chức lồng ghép, đan cài để tạo thành
một chỉnh thể [17, tr 27]. Theo tác giả Hồ Lam Hồng, có các phương pháp tổ chức
hoạt động giáo dục theo tích hợp chủ đề như sau:
- Tổ chức hoạt động giáo dục trên cơ sở tích hợp những nội dung liên quan
trong chủ đề. Ở đây chủ đề trẻ tìm hiểu có nội dung cốt lõi và những nội dung kết
hợp có liên quan.
- Tổ chức hoạt động giáo dục có sự kết hợp nội dung giáo dục của hai hoạt
động khác nhau.
- Tổ chức hoạt động giáo dục với việc sử dụng đa phương tiện và học liệu do
trẻ tự lựa chọn.
- Tổ chức hoạt động trải nghiệm, thí nghiệm để trẻ tự làm, tự nói ra những
quan sát và suy nghĩ của mình.
- Tận dụng các tình huống bất ngờ có thực trong cuộc sống để dạy trẻ học và
lĩnh hội những hiểu biết cần thiết và phù hợp.
- Tổ chức môi trường và tận dụng môi trường giáo dục phù hợp để giúp trẻ học.
+ Trước hết môi trường giáo dục trong lớp được phân thành các góc hoạt
động như: góc thiên nhiên, góc đọc sách, góc xây dựng, góc gia đình… Các góc hoạt
động được sắp xếp hợp lí theo nguyên tắc động phần động, tĩnh phần tĩnh để tránh
ảnh hưởng lẫn nhau trong khi trẻ hoạt động; các góc tạo những khoảng không gian
yên tĩnh khuyến khích trẻ hoạt động theo nhu cầu cá nhân. Trẻ được lựa chọn góc
chơi, bạn chơi va đồ dùng cần thiết. Tận dụng sản phẩm của hoạt động tạo hình, môi
trường xung quanh vào các góc khác nhau để trẻ chơi, trẻ học cách sử dụng khác
nhau và góp phần trang trí môi trường lớp theo chủ đề.
+ Tận dụng tối đa môi trường xung quanh (sân chơi ngoài trời, các phòng ban
và bếp trong trường, góc nuôi thú vật, vườn rau, chỗ để xe trong trường, cảnh quan
16


xung quanh trường…) để trẻ tìm hiểu sự vật hiện tượng xung quanh. Đồng thời đây là
nơi trẻ phát triển vận động tốt nhất thông qua các trò chơi dân gian, giải trí.
- Chú trọng tổ chức hoạt động chủ đạo của từng lứa tuổi.
- Chú trọng đến việc trẻ “học như thế nào” hơn là “học cái gì”, coi trọng quá
trình hơn là kết quả hoạt động, học môt cách tích cực qua tìm hiểu, trải nghiệm, học
thông qua sự hợp tác giữa trẻ với người lớn và giữa trẻ với trẻ.
- Chú trọng việc giao tiếp, gắn bó giữa người lớn với trẻ và trẻ với trẻ.
- Phối hợp các phương pháp hợp lí nhằm tăng cường ở trẻ tính chủ động, tích
cực hoạt động, đảm bảo trẻ “học mà chơi, chơi mà học”
- Coi trọng tiếp cận cá nhân trong chăm sóc, giáo dục trẻ [17; tr 45].
1.3. Quản lý hoạt động giáo dục theo chủ đềở trường mầm non
1.3.1. Vai trò, nhiệm vụ của Ban giám hiệu nhà trường trong quản lý hoạt động
giáo dục ở trường mầm non
Điều lệ trường mầm non quy định về nhiệm vụ và quyền hạn của Ban giám
hiệu nhà trường như sau:
* Hiệu trưởng: Là người chịu trách nhiệm tổ chức, quản lí các hoạt động và
chất lượng nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em. Để hoàn thành được nhiệm vụ
trên, Hiệu trưởng cần:
- Xây dựng, quy hoạch, phát triển nhà trường, lập kế hoạch và tổ chức thực
hiện chương trình giáo dục từng năm học, báo cáo đánh giá kết quả thực hiện trước
Hội đồng nhà trường và các cấp có thẩm quyền;
- Thành lập các tổ chuyên môn, tổ văn phòng và các hội đồng tư vấn trong
nhà trường; bổ nhiệm tổ trưởng, tổ phó. Đề xuất các thành viên của Hội đồng trường
trình cấp có thẩm quyền quyết định;
- Phân công, quản lý, đánh giá, xếp loại, tham gia quá trình tuyển dụng, luân
chuyển, khen thưởng đối với giáo viên, nhân viên theo quy định;
- Quản lý và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài chính, tài sản của nhà trường;
- Tiếp nhận trẻ, quản lý trẻ và các hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục,
quyết định khen thưởng, phê duyệt đánh giá trẻ theo các nội dung nuôi dưỡng, chăm
sóc, giáo dục trẻ.

17


- Tham dự các lớp bồi dưỡng về chính trị, nghiệp vụ, chuyên môn, tham gia
các hoạt động giáo dục 2 giờ trong một tuần, được hưởng chế độ phụ cấp và các
chính sách ưu đãi theo quy định;
- Thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở và tạo điều kiện cho các tổ chức chính trị
- xã hội trong nhà trường, nhà trẻ hoạt động nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ;
- Thực hiện xã hội hóa giáo dục, phát huy vai trò của nhà trường đối với cộng
đồng.
* Phó hiệu trưởng: Là người giúp việc cho Hiệu trưởng và chịu trách nhiệm
trước Hiệu trưởng về các công việc quản lí của mình. Nhiệm vụ của Phó hiệu
trưởng là:
- Chịu trách nhiệm điều hành công việc do Hiệu trưởng phân công;
- Điều hành hoạt động của nhà trường khi được Hiệu trưởng ủy quyền;
- Tham dự các lớp bồi dưỡng về chính trị, nghiệp vụ, chuyên môn, nghiệp vụ
QL, tham gia các hoạt động giáo dục 4 giờ trong một tuần, được hưởng chế độ phụ
cấp và các chính sách ưu đãi theo quy định;
1.3.2. Nội dung của quản lý hoạt động giáo dục theo chủ đề ở trường mầm non
1.3.2.1. Lập kế hoạch giáo dục theo chủ đề
Lập kế hoạch theo chủ đề thực chất là việc xây dựng kế hoạch giáo dục, kế
hoạch dạy học phù hợp với chế độ sinh hoạt cho phù hợp với nội dung chương trình
theo từng giai đoạn. Trách nhiệm của giáo viên là xây dựng kế hoạch giáo dục, tổ
chức các hoạt động trải nghiệm giúp trẻ khám phá các chủ đề phù hợp với mục tiêu
giáo dục. Như vậy, xây dựng kế hoạch GDTCĐ là việc dự kiến hệ thống các mục
tiêu cần đạt được trên trẻ, xác định và lựa chọn nội dung, phương pháp giáo dục trẻ
để thực hiện mục tiêu trong một khoảng thời gian nhất định và lên kế hoạch đánh giá
việc thực hiện nội dung giáo dục trong khoảng thời gian đó.
Xây dựng kế hoạch GDTCĐ cho trẻ mầm non phải có sự chỉ đạo thống nhất
các loại kế hoạch trong nhà trường từ kế hoạch năm học của Hiệu trưởng đến kế
hoạch chuyên môn của Phó hiệu trưởng và kế hoạch giáo dục trẻ của giáo viên. Khi
xây dựng kế hoạch theo chủ đề phải căn cứ vào chương trình khung do Bộ Giáo dục
và Đào tạo ban hành; vào đặc điểm phát triển của trẻ ở từng độ tuổi, vào điều kiện
thực tế của trường và địa phương. Nhà quản lí cần có sự kiểm tra, giám sát mục tiêu
18


đưa ra trong kế hoạch có hợp lý không, việc lựa chọn phương pháp, biện pháp, điều
kiện như thế nào để có sự điều chỉnh, thay đổi kế hoạch.
Khi xây dựng kế hoạch GDTCĐ cho trẻ mầm non cần đảm bảo một số nguyên
tắc sau:
-

Quán triệt mục tiêu GDMN vì nó có vai trò định hướng, là “kim chỉ nam” cho việc
lựa chọn nội dung, hình thức, phương pháp tổ chức các hoạt động giáo dục.

-

Phải đảm bảo tính khoa học và tính thực tiễn. Cán bộ quản lí và giáo viên phải nắm
vững chương trình GDMN cấp quốc gia, quan điểm chỉ đạo và quản lí việc thực hiện
chương trình, đặc điểm tâm sinh lý của trẻ ở từng độ tuổi.

-

Phải đảm bảo tính phát triển: Việc lựa chọn nội dung, xác định yêu cầu cần đạt, sử
dụng các phương pháp giáo dục thể hiện trong kế hoạch phải ở mức độ cao hơn so
với khả năng thực hiện của trẻ, hướng vào “vùng phát triển gần nhất”; khuyến khích
trẻ có thái độ tích cực, tìm tòi, khám phá và đạt được những tiến bộ mới.

-

Xây dựng kế hoạch phải đảm bảo tính toàn diện: kế hoạch không chỉ đề cập đến một
hoặc hai chủ đề hoạt động chủ yếu của trẻ mà nội dung kế hoạch phải thể hiện được
tất cả các hoạt động giáo dục trẻ nhằm tạo nên những tác động sư phạm mang tính
tổng hợp thông qua việc tổ chức đầy đủ các hoạt động chăm sóc và giáo dục trẻ ở
mọi thời điểm sinh hoạt trong ngày.

-

Đảm bảo tính pháp lệnh của kế hoạch: kế hoạch phải được xây dựng trên cơ sở
chương trình GDMN do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành.
Để thực hiện hoạt động GDTCĐ ở mầm non, CBQL và giáo viên cần xây
dựng các loại kế hoạch sau:

-

Kế hoạch dài hạn: kế hoạch năm học

-

Kế hoạch ngắn hạn: kế hoạch tháng (bao gồm kế hoạch chủ đề), kế hoạch tuần và kế
hoạch ngày.

-

Kế hoạch kiểm tra, đánh giá, điều chỉnh các hoạt động giáo dục. [19, tr 92]
1.3.2.2. Tổ chức thực hiện kế hoạch giáo dục theo chủ đề
Muốn hoạt động giáo dục trở thành hiện thực, mục tiêu trở thành kết quả thì
việc tổ chức, chỉ đạo thực hiện kế hoạch có ý nghĩa quyết định. Đây là nội dung cơ

19


bản tạo ra hiệu quả thực sự của hoạt động quản lý. Tổ chức thực hiện kế hoạch
GDTCĐ ở mầm non gồm những nội dung sau:
- Tổ chức triển khai các văn bản chỉ đạo thực hiện chương trình GDTCĐ. Các
văn bản chỉ đạo là cơ sở để thực hiện chương trình giáo dục. Chính vì vậy, việc triển
khai tốt các văn bản chỉ đạo tới cán bộ, giáo viên sẽ giúp họ nắm vững, nắm chắc và
thực hiện chương trình giáo dục đúng hướng, tránh trường hợp hiểu sai lệch, thực
hiện không đúng chỉ đạo.
- Tổ chức thực hiện nội dung GDTCĐ: nội dung giáo dục được xây dựng theo
từng lĩnh vực phát triển đảm bảo phối hợp chặt chẽ nội dung chăm sóc, nuôi dưỡng và
giáo dục trẻ. Nội dung giáo dục được tổ chức và cung cấp cho trẻ theo hướng tích hợp
chủ đề, đảm bảo nguyên tắc đồng tâm phát triển và phù hợp với độ tuổi.
- Tổ chức đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức các hoạt động giáo dục,
tăng cường ứng dụng các phương pháp dạy học tích cực nhằm giúp trẻ phát huy tính
tò mò, ham hiểu biết, thích khám phá, sáng tạo, tự tin giải quyết các nhiệm vụ trong
đời sống hàng ngày của trẻ, rèn luyện kĩ năng sống, chuẩn bị các năng lực cần thiết
cho trẻ sẵn sàng vào lớp Một. Đổi mới phương pháp giáo dục là yêu cầu cấp thiết để
nâng cao chất lượng GDMN, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục.
- Tổ chức xây dựng môi trường cho trẻ hoạt động: Môi trường giáo dục trong
trường mầm non là tổ hợp những điều kiện tự nhiên và xã hội cần thiết trực tiếp ảnh
hưởng đến hoạt động chăm sóc, giáo dục trẻ và hiệu quả của những hoạt động này
góp phần thực hiện tốt mục tiêu, nhiệm vụ chăm sóc và giáo dục trẻ. Môi trường đó
có ý nghĩa vô cùng quan trọng ảnh hưởng đến sự phát triển nhân cách của trẻ: Tạo cơ
hội cho trẻ tìm tòi khám phá, phát hiện nhiều điều mới lạ hấp dẫn trong cuộc sống;
trẻ được lựa chọn hoạt động phù hợp; khuyến khích trẻ tham gia tích cực, tạo cơ hội
cho trẻ bộc lộ khả năng, qua đó cung cấp kiến thức, kĩ năng nhằm hình thành và phát
triển nhân cách cho trẻ; môi trường như là người giáo viên thứ hai trong công tác tổ
chức hướng dẫn trẻ hoạt động nhằm thỏa mãn nhu cầu vui chơi và hoạt động của trẻ,
thông qua đó nhân cách trẻ được hình thành và phát triển toàn diện. Một môi trường
sạch sẽ, cósự giao tiếp cởi mở, thân thiện giữa cô và trẻ sẽ tạo được cảm giác an toàn
cho trẻ khi đến lớp, giúp trẻ phát triển về thể chất, thỏa mãn nhu cầu nhận thức và có
cơ hội được chia sẻ. Việc xây dựng môi trường giáo dục phù hợp là điều kiện,

20


phương tiện để nhà giáo dục tác động đến sự phát triển phù hợp với từng trẻ và từng
lứa tuổi.
- Tổ chức đánh giá sự phát triển của trẻ: Đánh giá trẻ là một nội dung quan
trọng trong chương trình GDMN, giúp giáo viên hiểu trẻ, biết những điểm mạnh,
đểm yếu của mình trong quá trình chăm sóc và giáo dục trẻ, từ đó có thể xây dựng,
điều chỉnh kế hoạch phù hợp với sự phát triển của trẻ và thực tế nhóm lớp.
- Bồi dưỡng CBQL, giáo viên: Trong chủ trương đổi mới GDMN đòi hỏi phải
có một đội ngũ CBQL đủ về số lượng, đảm bảo chất lượng để có thể đáp ứng với
một chương trình GDMN có độ mở cao. CBQL là những người chỉ đạo chuyên môn
trong nhà trường nên cần những người có năng lực tốt thì mới chỉ đạo tốt. Đội ngũ
giáo viên là nhân tố quyết định chất lượng của nhà trường vì giáo viên là người xây
dựng kế hoạch và trực tiếp chăm sóc, giáo dục trẻ. Do vậy, tăng cường bồi dưỡng
CBQL và giáo viên là vấn đề then chốt trong thực hiện hoạt động GDTCĐ đạt chất
lượng và hiệu quả.
- Trang bị, sử dụng hiệu quả tài liệu, thiết bị dạy học, đồ dùng, đồ chơi: Việc
trang bị đầy đủ, đúng yêu cầu các thiết bị dạy học, đồ dùng, đồ chơi cho trẻ sẽ góp
phần nâng cao chất lượng chương trình GDMN và mang lại hiệu quả cho việc thực
hiện các hoạt động GDTCĐ. Đồng thời, qua đó giúp giáo viên nhận thức rõ vai trò, tác
dụng của đồ dùng, đồ chơi trong việc thực hiện đổi mới GDMN, biết cách khai thác
triệt để và sử dụng chúng một cách hiệu quả vào các hoạt động theo từng chủ đề.
1.3.2.3. Kiểm tra, đánh giá hoạt động giáo dục theo chủ đề
Kiểm tra, đánh giá là một trong những công việc có vị trí quan trọng trong QL
nhà trường. Quản lý mà không có kiểm tra coi như không quản lý bởi kiểm tra là một
khâu của quản lý, là một chức năng cơ bản trong quá trình quản lý. Vì thế, kiểm tra
việc thực hiện hoạt động GDTCĐ được coi là một nhiệm vụ quan trọng của lãnh đạo
nhà trường nhằm đánh giá thực chất việc thực hiện chương trình giáo dục, từ đó có các
biện pháp điều chỉnh cho phù hợp. Kiểm tra thực hiện hoạt động GDTCĐ bao gồm:
- Kiểm tra thực hiện kế hoạch giáo dục
- Kiểm tra việc tổ chức các hoạt động giáo dục trẻ theo chủ đề.
- Kiểm tra cơ sở vật chất, thiết kế môi trường, sử dụng thiết bị đồ dùng đồ
chơi… cho trẻ hoạt động theo chủ đề
- Kiểm tra việc đánh giá trẻ của giáo viên
21


- Kiểm tra hồ sơ, sổ sách chuyên môn của Phó hiệu trưởng và giáo viên
- Kiểm tra công tác phối kết hợp với phụ huynh trong thực hiện chương trình
- Thực hiện công tác kiểm tra lại
- Điều chỉnh việc thực hiện chương trình GDTCĐ sau khi đã kiểm tra, đánh
giá. [18, tr 64]
1.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt độnggiáo dục theo chủ đềở trường mầm non
Công tác quản lý hoạt động GDTCĐ ở trường mầm non chịu ảnh hưởng của
nhiều yếu tố, bao gồm cả yếu tố chủ quan và yếu tố khách quan
1.4.1. Yếu tố chủ quan
- Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ quản lý của CBQL
Sự phát triển của nhà trường phụ thuộc rất lớn vào trình độ chuyên môn,
nghiệp vụ quản lý của đội ngũ CBQL. Hiệu trưởng là người trực tiếp lựa chọn,
quyết định cách thức xây dựng và hoạch định chiến lược phát triển nhà trường. Hiệu
trưởng phải am hiểu về chuyên môn, thường xuyên cập nhật thông tin mới về khoa
học GDMN để chỉ đạo, tổ chức triển khai thực hiện các hoạt động giáo dục trong nhà
trường. Tuy nhiên, trong thực tế còn nhiều CBQL vẫn chưa nhận thức được đầy đủ
nhiệm vụ, vai trò của mình cũng như sự non kém về trình độ chuyên môn, năng lực
quản lý. Chính vì vậy, hiệu quả giáo dục của nhà trường bị hạn chế từ đó.
- Tuổi đời và kinh nghiệm CBQL
Không thể phủ nhận vai trò của kinh nghiệm trong công tác quản lý. Để quản
lý hiệu quả, CBQL cần sự hiểu biết sâu sắc về các lực lượng cùng tham gia vào công
tác giáo dục trẻ như cha mẹ trẻ, chính quyền địa phương, các cấp quản lý....Những
hiểu biết này được tích lũy và làm sâu sắc thêm trong quá trình công tác của CBQL,
giúp họ chủ động thực hiện tốt nhiệm vụ hay linh hoạt trong việc giải quyết những
tình huống nảy sinh trong nhà trường. Tuy nhiên trong thực tế hiện nay, do áp lực
công việc, kinh nghiệm lập kế hoạch quản lý công việc và đặc biệt là kinh nghiệm
làm việc nhóm chưa được tập huấn rộng rãi cho CBQL, vì vậy nhiều CBQL chỉ đạo,
điều hành các hoạt động của nhà trường chưa được khoa học và hợp lý.
- Sự linh hoạt, sáng tạo trong quản lý
Quản lý là hoạt động nghề nghiệp đặc thù và phức tạp bởi sự đa dạng về đặc
điểm nhân cách, tâm lý...của các đối tượng tham gia vào giáo dục nhà trường. Bên
22


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×