Tải bản đầy đủ

An ninh lương thực của nam phi và algeria nghiên cứu so sánh và gợi mở chính sách cho việt nam

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRẦN HỮU ĐỒNG

AN NINH LƯƠNG THỰC CỦA NAM PHI VÀ ALGERIA:
NGHIÊN CỨU SO SÁNH VÀ GỢI MỞ CHÍNH SÁCH
CHO VIỆT NAM
Chuyên ngành: KINH TẾ QUỐC TẾ
Mã số: 60 31 01 06

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ QUỐC TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN: PGS. TS. Nguyễn Mạnh Hùng

Hà Nội, 2016


LỜI CAM ĐOAN
Luận văn thạc sĩ này do tôi nghiên cứu và thực hiện dưới sự hướng dẫn

của PGS.TS. Nguyễn Mạnh Hùng. Các kết quả nêu trong luận văn là trung thực
và chưa được công bố trong các công trình nghiên cứu khác.
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Tác giả luận văn

Trần Hữu Đồng


MỤC LỤC

MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ AN
NINH LƯƠNG THỰC
1.1. Khái niệm, tiêu chuẩn và khung đánh giá an ninh lương thực ............. 8
1.2. Thực trạng an ninh lương thực của thế giới và châu Phi hiện nay. .... 15
Tiểu kết chương 1 ........................................................................................ 25
CHƯƠNG 2: VẤN ĐỀ AN NINH LƯƠNG THỰC Ở NAM PHI VÀ
ALGERIA ...................................................................................................... 27
2.1.Điều kiện tự nhiên và phát triển kinh tế xã hội ở Nam Phi và Algeria. 27
2.2.Thực trạng an ninh lương thực của Nam Phi và Algeria . .................... 31
2.3.Các yếu tố tác động đến an ninh lương thực của Nam Phi và Algeria. 51
Tiểu kết chương 2 ........................................................................................ 59
CHƯƠNG 3: GỢI MỞ CHÍNH SÁCH CHO VIỆT NAM VỀ VẤN ĐỀ AN
NINH LƯƠNG THỰC .............................................................................................61
3.1. Khái quyết chung về an ninh lương thực của Việt Nam. ................... 61
3.2. Các bài học kinh nghiệm và gợi mở chính sách cho Việt Nam ......... 66
Tiểu kết chương 3 ........................................................................................ 73
KẾT LUẬN .................................................................................................... 75
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 77
PHỤ LỤC ....................................................................................................... 83


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Tên tiếng Anh

Chữ viết

Nghĩa tiếng Việt

tắt

ANLT

An ninh lương thực

ANQG

An ninh quốc gia

Africa Union

AU

Liên minh châu Phi

Association farmer africa of south

AFASA

Hội Nông dân châu Phi của Nam

africa

Phi
ASEAN

Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á

Committee Food Security

CFS

Ủy ban An ninh Lương thực thế giới

Algeria Dinar

DA

Tiền tệ Algeria

European Union

EU

Liên minh châu Âu

Economist Intelligence Unit

EIU

Cơ quan nghiên cứu kinh tế Toàn

Association of Southeast Asian
Nations

cầu
Food and Agriculture

FAO

Organisation

Tổ chức Lương thực & Nông
nghiệp thế giới

Global Food Security Index

GFSI

Chỉ số An ninh lương thực toàn cầu

Gross Domestic Product

GDP

Tổng sản phẩm quốc nội

International Grains Council

IGC

Cơ quan lương thực thế giới

International Fund for Agricultural IFAD

Quỹ Phát triển Nông nghiệp Quốc tế

Development
Millennium Development Goals

MDG

Mục tiêu Thiên niên kỷ

Middle East and North Africa

MENA

Trung Đông và Bắc Phi

Non-governmental organization

NGOs

Tổ chức phi chính phủ

National of Agriculture

NADP

Chương trình phát triển nông nghiệp

Development Programe
United Nation

quốc gia
UN

Liên Hợp quốc


United Nations Development

UNDP

Programme
United States Department of

Chương trình phát triển Liên Hợp
Quốc

USDA

Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ

United State Dollar

USD

Đô la Mỹ

United Nation Universal

UNUDH

Bản Tuyên ngôn Nhân quyền của

Declaration of Human Rights

R

Liên Hợp quốc

Rand

R

Tiền tệ Nam Phi

Sub- Sahara Africa

SSA

Châu Phi cận Sahara

Southern African Development

SADC

Cộng đồng Phát triển miền Nam

Agriculture

Community

châu Phi

Transparency International

TI

Tổ chức minh bạch thế giới

World Food Summit

WFS

Hội nghị Thượng đỉnh lương thực
thế giới

World Bank

WB

Ngân hàng Thế giới

World Health Organization

WHO

Tổ chức Y tế Thế giới


DANH MỤC BẢNG
STT

Nội dung

Trang

Bảng 1. 1 Điểm số an ninh lương thực toàn cầu ở các khu vực trên thế giới

17

Bảng 1. 2 Chỉ số người thiếu lương thực ở các khu vực ở châu Phi.

20

Bảng 2. 1 Các chỉ số về khả năng tiếp cận lương thực của Nam Phi và
Algeria năm 2015

31

Bảng 2. 2 Chỉ số tính có sẵn của lương thực ở Nam Phi và Algeria

39

Bảng 2. 3 Chỉ số sản xuất ngũ cốc ở Algeria

42

Bảng 2. 4 Chỉ số cung cấp lương thực ở Algeria

43

Bảng 2. 5 Chỉ số an toàn và chất lượng lương thực ở Nam Phi và Algeria

47

Bảng 3. 1 Sản lượng một số loại cây lương thực chính ở Việt Nam
(Nghìn tấn)

63


DANH MỤC CÁC HÌNH
STT

Nội dung

Trang

Hình 1. 1 Chỉ số người thiếu lương thực ở các khu vực trên thế giới

16

Hình 1. 2 Chỉ số giá thực phẩm thế giới

18

Hình 1.3

Chỉ số điểm số cải thiện ở các khu vực trên thế giới

21

Hình 1.4

Giá trị bình quân lương thực đầu người theo khu vực trong các

23

Hình 1.5

Biểu đồ xu hướng trẻ em bị thiếu dinh dưỡng ở châu Phi

23

Hình 2.1

Chỉ số tự túc lương thực ở Nam Phi

38

Hình 2.2

Sản lượng sản xuất ngũ cốc ở Nam Phi

39

Hình 2.3

Chỉ số nhập khẩu lương thực ở Algeria

43

Hình 2.4

Chỉ số phát triển của đất canh tác được tưới tiêu của Algeria

45

Hình 2.5

Chỉ số tham nhũng của Algeria

46

Hình 2.6

Chỉ số tiêu chuẩn dinh dưỡng lương thực ở Nam Phi

48

Hình 2.7

Chỉ số về % nguồn cung lương thực ở Algeria

49

Hình 2.8

Chỉ số tiêu dùng thực phẩm của Algeria

50

Hình 3.1

Giá trị Nông nghiệp trong GDP ở Việt Nam

61


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
An ninh lương thực là một vấn đề mang tính chất quan trọng trong thời đại
toàn cầu hóa hiện nay. Bản Tuyên ngôn Nhân quyền của Liên Hợp quốc
(UNUDHR) đã khẳng định “ mỗi người đều có quyền hưởng tiêu chuẩn sống đầy
đủ về thể chất và phúc lợi của bản thân và gia đình, bao gồm lương thực và thực
phẩm”. Tuy nhiên, cho tới bây giờ quyền cơ bản đó của con người mới chỉ đáp
ứng được một phần nhỏ nào đó. Tình trạng thiếu lương thực và các thực phẩm cơ
bản, hay còn được biết tới là tình trạng mất an ninh lương thực đã và đang gây ra
những khó khăn, thách thức cho toàn thế giới trong giai đoạn hiện nay.
An ninh lương thực là vấn đề ưu tiên hàng đầu ở châu Phi. Bước sang thế
kỷ 21, ở châu Phi vẫn còn có hàng triệu người đang ở tình trạng thiếu lương
thực và đặc biệt là từ sau cuộc khủng hoảng lương thực năm 2007 bùng nổ đã
gây ra những vấn đề nghiêm trọng trên toàn cầu. Châu Phi là một lục địa đói
nghèo với điều kiện thiên nhiên và khí hậu khắc nghiệt để canh tác và sản xuất
nông nghiệp. Cùng với đó là giá lương thực, thực phẩm và năng lượng gia tăng
cao, cũng như là tác động từ biến đổi khí hậu, hạn hán thiên tai, bão lũ, và các
thảm họa do con người gây ra đã cho thấy các vấn đề cấp bách về an ninh lương
thực trong giai đoạn hiện nay. Đồng thời, sản lượng lương thực sản xuất ở các
quốc gia trong châu lục vẫn với sản lượng chưa đáp ứng đủ nhu cầu về lương
thực của người dân ở đây.
Nam Phi và Algeria là hai quốc gia có trình độ phát triển khá hơn cả ở châu
Phi, tuy vậy tình trạng nghèo đói vẫn tồn tại ở hai nước này. Nam Phi và Algeria
cũng là hai quốc gia đang phải nhập khẩu phần lớn lương thực để đáp ứng nhu
cầu lương thực trong nước, trong đó mặt hàng ngũ cốc chiếm tỷ trọng lớn trong
nhập khẩu lương thực của hai quốc gia này. Hai quốc gia có những đặc điểm tự
nhiên và xã hội khác biệt nhất định. Tuy nhiên những vấn đề mà hai quốc gia
đang phải giải quyết để đảm bảo an ninh lương thực cho người dân trong nước
rất cần thiết để chúng ta nghiên cứu và rút ra những bài học kinh nghiệm cho đất
1


nước. Trong những năm gần đây, Việt Nam đã xuất khẩu lúa gạo sang 2 nước
này với tỷ trọng và giá trị ngày càng tăng lên. Điều đó cho thấy cơ hội xuất khẩu
gạo sang hai thị trường lớn nhất của châu Phi là khu vực Bắc Phi và Nam Phi là
rất có tiềm năng. Do đó,việc nghiên cứu tình hình an ninh lương thực ở hai quốc
gia Nam Phi và Algeria là rất cần thiết và hữu ích để tìm hiểu rõ nguyên nhân sự
thiếu hụt về lương thực ở hai nước này, từ đó học hỏi những bải học kinh
nghiệm ở hai quốc gia trong việc giải quyết vấn đề an ninh lương thực quốc gia.
Vì vậy, tôi xin chọn đề tài “An ninh lương thực của Nam Phi và Algeria:
Nghiên cứu so sánh và gợi mở chính sách cho Việt Nam ” làm đề tài nghiên
cứu của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
2.1. Các công trình nghiên cứu trong nước
Hầu như chưa có một công trình nghiên cứu trong nước liên quan đến đề tài
này, chủ yếu là các bài viết thông tin đăng trên các báo ra hang ngày hoặc các
chuyên đề nghiên cứu về an ninh lương thực thế giới, an ninh lương thực ở châu
Phi, xuất khẩu gạo sang Nam Phi . Có thế kể tên một số bài điển hình như sau:
- Đề tài nghiên cứu “An ninh lương thực ở châu Phi: Thực trạng và bài học
kinh nghiệm” của Trần Anh Đức nghiên cứu về các vấn đề an ninh lương
thực; cũng như là thực trạng anh lương thực thế giới và ở một số nước châu
Phi, đồng thời đưa ra những đánh giá và triểu vọng về an ninh lương thực ở
châu Phi. Song chưa nêu lên cụ thể an ninh lương thực ở Nam Phi và Algeria,
cũng như là so sánh và chưa gợi mở các chính sách cho Việt Nam về an ninh
lương thực.
- Đề tài “Quốc gia Algeria và khả năng hợp tác với Việt Nam đến năm 2020”
của PGS. TS Nguyễn Thanh Hiền nghiên cứu về đặc điểm tự nhiên, điều kiện
xã hội và phát triển kinh tế của đất nước Algeria, đưa ra những triển vọng
trong việc quan hệ hợp tác giữa Algeria và Việt Nam trong thời gian tới.
- Bài viết “An ninh lương thực - bài toán hóc búa của nhân loại” của Thạch
Vũ đăng trên báo Nhân dân thứ 4 ngày 11/02/2015 cũng đề cập đến vấn đề an

2


ninh lương thực của thế giới và Tây Á Bắc Phi. Những giải pháp cho vấn đề
an ninh lương thực.
- Bài nghiên cứu “Kinh tế châu Phi năm 2013: tiếp tục tăng trưởng ổn định”
của TS Trần Thị Lan Hương đăng trên tạp chí Nghiên cứu Châu Phi và Trung
Đông đề cập tới nền kinh tế của các quốc gia ở châu Phi và khả năng hợp tác
của các quốc gia này với Việt Nam trong tương lai.
- Bài viết “ Công nghệ sinh học giúp tăng cường an ninh lương thực” của
Duy Anh đăng trên báo Vietq.vn ngày 22/08/2014 đã đưa ra những thông tin
về vấn đề lương thực, thực phẩm ở châu Phi , đồng thời đưa ra những công
nghệ sinh học giúp cải thiện vấn đề an ninh lương thực.
- Bài viết “Thực trạng xuất khẩu gạo của Việt Nam sang châu Phi” của Vụ
thị trường châu Phi, Tây Á , Nam Á đăng trên báo Bộ Công Thương ngày
16/04/2013 thông tin về thực trạng xuất khẩu gạo của Việt Nam sang một số
nước châu Phi và đưa ra những giải pháp về xuất khẩu của Việt Nam sang
châu Phi.
- Trong “Báo cáo Tăng cường Nông nghiệp cho phát triển” của Ngân Hàng
thế giới (WB, 2008); “Một số vấn đề phát triển nông nghiệp và nông thôn”
của Đặng Kim Sơn và Hoàng Thu Hòa (2002); “Nông nghiệp, an ninh lương
thực và tăng trưởng kinh tế” của Viện Thông tin Khoa học Xã hội (1999) chỉ
ra rằng: Đề có được an ninh lương thực đòi hỏi điều kiện trước tiên và căn bản
là phải có đủ lương thực để có thể tiếp cận được, có thể sử dụng được. Nông
nghiệp đã và đang đóng vai trò then chốt, quyết định trong việc đảm bảo an
ninh lương thực ; địa bàn nông thôn là nơi sinh sống và làm việc của người
nông dân sản xuất ra lương thực, thực phẩm, cũng chính là nơi tập trung chủ
yếu tỷ lệ đói nghèo, có mức thu nhập thấp
2.2. Các công trình nghiên cứu ngoài nước
Trên thế giới đã có một số công trình nghiên cứu về đề tài an ninh lương
thực nói chung và an ninh lương thực của Nam Phi nói riêng, có thể kể tên một
số công trình điển hình như sau:
3


- Công trình “Food Security – An ninh lương thực” do D.C.de Toit xuất bản
tháng 3/2011 gồm 7 phần, trong đó phần 1 trình bày tổng quan về an ninh
lương thực của Nam Phi, phần 2 đề cập những mục tiêu của đề tài nghiên cứu,
phần 3 chỉ ra những trường hợp điển hình nghiên cứu; phần 4 nói về vai trò
của ngành nông nghiệp, … đặc biệt phần 6 đề cập đến những thách thức đối
với an ninh lương thực của Nam Phi.
- Công trình “ Food Security Policy Context in South Africa – Chính sách an
ninh lương thực của Nam Phi” do Josee Koch, Tư vấn độc lập và Tư vấn
chính sách khu vực của Viện Wahenga xuất bản năm 2011 điểm lại lịch sử
an ninh lương thực của Nam Phi, tình trạng nghèo khổ ở Nam Phi, chiến lược
an ninh lương thực hội nhập của Nam Phi, những thách thức và thành quả đạt
được. Nhìn chung trong công trình phần nào khái quát tình hình an ninh lương
thực của Nam Phi.
- Báo cáo “ Key Challenges for Ensuring Food Security in South Africa’s Inner
Cities – Những thách thức chính để bảo đảm an ninh lương thực ở các thành phố
của Nam Phi” do Charl Van der Merwe

trình bày trong Tạp chí AISA

Policybrief, Số 36, tháng 1/2011 của Viện Châu Phi của Nam Phi đã đề cập đến
những nhân tố quyết định đến an ninh lương thực ở các thành phố của Nam Phi,
tình hình sản xuất lương thực, nông nghiệp đô thị, thu nhập đô thị….
- Công trình “Food Security in South Africa: Key Policy Issues for the
Medium Term – An ninh lương thực ở Nam Phi: Những vấn đề chính sách
chính trong giai đoạn trung hạn” do Ủy ban Nghiên cứu Khoa học Con
người nghiên cứu vào tháng 1/2004 đã đề cập đến tình trạng bất an ninh lương
thực ở Nam Phi, một số nhân tố như HIV/AID, cải cách ruộng đất tác động
đến an ninh lương thực ở Nam Phi, một số biện pháp để đảm bảo an ninh
lương thực ở Nam Phi như: giáo dục, cải thiện hệ thống dịch vụ công cộng.
- Báo cáo “ The National Policy on Food and Nutrition Security for the
Republic of South Africa – Chính sách quốc gia về an ninh lương thực và dinh
dưỡng của Cộng hòa Nam Phi” do Bộ Nông nghiệp, Lâm nghiệp và Ngư
4


nghiệp Nam Phi nghiên cứu và xuất bản ngày 22/08/2014 đề cập đến những
nhân tố ảnh hưởng đến an ninh lương thực, những cơ chế giải quyết vấn đề an
ninh lương thực, mối liên hệ giữa an ninh lương thực và dinh dưỡng và một số
chính sách của chính phủ.
- Luận văn thạc sỹ “Food Security in South Africa: A Comprehensive Review
for the Past Two Decades – An ninh lương thực ở Nam Phi: Điểm lại hai thập
kỷ qua” của Mthulisi Elton Dube bảo vệ tại trường Đại học Ghent, tháng 6,
2013 đề cập đến tình hình an ninh lương thực ở Nam Phi trong hai thập kỷ
qua và đưa ra một số nhận xét.
- Công trình “Hidden Hunger in South Africa: The Faces of Hunger and
Malnutrition in the Food Secure Nation – Kẻ đói bị che dấu ở Nam Phi: Bộ mặt
kẻ đói và thiếu dinh dưỡng ở một quốc gia an ninh lương thực ” do Yoliswa
Peggy Stemele nghiên cứu đã đề cập đến tình trạng thiếu dinh dưỡng ở trẻ em
và phụ nữ Nam Phi, đưa ra những con số ấn tượng liên quan đến những người
đói ăn ở quốc gia này, đồng thời cảnh báo tình trạng mất an ninh lương thực ở
Nam Phi.
Nói chung , các thông tin, tài liệu, sách vở hiện nay viết về an ninh lương thực
trên thế giới nói chung và an ninh lương thực ở châu Phi, Nam Phi và Algeria
vẫn còn khiêm tốn. Đặc biệt những tài liệu tiếng Anh viết riêng về an ninh lương
thực ở Nam Phi và Algeria không có nhiều, cũng như tài liệu tiếng Việt hầu như
là rất ít. Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài “ An ninh lương thực ở Nam Phi và
Algeria: So sánh và gợi mở chính sách cho Việt Nam” là cần thiết. Kế thừa
những công trình nghiên cứu khoa học đã công bố trước đây và bổ sung những
thông tin, tài liệu, dữ liệu mới về an ninh lương thực ở Nam Phi và Algeria. Qua
đó so sánh được những vấn đề an ninh lương thực ở 2 quốc gia này nói riêng ,
cũng như có một cách nhìn về vần đề an ninh lương thực ở châu Phi và toàn cầu
nói chung. Từ đó có thể gợi mở được các chính sách cho chính phủ Việt Nam
trong vấn đề nông nghiệp và an ninh lương thực, thực phẩm.

5


3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu.
3.1. Mục tiêu nghiên cứu.
Luận văn nhằm phân tích, đánh giá, thực trạng vấn đề an ninh lương thực ở hai
quốc gia là Nam Phi và Algeria. Sau đó so sánh vấn đề an ninh lương thực của
hai nước; từ đó đưa ra một số gợi mở chính sách về vấn đề an ninh lương thực
cho Việt Nam.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu.
- Tìm hiểu tình hình an ninh lương thực thế giới và châu Phi hiện nay trong
đó chú trọng đến thực trạng an ninh lương thực của Nam Phi và Algeria.
- Phân tích những tác động chủ quan và khác quan tới an ninh lương thực
của Nam Phi và Algeria.
- Nghiên cứu so sánh vấn đề an ninh lương thực ở Nam Phi và Algeria , từ
đó gợi mở các chính sách đối với nông nghiệp Việt Nam
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
- Đối tượng nghiên cứu: An ninh lương thực ở hai quốc gia là Nam Phi và
Algeria
- Phạm vi nghiên cứu: Thời gian nghiên cứu thập kỷ 2000 đến nay
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu.
5.1. Phương pháp luận.
Luận văn sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử
của chủ nghĩa Mác – Lênin để nghiên cứu thực trạng an ninh lương thực ở Nam
Phi và Algeria; liên hệ với các yếu tố tác động ảnh hưởng tới an ninh lương thực
hai quốc gia; đánh giá về an ninh lương thực trên quan điểm lịch sử - cụ thể và
quan điểm phát triển; tìm ra bản chất của tình trạng an ninh lương thực ở hai
quốc gia để chủ động đề ra giải pháp khắc phục và thúc đẩy đảm bảo an ninh
lương thực quốc gia.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu 2 trường hợp điển hình là Nam Phi và Algeria thông qua
nghiên cứu các tài liệu thứ cấp. Đây là hai quốc gia có trình độ phát triển tương
đối khác biệt ở châu Phi, việc nghiên cứu so sánh nước này có thể rút ra những
gợi mở chính sách cho Việt Nam về vấn đề đảm bảo an ninh lương thực. Sử
6


dụng phương pháp định tính và định lượng cơ bản thông qua thống kê đơn giản;
sử dụng tài liệu thứ cấp để, phân tích, so sánh đánh giá thực trạng thông qua các
bộ chỉ số về an ninh lương thực. Luận văn cũng sử dụng các phương pháp cụ thể
như: phương pháp tổng hợp; phương pháp lịch sử
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Ý nghĩa lý luận:
- Đề tài này có ý nghĩa về mặt lý luận, người nghiên cứu cần vận dụng các
lý thuyết kinh tế và tìm hiểu các tài liệu thứ cấp về an ninh lương thực.
- Kết quả đánh giá nghiên cứu so sánh làm sáng tỏ và chứng minh cho các
lý thuyết liên quan tới vấn đề an ninh lương thực. Từ đó đề xuất các giải pháp và
chính sách nhằm nâng cao tình hình an ninh lương thực hiện nay.
Ý nghĩa thực tiễn:
- Luận văn cung cấp những vấn đề lý luận và thực tiễn trong việc nghiên
cứu thực trạng an ninh lương thực của thế giới nói chung và Nam Phi, Algeria
nói riêng. Từ đó thông qua các nghiên cứu so sánh, đánh giá để gợi mở các chính
sách có hiệu quả cho nông nghiệp Việt Nam.
- Góp phần cung cấp thêm những cơ sở khoa học cho các cơ quan, tổ chức,
viện nghiên cứu trong việc nghiên cứu thực trạng an ninh lương thực thế giới và
châu Phi hiện nay.
7. Cơ cấu của luận văn.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục các chữ viết tắt, danh mục
các hình và bảng, danh mục tài liệu tham khảo; luận văn được bố cục theo 3
chương sau:
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ AN NINH
LƯƠNG THỰC
Chương 2: VẤN ĐỀ AN NINH LƯƠNG THỰC Ở NAM PHI VÀ ALGERIA
Chương 3: GỢI MỞ CHÍNH SÁCH CHO VIỆT NAM VỀ VẤN ĐỀ AN NINH
LƯƠNG THỰC

7


CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ AN NINH
LƯƠNG THỰC
1.1. Khái niệm, tiêu chuẩn và khung đánh giá an ninh lương thực
1.1.1. Khái niệm an ninh lương thực
Khái niệm an ninh lương thực được xuất hiện trong giai đoạn 1960-1970 của
thế kỷ 20, trong các thảo luận về tình hình lương thực thế giới vào thời điểm đó.
Cho tới năm 1990, đã có khoảng gần 200 định nghĩa về an ninh lương thực. Định
nghĩa an ninh lương thực được chính thức đưa ra vào năm 1974 tại Hội nghị
Thượng đỉnh lương thực thế giới ( WFS), Hội nghị đã đưa ra định nghĩa về an ninh
lương thực:“ An ninh lương thực (ANLT) là lúc nào cũng có đủ nguồn cung cấp
lương thực, thực phẩm cơ bản để đảm bảo việc tiêu dùng lương thực, thực phẩm
ngày một nhiều hơn và để bù đắp được những biến động trong sản xuất và giá cả”.
Năm 1983, Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc (FAO) đã mở
rộng định nghĩa này và góp thêm cả việc đảm bảo cho những người dễ bị tổn
thương tiếp cận được với các nguồn cung cấp sẵn có “ ANLT là đảm bảo tất cả mọi
người tại mọi thời điểm có thể tiếp cận được về mặt vật lý và kinh tế đối với nguồn
lương thực mà họ cần”.
Năm 1986, Ngân hàng thế giới (WB) định nghĩa rằng “ ANLT là khả năng
tiếp cận của con người trong mọi lúc để có lương thực, nhằm đảm bảo cho hoạt
động và sức khỏe”. Ngân hàng thế giới đã chỉ ra mối liên hệ giữa mất an ninh lương
thực với các vấn đề đói nghèo lâu năm hay là tình trạng thu nhập thấp. Đến giữa
những năm 1990, vấn đề an ninh lương thực được xem là mối quan ngại, đưa ra trên
nhiều cấp độ từ cấp quốc gia tới toàn cầu hóa. Bản báo cáo phát triển con người của
Chương trình phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) năm 1994, đưa ra khái niệm về an
ninh con người, trong đó đề cập một khía cạnh của an ninh lương thực. Quan niệm
này có mối liên quan chặt chẽ tới quan niệm con người trong sự phát triển chung
của toàn thế giới.
Để khắc phục các khái niệm trên, tại Hội nghị thượng đỉnh thế giới về lương
thực (WFS) được tổ chức ở Rome (Italia) vào tháng 11 năm 1996 xác định:“ ANLT
8


ở cấp độ cá nhân, gia đình, khu vực và toàn cầu khi tất cả mọi người lúc nào cũng
tiếp cận được về mặt thể chất và kinh tế đối với nguồn lương thực đầy đủ, an toàn
và đảm bảo dinh dưỡng nhằm đáp ứng các nhu cầu và sở thích ăn uống, đảm bảo
dinh dưỡng nhằm đáp ứng cho cuộc sống năng động và khỏe mạnh”. Báo cáo với
tiêu đề “Mất an ninh lương thực” của FAO năm 2001 cũng đưa quan niệm về an
ninh lương thực như quan niệm của WFS năm 1996 nhưng có sự bổ sung khái quát
hơn khi chỉ ra rằng “ ANLT là tình trạng khi tất cả mọi người lúc nào cũng tiếp cận
được về mặt thể chất, kinh tế và xã hội đối với nguồn lương thực đầy đủ, an toàn và
đảm bảo dinh dưỡng nhằm đáp ứng các nhu cầu và sở thích ăn uống, đảm bảo cho
cuộc sống năng động và khỏe mạnh” Đây là quan điểm đã được thừa nhận, sử dụng
rộng rãi trong nhiều nghiên cứu khoa học hiện nay. Trong cuốn sách “ Tìm hiểu
một số thuật ngữ trong văn kiện Đại hội XI của Đảng” của Nguyễn Văn Thạo và
Nguyễn Viết Thông (2011) xác định: “ANLT là khái niệm chỉ tình trạng ổn định, an
toàn, vững chắc của sản xuất, cung ứng và dự trữ lương thực bên trong một số nước
cũng như phạm vi toàn cầu”[21, tr.82].
Có thể tiếp cận an ninh lương thực ở hai cấp độ vi mô và vĩ mô[41, tr.83].. Ở
cấp độ vĩ mô, nếu việc sản xuất lương thực trong một quốc gia không đáp ứng
được các nhu cầu về lương thực, hầu hết các quốc gia phải nhập khẩu lương thực để
đáp ứng một phần lớn nhu cầu tiêu thụ lương thực trong nước. Ở cấp độ vi mô, an
ninh lương thực phụ thuộc vào khả năng thỏa mãn các nhu cầu về lương thực của
mỗi hộ gia đình[9, tr.81].
Hướng tiếp cận trên đã cố gắng chỉ ra các chỉ số để đo lường tình trạng an
ninh lương thực như tổng cung lương thực trong nước, mức phụ thuộ nhập khẩu
lương thực, mức tiêu dùng lương thực… Tuy nhiên, các chỉ số đưa ra để tính toán
sẽ gặp phải vấn đề về chịu tác động của nhiều biến vĩ mô kinh tế và mang tính gián
tiếp. Mặt khác việc tính toán nhiều các chỉ số chỉ thuận lợi khi có hệ thống về thống
kê số liệu đầy đủ, hơn nữa điền này lại hạn chế với nhiều quốc gia đang hoặc trong
trình trạng kém phát triển. Đó là các nước đang tồn tại hoặc có nguy cơ cao về thiếu
hụt nguồn lương thực. Trong những năm gần đây, an ninh lương thực được tiếp cận
theo hướng mới [16, tr.82], nêu lên việc đảm bảo an ninh lương thực phải gắn bó
9


chặt chẽ với nâng cao thu nhập, đời sống cho người sản xuất lương thực. Đây là
biểu hiện của sự chuyển hướng trong quan niệm về an ninh lương thực. Cách tiếp
cận này có khi được xác định gắn với quyền con người, lấy con người là mục tiêu
của phát triển, gắn an ninh lương thực với kế bền vững của người sản xuất lương
thực. Đây được coi là cách tiếp cận hợp lý trong bối cảnh thực tiễn hiện nay, khi có
hiện tượng người nông dân ở các quốc gia đang phát triển, lại có nguy cơ ngày càng
nghèo đói.
Ngoài ra, thuật ngữ an ninh lương thực hiện nay còn được tiếp cận dưới hai
góc độc: i) An ninh lương thực là một trong các bộ phận của an ninh con người ii)
An ninh lương thực là bộ phận của an ninh kinh tế, nội dung quan trọng của an ninh
quốc gia[23, tr.82].
Hướng tiếp cận đầu tiên được cho là quá vi mô; ngược lại cách tiếp cận thứ
hai lại mang tính tổng thể hơn. An ninh kinh tế, an ninh lương thực là một trong
những nội dung quan trọng khi xác định đặc điểm của tình trạng an ninh kinh tế
hiện nay đã khẳng định; tài nguyên lương thực cũng là nhân tố quan trọng của an
ninh kinh tế; sự tăng trưởng của tài nguyên lương thực chịu sự khống chế nghiêm
ngặt của đất đai, nguồn nước, môi trường sinh thái. Đối với các quốc gia đang phát
triển, vấn đề lương thực hiện nay là những thách thức và khó khăn đối với an ninh
kinh tế. An ninh lương thực không chỉ có vị trí và vai trò đặt biệt đối với an ninh
kinh tế quốc gia mà còn có vị thế quan trọng đối với đời sống văn hóa, xã hội [6,
tr.81]. An ninh lương thực đáp ứng nhu cầu tồn tại của con người và giảm đói
nghèo trên thế giới. Tác giả Vương Dật Châu đã khẳng định rằng : “Xã hội đang
phát triển như vũ bão với nhiều vật dụng hiện đại ra đời phục vụ cho nhu cầu của
con người, nhưng người ta có thể thiếu các phương tiện hiện đại nhưng không thể
làm gì với các dạ dày rỗng”[3, tr.81]. Lương thực, thực phẩm như một phần thiết
yếu bậc nhất để duy trì sự sống và tồn tại của con người. Lương thực phải được
cung cấp đều đặn, đầy đủ cho mỗi người nếu muốn sống, làm việc, hoạt động và
phát triển. Con người được đảm bảo đủ lương thực chứa dinh dưỡng và khỏe mạnh
là biểu hiện thành công của quá trình phát triển kinh tế- xã hội của nhân loại. Một
trong những mục tiêu hàng đầu của Tuyên bố Thiên nhiên kỷ của Liên Hợp Quốc
10


[67, tr.86] (MDG) vào năm 2003 là xóa bỏ tình trạng nghèo đói cùng cực của con
người trên trái đất. Cách tiếp cận vĩ mô với vai trò của an ninh lương thực thì an
ninh lương thực có vai trò tác động đến tăng trưởng kinh tế [20, tr.82]. Xét về mục
tiêu chính sách của các chính phủ, an ninh lương thực được coi như là một chuỗi
liên tục từ mức độ vi mô về đảm bảo dinh dưỡng cho người dân cho tới mức độ vĩ
mô là đảm bảo cung cấp đầy đủ nguồn lương thực cho trị trường trong nước và
ngoài nước. Việc đảm bảo an ninh lương thực đặt ra cho các chính phủ các nước
phải đặt ra các chính sách cụ thể nhằm xác định an ninh lương thực là một phần
trong chiến lược phát triển đất nước với mục đích đạt được các mục tiêu tăng
trưởng kinh tế nhanh chóng và phân phối thu nhập được cải thiện hơn. Thiết lập
mối liên kết về an ninh lương thực ở góc độ vĩ mô giúp đạt được những mục tiêu
tăng trưởng quốc gia[18, tr.82].
1.1.2. Khung đánh về an ninh lương thực.
Có bốn tiêu chí để đánh giá chính về an ninh lương thực trong đó bao gồm:
Sự sẵn có; sự ổn định; sự tiêu dùng và sự an toàn và chất lượng lương thực.
Thứ nhất, sự sẵn có lương thực (availability): Đó là sản lượng lương thực,
diện tích trồng trọt, các chỉ tiêu về xuất và nhập khẩu lương thực được đảm bảo.
Điều đó có nghĩa là đảm bảo nguồn lương thực đầy đủ mọi nơi, mọi lúc. Việc này
có liên quan đến các chính sách bảo vệ diện tích đất trồng cây lương thực, đảm bảo
lợi ích cho người sản xuất lương thực để họ an tâm sản xuất; tăng cường đầu tư vào
nông nghiệp để tăng cường sản lượng và chất lượng lương thực; tạo thuận lợi cho
thương mại nông sản, xây dựng hệ thống phân phối lương thực ổn định.
Theo Chỉ số An ninh lương thực toàn cầu (Global Food Security IndexGFSI)[68, tr.86], khía cạnh sự sẵn có lương thực gồm các chỉ số thành phần bao
gồm: chỉ số về tiêu dùng lương thực ở hộ gia đình; tỷ lệ người dân sống dưới mức
nghèo đói (dưới 2 USD/ngày); GDP bình quân đầu người; thuế nhập khẩu nông sản;
hệ thống an toàn thực phẩm; tỷ lệ đầu tư cho nông thôn.
Thứ hai, sự tiếp cận với lương thực (access). Đó là tỷ lệ tiếp cận lương thực
cơ bản trong tổng dân số, thiếu lương thực cơ bản trong nhóm nghèo, giá lương
thực cơ bản cao và tăng, lương thực được lưu thông, phân phối đến các vùng trong
11


nước và khu vực. Điều này liên quan đến việc tạo cơ hội việc làm, tăng thu nhập và
hỗ trợ thích hợp đề bảo đảm khả năng tiếp cận với lương thực của người dân; cẩn
thận trong việc sử dụng lương thực vào các mục địch khác.
Thứ ba, sự ổn định của lương thực (stability). Điều đó có nghĩa là phải có hệ
thống phân phối ổn định; cung và cầu về lương thực, thực phẩm trên thị trưởng phải
đảm bảo ổn định; nghĩa là giá lương thực và các xu hướng khác trên thị trường
không tăng (giảm) mạnh một cách đột ngột. Tính ổn định của lương thực liên quan
đến các cố gắng của từng quốc gia trong việc đẩy mạnh hợp tác quốc tế để phối hợp
có những hành động chung trong khu vực và toàn cầu nhằm đảm bảo sản lượng và
nguồn cung về lương thực có tính ổn định và bền vững.
Bộ chỉ số GFSI gộp sự ổn định của lương thực vào khía cạnh tiếp cận với lương
thực và được đo lường bằng các chỉ số: khả năng cung cấp đầy đủ lương thực; chi
tiêu cho việc nghiên cứu và phát triển (R&D) cho nông nghiệp; cơ sở hạ tầng nông
nghiệp; thay đổi trong sản xuất nông nghiệp; biến động chính trị; tham nhũng; đô
thị hóa; lãng phí lương thực.
Thứ tư, sự an toàn và chất lượng của lương thực được sử dụng. Điều đó thể
hiện qua mức độ dinh dưỡng của lương thực, chất lượng và mức độ vệ sinh an toàn
lương thực, thực phẩm; tỷ lệ suy dinh dưỡng và thiếu chất do mức cung ứng của
lương thực.
Chỉ số tính an toàn và chất lượng lương thực trong bộ chỉ số GFSI bao gồm
các chỉ số như là: sự đa dạng hóa chế độ ăn uống; tiêu chuẩn dinh dưỡng bữa ăn;
tính sẵn có của vi chất dinh dưỡng; chất lượng protein; an toàn lương thực.
1.1.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến an ninh lương thực.
Các nhân tố tác động đến sự sẵn có của nguồn lương thực.
Thứ nhất, diện tích đất sản xuất và canh tác nông nghiệp trên thế giới đang
có chiều hướng giảm mạnh. Đồng thời, dân số thế giới ngày càng tăng, các đô thị,
trung tâm công nghiệp ngày càng nhiều thì tỷ lệ nghịch với nó là diện tích sản xuất
nông nghiệp ngày càng giảm nhanh vì phải chuyển đổi mục đích sử dụng. Chưa kể
đến những tàn phá của con người gây ô nhiễm môi trường, đất đai bị xói mòn, bạc
màu dẫn tới hiệu quả đất canh tác kém hiệu quả.
12


Thứ hai, từ ba thập kỷ cuối của thế kỷ 20 đến nay, thế giới có nhiều tiến bộ
nhảy vọt về khoa học và công nghệ. Tuy nhiên,một số quốc gia và khu vực không
chú trọng tới việc đầu tư khoa học kỷ thuật vào nền nông nghiệp nói chung, sản
xuất lương thực nói riêng. Kết quả dẫn tới là sản lượng sản xuất nông nghiệp và
năng suất nông nghiệp trên thế giới ngày càng giảm; nếu như tốc độ tăng năng suất
nông nghiệp trong thời kỳ 1950-1990 là 2,1%/năm thì trong giai đoạn 1990-2007
tốc độ tăng trưởng bình quân chỉ đạt 1,2%/năm. Vấn đề an ninh lương thực chỉ
được giải quyết khi có một chiến lược tăng sản lượng lương thực, đảm bảo nguồn
lương thực cho những vùng khó khăn và cả toàn cầu[19, tr.82].
Thứ ba, biến đổi khí hậu và quản lý nguồn nước yếu kém là một trong những
yếu tố tác động lớn đến sản lượng lương thực. Sản xuất lương thực phần lớn phụ
thuộc vào điều kiện thiên nhiên, khí hậu, thời tiết. Trong giai đoạn hiện nay, biến
đổi khí hậu đã, đang và sẽ gây ra tình trạng khó lường về khí hậu, thời tiết diễn biến
phức tạp, bất thường như lũ lụt, bão, hạn hán… gây ra nhiều thiệt hại cho sản xuất
nông nghiệp. Một nhân tố đe dọa tới an ninh lương thực trong tương lai nữa là vấn
đề thiếu nước và quản lý nguồn nước yếu kém trong nông nghiệp. Nguồn nước trên
trái đất đang chịu ảnh hưởng mạnh của quá trình biến đổi khí hậu, lượng nước ngầm
và nước mưa đang suy giảm ở nhiều nơi đe dọa tới sản xuất lương thực toàn cầu.
Bên cạnh đó, việc quản lý và sử dụng các nguồn nước của các lưu vực các dòng
sông trên thế giới có nhiều bất cập và tính hiệu quả còn chưa cao. Chính vì vậy,
khủng hoảng nguồn nước thực sự là nguy cơ to lớn đe dọa an ninh lương thực trong
thời gian tới.
Các nhân tố tác động đến sự tiếp cận của lương thực.
Thứ nhất, thị trường nông sản thế giới đang bị bóp méo bởi các chính sách
trợ cấp nông nghiệp của các nước có nền công nghiệp phát triển đã tác động không
nhỏ tới quá trình toàn cầu hóa về lĩnh vực nông nghiệp.
Thứ hai, việc điều chỉnh các chính sách xuất khẩu lương thực của các nước
xuất khẩu lương thực chính. Các chính sách đó tác động tới các quốc gia và khu vực
trên thế có nhu cầu nhập khẩu lương thực.
Các nhân tố tác động đến sự ổn định của lương thực.
13


Thứ nhất, sức ép dân số và thay đổi cơ cấu tiêu dùng của người dân, trong
khi đó nguồn cung cấp lương thực bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố. Dân số là một
trong những nhân tố ảnh hưởng không nhỏ đến vấn đề an ninh lương thực. Dân số
thế giới gia tăng dẫn tới sẽ có sự gia tăng về nhu cầu tiêu thụ lương thực, diện tích
đất sử dụng cho nông nghiệp sẽ ít nhiều giảm đi do phải chuyển mục đích sử dụng
đất từ nông nghiệp sang sinh hoạt nhiều hơn. Khi nguồn cung về lương thực không
đáp ứng về nguồn cầu lương thực sẽ dẫn tới khủng hoảng lương thực trên toàn cầu
như là thiếu lương thực, giá lương thực tăng cao… Cơ cấu tiêu dùng của người dân
chuyển dịch theo xu hướng giảm ngũ cốc và gia tăng về đạm đã tiêu thụ một lượng
lớn lương thực cho lĩnh vực sản xuất chăn nuôi. Vì vậy, một nguồn cung về lương
thực bị thiếu hụt đi rất nhiều.
Thứ hai, các nhu cầu về lương thực không chỉ tăng cao do gia tăng dân số mà
còn do nhu cầu của cách ngành kinh tế khác. Theo thống kê, Mỹ, Tây Âu và Trung
Quốc đang chuyển hướng sản xuất, tiêu thụ năng lượng sinh học. Trong đó, việc sử
dụng ngũ cốc để sản xuất nhiên liệu sạch như là ngô, lúa,… sản xuất ra ethanol hoặc
là diesel sinh học. Theo báo cáo của Liên Hợp quốc (UN) thì sản xuất nhiêu liệu sinh
học có thể làm tăng giá cả các mặt hàng hạt có dầu và ngũ cốc lên khoảng 30%. Đây
là nhân tố làm tăng nhu cầu của lương thực, khiến cho giá của lương thực tăng cao,
dẫn tới nhiều người dân khó có thể tiếp cận với lương thực, hoặc là buộc phải giảm
tiêu dùng về lương thực. Ngoài ra, trong thời gian gần đây đang xảy các cuộc xung
đột khu vực, nội chiến, chiến tranh kéo dài ở khắp nơi trên thế giới; đặc biệt là các
nước châu Phi- Trung Đông- nơi có chỉ số mất an ninh lương thực cao nhất thế giới
đã ảnh hưởng trực tiếp tới sự ổn định của nguồn cung lương thực thế giới.
Các nhân tố tác động tới sự an toàn, chất lượng của lương thực.
Thứ nhất, việc ứng dụng công nghệ sinh học, chọn tạo giống mới và lương
thực đảm bảo dinh dưỡng. Hiện nay, cùng với sự phát triển của nền kinh tế toàn cầu
thì nhu cầu đảm bảo dinh dưỡng và chất lượng bữa ăn với thành phần lương thực,
thực phẩm ngày càng được chú trọng và nâng cao hơn nữa. Việc tạo ra những giống
cây lương thực có nguồn dinh dưỡng cao, chất lượng thông qua việc biến đổi gen và

14


có bổ sung các chất cần thiết cho cơ thể con người là nội dung mà ứng dụng công
nghệ sinh học được chú trọng tới.
Thứ hai, áp dụng quy trình sản xuất hiện đại, an toàn và thân thiện môi
trường trong việc tạo ra những sản phẩm lương thực, thực phẩm sạch, không chứa
chất hóa học, chất độc hại tới sức khỏe con người. Qua đó đảm bảo chất lượng vệ
sinh an toàn thực phẩm cho người tiêu dùng, không gây ảnh hưởng tới sức khỏe
cộng đồng. Hiện nay ở các nước phát triển thực phẩm đã và đang có những yêu câu
nghiêm ngặt về an toàn vệ sinh, an toàn thực phẩm thông qua các phân khúc thị
trường của nông sản được đưa ra thị trường tiêu dùng cũng như được nhập khẩu ở
các quốc gia khác.
Thứ ba, các chính sách của các quốc gia trong việc quản lý an toàn lương
thực, thực phẩm và chăm sóc, nâng cao sức khỏe nhân dân thông qua chương trình
chống suy dinh dưỡng ở trẻ em và bà mẹ. Vấn đề vệ sinh, an toàn và chất lượng
lương thực đang được nhiều quốc gia quan tâm, cũng các tổ chức quốc tế có một
chương trình hành động cụ thể nhằm đảm bảo cho con người trên thế giới.
1.2. Thực trạng an ninh lương thực của thế giới và châu Phi hiện nay
1.2.1. Thực trạng an ninh lương thực trên thế giới hiện nay.
Hơn lúc nào hết trong giai đoạn hiện nay, thế giới nhận thức rõ ràng một
nguy cơ mới đang dần xuất hiện, đó là cuộc khủng hoảng lương thực toàn cầu rất có
thể xảy ra trong tương lai không xa, khi mà dân số thế giới đang tiến nhanh tới mốc
9 tỷ người vào năm 2050. Tổ chức Nông Lương của Liên Hợp quốc (FAO), Quỹ
Phát triển Nông nghiệp Quốc tế (IFAD) và Chương trình Lương Thực Thế giới (
WFS) đã có những tuyên bố và kêu gọi các quốc gia và cộng đồng quốc tế nhanh
chóng phối hợp để đối phó với tình trạng giá lương thực tăng cao, có nguy cơ trở
thành thảm họa đối với hàng chục triệu người trên toàn cầu.
Theo ước tính của FAO, trên thế giới hiện có khoảng 805 triệu dân số đang
sống trong tình trạng thường xuyên thiếu lương thực vào năm 2015. Trong đó,
khoảng 709 triệu người sống ở các quốc gia đang phát triển, cho dù hệ thống an
ninh lương thực đã được cải thiện ở các thị trưởng mới nổi và quốc gia có thu nhập

15


thấp trong thập kỷ vừa qua. Theo ước tính của FAO, kể từ trước năm 1990 số lượng
người ở các quốc gia đang phát triển phải chịu đựng sự thiếu lương thực đã giảm
hơn 200 triệu, tuy nhiên khoảng 15% số dân ở các khu vực này vẫn thường xuyên bị
thiếu lương thực[30, tr.83]. Trong giai đoạn 2004 - 2006 số người thiếu lương thực
chiếm 16.8% dân số toàn cầu, giai đoạn 2007-2009 chiếm 15.5%, giai đoạn 20102012 chiếm 14.9%. Trong Mục tiêu Thiên niên kỷ được đặt ra năm 1990 trong đó
mục tiêu “ Giảm một nữa số lượng người thiếu lương thực trên toàn cầu”. Trong đó
số lượng người thiếu lương thực ở Châu Phi ngày càng gia tăng: Năm 2002 là 214.3
triệu người, đến năm 2007 là 217.6 triệu người và năm 2014 là 243 triệu người. Khu
vực có tỷ lệ thiếu đói cao nhất thế giới là tại tiểu vùng Sahara của Châu Phi với số
người thiếu đói là 220 triệu người, chiếm 23.2% dân số. Khu vực có số lượng người
thiếu đói cao nhất thế giới là tại Nam Á, năm 2010 có đến 309.9 triệu người thiếu
đói đến năm 2014 giảm xuống còn 281 triệu người [40, tr.83].
Hình 1. 1: Chỉ số người thiếu lương thực ở các khu vực trên thế giới

Nguồn: The state of food insecurity in the world, FAO,2015.
Theo bản đánh giá của Cơ quan nghiên cứu kinh tế toàn cầu ( The Economist
Intelligence Unit – EIU) 2015, hiện nay mặc dù đã có những bước cải thiện nhất
định song an ninh lương thực thế giới vẫn đặt ra những thách thức và khó khăn nhất

16


định, đặc biệt là tại một số khu vực như châu Phi và các nước nghèo tại châu lục
này. Chỉ số trung bình an ninh lương thực toàn cầu (GFSI) của 109 quốc gia trên thế
giới tăng trung binh 1,2 điểm, với hai phần ba trong số đó đã tham gia chương trình
lương thực từ các năm trước. Các hiệu quả đạt được duy trì tăng trưởng kinh tế ở
hầu hết các khu vực và tăng trưởng nhanh ở các nước đang phát triển (đặc biệt là ở
châu Phi cận Sahara -SSA) và các khu vực có giá lương thực thấp. Tình hình ở các
khu vực cho thầy các quốc gia châu Phi cận Xahara có mức cải thiện là 1,5 điểm,
trong khi đó điểm số của khu vực Bắc Mỹ được cải thiện thêm 1,5 điểm và châu ÂU
cải thiện thêm 0,5 điểm. Khu vực Trung Đông và Bắc Phi (MENA) có điểm cải
thiện nhiều nhất, lên tới 2,4 điểm và là khu vực có tình hình ANLT được cải thiện
nhiều nhất; cao hơn rất nhiều so với các vùng trung và nam Mỹ ( 1,5 điểm) và Châu
Á Thái Bình Dương ( 1,8 điểm ).
Bảng 1. 1: Điểm số an ninh lương thực toàn cầu ở các khu vực trên thế giới
TÍNH AN

TÍNH

TÍNH

TIẾP

ỔN

CẬN

ĐỊNH

57,3

56,4

58,5

56,6

58

58,6

56,7

59,9

75,7

79,2

71,5

78,5

61

62

60,2

60,7

BẮC MỸ

80,6

82,9

78,3

81,8

CHÂU PHI CẬN SAHARA

37,8

29,6

45,2

38,1

TỔNG
THỂ
CHÂU Á THÁI BÌNH DƯƠNG
TRUNG VÀ NAM MỸ
CHÂU ÂU
TRUNG ĐÔNG BẮC PHI

TOÀN VÀ
CHẤT
LƯỢNG

Nguồn: The economist intelligence unit 2015.
Năm 2007 thế giới đã lâm vào “cuộc khủng hoảng lương thực”; khi mà sản
lượng lương thực chỉ đạt hơn 2100 triệu tấn. Tuy nhiên, những năm sau đó nhờ có
những tăng trưởng và phục hồi chậm của nền kinh tế, đi kèm với những tiến bộ
trong khoa học kỷ thuật thì sản lượng lương thực thế giới trong các năm tiếp theo có
sự tăng trưởng mạnh. Sản lượng lương thực thế giới đã tăng đều theo hàng năm từ

17


năm 2008 tới năm 2015. Ước tính của FAO thì sản lượng lương thực của thế giới
trong năm 2015 đạt khoảng 2500 triệu tấn. Nhìn chung, sau một thời gian dài biến
động, giá lương thực thế giới dần ổn định và phát đi những tín hiệu tích cực. Cho
đến nay, giá lương thực có xu hướng giảm nhưng vẫn ở mức cao. Năm 2016 chỉ số
giá lương thức lại giảm xuống mức 149,3 điểm nhưng ở mức tương đối cao. Kết
quả này có được là do những biến động chính trị ở các khu vực khác nhau trên thế
giới, đặc biệt là khu vực Bắc Phi và Trung Đông[39, tr.83]. Giá lương thực gia tăng
trong bối cảnh lạm phát tăng cao trên toàn thế giới đã khiến cho thu nhập thực tế
của người dân, đặc biệt là người nghèo, sụt giảm nghiêm trọng, và điều này khiến
cho khả năng tiếp cận nguồn lương thực của người nghèo vốn đã khó khăn càng trở
nên khó khăn hơn.

Hình 1. 2: Chỉ số giá thực phẩm thế giới

Nguồn: FAO(2015).
Đến năm 2008, toàn thế giới chứng kiến một cuộc khủng hoàng giá lương
thực. Chỉ số giá lương thực đạt mức kỷ lục là 201.4 điểm (tăng 24.8% so với năm
2007). Đến năm 2009, giá lượng thực bắt đầu giảm xuống mức 160,3 điểm, tới năm
2010 chỉ số giá lương thực tăng nhẹ lên 188 điểm. Bước sang năm 2011, chỉ số giá
lương thực trên thế giới đã tăng 22,3% so với giữa năm 2010 ở mức 229,9 điểm.
Trong đó giá ngũ cốc tăng tới 44,1% đang làm dấy lên lo ngại về một cuộc khủng
hoảng mới về giá lương thực có thể đang đến gần trong tương lai. Điều đó làm cho
mối lo ngại về cuộc khủng hoảng an ninh lương thực xảy ra trong tương lai gần rất
có thể xảy ra

18


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×