Tải bản đầy đủ

Hỗ trợ dạy nghề và việc làm đối với NKT từ thực tiễn trung tâm dạy nghề, giới thiệu và giải quyết việc làm cho người khuyết tật hà tĩnh, tỉnh hà tĩnh

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

THÁI NGỌC LÂM

HỖ TRỢ DẠY NGHỀ VÀ VIỆC LÀM ĐỐI VỚI NGƢỜI
KHUYẾT TẬT TỪ THỰC TIỄN TRUNG TÂM DẠY NGHỀ,
GIỚI THIỆU VÀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO NGƢỜI
KHUYẾT TẬT HÀ TĨNH, TỈNH HÀ TĨNH

Chuyên ngành: Công tác xã hội
Mã số: 60 90 01 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC
GS.TS: VÕ KHÁNH VINH

HÀ NỘI, 2016



Lời cam đoan
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi. Những kết quả và số liệu
trong khóa luận chưa được ai công bố dưới bất kỳ hình thức nào và được thực hiện
dưới sự hướng dẫn khoa học của GS.TS. Võ Khánh Vinh.
Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm trước Học viện về sự cam đoan này.

Hà Nội, ngày.…..tháng 8 năm 2016
Tác giả

Thái Ngọc Lâm


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU................................................................................................................................. 1
Chƣơng 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ HỖ TRỢ DẠY
NGHỀ VÀ VIỆC LÀM ĐỐI VỚI NGƢỜI KHUYẾT TẬT ............................................ 10

1.1. Những vấn đề lý luận về hỗ trợ dạy nghề và việc làm đối với người khuyết tật . 10
1.2. Cơ sở pháp lý của việc hỗ trợ dạy nghề và việc làm đối với người khuyết tật… 25
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG HỖ TRỢ DẠY NGHỀ VÀ VIỆC LÀM ĐỐI VỚI
NGƢỜI KHUYẾT TẬT TẠI TRUNG TÂM DẠY NGHỀ, GIỚI THIỆU VÀ GIẢI
QUYẾT VIỆC LÀM CHO NGƢỜI KHUYẾT TẬT HÀ TĨNH, TỈNH HÀ TĨNH… .. 30

2.1. Về thực trạng địa bàn nghiên cứu ......................................................................... 30
2.2. Thực trạng về học sinh học nghề và sau khi học nghề tại Trung tâm dạy nghề,
giới thiệu và giải quyết việc làm cho người khuyết tật Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh.. ......... 31
2.3. Thực trạng về đội ngũ giáo viên và hỗ trợ kinh phí cho các lớp dạy nghề tại
Trung tâm dạy nghề, giới thiệu và giải quyết việc làm cho người khuyết tật Hà
Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh ........................................................................................................34
2.4. Thực trạng về nội dung, chương trình và kế hoạch dạy nghề và việc làm tại
Trung tâm dạy nghề, giới thiệu và giải quyết việc làm cho người khuyết tật Hà
Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh ........................................................................................................ 38
2.5. Thực trạng về cơ sở vật chất, trang thiết bị trong việc hỗ trợ dạy nghề và việc
làm cho người khuyết tật tại Trung tâm dạy nghề, giới thiệu và giải quyết việc làm
cho người khuyết tật Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh ................................................................ 41
2.6. Đánh giá khái quát về thực trạng hỗ trợ dạy nghề và việc làm cho người
khuyết tật từ thực tiễn Trung tâm dạy nghề, giới thiệu và giải quyết việc làm cho
người khuyết tật Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh ....................................................................... 52
Chƣơng 3: ĐỊNH HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƢỜNG HỖ TRỢ DẠY NGHỀ

VÀ VIỆC LÀM ĐỐI VỚI NGƢỜI KHUYẾT TẬT TẠI TỈNH HÀ TĨNH ................... 60

3.1. Định hướng hỗ trợ dạy nghề và việc làm đối với người khuyết tật tại tỉnh Hà
Tĩnh............................................................................................................................... 60
3.2. Các giải pháp tăng cường hỗ trợ dạy nghề và việc làm đối với người khuyết tật
tại tỉnh Hà Tĩnh............................................................................................................. 60
KẾT LUẬN ......................................................................................................................... 68
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO… ....................................................................... 70
PHỤ LỤC ............................................................................................................................. 73


DANH MỤC VIẾT TẮT
WHO

Tổ chức y tế Thế giới

LHQ

Liên Hiệp quốc

ILO

Tổ chức Lao động quốc tế

CTXH

Công tác xã hội

NKT

Người khuyết tật

NV CTXH

Nhân viên công tác xã hội

TW

Trung ương

UBND

Ủy ban nhân dân

LĐTBXH

Lao động - Thương binh và Xã hội

XHCN

Xã hội chủ nghĩa

CTMT

Chương trình mục tiêu


DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1. Danh sách giáo viên dạy nghề tại Trung tâm……………

37

Bảng 2.2. Thời gian đào tạo và cấp chứng chỉ cho NKT học nghề…

41

Bảng 2.3. Các giải pháp được khảo sát của đội ngũ giáo viên
2015……………………………………………..………………….
Bảng 2.4. Đánh giá khả năng tiếp thu của NKT học nghề………....

56
57

DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1. Số lượng NKT các lớp học nghề năm 2014 - 2015

35

Biểu đồ 2.2. Số lượng NKT học nghề mù chữ năm 2014 - 2015

35

Biểu đồ 2.3. Số lượng NKT tìm được việc làm năm 2014 - 2015

36

DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 2.1. Lớp học nghề Tin học văn phòng tại Trung tâm…….

46

Hình 2.2. Lớp học nghề Sữa chữa xe máy tại Trung tâm………

48

Hình 2.3. Lớp học nghề Sữa chữa điện tại Trung tâm…….……

49

Hình 2.4. Lớp học nghề Cắt may dân dụng tại Trung tâm……..

50

Hình 2.5. Lớp học Mây tre đan tại Trung tâm …...….…………

51

Hình 2.6. Xưởng Cắt may của NKT tại Trung tâm …………….

53

Hình 2.7. Xưởng In lưới của NKT tại Trung tâm……… ………

54


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Theo số liệu thống kê của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội
(LĐTBXH), hiện nay cả nước có khoảng 7,2 triệu NKT, chiếm 7,8% dân số
và dự báo, số lượng người khuyết tật(NKT) trong những năm tới sẽ tiếp tục
tăng do già hóa dân số, ô nhiễm môi trường, biến đổi khí hậu và tai nạn lao
động, tai nạn giao thông,…
Theo thống kê thì số lượng người khuyết tật(NKT) chưa được học nghề
chiếm hơn 90%, có khoảng 58% tham gia làm việc, có hơn 30% đang thất
nghiệp và những NKT đã có việc làm nhưng chủ yếu là những công việc đơn
giản bằng chân tay, có thu nhập thấp và có khoảng 70 - 80% NKT sống ở
vùng nông thôn với những điều kiện kinh tế khó khăn, cơ sở hạ tầng thấp
kém, gặp nhiều khó khăn trong việc hòa nhập với cộng đồng. trong khi đó thì
phần lớn NKT không thể sống độc lập, có khoảng 70% phải sống dựa vào gia
đình, người thân và từ trợ cấp xã hội, có trên 25% NKT tham gia làm việc
bằng các nghề thủ công truyền thống đơn giản.
Chúng ta đều biết bản thân NKT cũng như gia đình họ có hoàn cảnh đặc
biệt khó khăn, số NKT sử dụng các phương tiện phục vụ cá nhân để đi lại,
sinh hoạt, hoạt động,…ví dụ, như đường tiếp cận cho xe lăn lên xuống nhà
cao tầng là rất thấp, chỉ chiếm khoảng 2%. Bên cạnh đó phương tiện xe lăn,
xe lắc đi lại cho họ được các doanh nghiệp, tổ chức Hội, các nhà hảo tâm
trong nước và quốc tế cấp chỉ được 50%. Mặc dù bị khiếm khuyết những
NKT vẫn có ước muốn, hoài bảo, cố gắng vươn lên để học tập, làm việc để tự
nuôi sống bản thân hòa nhập với cộng đồng, hiện nay có đến 58% NKT đến
độ tuổi lao động tham gia làm việc, trong đó, có đến 30% NKT chưa có việc
làm và mong muốn tìm được việc làm và các khoản thu nhập của họ chỉ
chiếm có 40% trong tổng thu nhập và còn lại từ trợ cấp của Nhà nước, gia
đình và xã hội, chiếm đến 60%. Trên cơ sở số liệu thống kê này, cho chúng ta

1


thấy nhu cầu học nghề và việc làm của NKT là rất lớn vì nó sẽ tạo điều kiện,
giúp đỡ NKT có cơ hội việc làm bền vững, tham gia lao động tạo ra thu nhập,
góp phần ổn định cuộc sống hòa nhập với cộng đồng xã hội.
Vì vậy vấn đề hỗ trợ dạy nghề và giải quyết việc làm cho NKT tại các cơ
sở dạy nghề, các cơ sở sản xuất kinh doanh là vô cùng quan trọng và cần thiết.
Tuy nhiên để phát huy hiệu quả mang lại kết quả tích cực theo chủ trương đó
thì chúng ta cần triển khai nhiều giải pháp đồng bộ, mọi người hãy cùng
chung tay, góp sức, có những hành động thiết thực hơn để tháo gỡ những
vướng mắc, khó khăn nhằm đưa lại hiệu quả cao hơn trong việc hỗ trợ dạy
nghề và việc làm đối với NKT.
Chính những vấn đề đó, để nắm rõ được những khó khăn, thách thức mà
NKT gặp phải và muốn có việc làm ổn định, tạo thu nhập cho bản thân và gia
đình của NKT cũng như muốn hiểu sâu hơn về hỗ trợ dạy nghề và việc làm
đối với NKT trên các mặt như: Trợ giúp tư vấn, tham vấn, trợ giúp để NKT
tham gia học nghề và việc làm phù hợp với điều kiện sức khỏe, khả năng của
bản thân; hỗ trợ pháp lý; chăm sóc sức khỏe NKT,... bên cạnh đó, hỗ trợ kinh
phí dạy nghề, cơ sở vật chất kỹ thuật, máy móc trang thiết bị phù hợp, nguyên
vật liệu, nâng cao nghiệp vụ cho giáo viên dạy nghề, biên soạn chương trình
dạy nghề phù hợp cho NKT, xây dựng các mô hình sản xuất, hỗ trợ thuế, vay
vốn sản xuất,...
Với những yêu cầu và sự cần thiết trên Tôi đã chọn đề tài: “Hỗ trợ dạy
nghề và việc làm đối với NKT từ thực tiễn Trung tâm dạy nghề, giới thiệu và
giải quyết việc làm cho người khuyết tật Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh”.
Bản thân mong muốn đề tài này sẽ mang đến cho tất cả chúng ta một cái
nhìn mới, sâu sắc, rõ nét hơn về NKT và sự hiểu biết đầy đủ hơn về vấn đề hỗ
trợ dạy nghề và việc làm đối với NKT từ thực tiễn Trung tâm dạy nghề, giới
thiệu và giải quyết việc làm cho NKT Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh nói riêng và của
các cơ sở dạy nghề và giải quyết việc làm đối với NKT nói chung.

2


2. Tình hình nghiên cứu đề tài
2.1. Tình hình nghiên cứu ở trên thế giới
Theo số liệu thống kê của Tổ chức y tế Thế giới(WHO) thì hiện nay trên
thế giới có gần 1 tỷ NKT, chiếm từ 15% - 20% dân số thế giới. Số NKT nặng
chiếm hơn 345 triệu người, ở các nước phát triển có hơn 100 triệu người, ở
các nước đang phát triển có hơn 235 triệu NKT. Thống kê năm 2011 có
khoảng hơn 1 tỷ người trên thế giới có dấu hiệu khuyết tật, chiếm 15% dân
số; có khoảng từ 110 đến 190 triệu NKT có khó khăn về thực hiện chức năng;
tỷ lệ NKT có xu hướng gia tăng; ở các nước chậm phát triển có tỷ lệ khuyết
tật cao hơn các nước phát triển; khuyết tật phổ biến hơn ở trẻ em, nữ giới,
người già, người nghèo, người neo đơn...
Theo kết quả báo cáo thế giới về tình trạng khuyết tật hơn 40 năm qua và
một cái nhìn tổng quát về thực trạng khuyết tật, thì các chuyên gia nghiên cứu
mới chỉ ra rằng gần 1/5 tổng dân số ước tính trên toàn cầu sống chung với
khuyết tật, và có khoảng từ 110 đến 200 triệu NKT phải đối mặt với những
khó khăn thường xuyên như nạn đói, không có nhà ở, không được học tập,
không được chăm sóc, khám chữa bệnh, bị bóc lột sức lao động,...nhưng thực
tế cho thấy rằng những NKT đang gặp khó khăn có thể cao hơn rất nhiều. Số
lượng NKT được cung cấp dịch vụ y tế với những kỹ năng không đáp ứng
được nhu cầu của họ, cũng như dễ bị từ chối chăm sóc y tế cần thiết nhiều gấp
3 lần so với người bình thường.
Theo Tổ chức Lao động Quốc tế(ILO) đã nêu: Người khuyết tật có
quyền hưởng những chương trình giáo dục - đào tạo, phục hồi chức năng,
nghề nghiệp, trợ giúp, tư vấn những dịch vụ về sắp xếp việc làm và các dịch
vụ khác để làm cho phát triển tối đa các khả năng, kỷ năng và thúc đẩy những
quá trình hòa nhập hay tái hòa nhập xã hội của họ[28].

3


2.2. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Theo số liệu thống kê thì kết quả một cuộc điều tra cho thấy: Nước ta có
khoảng 8% hộ gia đình có NKT, tức là bình quân một hộ gia đình chiếm 1,12
% NKT; khoảng 75% hộ gia đình có NKT sinh sống ở khu vực nông thôn và
32,5% thuộc diện hộ nghèo (cao gấp 2 lần so với tỷ lệ nghèo chung cùng thời
điểm); gần 24% những hộ gia đình NKT phải sống trong điều kiện nhà tạm,
65% sống trong những ngôi nhà kiên cố và hầu như các hộ gia đình có NKT
chỉ đảm bảo được nhu cầu về ăn để tồn tại, ở và mặc cho NKT, còn lại các nhu
cầu khác như đi học văn hóa, học nghề, khám chữa bệnh,…thì khả năng đáp
ứng của các hộ gia đình là rất khó khăn, có khoảng trên 80% và gần 55% hộ
gia đình gặp trở ngại khi tiếp cận về việc làm và vay vốn sản xuất kinh doanh.
Đối với cá nhân NKT, theo kết quả cuộc điều tra mẫu phản ánh một thực
trạng đáng lo ngại về NKT và cuộc sống của họ, ví dụ như phần lớn NKT có
trình độ văn hoá thấp, chưa được học văn hóa và chưa qua đào tạo nghề.
Trong đó có khoảng 60% NKT đang thuộc độ tuổi lao động, và hiện nay mới
chỉ có 3% NKT có việc làm tạm thời ổn định và 62% trong số này đang tham
gia lao động để có thu nhập; những việc làm chủ yếu của NKT là sản xuất
nông nghiệp, nghề đơn giản, có năng suất lao động và tạo ra giá trị lợi nhuận
thấp nhất trong các lĩnh vực sản xuất của nền kinh tế quốc dân(như đan lát,
thêu ren, làm chổi, làm tăm tre,...). Số NKT có thể tự lập được cuộc sống chỉ
chiếm khoảng 11%, một tỷ lệ rất nhỏ.
Theo Bộ LĐTBXH sơ kết thực hiện 5 năm Luật NKT[21] và thực hiện
Quyết định 1019/TTg[7] về Đề án trợ giúp NKT giai đoạn 2012-2020, trong
đó, công tác dạy nghề, việc làm sau 5 năm triển khai, chúng ta thấy được
mạng lưới cơ sở dạy nghề cho NKT đã gia tăng đáng kể, từ 850 cơ sở (năm
2010) lên 1.130 cơ sở (năm 2014), trong đó có 225 cơ sở dạy nghề chuyên
biệt. Giai đoạn 2010 – 2014, cả nước có khoảng 120 nghìn NKT được hỗ trợ
dạy nghề và tạo việc làm. Trong đó, đánh giá tổng kết đến năm 2015 đã hỗ trợ
dạy nghề và giải quyết cho NKT của cả nước là 140.000 người, tiếp tục thực

4


hiện đề án trợ giúp NKT giai đoạn 2012-2020, dự kiến có khoảng 300.000
NKT được hỗ trợ học nghề miễn phí và kinh phí do Ngân sách Nhà nước cấp.
Trong những năm qua, một số địa phương đã tích cực tổ chức dạy nghề,
tư vấn và tạo việc làm cho NKT, xây dựng mô hình việc làm của NKT có
hiệu quả, hỗ trợ bằng phương pháp thông qua các chương trình, các hoạt động
như hỗ trợ mua con giống, chăn nuôi, trồng trọt, phát triển nhóm, mô hình sản
xuất quy mô vừa, nhỏ, nghề thủ công,...Có thể nói, trong 5 năm triển khai
Luật NKT, việc thực hiện chính sách pháp luật về NKT đã tạo ra những
chuyển biến tích cực, rõ nét đối với cuộc sống của NKT. Cùng với đó, sự thay
đổi về nhận thức xã hội đã giúp cho NKT ngày càng tự tin hơn, hòa nhập với
đời sống xã hội.
Hiện nay theo số liệu điều tra đến nay ở Hà Tĩnh, số NKT trên địa bàn
toàn tỉnh là 69.466 người, chiếm khoảng 5,2 dân số. Như vậy so với cả nước
thì Hà Tĩnh là tỉnh có tỷ lệ người khuyết tật tương đối cao[30].
Tuy Hà Tĩnh là một tỉnh nghèo, các nguồn thu không đủ chi và chi ngân
sách hàng năm chủ yếu do TW hỗ trợ, nhưng với sự quan của Tỉnh về triển
khai thực hiện các chính sách an sinh xã hội nói chung và NKT nói riêng rất
đúng đắn, đảm bảo và kịp thời. Hàng năm Tỉnh đã trích kinh phí phục vụ các
chương trình như làm nhà cho NKT, hỗ trợ dạy nghề, cho vay vốn ưu đãi, xây
dựng các công trình công cộng,...nhằm giúp đỡ NKT khắc phục những khó
khăn vươn lên trong cuộc sống.
Chúng ta hãy quan niệm và khẳng định rằng "Nếu chúng ta cho người ta
một con cá, có thể người ta sống được một ngày. Nếu chúng ta dạy cho họ
nghề cầu cá thì người ta có thể sống cả đời người".
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu thực trạng về kết quả đạt được, hạn chế, khó khăn và các
giải pháp nâng cao hiệu quả hỗ trợ dạy nghề và việc làm đối với NKT từ thực
tiễn Trung tâm dạy nghề, giới thiệu và giải quyết việc làm cho NKT Hà Tĩnh,
tỉnh Hà Tĩnh.

5


3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Sử dụng các phương pháp nghiên cứu khác nhau, cơ sở lý thuyết, các
chính sách; khảo sát, điều tra, phân tích...; Tìm hiểu về kết quả, hạn chế,
nguyên nhân từ thực tiễn; Đề xuất một số giải pháp, khuyến nghị nhằm nâng
cao chất lượng hỗ trợ dạy nghề và việc làm đối với NKT.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Tiến hành nghiên cứu, gồm:
- Khách thể nghiên cứu: Cán bộ, giáo viên
- Đối tượng nghiên cứu: NKT đang học nghề và làm việc tại Trung tâm
4.2. Phạm vi nghiên cứu
4.2.1. Phạm vi không gian
Nghiên cứu từ thực tiễn Trung tâm dạy nghề, giới thiệu và giải quyết
việc làm cho NKT Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh.
4.2.2. Phạm vi thời gian
Chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài này trên các số liệu, báo cáo trong
thời gian 2 năm, năm 2014 và 2015[30].
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận nghiên cứu
Theo quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin, giúp chúng ta có cách nhìn
đúng đắn và toàn diện hơn về thế giới khách quan. Mỗi khi nghiên cứu ta thấy
chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử đã chứng minh
được những quy luật cơ bản thể hiện sự luận giải và nguyên tắc chung cho
khoa học. Phải nói rằng con người là một thể thống nhất giữa các yếu tố sinh
vật và xã hội, đồng thời bản chất con người không phải là một cái trừu tượng
cố hữu của cá nhân riêng biệt, do vậy bản chất của con người là tổng hòa của
các mối quan hệ xã hội và bản chất của con người theo quan điểm của Mácxit
được hình thành và thể hiện ở những con người hiện thực.
Việt Nam là nước đang phát triển và để phát triển kinh tế, xã hội, xây
dựng con người văn hóa, văn minh thì luôn phải quan tâm đến vấn đề an sinh

6


xã hội để nhằm ổn định xã hội, vì thế trong những năm qua Đảng và Nhà
nước ta luôn quan tâm, chăm lo đến đời sống vật chất và tinh thần cho những
người nghèo, đối tượng chính sách, người có công với cách mạng, người có
hoàn cảnh khó khăn,… và NKT nói riêng, đây là truyền thống tốt đẹp, mang
tính nhân văn sâu sắc của người dân Việt Nam "lá lành đùm lá rách", truyền
thống do ông, cha ta để lại từ ngàn đời.
Tất cả những chính sách của Nhà nước ta đã đề cập đến những vấn đề ưu
tiên, trợ giúp, ưu đãi, khuyến khích đó như hỗ trợ kinh phí học nghề, đi lại, hỗ
trợ thuê đất, hỗ trợ miễn, giảm thuế, hỗ trợ vay vốn quỹ quốc gia giải quyết
việc làm,…hỗ trợ những nhu cầu thiết yếu nhất cho NKT nhằm mục tiêu nâng
cao năng lực hỗ trợ dạy nghề và việc làm cho NKT.
Như vậy, qua các thời kỳ phát triển đất nước đều có các chính sách rất
quan trọng đã đóng góp tích cực, tạo mọi thuận lợi giúp đỡ và có hiệu quả
thiết thực nhằm trợ giúp cho NKT giảm bớt những khó khăn trong đời sống
học tập, lao động,…và tỉ lệ NKT được học nghề hàng năm tăng, năm sau cao
hơn năm trước, số NKT có việc làm nhiều hơn và thu nhập ổn định, hòa nhập
cộng đồng xã hội đạt kết quả tích cực, góp phần ổn định xã hội.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
5.2.1. Phương pháp thu thập thông tin và phân tích tài liệu
Phương pháp thu thập, tổng hợp, tìm hiểu các tài liệu như sách, báo, tạp
chí, các báo cáo, các văn bản pháp luật và nắm bắt, vận dụng các lý thuyết của
ngành CTXH liên quan đến công tác hỗ trợ dạy nghề và việc làm đối với
NKT kết hợp với công tác dạy nghề NKT trong thời gian qua vào công tác
nghiên cứu, giải thích hiện tượng, từ đó nhìn nhận tính cấp thiết của việc
nghiên cứu đề tài một cách đúng đắn, khách quan nhất.
5.2.2. Phương pháp phỏng vấn sâu
Chúng ta tiến hành phỏng vấn sâu đối với cán bộ quản lý, giáo viên dạy
nghề và NKT tại trung tâm, phỏng vấn sâu 5 cán bộ giáo viên, tập trung trả lời
những câu hỏi như: NKT cảm nhận như thế nào khi sống, học tập và làm việc
tại trung tâm; được tham gia những hoạt động gì; được hưởng những quyền

7


lợi gì; có những thuận lợi gì; những khó khăn thường gặp phải,…? nhằm mục
đích giúp chúng ta hiểu rõ hơn về hỗ trợ dạy nghề và việc làm đối với NKT từ
thực tiễn Trung tâm.
5.2.3. Phương pháp điều tra khảo sát
Dùng phương pháp này, chúng tôi chọn mẫu ngẫu nhiên, số lượng 10 mẫu
để tìm hiểu các vấn đề, những khó khăn, nguyện vọng của NKT đang học
nghề và làm việc tại Trung tâm. Với mỗi phiếu khảo sát, chúng tôi xây dựng
từ 10 đến 15 câu hỏi, có những câu hỏi đóng và câu hỏi mở để tìm hiểu mức
độ hài lòng của NKT với các khía cạnh trong cuộc sống.
5.2.4. Phương pháp quan sát
Đây là phương pháp thu thập thông tin xã hội về đối tượng nghiên cứu
bằng cách tri giác trực tiếp và ghi chép tỉ mỉ mọi yếu tố, nhân tố có liên quan
đến đối tượng nghiên cứu và có ý nghĩa đối với mục tiêu của nghiên cứu.
5.2.5. Phương pháp đàm thoại
Qua các cuộc trò chuyện trực tiếp, gián tiếp để khai thác thêm thông tin,
hỗ trợ các phương pháp khác trong việc xử lý phân tích và đưa ra kết luận
khách quan, Chúng tôi đàm thoại với 5 cán bộ giáo viên và 10 người NKT tại
Trung tâm. Nội dung đàm thoại là những hoạt động đang triển khai trợ giúp
cho NKT, đánh giá kết quả đạt được thông qua can thiệp với các nhóm đối
tượng, nhu cầu về trợ giúp của Trung tâm hiện nay, những khó khăn, hạn chế
trong hoạt động cung cấp, hỗ trợ học nghề và việc làm.
5.2.6. Phương pháp phỏng vấn bằng bảng hỏi
Nguyên tắc cơ bản về việc xây dựng bảng hỏi, trên cơ sở trưng cầu ý
kiến những yêu cầu chi tiết, dễ hiểu để làm sao cho tất cả cán bộ, giáo viên và
NKT trả lời theo các nội dung yêu cầu và cung cấp thông tin chính xác.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
6.1. Ý nghĩa lý luận
Nghiên cứu đề tài hỗ trợ dạy nghề và việc làm đối với NKT từ thực tiễn
Trung tâm dạy nghề, giới thiệu và giải quyết việc làm cho NKT Hà Tĩnh, tỉnh
Hà Tĩnh có ý nghĩa hết sức quan trọng. Đề tài mang ý nghĩa lý luận sâu sắc,

8


có thể nhìn nhận công tác hỗ trợ dạy nghề và việc làm đối với NKT từ góc độ
khoa học, mô tả và đánh giá vấn đề bằng nhiều lý thuyết khác nhau, những
kiến thức từ thực tiễn được bổ sung làm phong phú thêm kho tàng kiến thức,
để phục vụ nghiên cứu, xây dựng chính sách hỗ trợ, đề ra các giải pháp có
hiệu quả,…về công tác hỗ trợ dạy nghề và việc làm đối với NKT.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Đề tài đã nghiên cứu thực trạng hỗ trợ dạy nghề và việc làm đối với
NKT từ thực tiễn Trung tâm, từ đó chúng ta thấy được vấn đề cốt lõi, có cái
nhìn tổng quát hơn, sâu sắc hơn, quy chuẩn hơn, dễ tiếp cận hơn và từ kết quả
nghiên cứu có thể đưa ra những khyến nghị nhằm giúp các cơ quan chức
năng, tổ chức, các cơ sở dạy nghề, các cơ sở sản xuất kinh doanh,…có những
định hướng, giải pháp tăng cường hỗ trợ dạy nghề và việc làm đối với NKT
đạt hiệu quả cao hơn.
7. Cơ cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, các phụ lục,
Luận văn có 3 chương sau:
Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp luật về hỗ trợ dạy nghề và việc
làm đối với người khuyết tật
Chương 2: Thực trạng hỗ trợ dạy nghề và việc làm đối với người khuyết
tật tại Trung tâm dạy nghề, giới thiệu và giải quyết việc làm cho người khuyết
tật Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh
Chương 3: Định hướng và giải pháp tăng cường hỗ trợ dạy nghề và việc
làm đối với người khuyết tật tại tỉnh Hà Tĩnh

9


CHƢƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ HỖ TRỢ DẠY
NGHỀ VÀ VIỆC LÀM ĐỐI VỚI NGƢỜI KHUYẾT TẬT
1.1.Những vấn đề lý luận về hỗ trợ dạy nghề và việc làm đối với người
khuyết tật
1.1.1. Khái niệm hỗ trợ dạy nghề và việc làm đối với người khuyết tật
Khái niệm "khuyết tật" ở trên Thế giới và Việt Nam có nhiều cách nhìn
nhận, đánh giá, cách hiểu và diễn giải khác nhau về khuyết tật, xuất phát từ sự
đa dạng của khuyết tật, sự phức tạp về mức độ khuyết tật, công cụ đo lường
và đánh giá, cũng như sự khác biệt về văn hóa, xã hội của mỗi quốc gia, cho
đến nay chưa có khái niệm thống nhất về khuyết tật.
Tổ chức Y tế Thế giới(WHO) đã không ngừng đưa ra những định nghĩa
chung cho khuyết tật từ những năm 1976 và đến năm 1988(WHO) mới đưa ra
cách phân loại quốc tế về giảm chức năng, khuyết tật, tàn tật đã là một hệ
thống tiên phong trong quá trình hiểu và đưa ra định nghĩa về khuyết tật. Theo
cách hiểu của WHO các thuật ngữ suy giảm chức năng, khuyết tật, tàn tật có
nội hàm khác nhau: Suy giảm chức năng chỉ những người có vấn đề về thể
chất; khuyết tật là những hạn chế trong hoạt động do suy giảm chức năng gây
nên; tàn tật là hạn chế hay hao hụt(do khuyết tật) khả năng thực hiện vai trò
trong xã hội.
Theo người dân Việt Nam, thì từ "khuyết tật" và "tàn tật" là hai từ để chỉ
cùng một khái niệm, từ năm 2009 trở về trước người ta vẫn dùng song song
chúng trên cả phương tiện truyền thông đại chúng và văn bản pháp quy.
Trong các pháp lệnh trước đây của Nhà nước Việt Nam thì "Tàn tật" là cụm
từ được chính thức sử dụng.
Chẳng hạn từ “khuyết”có nghĩa là không đầy đủ, thiếu mất một bộ phận,
một phần, “tật” nghĩa là có “điều gì đó không được bình thường, ít nhiều khó
chữa ở vật liệu, dụng cụ, máy móc. Còn ở người là sự bất thường, nói chung

10


không thể chữa được, của một cơ quan trong cơ thể do bẩm sinh mà có hoặc
do tai nạn hay bệnh gây ra”.
Năm 2010 Quốc hội (QH) Việt Nam đã chính thức sử dụng cụm từ
khuyết tật thay cho tàn tật trong các Bộ Luật ban hành có liên quan, cụ thể là
Luật NKT số 51/2010/QH13 có hiệu lực từ ngày 01/01/2011[21] nó phù hợp
với khái niệm và xu hướng nhìn nhận của thế giới về vấn đề NKT.
NKT là đối tượng nhận được nhiều sự quan tâm của tất cả cộng đồng xã
hội. Cộng đồng quốc tế đã có nhiều chương trình dành cho đối tượng này
nhằm giúp họ có thể sống, học tập, làm việc và hòa nhập. Xác định thế nào là
người khuyết tật là vấn đề rất quan trọng bởi có xác định chính xác thì mới
không bỏ sót đối tượng thụ hưởng các chương trình, chính sách của Nhà
nước. Quan niệm về NKT không giống nhau tùy thuộc vào nhận thức, chế độ
xã hội và thái độ của mỗi người hay nhóm người trong cộng đồng xã hội.
Theo quan niệm Quốc tế
Theo quan niệm của Tổ chức y tế thế giới (WHO) thì có ba thuật ngữ có
liên quan đến thuật ngữ tàn tật, khuyết tật đó là Khiếm khuyết, Suy giảm khả
năng và Tàn tật.
Khiếm khuyết: thuật ngữ này chỉ tình trạng bị mất hoặc tình trạng không
bình thường của một hay các bộ phận cơ thể hoặc chức năng tâm sinh lý.
Khiếm khuyết có thể là hậu quả của bệnh tật, tai nạn, các nhân tố môi trường
hoặc do bẩm sinh gây nên.
Giảm khả năng: thuật ngữ này hàm ý nói ở cấp độ cá nhân là tình trạng
giảm hoặc mất khả năng hoạt động do khiếm khuyết gây ra; hạn chế hoặc mất
chức năng: vận động, nghe, nói, nhìn hoặc giao tiếp...
Tàn tật: thuật ngữ này hàm ý nói ở cấp độ xã hội là những thiệt thòi mà
một người phải chịu do bị khuyết tật. Hậu quả của sự tương tác giữa một cá
nhân bị khiếm khuyết hoặc giảm khả năng với những rào cản trong môi
trường xã hội, văn hoá hoặc vật chất, làm cho cá nhân này không thể tham gia

11


một cách bình đẳng vào cuộc sống cộng đồng chung hoặc hoàn thành một vai
trò bình thường.
Nhìn chung, ở trên thế giới thì quan niệm về NKT cơ bản là giống nhau
về bản chất vấn đề, nhưng cách diễn đạt cũng không hoàn toàn giống nhau.
Theo quan điểm của Công ước Quốc tế về quyền con người của NKT
được phê chuẩn ngày 30/3/2007[6] cho rằng, NKT bao gồm, những người có
khiếm khuyết lâu dài về thể chất, trí tuệ, thần kinh hoặc các giác quan mà khi
tương tác với các rào cản khác nhau có thể cản trở sự tham gia đầy đủ và hiệu
quả của họ trong xã hội trên một nền tảng công bằng như những người khác
trong xã hội.
Theo đạo luật số 7277 với tên gọi là “Đạo luật tạo nên sự phục hồi chức
năng, tự phát triển, tự tin cho NKT và hòa nhập NKT vào xã hội và các mục
đích khác” được thông qua bởi Thượng nghị viện và Hạ nghị viện của Quốc
hội Phillipines vào ngày 12/7/1991 quy định: NKT là người có sự khác biệt
về khả năng và hạn chế do khiếm khuyết về giác quan, vận động và tâm thần
để thực hiện một hoạt động được coi là bình thường. Với khái niệm về người
khuyết tật thì Đạo luật 7277 của Philippin còn giải thích một số thuật ngữ
khác có liên quan đến NKT, cụ thể: Sự khiếm khuyết là sự mất, giảm hay rối
loạn về chức năng hay cấu trúc cơ thể, tâm lý và hành vi.
Khuyết tật có nghĩa là sự khiếm khuyết về vận động hay trí não có ảnh
hưởng đáng kể đến một hoặc nhiều chức năng vận động, tâm thần của một cá
nhân hay các hoạt động của cá nhân hoặc được coi là có khiếm khuyết.
Theo quan niệm ở Việt Nam
Trước đây Bộ giáo dục và Đào tạo đã ban hành Quy định về giáo dục
hòa nhập dành cho NKT số 23/2006/QĐ-BGD&ĐT, nội dung của quy định
này bao gồm: Những quy định về tổ chức, hoạt động giáo dục hòa nhập cho
NKT; giáo viên, giảng viên, nhân viên; NKT trong giáo dục hòa nhập và cơ
sở vật chất, trang thiết bị và đồ dùng dạy học. Theo Quyết định này NKT

12


được định nghĩa là “NKT không phân biệt nguồn gốc gây ra khuyết tật, là
người bị khiếm khuyết một hay nhiều bộ phận cơ thể hoặc suy giảm chức
năng biểu hiện dưới những dạng tật khác nhau, làm giảm khả năng hoạt động,
khiến cho việc sinh hoạt, học tập, lao động gặp nhiều khó khăn”.
Ngày 17/6/2010, Quốc hội(QH) Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
(XHCN) Việt Nam đã thông qua Luật Người khuyết tật số 51/2010/QH/12 và
có hiệu lực từ 01/01/2011[21], hình thức sử dụng khái niệm “người khuyết
tật” thay cho khái niệm “tàn tật” hiện hành, phù hợp với khái niệm và xu
hướng nhìn nhận của thể giới về vấn đề khuyết tật.
Theo quy định của Luật NKT thì NKT được hiểu là “Người bị khiếm
khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu
hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập khó khăn”. Khuyết
tật được phân loại: Tật vận động, tật giác quan (câm, mù, điếc,…), tật trí tuệ,
tật thần kinh tâm thần, khuyết tật khác và hạng khuyết tật gồm: NKT đặc biệt
nặng, NKT nặng, NKT nhẹ.
Khái niệm "Dạy nghề" được hiểu như "Luật Dạy nghề" đã định nghĩa:
"Dạy nghề là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái
độ nghề nghiệp cần thiết cho người học nghề để có thể tìm được việc làm
hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khoá học"[19]. Nghề là một lĩnh vực
hoạt động lao động mà trong đó, nhờ được đào tạo, con người có được những
tri thức, những kỹ năng để làm ra các loại sản phẩm vật chất hay tinh thần nào
đó, đáp ứng được những nhu cầu của xã hội. Dạy nghề có thể là những hoạt
động dạy và học tại nơi làm việc, các cơ sở dạy nghề, trung tâm đào tạo, các
lớp học không chính quy nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề
nghiệp cần thiết cho người học nghề để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo
việc làm sau khi hoàn thành khoá học.
Mục tiêu dạy nghề cho NKT nhằm trang bị cho người học nghề kiến
thức chuyên môn và năng lực thực hành các công việc của một nghề; có khả

13


năng làm việc độc lập và tổ chức làm việc nhóm; có khả năng sáng tạo, ứng
dụng kỹ thuật, công nghệ vào công việc; giải quyết được các tình huống phức
tạp trong thực tế, có đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác
phong công nghiệp, có sức khỏe, tạo điều kiện cho người học nghề sau khi tốt
nghiệp có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc tiếp tục học lên trình
độ cao hơn.
Khái niệm về "hỗ trợ dạy nghề là các hoạt động trợ giúp người học nghề
một cách đầy đủ về tất cả các mặt nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ
nghề nghiệp cần thiết cho người học nghề để có thể tìm được việc làm hoặc tự
tạo việc làm sau khi hoàn thành khoá học".
Theo góc độ Công tác xã hội(CTXH) thì hỗ trợ dạy nghề cho NKT chính
là sự hỗ trợ về một số mặt, như sau:
- Đội ngũ giáo viên dạy nghề cho NKT cần có trình độ chuyên môn đạt
yêu cầu, tâm huyết với nghề, cần có những kiến thức riêng về NKT như đặc
điểm, nhu cầu, tâm sinh lý của NKT,...Ngoài ra phải tận tụy, trách nhiệm,
chịu khó, nhiệt tình, biết hy sinh,…thậm chí phải hiểu các chính sách, pháp
luật, biết ngôn ngữ NKT nghe nói,…
- Hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật: phải được thiết kế đặc biệt phù hợp
với người khuyết tật như có đường đi riêng giành cho xe lăn, bàn ghế trang
thiết bị phù hợp với dạng khuyết tật,...Đồng thời có đầy đủ các phương tiện
dạy học, máy móc trang thiết bị phù hợp, cũng như nguyên vật liệu phục vụ
cho quá trình thực hành học nghề của NKT.
- Kinh phí hỗ trợ dạy nghề phải cấp đảm bảo, đáp ứng phục vụ dạy nghề
và cần được huy động từ các cấp, các ngành, các địa phương, các tổ chức và
cá nhân trong và ngoài nước.
- Chương trình dạy nghề cho NKT, gồm: Chương trình, giáo trình dạy
nghề, giáo án, thời gian, các loại sổ sách, hồ sơ khác của quá trình học nghề,

14


hình thức giảng dạy lý thuyết, thực hành (phù hợp với từng loại khuyết tật khi
được học nghề).
Để hiểu rõ khái niệm và bản chất của việc làm ta phải liên hệ đến phạm
trù lao động vì giữa chúng có mối quan hệ mật thiết với nhau.
Lao động trước hết là một hành động diễn ra giữa con người với giới tự
nhiên, trong lao động con người đã vận dụng trí lực và thể lực cùng với công
cụ tác động vào giới tự nhiên tạo ra sản phẩm phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt,
đời sống con người, lao động là một yếu tố tất yếu không thể thiếu được của
con người, nó là hoạt động rất cần thiết và gắn chặt với lợi ích của con người.
Con người không thể sống khi không có lao động.
Quá trình lao động đồng thời là quá trình sử dụng sức lao động, sức lao
động là năng lực của con người nó bao gồm cả thể lực và trí lực, nó là yếu tố
tích cực đóng vai trò trung tâm trong suốt quá trình lao động, là yếu tố khởi
đầu, quyết định trong quá trình sản xuất, sản phẩm hàng hoá có thể được ra
đời hay không thì nó phải phụ thuộc vào quá trình sử dụng sức lao động.
Việc làm là một phạm trù tồn tại khách quan trong nền sản xuất xã hội,
phụ thuộc vào các điều kiện hiện có của nền sản xuất. Người lao động được
coi là có việc làm khi chiếm giữ một vị trí nhất định trong hệ thống sản xuất
của xã hội. Từ việc làm mà người lao động mới thực hiện được quá trình lao
động tạo ra sản phẩm cho xã hội, cho bản thân.
Như vậy một hoạt động được coi là việc làm khi có những đặc điểm như:
Công việc mà người lao động nhận được tiền công, đó là những công việc mà
người lao động thu lợi nhuận cho bản thân và gia đình, hoạt động đó phải
được pháp luật thừa nhận.
Chúng ta có thể hiểu rằng "Việc làm là những hoạt động lao động được
trả công bằng tiền hoặc hiện vật cho người lao động".

15


1.1.2. Nguyên tắc hỗ trợ dạy nghề và việc làm đối với người khuyết tật
1.1.2.1. Nguyên tắc hỗ trợ dạy nghề
Khi triển khai làm việc thì đều phải có cách làm, phương pháp và nguyên
tắc để thực hiện nó, nếu không sẽ dẫn đến hiệu quả rất thấp. Đặc biệt đối với
NKT lại có một nguyên tắc đặc thù, nó giúp chúng ta định hướng cho người
thực hiện trong từng lĩnh vực, từng công việc cụ thể. Hoạt động hỗ trợ dạy
nghề cho NKT cũng có những nguyên tắc riêng quan trọng buộc các nhà quản
lý, cán bộ giáo viên chúng ta phải hiểu và nắm rõ khi làm việc, tiếp xúc và
dạy nghề NKT có hiệu quả, đó là:
- Chấp nhận sự cá biệt, đây là nguyên tắc quan trọng khi làm việc với
NKT bởi bản thân NKT đã là sự cá biệt, chúng ta cần phải biết chấp nhận sự
cá biệt của mỗi cá nhân NKT. Người khuyết tật có hoàn cảnh sống, nhu cầu,
cảm xúc, mong muốn và cả những ưu điểm, nhược điểm, kể cả dạng tật cũng
khác nhau. Do đó trong quá trình hỗ trợ NKT học nghề đòi hỏi ta luôn cần
sáng tạo trong cách tiếp cận giúp đỡ từng NKT. Ngay cả khi có thể NKT gặp
những khó khăn như nhau về học nghề thì cách giúp đỡ giải quyết cũng khác
nhau do mỗi cá nhân có hoàn cảnh, tâm tư, tình cảm, suy nghĩ, cảm xúc,
những điểm mạnh, điểm yếu khác nhau. Ví dụ trong vấn đề lựa chọn ngành
nghề để theo học nhưng việc hỗ trợ NKT lựa chọn ngành nghề học phù hợp
thì có cách thức khác nhau, có em tự chọn nghề để học, có em lại do gia đình
NKT chọn nghề, tức là tùy thuộc vào điều kiện, nguyện vọng, hoàn cảnh, sở
thích, khả năng của NKT.
- Tôn trọng NKT, bởi vì được tôn trọng là một trong những nhu cầu thiết
yếu của con người nó giống như các nhu cầu ăn, mặc, ở,… Hơn ai hết người
khuyết tật cần được tôn trọng trong xã hội. Tôn trọng NKT là thái độ không
phán xét, không xem thường miệt thị hoặc quá chú tâm đến sự khuyết tật của
họ. Bằng thái độ chân thành và niềm mong ước sâu sắc để hỗ trợ NKT học
nghề giúp họ phát triển hòa nhập cộng đồng tìm kiếm được công việc phù hợp

16


với ngành nghề đã học. Trong quá trình hỗ trợ dạy nghề cho NKT thì tôn
trọng người khuyết tật cần được thể hiện ở việc để NKT tự quyết định ngành
nghề mình sẽ theo học đồng thời hỗ trợ đầy đủ về cơ sở vật chất kỹ thuật,
nguyên vật liệu, giáo viên có trình độ kinh nghiệm,...để NKT học nghề có
chất lượng cao.
- Lắng nghe, lắng nghe để thấu hiểu NKT nói, chia sẽ tâm tư, nguyện
vọng, khó khăn, nhu cầu để chúng ta hiểu và dạy nghề có chất lượng, hiệu
quả. Vấn đề lắng nghe không phải dễ vì nó đòi hỏi sự lắng nghe một cách
chân thành, hợp tác, nghe sự đồng cảm từ tấm lòng, từ trái tim thì người đối
diện mới nói, mới bộc lộ tâm tư của họ. Do đó mà nghe không phải ở thế thụ
động mà là một thái độ tích cực, có chức năng khuyến khích khơi dậy sự cởi
mở của người đối thoại. Như vậy mới hiểu nhau, mới thông cảm và hợp tác
tốt được.
Trong hỗ trợ dạy nghề cho NKT, việc lắng nghe không chỉ lắng nghe
bằng khối óc mà còn nghe bằng chính trái tim để có thể hiểu đầy đủ thông tin
và nhu cầu của NKT trong điều kiện các dạng khuyết tật đang tác động trực
tiếp lên thể chất và tinh thần của họ, nhất là đối với người khiếm thính. Lắng
nghe còn thể hiện ở thái độ tôn trọng, chấp nhận không phê phán đánh giá
NKT, cố gắng tìm hiểu vì sao họ bị như vậy? họ cần hỗ trợ những gì?...
Ngoài ra cần lưu ý một số phương pháp giúp chúng ta lắng nghe NKT
nói có hiệu quả trong khi trò chuyện, giao tiếp:
- Phải chú ý khi trò chuyện với NKT bằng tất cả sự kính trọng, trò
chuyện, nhìn thẳng vào mắt họ, bày tỏ sự đồng tình bằng cách gật đầu, thể
hiện mình đang sẵn sàng nghe họ nói, thái độ cởi mở, thân tình.
- Phải hiểu và trả lời các câu hỏi, do vậy mà giáo viên cũng phải hiểu
biết, học thêm một số ngôn ngữ khiếm thính, ví dụ nói chuyện với NKT
khiếm thính thì người cán bộ giáo viên phải biết được ký hiệu, ngôn ngữ của
người khiếm thính.

17


- Chú tâm để hiểu chứ không phải để biết, tập trung để hiểu quan điểm
và cả ý nghĩa phía sau lời nói của NKT.
- Phản hồi để hiểu thêm thông tin, ý kiến và cảm xúc, đặt câu hỏi khuyến
khích NKT cung cấp thêm thông tin, lật lại vấn đề từ góc nhìn của người
nghe.
- Đặt niềm tin vào khả năng tự giải quyết của NKT trong hỗ trợ dạy nghề
cho NKT, tin vào tính tự quyết của Người thụ hưởng dịch vụ(Thân chủ) là
nguyên tắc rất quan trọng bởi hơn ai hết chính bản thân họ mới hiểu về hoàn
cảnh, suy nghĩ, cảm xúc những ưu khuyết điểm của mình, vì vậy họ chính là
người tự giải quyết vấn đề của mình. Tuy nhiên, không phải bỏ mặc người
khuyết tật, mà chúng ta cần giúp đối tượng nhận ra điểm mạnh của mình,
phân tích, tìm ra những giải pháp, những nguồn hỗ trợ khác nhau để đối tượng
có thể tự mình quyết định giải quyết vấn đề của mình. Đồng thời cần chú ý
trước khi để họ tự quyết định hãy nói rõ những khó khăn, thuận lợi, cơ hội và
thách thức để họ tự quyết định vấn đề của mình.
Quá trình thực hiện nguyên tắc này, cần cân nhắc và can thiệp trong
những trường hợp xét thấy quyết định của thân chủ gây tổn thương nghiêm
trọng cho chính thân chủ hoặc cho người khác hoặc thân chủ không có khả
năng tự đưa ra quyết định, chẳng hạn NKT trí tuệ, tâm thần thì cần sự giúp đỡ
rất nhiều từ chúng ta để quyết định các vấn đề của chính bản thân họ.
Ngoài những nguyên tắc làm việc trên thì nguyên tắc rất quan trọng khi
làm việc với NKT đó là sự trung thực, nhất là trong vấn đề hỗ trợ dạy nghề
cho NKT. Trong quá trình học nghề NKT sẽ được hỗ trợ về cở sở vật chất kỹ
thuật, nguyên vật liệu, kinh phí học nghề,... nếu không trung thực liệu rằng
những hỗ trợ đó có đến với NKT một cách đầy đủ không? Để giúp NKT có
điều kiện học nghề tốt nhất, mang lại hiệu quả thiết thực nhất như thế nào?.

18


1.1.2.2. Nguyên tắc hỗ trợ việc làm đối với người khuyết tật
Để NKT có cơ hội và điều kiện làm việc bình đẳng như những người
bình thường khác thì Nhà Nước ta đã ban hành các chính sách dành cho NKT,
trong đó có Luật NKT quy định rất rõ các nguyên tắc cơ bản sau:
- Không phân biệt đối xử đối với NKT trong lĩnh vực việc làm, nguyên tắc này

xuất phát từ vấn đề quyền con người. NKT cũng là con người nên họ có
quyền được đối xử bình đẳng và công bằng như những người khác ở trong
mọi lĩnh vực và trong đó có lĩnh vực việc làm. NKT bị khiếm khuyết một hay
nhiều bộ phận nên có được việc làm đối với họ rất khó khăn. Thực tế hiện nay
những người sử dụng lao động không muốn nhận những NKT mặc dù trong
Luật NKT có quy định, bởi lý do năng suất lao động của NKT thấp hơn so với
người không khuyết tật, hơn nữa trong một số trường hợp sử dụng lao động
khuyết tật thì người sử dụng lao động còn phải đầu tư cơ sở vật chất để tạo
môi trường làm việc thuận lợi cho NKT. Chính điều này tạo nên sự phân biệt
đối xử việc làm giữa NKT và người không khuyết tật. Phân biệt đối xử bao
gồm phân biệt đối xử trực tiếp (là sự đối xử không công bằng giữa người lao
động khuyết tật và người lao động không khuyết tật được quy định trong luật
pháp hoặc các thông lệ thực tiễn gây nên sự khác biệt rõ ràng giữa những
người lao động này) và phân biệt đối xử gián tiếp (là những quy định pháp
luật hoặc các thông lệ thực tiễn gián tiếp làm triệt bỏ hoặc làm phương hại sự
bình đẳng cơ may hoặc đối xử giữa những NKT và người không khuyết tật
trên thực tế). Nguyên tắc này đã được Tổ chức lao động quốc tết (ILO)[28]
quy định trong Công ước số 111/Công ước về phân biệt đối xử trong việc làm
nghề nghiệp. Nguyên tắc không phân biệt đối xử với NKT trong lĩnh vực việc
làm thể hiện ở việc NKT và người không khuyết tật đều được đối xử bình
đẳng về việc làm, cơ hộ tìm kiếm việc làm cũng như quá trình duy trì và đảm
bảo việc đó.

19


- Nguyên tắc hỗ trợ, điều chỉnh hợp lý đối với NKT trong lĩnh vực việc
làm. NKT là một trong những đối tượng lao động đặc thù, do những đặc điểm
về thể chất nên họ gặp nhiều khó khăn trong tìm kiếm việc làm cũng như duy
trì việc làm, hơn thế họ cần được làm việc trong một môi trường đặc thù,
riêng biệt phù hợp với sức khỏe. Chính vì vậy cần phải có sự hỗ trợ, điều
chỉnh hợp lý cho NKT có việc làm và có việc làm bền vững, tức là thực hiện
quyền việc làm của mình. Để NKT bình đẳng như người khác về cơ hội việc
làm cũng như duy trì nó thì cần phải có sự hỗ trợ, điều chỉnh hợp lý cho NKT
để họ có thể tìm kiếm được việc làm và có được việc làm bền vững, được
thực hiện quyền việc làm của mình. Những hỗ trợ đặc biệt nhằm tạo cơ hội
bình đẳng và đối xử bình đẳng giữa lao động khuyết tật với lao động không
khuyết tật không bị coi là phân biệt đối xử mà chỉ là việc làm nhằm tạo điều
kiện để NKT được bình đẳng ngang bằng với những người lao động khác,
như nam - nữ, giàu - nghèo, thành thị - nông thôn,…giúp họ vươn lên trong
cuộc sống và hòa nhập với cộng đồng.
Để việc hỗ trợ, điều chỉnh này được đảm bảo thực thi trên thực tế thì Nhà
nước với tư cách là chủ thể quyền lực phải giữ vai trò chủ đạo trong việc hỗ
trợ, điều chỉnh phù hợp. Bản thân NKT cũng phải có những cố gắng, xóa bỏ
mặc cảm, tự ti nhất định và người sử dụng lao động cũng phải có trách nhiệm
hỗ trợ một phần. Tuy nhiên sự hỗ trợ điều chỉnh này không có nghĩa làm gánh
nặng cho các đơn vị sử dụng lao động có sử dụng lao động là NKT, Nhà nước
sẽ chịu trách nhiệm chính trong việc hỗ trợ điều chỉnh nói trên và bản thân
NKT cũng phải tự cố gắng vươn lên, vượt qua chính mình.
1.1.3. Vai trò của hỗ trợ dạy nghề và việc làm đối với người khuyết tật
1.1.3.1.Vai trò của hỗ trợ dạy nghề đối với người khuyết tật
Hỗ trợ dạy nghề đối với NKT có vai trò hết sức quan trọng nó bao gồm
rất nhiều vấn đề và nó có mối quan hệ khăng khít, đan xen, bền chặt với nhau,
và tác động qua lại lẫn nhau, bổ sung cho nhau, cũng có lúc mâu thuẫn nhau.

20


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×