Tải bản đầy đủ

CHÍNH SÁCH CỦA HOA KÌ ĐỐI VỚI GRUDIA

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
_______________

Trần Thị Trâm Anh

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

Thành phố Hồ Chí Minh - 2011


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
_______________

Trần Thị Trâm Anh

Chuyên ngành : Lịch sử thế giới
Mã số
: 60 22 50


LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
T.S. LÊ PHỤNG HOÀNG

Thành phố Hồ Chí Minh - 2011


LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ
từ phía nhà trường, thầy cô, đồng nghiệp, bạn bè và người thân.
Lời đầu tiên, tôi xin được tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đến TS. Lê Phụng
Hoàng, người thầy đã tận tình giảng dạy, hướng dẫn và động viên tôi trong suốt
thời gian thực hiện luận văn này.
Xin chân thành cảm ơn quý Thầy Cô khoa Lịch Sử – Trường Đại học Sư
phạm thành phố Hồ Chí Minh và Trường Đại học KHXH & NV đã truyền đạt
những kiến thức, những kinh nghiệm thực tiễn cho tôi trong suốt khóa học và đóng
góp những ý kiến quý báu để tôi có thể hoàn thiện luận văn của mình.
Với lòng biết ơn chân thành nhất, tôi xin được cảm ơn quý thầy cô khoa Lịch
sử Trường Đại học Quy Nhơn đã tạo điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi trong suốt
quá trình học tập, công tác và thực hiện đề tài nghiên cứu.
Xin gửi lời cảm ơn đến thầy cô, các anh chị đang công tác tại Phòng Sau Đại
Học và Thư Viện Trường Đại học Sư Phạm thành phố Hồ Chí Minh đã hỗ trợ và
giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thu thập tài liệu để thực hiện luận văn.
Cuối cùng, xin cảm ơn gia đình và bạn bè, đồng nghiệp đã hỗ trợ, động viên
tôi học tập, công tác và hoàn thành luận văn.

Trần Thị Trâm Anh


MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN ............................................................................................................. 1
T
1

T
1

MỤC LỤC ................................................................................................................... 2
T

1

T
1

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ........................................................................ 4
T
1

T
1

MỞ ĐẦU...................................................................................................................... 5
T
1

T
1

1. Lý do chọn đề tài ........................................................................................................... 5
T
1

T
1

2. Lịch sử vấn đề ............................................................................................................... 6
T
1

T
1

3. Nguồn tài liệu và phạm vi nghiên cứu ........................................................................ 9
T
1

T
1

4. Phương pháp nghiên cứu ............................................................................................. 9
T
1

T
1

5. Đóng góp của đề tài .................................................................................................... 10
T
1

T
1

6. Cấu trúc của luận văn ................................................................................................ 10
T
1

T
1

Chương 1: TỔNG QUAN VỀ GRUDIA VÀ CHÍNH SÁCH CỦA HOA KỲ ĐỐI
VỚI GRUDIA GIAI ĐOẠN 1991-1993 .................................................................. 12
T
1

T
1

1.1. Tổng quan về Grudia .............................................................................................. 12
T
1

T
1

1.1.1. Đất nước và con người ..........................................................................................12
T
1

T
1

1.1.2. Lịch sử - chính trị..................................................................................................14
T
1

T
1

1.1.3. Quan hệ giữa Grudia và Nga ................................................................................21
T
1

T
1

1.2. Chính sách của Hoa Kỳ trên phạm vi toàn cầu và đối với Grudia giai đoạn 1991
- 1993 ................................................................................................................................ 26
T
1

T
1

1.2.1. Chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ trên phạm vi toàn cầu .....................................26
T
1

T
1

1.2.2. Chính sách của Hoa Kỳ đối với khu vực hậu Xô Viết và Grudia.........................28
T
1

T
1

Chương 2: CHÍNH SÁCH CỦA HOA KỲ ĐỐI VỚI GRUDIA DƯỚI THỜI
TỔNG THỐNG WILLIAM J. CLINTON (1993 – 2001)..................................... 32
T
1

T
1

2.1. Sự điều chỉnh chính sách đối ngoại toàn cầu của Hoa Kỳ dưới thời Tổng thống
William J. Clinton (1993-2001)...................................................................................... 32
T
1

T
1

2.1.1. Bối cảnh quốc tế và trong nước Mỹ......................................................................32
T
1

T
1

2.1.2. Sự điều chỉnh chính sách đối ngoại toàn cầu của chính quyền William J. Clinton
.........................................................................................................................................34
T
1

T
1

2.2. Chính sách của Chính quyền William J. Clinton đối với khu vực hậu Xô Viết
(1993-2001) ...................................................................................................................... 40
T
1

T
1

2.3. Chính sách của Hoa Kỳ đối với Grudia (1993-2001)............................................ 43
T
1

T
1

2.3.1. Dân chủ và quyền con người ................................................................................43
T
1

T
1

2.3.2. Hợp tác khu vực và giải quyết các xung đột .........................................................45
T
1

T
1


2.3.3. Phát triển năng lượng và hành lang vận chuyển năng lượng ................................46
T
1

T
1

2.3.4. Hợp tác và đảm bảo an ninh .................................................................................50
T
1

T
1

Chương 3: SỰ ĐIỀU CHỈNH VÀ THÚC ĐẨY CHÍNH SÁCH CỦA HOA KỲ
ĐỐI VỚI GRUDIA DƯỚI THỜI TỔNG THỐNG GEORGE W. BUSH (2001 2009) ........................................................................................................................... 56
T
1

T
1

3.1. Các nhân tố dẫn đến việc điều chỉnh và thúc đẩy chính sách của Hoa Kỳ đối với
Grudia giai đoạn 2001-2009 ........................................................................................... 56
T
1

T
1

3.1.1. Tác động của sự kiện 11/9 và sự điều chỉnh chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ...56
T
1

T
1

3.1.2. Sự phục hồi của nước Nga và chính sách của Nga đối với Grudia ......................62
T
1

T
1

3.1.3. Những lo ngại của Hoa Kỳ đối với chính quyền Shevardnaze .............................66
T
1

T
1

3.1.4. Vị trí địa-chiến lược, địa-chính trị, địa–kinh tế của Grudia trong chính sách của
Hoa Kỳ (2001-2009) .......................................................................................................71
T
1

T
1

3.2. Sự điều chỉnh và thúc đẩy chính sách của Hoa Kỳ đối với Grudia dưới thời Tổng
thống George W. Bush ................................................................................................... 75
T
1

T
1

3.2.1. Sự tiến triển trong lĩnh vực an ninh năng lượng ...................................................75
T
1

T
1

3.2.2. Thúc đẩy “Cách mạng sắc màu” và hỗ trợ dân chủ ..............................................77
T
1

T
1

3.2.3. Đẩy mạnh hợp tác an ninh - quân sự ....................................................................85
T
1

T
1

3.2.4. Giúp đỡ giải quyết chia cắt lãnh thổ .....................................................................90
T
1

T
1

3.2.5. Hiệp định đối tác chiến lược – thành tựu quan trọng trong việc thúc đẩy chính
sách của Hoa Kỳ đối với Grudia .....................................................................................95
T
1

T
1

KẾT LUẬN ............................................................................................................. 101
T
1

T
1

TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................................................... 104
T
1

T
1

PHỤ LỤC ................................................................................................................ 111
T
1

T
1


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BTC (Baku-Tbilisi-Ceyhan)

:

Đường ống dẫn dầu Baku – Tbilisi
- Ceyhan

NATO (North Atlantic Treaty Organization)

:

Hiệp ước quân sự Bắc Đại Tây
Dương.

NIS (New Independent States)

:

OSCE (Organization Security Cooperation Europe) :

Các quốc gia mới độc lập.
Tổ chức an ninh và hợp tác Châu
Âu.

SCP (South Caucasus Pipeline)

:

Đường ống Nam Cápcadơ / Hay
còn gọi là đường ống BTZ (Baku –
Tbilisi - Erzurum): Đường ống dẫn
khí Baku – Tbilisi – Erzurum.

SNG/CIS (Commonwealth of Independent States)

:

Cộng đồng các quốc gia độc lập.

TBCN

:

Tư bản chủ nghĩa

XHCN

:

Xã hội chủ nghĩa


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Ngay sau Chiến tranh thế giới thứ hai, giới cầm quyền Mỹ đã nuôi tham vọng bá chủ
thế giới. Nhưng sức mạnh và ảnh hưởng to lớn của Liên Xô trên trường quốc tế đã làm cho
tham vọng thống trị thế giới của Mỹ không trở thành hiện thực. Trong suốt thời kỳ “Chiến
tranh lạnh” (1947-1991), Liên Xô và Mỹ tồn tại với tư cách hai siêu cường đứng đầu hai hệ
thống chính trị - xã hội đối lập, kiềm chế, chi phối lẫn nhau, đồng thời chi phối đời sống
chính trị thế giới và hệ thống các quan hệ quốc tế. “Chiến tranh lạnh” giữa hai siêu cường
này đã đặt cả thế giới vào tình trạng đối đầu căng thẳng và thù địch. Liên Xô tạo ảnh hưởng
mạnh mẽ đối với Đông Âu, các nước xã hội chủ nghĩa và nhất là ở các nước Cộng hòa thuộc
Liên bang Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô Viết. Trái lại, Mỹ có ảnh hưởng rất lớn tại Tây
Âu và các nước tư bản chủ nghĩa khác. Vào lúc Chiến tranh lạnh đi dần đến chỗ kết thúc,
chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu lần lượt sụp đổ, siêu cường Liên bang Xô
Viết hùng mạnh tan rã. Các nước Cộng hòa trong Liên bang Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô
Viết lần lượt tách ra. Mười hai trong số mười lăm nước tập hợp lại trong Cộng đồng các
quốc gia độc lập (SNG/CIS), trừ ba nước BanTích (Extônia, Lítva, Látvia). Ngay sau khi
Liên Xô tan rã, trong hoàn cảnh nước Nga chưa thoát khỏi khủng hoảng và các nước vừa
mới tách ra độc lập vẫn phải đối mặt với những bất ổn về chính trị, yếu kém về kinh tế thì
kết quả hiển nhiên là Mỹ đã trở thành siêu cường thế giới duy nhất thời kỳ “hậu Xô Viết”.
Đây là cơ hội cho giới cầm quyền Mỹ thực hiện tham vọng của mình và bắt đầu điều chỉnh
chiến lược toàn cầu cho phù hợp với những biến đổi to lớn của tình hình thế giới lúc bấy
giờ. Cho nên, chính sách của Mỹ đối với các khu vực trên thế giới cũng có những sự thay
đổi nhất định để đáp ứng những mục tiêu, lợi ích chiến lược mới của quốc gia này.
Sau khi Chiến tranh lạnh kết thúc, lục địa Á – Âu trở thành “cấu trúc nền” trong
chiến lược toàn cầu của Mỹ. Trong đó, khu vực Trung Á và Nam Cápcadơ – một trong
những nơi tồn tại “khoảng trống quyền lực” sau khi Liên Xô tan rã đã sớm nằm trong tầm
ngắm của giới cầm quyền Mỹ. Cùng với thời gian, vùng “cửa ô” này ngày càng có vai trò
quan trọng trong chiến lược Á – Âu của Washington. Đặc biệt, trong thời gian gần đây, với
những chuyển biến tình hình ở khu vực Nam Cápcadơ nói chung và ở Grudia nói riêng đã
đưa vùng này trở thành một trong những trọng điểm chú ý của thế giới. Người ta bắt đầu


quan tâm tới lợi ích chiến lược và sự xung đột của các nước lớn ở khu vực này, đặc biệt là
xung đột tiềm tàng giữa Nga và Mỹ. Việc nghiên cứu chính sách của Hoa Kỳ đối với Grudia
đã thu hút sự quan tâm của một số học giả Âu-Mỹ, nhưng ở Việt Nam, số công trình nghiên
cứu về vấn đề này còn rất ít. Chính vì vậy, nghiên cứu về chính sách của Hoa Kỳ đối với
Grudia sẽ góp phần làm sáng tỏ một số lợi ích của Mỹ ở khu vực và góp phần vào việc
nghiên cứu chính sách của Mỹ ở lục địa Á - Âu.
Với vị trí của một siêu cường, việc Mỹ thực thi chiến lược toàn cầu sau Chiến tranh
lạnh đã tác động đến các khu vực, các quốc gia, đến chiều hướng phát triển của tình hình
quốc tế hiện nay và trong những thập kỷ tới. Trong một thế giới mà xu thế toàn cầu hóa và
khu vực hóa đang diễn ra sôi động, mạnh mẽ trên khắp hành tinh, tính tùy thuộc lẫn nhau
giữa các quốc gia tăng cao thì việc nghiên cứu về chính sách của Hoa Kỳ (một quốc gia có
vị trí quan trọng trong các mối quan hệ quốc tế ngày nay) đối với Grudia (nước cộng hòa
nằm ở “sân sau” của Nga) là một việc làm cần thiết.
Hơn nữa, việc nghiên cứu chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ trên phạm vi toàn cầu
nói chung, ở một khu vực địa lí nhất định và đối với một nước nói riêng, sẽ góp phần tạo
thuận lợi cho nỗ lực nhận thức sâu hơn về chính sách của Hoa Kỳ đối với Đông Nam Á nói
chung và Việt Nam nói riêng.
Do đó, chính sách của Hoa Kỳ đối với Grudia là một vấn đề nghiên cứu vừa có ý
nghĩa khoa học, vừa có ý nghĩa thực tiễn. Kết quả nghiên cứu có thể góp phần phục vụ cho
công tác giảng dạy, dùng làm tài liệu tham khảo, học tập, nghiên cứu cho sinh viên và
những ai quan tâm đến vấn đề này.
Xuất phát từ những nhận thức nêu trên, chúng tôi quyết định chọn đề tài “Chính sách
của Hoa Kỳ đối với Grudia (1993-2009)” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn tốt nghiệp cao
học của mình.

2. Lịch sử vấn đề
Kể từ sau khi liên bang Xô Viết sụp đổ và đặc biệt là sau sự kiện 11/9, cùng với
Trung Á, khu vực Nam Cápcadơ đã trở thành một “cửa ô” quan trọng trong chiến lược Á –
Âu của Mỹ. Những chuyển biến về tình hình ở khu vực Nam Cápcadơ nói chung và ở
Grudia nói riêng trong thời gian gần đây khiến cho khu vực này trở thành một trong những
tâm điểm chú ý của thế giới. Cho đến nay, việc nghiên cứu chính sách của Mỹ đối với khu


vực Nam Cápcadơ đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu Âu-Mĩ. Tuy nhiên, số
công trình được công bố lại chưa nhiều.
Z. Brzezinski - nguyên là trợ lý về các vấn đề an ninh quốc gia, Ủy viên Hội đồng an
ninh quốc gia dưới thời chính quyền Tổng thống Mỹ J.Carter, đã viết cuốn sách “Bàn cờ
lớn” (1997), phân tích “bàn cờ chính trị” thế giới hiện đại. Cuốn sách tập trung phân tích,
đánh giá tình hình thế giới sau khi Liên Xô sụp đổ dưới góc nhìn về lợi ích chính trị và vai
trò lãnh đạo của Mỹ trong hiện tại và tương lai. Để giới hạn không gian nghiên cứu thì
Brzezinski đã dùng “bàn cờ Á-Âu” để nói đến “bàn cờ lớn”, hay nói một cách khác là tác
giả đã tuyệt đối hóa vị trí và vai trò của lục địa Á-Âu trên “bàn cờ chính trị” thế giới. Trong
“bàn cờ Á- Âu” mà Brzezinski đề cập đến, tác giả cũng đã đưa ra một cách nhìn nhận về tầm
quan trọng chiến lược của khu vực Trung Á và Cápcadơ trong chiến lược toàn cầu của Mỹ.
“Chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ: Động cơ của sự lựa chọn trong thế kỷ XXI” là
công trình của Bruce W.Jentleson, do nhà xuất bản W.W. Norton & Company ấn hành năm
2000 (được các tác giả Linh Lan, Yên Hương, Diệu Hương, Ngọc Uyển, Cẩm Tú, Hải Yến,
Minh Nguyệt và Trọng Minh biên dịch lại). Tác giả đã đưa ra một phương pháp tiếp cận
chính sách đối ngoại của Mỹ đi từ cơ sở lý luận, lịch sử hình thành cho đến một số nội dung
cơ bản của quá trình hoạch định chính sách đối ngoại của Mỹ trong thế kỷ XXI, qua đó làm
rõ mục tiêu và động cơ lựa chọn, những thay đổi và điều chỉnh trong chính sách đối ngoại
của Mỹ trước diễn biến mới của tình hình thế giới.
Năm 2005, Svante Cornell đã viết bài ‘US engagement in the Caucasus: Changing
gears’ đăng trên tạp chí Helsinki Monitor. Trong bài viết này, tác giả đã cung cấp một số tư
liệu về chính sách của Hoa Kỳ ở khu vực Nam Cápcadơ trong những năm 1990 và sau sự
kiện 11/9/2001 như sự quan tâm về lợi ích của Hoa Kỳ ở khu vực trong cuộc chiến chống
khủng bố, an ninh năng lượng và việc phát triển dân chủ ở nơi này. Bên cạnh đó, tác giả
cũng đã đề cập đến những thách thức đối với chính sách của Hoa Kỳ ở khu vực Nam
Cápcadơ.
Năm 2007, Svante E.Cornell lại viết cuốn sách “Georgia after the rose revolution :
geopolitical predicament and implications for U.S. policy” dưới lăng kính lợi ích chiến lược
và một số chính sách của Mỹ gắn liền với những lợi ích chiến lược đó ở khu vực Nam
Cápcadơ nói chung, ở Grudia nói riêng, đặc biệt là từ sau cuộc “Cách mạng hoa hồng” ở
Grudia. Tác giả cũng nêu lên tác dụng của ngọn cờ “dân chủ” Grudia - nhân tố quan trọng


thúc đẩy các lợi ích của Mỹ ở khu vực. Đồng thời, những lợi ích và chính sách của Nga ở
Grudia cũng được đề cập đến như một thách thức đối với chính sách của Mỹ tại quốc gia
Nam Cápcadơ này. Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra một số kiến nghị về chính sách của Mỹ đối
với Grudia.
Năm 2008, Jim Nichol trong ấn phẩm Grudia [Repulic]: Recent Developments and
U.S. Interests đã đưa ra một số tư liệu để phân tích tình hình ở Grudia kể từ khi Grudia tách
ra thành một nước cộng hòa độc lập năm 1991 và đặc biệt là những biến động ở quốc gia
này trong những năm đầu thế kỷ XXI. Đồng thời, tác giả cũng đã nêu ra một số chính sách
của Mỹ và cả Nga ở Grudia; trên cơ sở đó định hướng cho việc hoạch định chính sách của
Hoa Kỳ đối với Grudia trong tương lai.
Số công trình của các học giả Việt Nam về chính sách của Mỹ ở khu vực Nam
Cápcadơ nói chung và Grudia nói riêng rất ít ỏi. Vẫn chưa có một tài liệu nào nghiên cứu
chuyên sâu về vấn đề này. Chỉ có một vài cuốn sách và một số bài báo đăng trên các tạp chí
đề cập đến những vấn đề có liên quan ở những góc độ khác nhau.
Tác giả Nguyễn Đình Lập đã chủ biên cuốn sách “Quan hệ Nga – Mỹ: vừa là đối tác
– vừa là đối thủ”, Nxb Thông Tấn, năm 2002, đã đưa ra những thông tin, tư liệu nóng bỏng
qua từng thời kỳ, những bình luận sắc xảo, nhạy cảm về quan hệ Nga – Mỹ hơn thập kỷ qua,
từ thời Tổng thống B.Elsin đến Tổng thống V.Putin. Những bài viết trong cuốn sách đi sâu
phân tích, đánh giá về mối quan hệ phức tạp Nga – Mỹ trên cơ sở lợi ích và toan tính Chiến
lược riêng của mỗi quốc gia. Tác giả cũng đã dành một mục trong chương III để khái quát
về việc Mỹ - Nga giành giật khu vực Ngoại Cápcadơ, trong đó những mục tiêu trong Chính
sách của Mỹ ở khu vực Ngoại Cápcadơ, những ưu thế và bất lợi của Mỹ khi tiếp cận với
khu vực này cũng được đề cập đến nhưng chỉ với mức độ chung chung, khái quát nhất.
Tác giả Đỗ Thanh Hải có bài viết: “Cạnh tranh ảnh hưởng Mỹ - Nga ở Trung Á và
Cápcadơ sau sự kiện 11/9” đăng trên tạp chí Châu Mỹ ngày nay số 7(88)-2005. Trong bài
viết này, tác giả đã khái quát việc Mỹ “lấn sân” Nga ở Trung Á và Cápcadơ, Nga “mở cửa”
sân sau và nỗ lực cạnh tranh với Mỹ. Ở đây, tác giả đã đưa ra cách tiếp cận với chính sách
của Mỹ ở khu vực Cápcadơ và Trung Á một cách bao quát trên các lĩnh vực quân sự-an
ninh, chính trị và kinh tế.


Nhìn chung, những công trình nghiên cứu trên đây vẫn chưa tìm hiểu một cách hệ
thống chính sách của Mỹ đối với Grudia, cũng như việc lý giải được vai trò của nhân tố
Grudia trong chính sách của Hoa Kỳ ở khu vực Nam Cápcadơ.

3. Nguồn tài liệu và phạm vi nghiên cứu
3.1. Nguồn tài liệu
Luận văn sẽ được thực hiện trên cơ sở các nguồn tài liệu thu thập được, bao gồm:
-

Tài liệu gốc: là những bài phát biểu của các tổng thống, các cố vấn an ninh, bộ
trưởng ngoại giao, bộ trưởng quốc phòng và các chính trị gia tên tuổi của Hoa
Kỳ…

-

Các sách chuyên khảo về những vấn đề có liên quan

-

Những bài nghiên cứu đăng trên các tờ báo và tạp chí trong và ngoài nước:
Helsinki Monitor, Heritage Foundation, Châu Mỹ ngày nay, Nghiên cứu châu Âu,
Nghiên cứu quốc tế, Tạp chí cộng sản…

3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Không gian nghiên cứu trong luận văn được xác định là đất nước Grudia.
- Về mặt thời gian: luận văn tiến hành nghiên cứu chính sách của Hoa Kỳ đối với
Grudia dưới thời hai tổng thống William J. Clinton và George W. Bush (20/1/199320/1/2009).
- Nội dung nghiên cứu: luận văn tiến hành tìm hiểu tổng quan về nước cộng hòa
Grudia, mối quan hệ giữa Grudia với Nga, vị trí địa–chính trị, địa–chiến lược, địa–kinh tế
của Grudia trong chính sách của Hoa Kỳ; nghiên cứu chính sách của Hoa Kỳ đối với Grudia
dưới thời tổng thống William J. Clinton và sự thúc đẩy, tăng cường chính sách của Mỹ đối
với Grudia dưới thời tổng thống George W. Bush.

4. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu được quán triệt trong luận văn là phương pháp lịch sử và
phương pháp logic. Trong đó phương pháp chuyên ngành - phương pháp lịch sử được chúng
tôi chú trọng sử dụng để hệ thống lại một cách xác thực chính sách của Hoa Kỳ đối với
Grudia; song song áp dụng phương pháp logic để lý giải, đánh giá những động cơ và lợi ích
thiết thực của Hoa Kỳ trong chính sách đối với Grudia. Mặt khác, chính sách của Hoa Kỳ


đối với Grudia là một bộ phận hữu cơ của chính sách mà Hoa Kỳ theo đuổi đối với vùng
Nam Cápcadơ. Chính vì thực tế trên, cho nên chúng tôi đã lồng ghép chính sách của Hoa Kỳ
đối với Grudia vào chính sách chung của Hoa Kỳ đối với khu vực Nam Cápcadơ như một
thể thống nhất.
Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi còn sử dụng phương pháp nghiên cứu
quan hệ quốc tế nhằm phân tích, đánh giá về so sánh lực lượng, tiến trình giải quyết mâu
thuẫn của các nước lớn ở Grudia và mâu thuẫn trong nội bộ của quốc gia này; kết hợp áp
dụng phương pháp nghiên cứu chính trị học phân tích những yếu tố tác động đến quá trình
hoạch định chính sách của Hoa Kỳ đối với Grudia. Đồng thời chúng tôi còn sử dụng phương
pháp tổng hợp, phân tích, so sánh để làm rõ những vấn đề đặt ra trong luận văn.

5. Đóng góp của đề tài
Với những kết quả đạt được trong việc tìm hiểu, nghiên cứu và thực hiện đề tài, luận văn
sẽ góp phần:
- Cung cấp những kiến thức cơ bản về Grudia - một nước cộng hòa ở khu vực Nam
Cápcadơ, nằm ở vùng “cửa ô” quan trọng trong chiến lược Á-Âu của Mỹ; đồng thời khái
quát quan hệ giữa Grudia với Nga để góp phần hiểu rõ hơn chính sách của Mỹ ở quốc gia
này trong mối quan hệ phức tạp giữa hai cường quốc lớn trên thế giới.
- Hệ thống một cách tương đối đầy đủ chính sách của Mỹ đối với Grudia trong mối
quan hệ với chính sách của Hoa Kỳ trên phạm vi toàn cầu, không gian hậu Xô Viết và Nam
Cápcadơ; đồng thời lý giải vị trí, vai trò của Grudia trong chính sách của Mỹ qua hai đời
tổng thống Bill Clinton (1993-2001) và George W. Bush (2001-2009).

6. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung chính của luận
văn được cấu tạo thành 3 chương:
Chương 1: Tổng quan về Grudia và chính sách của Hoa Kỳ đối với Grudia giai đoạn
1991-1993
Đây là chương cơ sở, chúng tôi tiến hành giới thiệu tổng quan về đất nước Grudia (về
vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên, lịch sử, chính trị, dân tộc, quan hệ với Nga), khái lược về
chính sách của Hoa Kỳ trên phạm vi toàn cầu, đối với khu vực hậu Xô Viết và Grudia trong
giai đoạn 1991-1993 để chúng ta có thể tiếp cận vấn đề nghiên cứu một cách hệ thống.


Chương 2: Chính sách của Hoa Kỳ đối với Grudia dưới thời tổng thống William J.
Clinton (1993– 2001)
Dưới thời tổng thống William J. Clinton, chính sách đối ngoại toàn cầu và đối với
khu vực hậu Xô Viết đã được điều chỉnh trước những chuyển biến của tình hình thế giới,
trong nước Mỹ và ở khu vực. Grudia cũng bắt đầu có tầm quan trọng hơn trong việc định
hình và phát triển bước đầu chính sách của Hoa Kỳ trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, an
ninh-quân sự.
Chương 3: Sự tăng cường chính sách của Hoa Kỳ đối với Grudia dưới thời tổng
thống George W. Bush (2001–2009)
Dưới thời tổng thống George W. Bush, chính sách của Hoa Kỳ đối với Grudia đã
được thúc đẩy và có những bước phát triển hơn so với thời tổng thống William J. Clinton.
Chương này nêu và phân tích vị trí địa – chiến lược, địa – chính trị, địa – kinh tế của Grudia
trong chính sách của Hoa Kỳ (2001-2009), bối cảnh mới tác động đến việc hoạch định chính
sách của Mỹ đối với Grudia, đặc biệt là sau thảm họa khủng bố nước Mỹ ngày 11/9/2001,
sau đó nêu lên sự điều chỉnh và thúc đẩy chính sách của Hoa Kỳ đối với Grudia dưới thời
tổng thống George W. Bush ở một số lĩnh vực nổi trội.


Chương 1: TỔNG QUAN VỀ GRUDIA VÀ CHÍNH SÁCH CỦA HOA
KỲ ĐỐI VỚI GRUDIA GIAI ĐOẠN 1991-1993
1.1. Tổng quan về Grudia
1.1.1. Đất nước và con người
1.1.1.1. Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên
Grudia là một quốc gia liên lục địa nằm bên bờ biển Đen, tại điểm nối Đông Âu và
Tây Nam Á, ở tọa độ 42000 vĩ bắc, 43030 kinh đông. Với diện tích khoảng 69.700 km2,
P

P

P

P

P

P

Grudia có chung biên giới với Nga (723 km) ở phía Bắc, với Thổ Nhĩ Kỳ (252 km) ở phía
Tây Nam, Armenia (164 km) ở phía Nam và Azerbaijan (322 km) ở phía Đông Nam.
Grudia thuộc khu vực Nam Cápcadơ – một khu vực nằm giữa lục địa châu Âu và
châu Á; giữa biển đen và biển Caspi, kéo dài từ phần phía Nam của dãy núi Đại Cápcadơ,
phía Tây Nam của nước Nga, tới biên giới phía Nam của Azerbaijan, Tây Nam Armenia và
biên giới phía Nam của Grudia với Thổ Nhĩ Kỳ. Dãy núi Cápcadơ được lấy làm giới hạn
tách toàn bộ vùng địa lí Cápcadơ thành 2 khu vực: Nam Cápcadơ và Bắc Cápcadơ. Theo
T
3
1

quan điểm của Sa hoàng Nga và chính phủ Liên Xô trước đây, Bắc Cápcadơ gọi là Nội
Cápcadơ còn Nam Cápcadơ gọi là Ngoại Cápcadơ, nhưng thường thì gọi chung là Cápcadơ.
Nhưng sau khi Liên Xô tan rã, các nước phương Tây cố ý phân ra thành Bắc Cápcadơ và
Nam Cápcadơ. Khu vực Nam Cápcadơ hiện nay gồm có 3 nước cộng hòa: Grudia, Armenia
T
3
1

và Azerbaijan bị ngăn cách với khu vực Bắc Cápcadơ thuộc Liên Bang Nga (gồm các nước:
Chechnya, Ingushetia, Dagestan, Adyghea, Kabardino – Balkaria, Karachai – Cherkessia,
Bắc Ossetia, Krasnodar Krai, Stavropol Krai) qua dãy núi Cápcadơ.
Núi non là kiểu địa hình đặc trưng ở Grudia. Dãy Liki chia Grudia thành nửa phía
Đông và nửa phía Tây. Trong lịch sử, nửa phía Tây Grudia được gọi là Colchis còn phần
phía Đông được gọi là Iberia. Dãy Đại Cápcadơ nằm ở phía Bắc – ngăn cách Grudia với các
nước Bắc Cápcadơ thuộc nước Nga, còn dãy núi Tiểu Cápcadơ nằm ở phía Nam của đất
nước. Giữa hai hệ thống núi chính này là các thung lũng phì nhiêu như Kolkhid, Kartli,
Alazan và các thung lũng khác. Chính vì lí do bao quanh lãnh thổ Grudia toàn là núi non và
biển nên quốc gia này hầu như bị đóng kín về mặt địa lý, và chính điều này đã giúp Grudia


duy trì được bản sắc cũng như văn hóa riêng của đất nước bất chấp vô số cuộc xâm lăng từ
bên ngoài [6, tr.11].
Về tài nguyên thiên nhiên, Grudia giàu có về nguồn tài nguyên rừng (rừng chiếm
39% diện tích cả nước), khoáng sản (mangan, sắt, đồng, than…) và nhiều con sông có tiềm
năng thủy điện lớn (trong đó có hai con sông chính là Rioni và Mtkvari).
Tuy có diện tích khá nhỏ nhưng khí hậu Grudia lại tương đối khác biệt giữa 2 vùng
đông và tây của đất nước. Đa phần vùng phía tây Grudia có khí hậu cận nhiệt đới ẩm với
lượng mưa hàng năm thay đổi trong khoảng 1000 – 4000mm. Trong khi đó phía Đông
Grudia lại có kiểu khí hậu chuyển tiếp từ cận nhiệt đới ẩm sang khí hậu lục địa; khí hậu
vùng này bị ảnh hưởng bởi cả những khối không khí khô ở Trung Á và khối không khí ẩm ở
phía tây biển Đen. Lượng mưa hàng năm ở đây thấp hơn rất nhiều so với vùng tây Grudia
và ở trong khoảng 400 – 1600mm.
1.1.1.2. Con người
Grudia là một quốc gia đa sắc tộc. Nhiều người Grudia ngày nay vẫn truy tìm nguồn
cội của mình ở những thương gia, binh lính và người tị nạn từ các vùng đất láng giềng đến
định cư tại Grudia trong suốt chiều dài lịch sử của quốc gia này. Tại Grudia, bản sắc vùng là
đặc điểm rất quan trọng đối với những khối dân cư nơi đây. Từ xa xưa, Grudia được chia
thành một số vùng địa lý – chính trị: Abkhadia, Thượng Svaneti, Hạ Svaneti, Lechkhumi,
Racha, Samegrelo, Guria, Adjara, Imereti, Meskheti, Tori, Dzhavakheti, Trialeti, Nội Kartli,
Hạ Kartli, Zrtso-tianeti, Khevi, Mtiuleti, Pyavi, Khevsureti, Tusheti và Kakheti. Về mặt lịch
sử, Imereti và Samegrelo hình thành nên trung tâm của miền tây Grudia, trong khi Kartli và
Kakheti tạo thành trung tâm miền đông của Grudia. Những vùng như Thượng và Hạ
Svaneti, Khevi và Khevsureti chủ yếu là đồi núi và dân cư thưa thớt. Địa hình núi non đã
chia tách dân cư thành nhiều nhóm nhỏ sống tương đối biệt lập với nhau.
Dân số của Grudia khoảng 4.600.000 người (ước tính vào tháng 7 năm 2011). Nhân
khẩu Grudia có đặc trưng ở sự đa dạng sắc tộc. Dân tộc Grudia chiếm đa số, khoảng 83,8%;
Các nhóm sắc tộc khác gồm Azeris, chiếm 6.5% dân số, Armenia – 5.7%, Nga – 1.5% [82].
Bên cạnh đó, còn có nhiều nhóm sắc tộc nhỏ hơn khác cũng sống tại quốc gia này như
Assyria, Chechen, Trung Quốc, người Do Thái Grudia, Hy Lạp, Kabardin, Kurd, Tatars,
Turks và Ukraine. Trong đó, cộng đồng người Do Thái Grudia là một trong những cộng
đồng lâu đời nhất trên thế giới.


Đầu thập niên 1990, sau khi Liên bang Xô Viết giải tán, nhiều cuộc xung đột ly khai
bạo lực đã bùng phát tại vùng tự trị Abkhadia và Nam Ossestia, dẫn tới cuộc thanh lọc sắc
tộc người Grudia khỏi Abkhadia, nơi trước kia sắc tộc Grudia từng là nhóm sắc tộc riêng lẻ
lớn nhất (46% dân số năm 1989). Nhiều người Ossestia sống tại Grudia cũng rời bỏ đất
nước, chủ yếu tới vùng Bắc Ossestia thuộc Nga. Trong số những người Meskhetian Turk
từng bị bắt buộc di dời trong năm 1944 chỉ một nhóm nhỏ quay trở lại Grudia năm 2007.
Bên cạnh đó, Grudia cũng đã tiếp nhận những người di cư từ khắp nơi trên thế giới
trong suốt thời kỳ độc lập. Theo những con số thống kê năm 2006, đa số người di cư tới
Grudia từ Thổ Nhĩ Kỳ và Trung Quốc.
Grudia cũng là quốc gia đa dạng về ngôn ngữ. Trong ngữ hệ Grudia, người Grudia
nói tiếng Grudia (cũng được gọi là Kartuli), tiếng Laz, tiếng Mingrelian, và tiếng Svan.
Ngoài ra, những cộng đồng không phải người Grudia bên trong đất nước thường sử dụng
ngôn ngữ mẹ đẻ của họ bên cạnh tiếng Grudia.
Ngày nay, hầu hết người dân Grudia theo Thiên chúa giáo Nhà thờ chính thống thuộc
Nhà thờ Chính thống Grudia (83,9%). Các nhóm thiểu số tôn giáo gồm: Hồi giáo (9.9%),
Tông đồ Armenia (3.9%), Công giáo 0,8%. Còn 0.8% dân số trong cuộc điều tra dân số năm
2002 cho rằng mình thuộc một tôn giáo khác và 0.7% không theo tôn giáo nào [82].
1.1.2. Lịch sử - chính trị
1.1.2.1. Lược sử Grudia trước năm 1991
Lãnh thổ Grudia hiện đại ngày nay từng liên tục có người sinh sống từ đầu Thời đồ
đá. Trong thời cổ đại các quốc gia được coi là tiền thân dẫn tới sự thành lập nhà nước
Grudia cũng như văn hóa và bản sắc quốc gia nước này (được người Hy Lạp cổ đại và La
Mã gọi) là Colchis và Iberia. Iberia ở phía đông và Colchis ở phía tây, là những quốc gia
đầu tiên trong vùng chấp nhận Thiên chúa giáo vào thế kỷ thứ IV. Vương quốc Colchis
thường phải chứng kiến những trận đánh giữa hai cường quốc đối thủ là Ba Tư và Đế chế
Byzantine, cả hai đều liên tục tìm cách chinh phục vương quốc Tây Grudia này.
Các Vương quốc đầu tiên ở trong vùng đã tan rã thành nhiều vùng phong kiến từ đầu
Thời trung cổ. Điều này giúp người Ả Rập có cơ hội thuận lợi chinh phục Grudia ở thế kỷ
thứ VII. Các vùng nổi dậy đã được giải phóng và thống nhất thành một Vương quốc Grudia
thống nhất vào đầu thế kỷ XI. Bắt đầu từ thế kỷ XII, phạm vi cai quản của Grudia đã trải dài


trên một vùng quan trọng phía nam Cápcadơ, gồm các vùng đông bắc và toàn bộ bờ biển
phía bắc (nay thuộc Thổ Nhĩ Kỳ).
Vương quốc Grudia phát triển cực thịnh trong thế kỷ XII và đầu thế kỷ XIII. Tuy
nhiên, sự hồi sinh của vương quốc này khá ngắn ngủi và cuối cùng bị người Mông Cổ chinh
phục năm 1236. Sau đó, nhiều vị thủ lĩnh cai quản các vùng vẫn còn được tự trị một phần đã
tổ chức những cuộc nổi dậy để giành lại độc lập. Tuy nhiên, Vương quốc Grudia cũng
không thể tránh khỏi tình trạng suy yếu trầm trọng vào thế kỷ XV. Các vương quốc láng
giềng lợi dụng tình hình này và từ thế kỷ XVI, Đế chế Ba Tư và Đế chế Ottoman đã xâm
chiếm vùng phía đông và phía tây Grudia. Như vậy, vương quốc Grudia đã trải qua nhiều
giai đoạn thăng trầm cho tới khi bị chia thành nhiều thực thể chính trị nhỏ trong thế kỷ XVI.
Năm 1783 Nga và Vương quốc đông Grudia – Kartli–Kakheti ký kết Hiệp ước
Georgievsk, theo đó Kartli – Kakheti nhận được sự bảo hộ của người Nga. Tuy nhiên, hiệp
ước này không giúp Tbilisi thoát được số phận bị người Ba Tư cướp phá năm 1795.
Ngày 22 tháng 12 năm 1800, Sa Hoàng Paul I của Nga, trước sự thỉnh cầu của Vua
Grudia Giorgi XII, đã ký tuyên bố sáp nhập Grudia (Kartli-Kakheti) vào trong Đế chế Nga.
Ngày 8 tháng 1 năm 1801 Sa hoàng Paul của Nga ký một nghị định về việc sáp nhập Grudia
(Kartli-Kakheti) vào trong Đế chế Nga, và điều này đã được Sa Hoàng Alexander khẳng
định ngày 12 tháng 12 năm 1801. Phái bộ Grudia tại Sankt-Peterburg đã phản ứng với một
bản lưu ý đệ trình lên Hoàng tử Nga Kurakin. Tháng 5 năm 1801, Tướng Nga Carl Heinrich
Knorring hạ bệ hoàng tử kế vị Grudia David Batonishvili và thành lập một chính phủ do
Tướng Ivan Petrovich Lasarev lãnh đạo. Giới quý tộc Grudia không chấp nhận nghị định
này cho tới tận tháng 4 năm 1802 khi Tướng Korring bao vây họ tại Thánh đường Tbilisi
Sioni và buộc họ đưa ra lời tuyên thệ trung thành với Hoàng gia Đế quốc Nga. Những người
phản đối bị bắt giữ ngay lập tức.
Đồng thời, năm 1801, sau một cuộc chiến tranh ngắn, vương quốc tây Grudia –
Imereti đã bị Sa hoàng Aleksandr I sáp nhập. Từ năm 1803 tới 1878, sau nhiều cuộc chiến
của Nga chống lại Thổ Nhĩ Kỳ và Iran, nhiều vùng lãnh thổ đã được sáp nhập vào Grudia.
Những vùng đó (Batumi, Akhaltsikhe, Poti và Abkhadia) hiện chiếm một phần lớn lãnh thổ
Grudia.


Công quốc Grudia bị xóa bỏ năm 1828 và công quốc Samegrelo (Mingrelia) chịu số
phận tương tự năm 1857. Vùng Svaneti dần bị sáp nhập trong giai đoạn 1857-1859. Như
vậy, Đế quốc Nga đã dần dần chiếm các vùng đất của Grudia từ năm 1801 tới năm 1866.
Sau Cách mạng tháng 10 Nga năm 1917, Grudia tuyên bố độc lập ngày 26 tháng 5
năm 1918 trong bối cảnh cuộc nội chiến Nga đang diễn ra. Cuộc bầu cử nghị viện kết thúc
với thắng lợi của Đảng Dân chủ Xã hội Grudia, được coi là một đảng Mensêvích và lãnh
đạo đảng này, Noe Zhordania lên nắm quyền thủ tướng. Năm 1918 một cuộc chiến tranh
giữa Grudia và Armenia bùng nổ tại các tỉnh của Grudia có đa số người Armenia sinh sống.
Trong giai đoạn 1918-1919 tướng Grudia Giorgi Mazniashvili đã chỉ huy một cuộc tấn công
chống lại quân Nga do Moiseev và Denikin chỉ huy để giành chủ quyền bờ biển Đen từ
Tuapse tới Sochi và Adler cho nước Grudia độc lập. Tuy nhiên, nền độc lập này không kéo
dài. Tháng 2 năm 1921 Grudia bị Nga tấn công. Quân đội Grudia thua trận và chính phủ
Dân chủ Xã hội phải bỏ chạy khỏi đất nước. Ngày 25 tháng 2 năm 1921 Hồng quân Nga
tiến vào thủ đô Tbilisi và lập nên một chính phủ cộng sản do một thành viên Bônsêvich
Grudia là Filipp Markharadze lãnh đạo, nhưng quyền lãnh đạo của Xô Viết chủ yếu được
thiết lập một cách chắc chắn sau khi cuộc nổi dậy năm 1924 bị trấn áp. Grudia bị sáp nhập
vào nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô Viết Nam Cápcadơ gồm Grudia, Armenia và
Azerbaijan. Nước cộng hòa này giải tán năm 1936 và Grudia trở thành Cộng hòa Xã hội chủ
nghĩa Xô Viết Grudia nằm trong Liên bang Xô Viết.
Phong trào bất đồng và tái lập quốc gia Grudia bắt đầu phát sinh trong dân chúng
trong thập niên 1960. Trong số những nhân vật bất đồng Grudia, một trong những nhà hoạt
động đáng chú ý là Merab Kostava và Zviad Gamsakhurdia. Tất cả các thành viên thuộc
phong trào bất đồng Grudia đều bị chính quyền Xô Viết trấn áp và bỏ tù.
Tháng 4/1989, những cuộc biểu tình ở thủ đô Tbilisi của Grudia đòi độc lập đã bị lực
lượng đặc nhiệm Liên Xô đàn áp và kết quả là 20 dân thường bị giết. Nhưng sau sự kiện
này, vụ thảm sát đã bị nhà cầm quyền Xô Viết cho là một hành động sai lầm. Gorbachev
không ra lệnh đàn áp, mà chính các nhà chức trách địa phương và tướng lĩnh trong quân đội
đã tự ý ra quyết định. Sự kiện trên cũng góp phần làm cho Liên Xô bắt đầu để mất quyền
kiểm soát đất nước này: sự đàn áp đã tiếp thêm nhiên liệu cho tình cảm bài Nga và đẩy
nhanh bước chuyển tiếp đến nền độc lập [6, tr.49]. Trong bối cảnh chính trị xã hội rối ren


lúc bấy giờ, nhà cầm quyền Xô Viết đã phát động một cuộc chiếm đóng quân sự toàn bộ đất
nước này. Không lâu sau đó, các đảng phái chính trị mới xuất hiện ở Grudia.
Đất nước Grudia đã có cuộc bầu cử nghị viện dân chủ, đa đảng phái đầu tiên trong
Liên bang Xô Viết ngày 28 tháng 10 năm 1990 nhưng tình hình chính trị vẫn không có gì
thay đổi. Tuy nhiên, nhóm cấp tiến tẩy chay cuộc bầu cử và triệu tập một hội đồng thay thế
(Đại hội quốc gia); một phần của phe đối lập thống nhất lại với những cá nhân đối lập như
Merab Kostava và Zviad Gamsakhurdia. Gamsakhurdia đã thắng cử với số phiếu cách biệt,
155/ 250 ghế nghị viện, theo đó Đảng cộng sản (CP) chỉ nhận được 64 ghế. Tất cả các đảng
khác đều không giành đủ 5% số phiếu và vì thế chỉ được trao một số ghế tại đại diện khu
vực bầu cử [87]. Như vậy, từ tháng 11 năm 1990 tới tháng 3 năm 1991, một trong những
lãnh đạo Mặt trận Giải phóng Quốc gia, tiến sĩ Zviad Gamsakhurdia trở thành Chủ tịch Hội
đồng Tối cao Cộng hòa Grudia (Nghị viện Grudia).
1.1.2.2. Tình hình Grudia và hai khu vực tự trị Nam Ossetia và Abkhadia sau năm
1991
- Tình hình Grudia từ khi tuyên bố độc lập
Ngày 9 tháng 4 năm 1991, một thời gian ngắn trước khi Liên bang Xô Viết tan rã,
Grudia tuyên bố độc lập. Ngày 26 tháng 5 năm 1991, Zviad Gamsakhurdia được bầu làm
tổng thống đầu tiên của Grudia. Tuy nhiên, lối cai trị độc đoán của Gamsakhurdia đã khiến
ông bị mất lòng dân chúng. Gamsakhurdia nhanh chóng bị hạ bệ sau một cuộc đảo chính
đẫm máu từ ngày 22 tháng 12 năm 1991 tới ngày 6 tháng 1 năm 1992. Cuộc đảo chính bị
xúi giục bởi một nhóm Vệ binh quốc gia và một tổ chức bán quân sự được gọi là
“Mkhedrioni”. Hội đồng quân sự nhanh chóng bàn giao quyền lực cho một Hội đồng Nhà
nước gồm nhiều đảng phái chính trị khác nhau, đứng đầu là Eduard Shevarnadze, Ngoại
trưởng Liên Xô dưới thời Gorbachev.
Năm 1995, Shevardnadze được chính thức bầu làm tổng thống Grudia, và tái đắc cử
năm 2000. Cùng lúc ấy, hai vùng thuộc Grudia, Abkhadia và Nam Ossetia nhanh chóng bị
cuốn vào những cuộc tranh giành với những kẻ ly khai địa phương dẫn tới những cuộc chiến
tranh và tình trạng bạo lực lan rộng giữa các sắc tộc. Được Nga ủng hộ, Abkhadia và Nam
Ossetia trên thực tế đã giành được và duy trì nền độc lập khỏi Grudia. Hơn 250.000 người
Grudia đã bị thanh lọc sắc tộc khỏi Abkhadia bởi quân ly khai Abkhadia và những quân lính
tình nguyện Bắc Cápcadơ (gồm cả người Chechen) năm 1992-1993. Hơn 25.000 người


Grudia cũng đã bị trục xuất khỏi Tskhinvali, và nhiều gia đình Ossetian bị buộc phải dời bỏ
nhà cửa tại vùng Borjomi và chuyển tới Nga [87].
Năm 2003 Shevardnadze bị hạ bệ sau cuộc “Cách mạng hoa hồng”, khi phe đối lập
Grudia và các giám sát viên quốc tế cho rằng cuộc bầu cử nghị viện ngày 2 tháng 11 đã bị
gian lận. Cuộc cách mạng do Mikheil Saakashvili, Zurab Zhvania và Nino Burjanadze,
những thành viên cũ trong đảng cầm quyền của Shevarnadze lãnh đạo. Nino Burjanadze,
chủ tịch Hạ viện sắp hết nhiệm kỳ giữ chức Tổng thống lâm thời. Sau đó, Mikheil
Saakashvili được bầu làm Tổng thống Grudia năm 2004.
Sau cuộc “Cách mạng hoa hồng”, một loạt các biện pháp cải cách đã được đưa ra
nhằm tăng cường sức mạnh quân sự và kinh tế của đất nước. Những nỗ lực của chính phủ
mới nhằm tái xác nhận chủ quyền của Grudia tại nước cộng hòa Ajaria đã gây ra một cuộc
khủng hoảng đầu năm 2004. Thắng lợi tại Ajaria đã khuyến khích Saakashvili tăng cường
thêm nữa những nỗ lực của mình trong việc xác nhận chủ quyền của Grudia tại Nam
Ossetia, nhưng không mang lại thành công.
Tháng 8 năm 2008, quân đội Grudia tấn công vào Nam Ossetia để tái chiếm lại tỉnh
này khỏi tay quân ly khai. Sau đó, Quân đội Nga đã tấn công đánh bật quân đội Grudia ra
khỏi Nam Ossetia và tiến vào Grudia. Hai bên đều đổ lỗi cho bên kia và cáo buộc phía kia
tấn công thường dân. Kết quả là Nga đã công nhận độc lập chủ quyền của Nam Ossetia và
Abkhadia, trong khi Saakashvili vẫn không thể xác lập được chủ quyền của Grudia trên hai
vùng tự trị này.
- Tình hình Nam Ossetia và Abkhadia
* Nam Ossetia
Nam Ossetia là khu vực trực thuộc Grudia với diện tích 3.900km2, dân số khoảng 7
P

P

vạn người, cách thủ đô Tbilisi của Grudia 100km về phía Bắc. Sở dĩ xuất hiện khu vực Nam
Ossetia là có lý do trong lịch sử từ thời Đế chế Nga. Năm 1774, lãnh thổ Ossetia sáp nhập
vào đế chế Nga. Đế chế Nga ra sắc lệnh phân chia khu vực hành chính, do lãnh thổ Ossetia
có dãy Cápcadơ ở giữa gây trở ngại lớn trong công tác quản lý hành chính nên đế chế Nga
quyết định chia cắt Ossetia thành hai miền là Nam Ossetia và Bắc Ossetia, lấy giới tuyến là
dãy núi Cápcadơ. Nam Ossetia nằm ở sườn phía Nam, Bắc Ossetia nằm ở sườn phía Bắc
của dãy núi Cápcadơ.


Cách mạng tháng Mười Nga bùng nổ, nhà nước Liên bang Xô Viết ra đời và Grudia
gia nhập Liên bang này. Chính quyền Xô Viết đã tiến hành phân chia các lãnh thổ trực
thuộc để quản lý. Theo đó, Nam Ossetia được hưởng quy chế tự trị trong nước Cộng hòa
XHCN Xô Viết Grudia, Bắc Ossetia là khu vực tự trị thuộc Liên bang Nga. Nếu trước đây,
việc phân chia đó đối với Liên Xô chỉ là thủ tục hành chính, thì về sau lại trở thành nguồn
gốc phát sinh một cuộc xung đột kéo dài. Nam Ossetia luôn nuôi dưỡng việc sáp nhập và
thống nhất với Bắc Ossetia. Kể từ cuối năm 1989, xung đột giữa Nam Ossetia và Grudia
thường xuyên xảy ra. Ngày 20/9/1990, Xô Viết các đại biểu nhân dân vùng tự trị Nam
Ossetia thông qua tuyên bố thành lập nước Cộng hòa Nam Ossetia độc lập. Chính phủ
Grudia không thừa nhận, tuyên bố hủy bỏ quy chế tự trị Nam Ossetia. Nam Ossetia bị
phong tỏa và cuộc xung đột quân sự diễn ra ác liệt suốt trong hai năm 1991 – 1992 làm hàng
ngàn người thiệt mạng.
Sở dĩ Nam Ossetia muốn độc lập khỏi Grudia, sáp nhập với Bắc Ossetia thuộc Liên
bang Nga là do hàng nghìn người Nam Ossetia đã chạy sang lánh nạn ở Bắc Ossetia sau các
cuộc xung đột vũ trang năm 1992. Mặc dù có sự phân chia về địa lý và hành chính nhưng ở
cả hai khu vực Nam và Bắc Ossetia chỉ có một dân tộc với cùng một ngôn ngữ và một nền
văn hoá. Vì vậy, người dân Nam Ossetia quyết tâm thống nhất lãnh thổ với những người
đồng bào Bắc Ossetia trong thành phần nước Nga. Thực tế, Nam Ossetia có nhiều mối quan
hệ với Nga hơn là Grudia do 80% người dân ở đây mang hộ chiếu Nga, đồng tiền được sử
dụng ở khu vực này là đồng Rúp Nga. Kinh tế vùng này cũng phụ thuộc và liên kết với kinh
tế Nga. Tất cả những điều đó, không thể ngăn nổi phong trào ly khai ở Nam Ossetia nhằm
tách ra độc lập khỏi Grudia, thống nhất với Bắc Ossetia để trở thành một phần lãnh thổ của
Nga.
Cuối cùng, xung đột Grudia – Nam Ossetia tạm lắng xuống khi Hiệp định Dagomys
được ký kết giữa Nga và Grudia vào ngày 14/06/1992. Theo Hiệp định, tiến trình hòa bình
tại Nam Ossetia sẽ do một Ủy ban hỗn hợp gồm Nga, Grudia, Bắc Ossetia và Abkhadia đảm
nhiệm quy chế cho Nam Ossetia. Đồng thời hai bên nhất trí triển khai lực lượng gìn giữ hòa
bình đến Nam Ossetia gồm binh sĩ Nga, Grudia và Bắc Ossetia.
Sau cuộc “Cách mạng hoa hồng” năm 2003, Mikheil Saakashvili – nhân vật theo
chủ nghĩa dân tộc thân phương Tây lên nắm quyền tại Grudia. Từ đó, Nam Ossetia đã trở
thành một trong những trọng tâm trong chính sách của Grudia. Tình hình ở khu vực xung


đột trở nên căng thẳng do Grudia được Mỹ hậu thuẫn, để giải quyết vấn đề thống nhất lãnh
thổ. Năm 2004, ban lãnh đạo Nam Ossetia gửi đơn đề nghị Hạ viện (Đuma quốc gia) Nga
chấp nhận cho Nam Ossetia được sáp nhập vào Nga. Tháng 01/2005, Grudia công bố kế
hoạch trong vòng 3 năm sẽ trao cho Nam Ossetia quy chế “tự trị rộng rãi” trong thành phần
Grudia, nhưng không được Nam Ossetia chấp nhận.
Ngày 12/11/2006, Nam Ossetia tiến hành cuộc trưng cầu dân ý về quy chế độc lập.
Cuộc trưng cầu dân ý đã nhận được số phiếu ủng hộ áp đảo với 98,99% phiếu thuận [59].
Tuy nhiên, cuộc trưng cầu chỉ được Nga công nhận, trong khi chính quyền Grudia, Mỹ, EU
coi cuộc trưng cầu này là bất hợp pháp. Peter Someby, đại diện đặc biệt của Liên minh châu
Âu tại Cápcadơ khi thăm Mátxcơva ngày 13/09/2006 phát biểu: Các kết quả của cuộc trưng
cầu dân ý về độc lập tại Nam Ossetia không có ý nghĩa với cộng đồng châu Âu [61].
Tình hình trên làm cho quan hệ Grudia với Nam Ossetia cũng như Grudia với Nga
hết sức căng thẳng. Căng thẳng tiếp tục gia tăng khi phương Tây và Mỹ công nhận độc lập
của Kosovo vào đầu năm 2008, bất chấp sự phản đối của Nga và Xécbi. Theo đó, Nam
Ossetia và Abkhadia, cho rằng: “Nếu Kosovo có thể độc lập, sau đó chúng ta cũng có thể
làm như vậy” [60]. Vì thế mà họ lại đệ đơn kêu gọi Nga và các tổ chức quốc tế công nhận
độc lập của họ.
Sau rất nhiều vụ đụng độ trong năm 2008, quân đội Grudia đã quyết định tiến hành
cuộc tấn công vào Nam Ossetia vào đêm mùng 7 rạng sáng mùng 8/8/2008 gây ra sự phản
ứng mạnh mẽ từ phía Nga. Lực lượng quân đội Liên bang Nga có mặt ở khu vực với nhiệm
vụ gìn giữ hoà bình đã được lệnh phản công, dẫn đến cuộc “chiến tranh nóng” 5 ngày (712/8/2008) căng thẳng nhất trong những năm vừa qua ở khu vực Cápcadơ. Ngày
26/08/2008, Nam Ossetia chính thức được Liên bang Nga công nhận là một quốc gia độc
lập.
* Abkhadia
Abkhadia là một trong hai nước cộng hòa tự trị của Grudia. Quốc gia độc lập trên
thực tế này có diện tích 8.432 km2, dân số hơn 15 vạn người, nằm bên bờ Đông biển Đen,
P

P

phía Bắc giáp với Liên bang Nga.
Cũng như Nam Ossetia, kể từ khi Grudia tuyên bố tách khỏi Liên bang Xô Viết, một
phong trào ly khai của dân tộc thiểu số Abkhadia đã bùng nổ, dẫn đến việc nước cộng hòa
này tuyên bố độc lập tách khỏi Grudia vào năm 1992.


Cuộc xung đột vũ trang giữa Grudia và Abkhadia vào năm 1992-1993 làm gần 7000
người chết, khoảng 200-250 nghìn người, phần lớn là người gốc Grudia phải đi tị nạn [45,
tr.76]. Mặc dù hai bên (Grudia và Abkhadia) đã ký thoả thuận ngừng bắn năm 1994, nhưng
tình hình khu vực này vẫn không ổn định, việc tranh chấp chủ quyền vẫn chưa được giải
quyết. Lãnh thổ Abkhadia vẫn bị chia cắt, 83% lãnh thổ do chính quyền ly khai Sukhumi
được Nga hậu thuẫn và 17% lãnh thổ nằm ở thung lũng Kođoki do chính phủ cộng hòa tự trị
Abkhadia kiểm soát (được Grudia công nhận là chính quyền hợp pháp của Abkhadia).
Tranh chấp này là một trong những nguyên nhân gây nên căng thẳng nghiêm trọng giữa
Grudia và Nga. Các cuộc thương lượng nhằm tìm kiếm giải pháp cho cuộc xung đột bị
ngưng trệ từ năm 2006.
Tình hình Abkhadia – Grudia tiếp tục căng thẳng kể từ khi Kosovo được phương Tây
và Mỹ công nhận độc lập. Cũng như Nam Ossetia, Abkhadia đã lên tiếng mạnh mẽ để cộng
đồng quốc tế công nhận độc lập của mình như trường hợp Kosovo. Tháng 03/2008, quốc
hội Grudia tiến hành phiên họp bất thường về vấn đề thúc đẩy nền độc lập. Đặc biệt, sau sự
kiện Grudia đưa quân tấn công Nam Ossetia, Abkhadia và Nam Ossetia càng thúc đẩy hoạt
động ly khai khỏi Grudia. Nhưng khác với Nam Ossetia bày tỏ mong muốn trở thành một
phần của Nga, Abkhadia lại nỗ lực tìm kiếm độc lập của riêng mình nhưng vẫn dựa vào
Nga.
Như vậy, có thể khẳng định rằng, tình hình Nam Ossetia và Abkhadia giống như
những quả bom nổ chậm, có thể bùng nổ bất kỳ lúc nào. Và những động thái của Grudia đối
với hai khu vực này khiến cho quan hệ giữa các bên ngày càng trở nên căng thẳng. Bên
cạnh đó, sự hậu thuẫn của các nước phương Tây đối với Grudia, đã châm ngòi nổ kích hoạt
“quả bom” Nam Ossetia và Abkhadia bùng phát, dẫn đến xung đột căng thẳng Nga –
Grudia tại Nam Ossetia từ tháng 8/2008 .
1.1.3. Quan hệ giữa Grudia và Nga
Grudia và Nga vốn là hai nước cộng hòa thuộc Liên bang Xô Viết trước đây. Nếu
nhìn vào lịch sử, quan hệ Grudia – Nga đã có vấn đề từ thời Sa hoàng. Suốt thời kỳ cùng tồn
tại trong thực thể Liên Xô, những mâu thuẫn này tuy không bùng phát nhưng vẫn âm ỉ do
các nhà lãnh đạo Liên Xô hầu như “đều quên” lời dặn của V.Lênin về vấn đề công bằng,
bình đẳng giữa các dân tộc trong Liên bang. Thậm chí, thời kỳ cầm quyền của E.Stalin (gốc
người dân tộc Grudia) còn làm cho tình hình tồi tệ hơn rất nhiều [37, tr.25].


Từ sau khi Liên Xô tan rã, nước Nga đã quan tâm đến việc duy trì ảnh hưởng của
mình tại vùng Nam Cápcadơ bởi vì khu vực Nam Cápcadơ nói chung, Grudia nói riêng là
vùng đất có vai trò địa lý, kinh tế, chính trị đặc biệt quan trọng đối với cộng hòa Liên bang
Nga. Nhưng khu vực Cápcadơ lại liên tiếp xảy ra những cuộc xung đột vũ trang một cách
nặng nề về vấn đề lãnh thổ, sắc tộc khiến cho Nga rất lo ngại.
Đối với Nga, khi Liên Xô chưa tan rã, Nga được các nước cộng hòa tự trị nằm ngoài
che chở như bức tường thành và Grudia là một điểm chiến lược quan trọng nằm về phía tây
nam trên bờ Biển Đen, là bến đổ cũng như điểm xuất phát của hạm đội Nga tại Địa Trung
Hải và có các thành phố cảng vận chuyển xăng dầu đi khắp nơi trên thế giới. Tuy nhiên,
Grudia không còn là một “đồng minh” của Nga khi nước này tuyên bố độc lập khỏi Liên
Xô; Nga nhìn nhận Grudia là một tiền đồn quân sự chiến lược để khống chế Mỹ, NATO,
cũng như án ngữ tuyến đường vận chuyển dầu mỏ quan trọng của Nga từ biển Caxpi tới các
thị trường thế giới. Cho nên, quan hệ giữa Grudia với Nga từ năm 1991 đến nay là một
quan hệ lịch sử đầy phức tạp.
Grudia đã thực hiện những nhượng bộ với nước Nga bằng cách gia nhập Cộng đồng
các quốc gia độc lập (SNG/CIS) vào năm 1993, rồi sau đó ký thỏa thuận cho phép Nga duy
trì bốn căn cứ quân sự với số quân lên đến 20.000 quân ở Grudia [6, tr.65]. Lực lượng này
có nhiệm vụ chủ yếu là gìn giữ hòa bình ở Nam Ossestia và trên đường biên giới Abkhadia.
Đáp lại, Grudia có được sự viện trợ về kinh tế và vai trò dàn xếp của Nga giúp giải quyết
xung đột ở Nam Ossestia.
Nam Ossetia và Abkhadia là vấn đề lịch sử ảnh hưởng đến quan hệ giữa Grudia và
Nga. Trong những năm 1992 – 1994, các nhóm sắc tộc thiểu số ở Nam Ossetia và Abkhadia
đã liên tiếp tiến hành những cuộc đấu tranh nhằm ly khai khỏi Grudia. Grudia coi việc bảo
vệ đất nước thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ là nhiệm vụ hàng đầu, hy vọng cộng đồng quốc
tế giúp đỡ sớm giải quyết vấn đề trên. Trong cuộc đấu tranh này, Nam Ossetia và Abkhadia
nhận được sự ủng hộ đáng kể về tài chính và chính trị từ phía Nga. Tuy nhiên, Nam Ossetia
và Abkhadia không được quốc tế công nhận, do đó vẫn chính thức tồn tại như một phần
lãnh thổ của Grudia.
Đến năm 1994, theo Hiệp định ngừng bắn, một lực lượng gìn giữ hòa bình với chủ
yếu là các binh sĩ Nga được triển khai tại Abkhadia. Quân đội Nga cũng đứng đầu lực lượng
gìn giữ hoà bình tại Nam Ossetia. Grudia cho rằng, nếu lúc đầu không có một số thế lực ở


Nga can thiệp vào, thì đất nước này không rơi vào tình trạng chia rẽ, và nếu Nga gây sức ép
với các thế lực chia rẽ dân tộc Abkhadia thì vấn đề ly khai sẽ được giải quyết rất nhanh.
Sau khi tình hình bên trong có chiều ổn định, Grudia ngày càng lớn tiếng đòi Nga rút
hết các căn cứ quân sự đó, khiến quan hệ Grudia – Nga ngày càng xấu đi. Được Mỹ ủng hộ,
Grudia còn thông qua Tổ chức an ninh và hợp tác châu Âu (OSCE) và các tổ chức quốc tế
khác để gây sức ép với Nga. Đến hội nghị cấp cao OSCE tại Ixtambun tháng 11/1999, Nga
đã buộc phải rút hết các căn cứ quân sự theo từng giai đoạn. Theo Hiệp định Nga – Grudia,
đến ngày 31/7/2001, Nga phải đóng cửa hoàn toàn hai căn cứ quân sự tại Abkhadia và ngoại
thành Tbilisi.
Bên cạnh đó, một nguyên nhân nữa khiến cho quan hệ giữa Grudia và Nga trở nên
căng thẳng là do Grudia không hợp tác với Nga trong việc chống lại hành động khủng bố ở
Chechnya. Những năm cuối thập niên 90 của thế kỷ XX, lợi dụng vùng biên giới tiếp giáp
Grudia có núi cao, đất đai hiểm trở, các lực lượng vũ trang phi pháp Chechnya đã biến đất
nước này thành khu đệm. Nga đã yêu cầu Grudia không tạo điều kiện cho các phần tử
khủng bố và đề nghị nhờ lãnh thổ Grudia để mở cuộc tiến công vào Chechnya, song bị
Grudia phản đối. Và cũng do lực lượng biên phòng Grudia có hạn, không có cách nào kiểm
soát người và vũ khí ra vào Chechnya, nên Nga đề nghị cho lực lượng biên phòng Nga từ
phía Grudia kiểm soát đoạn biên giới với Chechnya, song cũng không được chấp nhận.
Trước chính sách không hợp tác ngày càng quyết liệt của Grudia, Nga đã phản ứng lại, bắt
đầu từ vấn đề thị thực xuất nhập cảnh. Tháng 9/2000, Tổng thống Nga Vladimir Putin áp
dụng luật cấp thị thực đối với người Grudia nhập cảnh vào Nga, trong khi không áp dụng
luật này đối với công dân các nước khác trong Cộng đồng các quốc gia độc lập (SNG). Đến
năm 2002, quan hệ Grudia – Nga trở nên căng thẳng cao độ khi Nga đã nhiều lần cáo buộc
Grudia dung túng quân khủng bố Chechnya ẩn náu tại vùng núi Pankisi (thuộc lãnh thổ
Grudia giáp Nga), để chúng sử dụng nơi đây làm căn cứ tấn công Nga. Trong khi đó, Grudia
cáo buộc Nga tiến hành các cuộc không kích vào khu vực Pankisi.
Mặt khác, việc Grudia nộp đơn xin gia nhập Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương
(NATO) cũng khiến cho quan hệ hai nước trở nên xấu đi. Grudia cũng trở thành một đồng
minh quan trọng của Mỹ sau khi đồng ý với kế hoạch xây dựng một đường ống dẫn dầu và
khí đốt từ biển Caxpi đến Thổ Nhĩ Kỳ mà không đi qua Nga, khiến cho quan hệ Grudia –
Nga ngày càng xuống cấp.


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×