Tải bản đầy đủ

Vốn đầu tư cho phát triển kết cấu hạ tầng huyện hạ hòa tỉnh phú thọ

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

CAO VIỆT HÀ

VỐN ĐẦU TƯ
CHO PHÁT TRIỂN KẾT CẤU HẠ TẦNG
HUYỆN HẠ HÒA TỈNH PHÚ THỌ

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ

HÀ NỘI - 2016


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

CAO VIỆT HÀ


VỐN ĐẦU TƯ
CHO PHÁT TRIỂN KẾT CẤU HẠ TẦNG
HUYỆN HẠ HÒA TỈNH PHÚ THỌ
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 60 34 04 10

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. Phí Vĩnh Tường

HÀ NỘI, 2016


LỜI CAM ĐOAN
Luận văn thạc sỹ “Vốn đầu tư cho phát triển kết cấu hạ tầng huyện Hạ
Hòa tỉnh Phú Thọ” Chuyên ngành quản lý kinh tế, mã số 60.34.04.10, đây là
công trình tác giả đã dày công nghiên cứu, trong đó có sử dụng thông tin từ
nhiều nguồn tư liệu và dữ liệu khác nhau. Các thông tin đã được chỉ rõ
nguồn gốc.
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là hoàn
toàn trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào hoặc chưa
từng công bố trong bất kỳ một công trình nghiên cứu khoa học nào khác.
Tác giả luận văn

Cao Việt Hà


LỜI CẢM ƠN
Để có bản luận văn này, tác giả xin chân thành cảm ơn đối với các thầy
giáo, cô giáo Học viện khoa học xã hội đã tận tình giảng dạy, hướng dẫn và quan
tâm giúp đỡ tác giả trong quá trình học tập, nghiên cứu và làm luận văn tốt
nghiệp.
Đặc biệt, tác giả xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới TS. Phí Vĩnh
Tường, người đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tác giả trong quá trình thực hiện
và hoàn thành luận văn.
Mặc dù có nhiều cố gắng, nhưng do còn hạn chế về lý luận, năng lực,
kinh nghiệm cũng như trong nghiên cứu, nên chắc chắn khó tránh khỏi những
thiếu sót. Tác giả mong nhận được những ý kiến đóng góp của các nhà khoa học,
các thầy cô giáo và bạn đồng nghiệp để luận văn được hoàn thiện hơn.

Tác giả luận văn

Cao Việt Hà


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU……………………………………………………………………...1
Chương 1: LÝ LUẬN VỀ VỐN ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN KẾT CẤU HẠ
TẦNG………………………………………………………...………………..8
1.1. Vốn đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng…………………………………...8
1.2. Vai trò của vốn đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng……………………….10
1.3. Phân loại kết cấu hạ tầng………………………………………………..11
1.4. Đặc trưng của vốn đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng…………………....13
1.5. Nguồn vốn đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng……………………………15
1.6. Các yếu tố ảnh hưởng đến huy động vốn đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng18
Chương 2: THỰC TRẠNG VỐN ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN KẾT CẤU HẠ
TẦNG HUYỆN HẠ HÒA GIAI ĐOẠN 2011 - 2015…………..…………22
2.1. Kết cấu hạ tầng huyện Hạ Hòa giai đoạn 2011-2015………………..…22
2.2. Vốn đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng huyện Hạ Hoà giai đoạn 2011-2015…...25
2.3. Một số vấn đề trong huy động vốn đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng và
nguyên nhân………………………...……………………………………….32
Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP HUY ĐỘNG VỐN ĐẦU TƯ PHÁT
TRIỂN KẾT CẤU HẠ TẦNG GIAI ĐOẠN 2016-2020………..………….43
3.1. Bối cảnh phát triển……………………...………………………………43
3.2. Định hướng phát triển KCHT huyện Hạ Hòa giai đoạn 2016 – 2020…..47
3.3. Nhu cầu vốn phát triển kết cấu hạ tầng giai đoạn 2016-2020 và năng lực
nguồn vốn ngân sách….....…………………………………………………..49
3.4. Một số giải pháp huy động vốn cho phát triển kết cấu hạ tầng…...…….53
KẾT LUẬN…………………………………………………………………59
TÀI LIỆU THAM KHẢO……………………………………..…………….61


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CNH

:

Công nghiệp hóa

DN

:

Doanh nghiệp

GTGT

:

Thuế giá trị gia tăng

GPMB

:

Giải phóng mặt bằng

HĐH

:

Hiện đại hóa

FDI

:

Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

KCHT

:

Kết cấu hạ tầng

KT-XH

:

Kinh tế - xã hội

NSNN

:

Ngân sách Nhà nước

ODA

:

Hỗ trợ phát triển chính thức

ODF

:

Hỗ trợ phát triển khác

QLDA

:

Quản lý dự án

UBND

:

Ủy ban Nhân dân

TTCN

:

Tiểu thủ công nghiệp


DANH MỤC BẢNG
Bảng 1: Các trục giao thông đường bộ chính qua Hạ Hoà năm 2015 .......... 23
Bảng 2: .......................................................................................................... 30
Bảng 3: Vốn đầu tư KCHT đô thị giai đoạn 2011-2015 ............................... 32
Bảng 4: Kết quả đầu tư phát triển KCHT theo hạng mục giai đoạn 2011-2015
....................................................................................................................... 33
Bảng 5: Một số kết cấu hạ tầng đô thị cần được hoàn thiện ......................... 34
Bảng 6: Cơ cấu vốn đầu tư theo lĩnh vực giai đoạn 2011-2015 ................... 35

DANH MỤC HÌNH
Hình 1: Chi ngân sách và chi phát triển kết cấu hạ tầng giai đoạn 2011-2015
(tỷ đồng) ........................................................................................................ 26
Hình 2: Vốn đầu tư phát triển KCHT huyện Hạ Hoà theo nguồn giai đoạn
2011-2015 (tỷ đồng) ...................................................................................... 28
Hình 3: Vốn phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ giai đoạn 20112015 (tỷ đồng) ............................................................................................... 29


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Kết cấu hạ tầng (KCHT) có vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình
phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia, mỗi vùng lãnh thổ hay mỗi ngành
kinh tế. Kết cấu hạ tầng tạo ra nền tảng cho các hoạt động kinh tế xã hội diễn
ra một cách thuận tiện, là cơ sở để các doanh nghiệp tiến hành sản xuất kinh
doanh, tạo ra nhiều hơn lợi nhuận và trên cơ sở đó tạo thêm nhiều việc làm có
chất lượng, đóng góp cho ngân sách nhà nước. Trên nền tảng của kết cấu hạ
tầng phát triển đồng bộ, các doanh nghiệp phát triển sẽ thúc đẩy quá trình
chuyển dịch cơ cấu kinh tế, hướng tới những ngành có giá trị gia tăng
(GTGT) cao hơn và do đó tạo ra nhiều việc làm có chất lượng cho nền kinh
tế.
Vai trò quan trọng của kết cấu hạ tầng trong phát triển kinh tế - xã hội,
trong thu hút đầu tư của các doanh nghiệp trong và ngoài nước phục vụ quá
trình công nghiệp hoá (CNH), hiện đại hoá (HĐH) là lý do thúc đẩy chính phủ
của mỗi quốc gia huy động vốn đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng, song song
với việc huy động vốn đầu tư phát triển doanh nghiệp.
Trong quá khứ, đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng thường đòi hỏi nguồn
vốn lớn. Ngay cả ở những nền kinh tế phát triển, không phải mọi doanh
nghiệp hạ tầng có đủ nguồn lực (vốn) để phát triển kết cấu hạ tầng mà nền
kinh tế quốc dân cũng như chính phủ kỳ vọng.
Tuy nhiên, bối cảnh phát triển đã có nhiều thay đổi trong những năm
gần đây. Khoa học công nghệ trong lĩnh vực kết cấu hạ tầng đã có những
bước tiến mới, cho phép sử dụng nhiều nguyên vật liệu mới trong phát triển
kết cấu hạ tầng. Trong bối cảnh công nghệ xây dựng kết cấu hạ tầng có những
tiến bộ rõ rệt, cơ hội để các doanh nghiệp tư nhân có thể tham gia đầu tư phát
triển một số lĩnh vực hạ tầng như giao thông, hạ tầng cung cấp nước sạch, hạ
1


tầng khu công nghiệp ... ngày một cao hơn. Sự tham gia của khu vực tư nhân
trong và ngoài nước góp phần thúc đẩy tái cơ cấu đầu tư công và nâng cao
hiệu quả đầu tư vào các công trình công cộng.
Là một huyện miền núi tây bắc tỉnh Phú Thọ, huyện Hạ Hoà có nhiều
cơ hội để phát triển kinh tế xã hội nhanh. Với tổng diện tích 33.994,05 ha,
huyện Hạ Hoà gồm 32 xã, 1 thị trấn. Trung tâm huyện Hạ Hoà là thị trấn Hạ
Hoà cách thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ 70 km, cách Thủ đô Hà Nội 170
km. Hệ thống giao thông trên địa bàn huyện bao gồm Quốc lộ 32C và 70C;
Tỉnh lộ 311, 320, 314 và có 26 km đường sắt Hà Nội - Lào Cai cùng 32 km
đường thuỷ dựa trên Sông Thao chạy dọc, chia huyện thành 2 vùng tả ngạn và
hữu ngạn.
Tuy có nhiều thuận lợi về vị trí địa lý, nhưng các cơ hội phát triển vẫn
chưa được chuyển hoá thành các lợi ích cho người dân và cho doanh nghiệp.
Thực tiễn phát triển cho thấy nguyên nhân căn bản ảnh hưởng đến việc
chuyển hoá cơ hội phát triển thành lợi ích là do những hạn chế trong việc hình
thành môi trường kinh doanh thuận lợi. Một trong những cấu phần yếu kém
của môi trường kinh doanh của huyện Hạ Hoà là kết cấu hạ tầng. Dù có
những nỗ lực đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng, nhưng do yêu cầu về quy mô
vốn đầu tư cao, nguồn vốn (chủ yếu dựa vào NSNN) còn thấp, không có khả
năng huy động các nguồn vốn ngoài ngân sách đã hạn chế việc cải thiện chất
lượng kết cấu hạ tầng. Như một vòng luẩn quẩn, các doanh nghiệp ít đầu tư và
thu ngân sách thấp hơn dẫn tới hạn chế trong việc chi đầu tư phát triển kết cấu
hạ tầng.
Trong bối cảnh đó, việc tìm kiếm những giải pháp để huy động vốn
phát triển kết cấu hạ tầng huyện Hạ Hoà, vì mục tiêu phát triển kinh tế xã hội
là cần thiết. Tuy đã có một số giải pháp được đề xuất, nhưng cơ sở khoa học
để vận dụng các giải pháp đó trong trường hợp huyện Hạ Hoà còn đang là vấn
2


đề được bàn luận. Bên cạnh đó, vẫn còn những lĩnh vực kết cấu hạ tầng huyện
Hạ Hoà cần giải pháp huy động vốn đầu tư phát triển nhưng chưa được đề cập
đến (trong phạm vi hiểu biết của học viên). Chính vì vậy, học viên chọn đề tài
“Vốn đầu tư cho phát triển kết cấu hạ tầng huyện Hạ Hòa tỉnh Phú Thọ” làm
luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ Quản lý kinh tế, khoa Kinh tế học, mã số
60.34.04.10 với mong muốn đề xuất một số giải pháp nhằm huy động vốn cho
phát triển kết cấu hạ tầng huyện Hạ Hoà, đáp ứng yêu cầu phát triển KT-XH.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Thực hiện mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, một vấn
đề đặt ra với các địa phương nhất là các huyện nghèo là làm thế nào để huy
động được nhiều nguồn vốn đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng. Hơn nữa, kết
cấu hạ tầng là một trong những nhân tố quan trọng quyết định tăng trưởng,
phát triển. Song đòi hỏi vốn lớn, khả năng thu hồi vốn chậm. Bởi vậy, vấn đề
này nhận được nhiều sự quan tâm của xã hội. Đã có nhiều công trình nghiên
cứu, nhiều bài viết xoay quanh vấn đề này ví như:
- Phạm Ngọc Quyết (1996), Những giải pháp tài chính huy động vốn
trong nước để đầu tư phát triển kinh tế ở Việt Nam, luận án tiến sĩ kinh tế, Đại
học Tài chính kế toán Hà nội.
- Đinh Văn Phượng(2000), Thu hút vốn và sử dụng vốn đầu tư phát
triển kinh tế miền núi phía bắc nước ta hiện nay, Luận án tiến sĩ kinh tế, Học
viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội.
- Nguyễn Đức Độ(2001), Phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế và vai trò
của nó đối với củng cố quốc phòng ở nước ta hiện nay, Luận án tiến sỹ kinh
tế, Học viện Chính trị quân sự, Hà Nội.
- Phan Tú Lan (2002), Khai thác và quản lý vốn đầu tư phát triển cơ
sở hạ tầng ký thuật đô thị tại Việt Nam, luận án tiến sĩ kinh tế, Học viện Tài
chính, Hà Nội.
3


- Nguyễn Hữu Lợi (2006) Huy động vốn ngoài ngân sách để phát triển
kết cấu hạ tầng xã hội ở thành phố Hà Nội, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Học viện
Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội.
Ngoài ra, còn có nhiều các bài báo, bài nghiên cứu công bố trên các
tạp chí, báo…
Theo Phạm Ngọc Quyết (1996) nghiên cứu về huy động vốn cho phát
triển kinh tế Việt Nam giai đoạn 1991-1995. Đã đánh giá thực trạng huy động
vốn cho đầu tư phát triển kinh tế ở nước ta trên các kênh: Ngân sách, tín dụng
ngân hang, doanh nghiệp và dân cư. Tác giả đã hệ thống hóa được những
nguyên lý về đầu tư và tiết kiệm và rút ra mối quan hệ giữa đầu tư vốn với
tăng trưởng, phát triển kinh tế trên phạm vi tầm vĩ mô và vi mô. Phân tích lý
thuyết về tiết kiệm và tiêu dùng, chỉ rõ sự hình thành nguồn vốn đầu tư trong
nước phụ thuộc vào khả năng huy động các nguồn tiết kiệm của chính phủ,
của doanh nghiệp và dân cư. Đồng thời chỉ rõ những nguyên nhân tác động
đến tình hình huy động vốn và sự cần thiết cần phải sử dụng kinh nghiệm của
một số nước trong khu vực Đông nam Á về huy động vốn. Đồng thời đưa ra
hệ thống các giải pháp huy động vốn trong nước cho đầu tư của những năm
1996-2000, bao gồm 6 giải pháp chủ yếu là: Huy động vốn qua ngân sách,
chính sách tiết kiệm, chính sách lãi suất, giải pháp về tỷ giá ngoại tệ, huy
động vốn trong các doanh nghiệp và huy động vốn qua thị trường tài chính,
những giải pháp này phù hợp với tình hình thực tế của nước ta và đảm bảo
tính khả thi. Cùng các điều kiện đã đề cập trong luận án là: Ổn định chính trị
xã hội và ổn định kinh tế vĩ mô; tạo lập môi trường pháp lý, xây dựng và hoàn
thiện các điều kiện về kết cấu hạ tầng; phát triển nguồn nhân lực, chú ý hơn
nữa đến đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý trong lĩnh vực tài chính tiền tệ ở
nước ta.

4


Nhìn chung, các công trình đã công bố chủ yếu tập trung nghiên cứu
vấn đề huy động vốn đầu tư để phát triển kinh tế - xã hội, phát triển kết cấu hạ
tầng kinh tế - xã hội nói chung hoặc nghiên cứu về một nguồn vốn cụ thể nào
đó trong phát triển kết cấu hạ tầng trên phạm vi cả nước và ở một số tỉnh,
thành phố. Một số nghiên cứu đã bàn về huy động vốn đầu tư phát triển kết
cấu hạ tầng ở cấp huyện, tuy nhiên chưa có công trình nào nghiên cứu về vốn
đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng huyện Hạ Hòa tỉnh Phú Thọ. Vì vậy, đề tài
mà học viên lựa chọn làm luận văn Thạc sĩ là không trùng lắp với các nghiên
cứu đã được công bố.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích
Mục đích của đề tài luận văn là đề xuất một số giải pháp huy động vốn
cho phát triển kết cấu hạ tầng huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ giai đoạn 20162020, trên cơ sở (1) xác định khung lý luận về vốn đầu tư phát triển kết cấu hạ
tầng, và (2) đánh giá thực trạng huy động và sử dụng các nguồn vốn phát triển
kết cấu hạ tầng của huyện Hạ Hoà và những vấn đề phát triển kết cấu hạ tầng
có liên quan giai đoạn 2011-2015.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn sẽ tập trung giải quyết các vấn đề sau:
- Hệ thống hoá một số vấn đề lý luận về vốn đầu tư cho phát triển kết
cấu hạ tầng, phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội.
- Phân tích, đánh giá thực trạng huy động vốn cho đầu tư phát triển kết
cấu hạ tầng huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2011-2015.
- Đề xuất một số giải pháp huy động vốn cho đầu tư phát triển kết cấu
hạ tầng ở huyện Hạ Hòa tỉnh Phú Thọ trong giai đoạn 2016-2020.

5


4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là vốn đầu tư phát triển kết cấu hạ
tầng.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi không gian
Đề tài luận văn giới hạn phạm vi nghiên cứu đối với các kết cấu hạ
tầng thuộc địa bàn huyện Hạ Hoà, tỉnh Phú Thọ và được quy hoạch phát triển,
quản lý cũng như thu hút đầu tư bởi chính quyền địa phương huyện Hạ Hoà
Pham vi thời gian
Đề tài luận văn sẽ phân tích, đánh giá sự phát triển của kết cấu hạ tầng
giai đoạn 2011-2015 gắn với những thay đổi về chính sách huy động các
nguồn vốn cho phát triển kết cấu hạ tầng.
Phạm vi nội dung
Đề tài luận văn giới hạn việc nghiên cứu vốn cho phát triển kết cấu hạ
tầng cứng (giao thông, thuỷ lợi, năng lượng …,) và không nghiên cứu vốn
phát triển kết cấu hạ tầng mềm (y tế, giáo dục ..)
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp phân tích định tính, trên cơ sở các
công cụ phân tích thống kê, phân tích SWOT để làm rõ các điểm mạnh, điểm
yếu của các nguồn vốn hiện đang được sử dụng phát triển kết cấu hạ tầng
huyện Hạ Hoà, tỉnh Phú Thọ cũng như cơ hội và thách thức huy động vốn đầu
tư phát triển kết cấu hạ tầng trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế.
Luận văn sử dụng nguồn số liệu thứ cấp, bao gồm các số liệu từ niên
giám thống kê, các số liệu từ hệ thống báo cáo như Quy hoạch tổng thể phát
triển kinh tế - xã hội tỉnh Phú Thọ đến năm 2020; Quy hoạch tổng thể phát
triển kinh tế - xã hội huyện Hạ Hòa đến năm 2020; báo cáo tình hình sử dụng
6


đất đai của huyện Hạ Hòa; Giá trị sản xuất các ngành kinh tế huyện Hạ Hòa;
Kết quả thực hiện vốn đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng từ NSNN của huyện
Hạ Hòa; Tình hình đầu tư kết cấu hạ tầng huyện Hạ Hòa theo loại hình công
trình xây dựng; Tình hình đầu tư kết cấu hạ tầng huyện Hạ Hòa giai đoạn theo
chủ đầu tư; Tình hình huy động vốn đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng huyện
Hạ Hòa; tình hình phân bổ vốn đầu tư xây dựng KCHT huyện Hạ Hòa.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Hệ thống hóa một số cơ sở lý luận về vốn đầu tư cho phát triển kết cấu
hạ tầng, nguồn vốn và các hình thức huy động vốn phát triển KCHT. Góp
phần khẳng định vốn đầu tư cho phát triển kết cấu hạ tầng là nhiệm vụ cần
thiết góp phần to lớn trong công cuộc xây dựng đất nước thời kỳ công nghiệp
hóa – hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn.
- Phân tích đánh giá thực trạng, làm rõ những hạn chế, nguyên nhân
và những vấn đề đặt ra trong việc huy động vốn đầu tư cho phát triển kết cấu
hạ tầng ở huyện Hạ Hòa tỉnh Phú Thọ.
- Đề xuất các giải pháp nhằm đẩy mạnh việc huy động vốn đầu tư cho
phát triển kết cấu hạ tầng cho huyện Hạ Hòa tỉnh Phú Thọ trong những năm
tiếp theo.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, và danh mục tài liệu tham khảo luận văn
được trình bày trong 3 chương.
- Chương 1: Vốn đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng.
- Chương 2: Thực trạng huy động vốn đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng
huyện Hạ Hòa tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2011-2015
- Chương 3: Một số giải pháp huy động vốn đầu tư phát triển kết cấu
hạ tầng giai đoạn 2016-2020.

7


Chương 1
LÝ LUẬN VỀ VỐN ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN KẾT CẤU HẠ TẦNG
1.1. Vốn đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng
1.1.1. Khái niệm về vốn đầu tư
Vốn đầu tư là một trong những yếu tố sản xuất, đóng góp cho sự tăng
trưởng của nền kinh tế, sự phát triển của doanh nghiệp. Lý giải cho quá trình
tăng trưởng và phát triển, các nhà kinh tế đã sử dụng lý thuyết tăng trưởng,
trong đó sự kết hợp của các yếu tố sản xuất trong giới hạn của công nghệ sẵn
có, cho phép sản xuất ra các hàng hoá, dịch vụ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng.
Một trong các yếu tố quan trọng của quá trình sản xuất là vốn.
Theo nghĩa rộng, vốn với tư cách là đầu vào cho quá trình tạo ra của
cải vật chất bao gồm cả những nguồn lực do tự nhiên ban tặng cho một quốc
gia như dầu mỏ, vàng, cao su, rừng cây, hồ hay đại dương. Tuy nhiên, trong
nhiều trường hợp, các nguồn lực tự nhiên được tách ra để làm rõ hơn vai trò
của vốn, của lao động, của các nguồn lực tự nhiên đối với tăng trưởng kinh tế
của một nước cũng như sự khác biệt về tăng trưởng kinh tế giữa các nước.
Theo nghĩa hẹp, vốn đầu tư có thể được hiểu là toàn bộ lượng tiền và
các tài sản được tiền tệ hoá được đưa vào quá trình sản xuất, trực tiếp hoặc
gián tiếp gia tăng của cải vật chất cho xã hội.
Trong cơ chế thị trường, để khai thác và phát huy đầy đủ các nguồn
lực đầu tư phát triển kinh tế - xã hội, khái niệm vốn được mở rộng về phạm vi
và có các đặc trưng cơ bản sau đây:
Vốn được biểu hiện bằng giá trị nghĩa là vốn phải đại diện cho một
loại giá trị hàng hóa, dịch vụ, một loại giá trị hàng hóa nhất định. Vốn là đại
diện về mặt giá trị cho những tài sản hoạt động được dùng vào mục đích đầu
tư kinh doanh để sinh lời. Tài sản có nhiều loại: Hữu hình, vô hình, những tài
sản nếu được giá trị hoá và đưa vào đầu tư thì được gọi là vốn đầu tư.
8


Vốn được biểu hiện bằng tiền, nhưng không phải tất cả mọi nguồn tiền
đều là vốn. Tiền chỉ biến thành vốn khi nó được sử dụng vào mục đích đầu tư
hoặc kinh doanh. Tiền tiêu dùng hằng ngày, tiền dự trữ không có khả năng
sinh lời không phải là vốn.
Trong nền kinh tế thị trường, vốn là loại hàng hóa song nó là một loại
hàng hóa đặc biệt. Nó có điểm giống các loại hàng hóa khác là có chủ sở hữu
nhất định về vốn, người chủ sở hữu vốn chỉ chuyển quyền sử dụng vốn trong
một thời gian nhất định. Chính nhờ sự tách rời giữa quyền sở hữu và quyền sử
dụng vốn đã làm cho vốn có khả năng lưu thông và sinh lời.
Vốn không chỉ là biểu hiện bằng tiền của các tài sản vật chất mà còn
là của các dạng tiềm năng và lợi thế vô hình. Tiềm năng và lợi thế vô hình
chính là một nguồn vốn to lớn, cần phải được huy động tích cực hơn nữa cho
chu trình vận động của nền kinh tế. Nếu không "giá trị hóa" được nó, rõ ràng
nó không thể trực tiếp phục vụ cho phát triển kinh tế mà còn chỉ là vốn ở dạng
"tiềm năng" mà thôi. Do đặc điểm trên, vốn có thể phân thành 4 loại: “Vốn
đầu tư để thực hiện một dự án đầu tư hay tổng mức đầu tư là toàn bộ chi phí
đầu tư và xây dựng (kể cả vốn sản xuất ban đầu), và là giới hạn chi phí tối đa
của dự án được xác định trong quyết định đầu tư và chỉ được điều chỉnh theo
quy định của Quy chế quản lý đầu tư xây dựng” [13];
Như vậy vốn đầu tư là tiền tích luỹ của xã hội, của các cơ sở sản xuất
kinh doanh, dịch vụ, là tiền tiết kiệm của dân cư và vốn huy động từ các
nguồn khác được đưa vào sử dụng trong quá trình tái sản xuất xã hội nhằm
duy trì tiềm lực sẵn có và tạo tiềm lực mới cho nền sản xuất xã hội.
1.1.2. Khái niệm kết cấu hạ tầng
Hiểu một cách khái quát, kết cấu hạ tầng là một bộ phận đặc thù của
cơ sở vật chất kỹ thuật trong nền kinh tế quốc dân có chức năng, nhiệm vụ cơ

9


bản là đảm bảo những điều kiện chung cần thiết cho quá trình sản xuất và tái
sản xuất mở rộng được diễn ra bình thường, liên tục.
Kết cấu hạ tầng cũng được định nghĩa là tổng thể các cơ sở vật chất,
kỹ thuật, kiến trúc đóng vai trò nền tảng cho các hoạt động kinh tế - xã hội
được diễn ra một cách bình thường, tạo điều kiện cho cho sự phát triển và
nâng cao chất lượng cuộc sống của dân cư.
Ở Việt Nam, thuật ngữ KCHT được dùng khá phổ biến trong quá trình
xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội, nhưng quan điểm nhìn nhận khác
nhau, chưa thật nhất quán. Một số nhà học giả cho rằng, KCHT là những cấu
trúc vật chất - kỹ thuật, là hệ thống những công trình, thiết bị làm nền tảng
cho hoạt động sản xuất kinh doanh, hoạt động văn hóa, xã hội và các hoạt
động khác diễn ra trên đó. Cũng có tác giả định nghĩa kết cấu hạ tầng quốc gia
bao gồm những cơ sở kinh tế xã hội của đất nước như giao thông, nhà ga, sân
bay, bến cảng, hệ thống năng lượng, thông tin liên lạc, bệnh viện, trường học,
trung tâm thương mại… Đặc biệt là theo giáo sư, tiến sĩ khoa học Lê Du
Phong cho rằng:
Kết cấu hạ tầng là tổng hợp các yếu tố và điều kiện vật chất kỹ thuật
được tạo lập và tồn tại trong mỗi quốc gia, là nền tảng và điều kiện chung cho
các hoạt động kinh tế - xã hội, các quá trình sản xuất và đời sống diễn ra trên
phạm vi toàn bộ nền kinh tế quốc dân, cũng như trong mỗi khu vực, vùng
lãnh thổ đất nước.
Như vậy, khái niệm KCHT được hiểu là tổng thể những hệ thống, cấu
trúc, thiết bị và công trình vật chất - kỹ thuật được tạo lập, tồn tại và phát huy
tác dụng trong mỗi quốc gia, khu vực hay mỗi vùng lãnh thổ; đóng vai trò nền
tảng và là điều kiện chung cho phát triển kinh tế - xã hội, cho các quá trình
sản xuất, tái sản xuất và nâng cao đời sống của dân cư.
1.2. Vai trò của vốn đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng
10


Vốn đầu tư luôn là vấn đề hàng đầu đặt ra cho mọi nền kinh tế, trong
từng điều kiện, hoàn cảnh cụ thể về kinh tế - xã hội cũng như lợi thế so sánh
của mỗi quốc gia, Con đường tạo ra các nguồn vốn cũng hết sức khó khăn và
phức tạp, các chủ đầu tư khi bỏ một lượng vốn ra để đầu tư đều mong muốn
làm sao đem lại hiệu quả ngày càng cao cho nền kinh tế trong tương lai.
Chính vì vậy, người ta cho rằng, vốn đầu tư là “chìa khóa” của quá trình phát
triển, trong đó vốn đầu tư để phát triển KCHT có vai trò hết sức quan trọng
được thể hiện ở những nội dung sau:
+ Vốn đầu tư cho phát triển KCHT tác động tới quy mô, năng lực sản
xuất của nền kinh tế, quyết định tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội.
+ Vốn đầu tư cho phát triển KCHT không chỉ tạo ra cơ sở vật chất phục
vụ cho sự phát triển kinh tế trong nước, mà còn tạo điều kiện tăng cường phát
triển kinh tế đối ngoại phù hợp với xu hướng hội nhập vào nền kinh tế khu
vực và thế giới.
+ Là điều kiện thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công
nghiệp hóa, hiện đại hóa. Một hệ thống KCHT hoàn thiện sẽ tạo điều kiện cho
phân công lao động xã hội, hình thành và phát triển các ngành nghề mới.
+ Góp phần tăng cường KCHT quân sự, củng cố an ninh, quốc phòng
cho đất nước.
+ Ngoài những vai trò đã nêu trên vốn đầu tư cho phát triển KCHTKT
còn có vai trò trong việc thực hiện các chương trình, mục tiêu phát triển kinh
tế - xã hội của Đảng và Nhà nước như chương trình xóa đói giảm nghèo,
chương trình nhà ở đô thị, hỗ trợ đào tạo, giải quyết việc làm…
1.3. Phân loại kết cấu hạ tầng
Theo những cách tiếp cận khác nhau, KCHT có thể phân chia thành
các nhóm khác nhau.
1.3.1. Theo tính chất và công năng thì kết cấu hạ tầng chia thành
11


Kết cấu hạ tầng kỹ thuật và kết cấu hạ tầng văn hóa - xã hội.
Kết cấu hạ tầng kỹ thuật bao gồm: Hệ thống cung cấp năng lượng
(điện, khí đốt...); Hệ thống giao thông, vận tải; Hệ thống cung cấp nước sạch;
Hệ thống xử lý nước thải; Hệ thống xử lý rác thải; Hệ thống bưu chính viễn
thông; Hệ thống hạ tầng kỹ thuật khác
Kết cấu hạ tầng văn hóa - xã hội bao gồm: Hệ thống thương mại, dịch
vụ (chợ, ngân hàng...); Hệ thống giáo dục, đào tạo; Hệ thống y tế, chăm sóc
sức khỏe; Hệ thống các công trình phục vụ công cộng (vườn hoa, công
viên...); Hệ thống văn hóa, thể thao và giải trí; Các hệ thống hạ tầng xã hội
khác.
1.3.2. Theo lĩnh vực kinh tế- xã hội
Kết cấu hạ tầng có thể được phân chia thành: (1) kết cấu hạ tầng phục
vụ kinh tế, (2) kết cấu hạ tầng phục vụ hoạt động xã hội, và (3) kết cấu hạ
tầng phục vụ an ninh - quốc phòng.
Tuy nhiên, trên thực tế, ít có loại kết cấu hạ tầng nào hoàn toàn chỉ
phục vụ kinh tế mà không phục vụ hoạt động xã hội và ngược lại.
1.3.3. Theo sự phân ngành của nền kinh tế quốc dân
Kết cấu hạ tầng có thể được phân chia thành: (1) kết cấu hạ tầng công
nghiệp, (2) kết cấu hạ tầng nông nghiệp, (3) kết cấu hạ tầng giao thông vận
tải, (4) kết cấu hạ tầng bưu chính- viễn thông, (5) kết cấu hạ tầng tài chính,
ngân hàng, (6) kết cấu hạ tầng y tế, giáo dục, (7) kết cấu hạ tầng văn hoá- xã
hội…
1.3.4. Theo vùng lãnh thổ
Kết cấu hạ tầng có thể được phân chia thành: kết cấu hạ tầng đô thị,
kết cấu hạ tầng nông thôn; Kết cấu hạ tầng kinh tế biển (ở những nước có
kinh tế biển, và nhất là khi kinh tế biển lớn như ở nước ta), kết cấu hạ tầng

12


đồng bằng, trung du, miền núi, vùng trọng điểm phát triển, các thành phố
lớn…
1.4. Đặc trưng của vốn đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng
1.4.1. Vốn đầu tư phát triển KCHT có quy mô lớn và thời hạn thu hồi vốn dài.
Thông thường để phát triển KCHT người ta đầu tư vào các lĩnh vực
như là hệ thống giao thông (đường xá, cầu cống…), hệ thống thông tin liên
lạc, hệ thống điện lưới quốc gia, hệ thống cung cấp nước sạch, hệ thống thoát
nước…Đây là những lĩnh vực đòi hỏi quy mô vốn đầu tư lớn, thời hạn hoàn
vốn dài, thậm chí có những dự án không thể tính được thời hạn thu hồi vốn
trực tiếp được. Điều này gây rất nhiều khó khăn và gây nên tâm lý e ngại của
các chủ đầu tư khi định thực hiện một dự án phát triển KCHT. Vì vậy, khi huy
động nguồn vốn đầu tư cho phát triển KCHT cần có biện pháp sử dụng vốn
huy động một cách có hiệu quả.
1.4.2. Vốn đầu tư cho phát triển KCHT có độ rủi ro cao
Tính rủi ro của vốn đầu tư phát triển KCHT phụ thuộc vào tính chất
môi trường và cơ hội đầu tư, cũng như phương thức và chính sách huy động
và sử dụng vốn.
Vốn đầu tư cho phát triển KCHT có thời gian thu hồi vốn chậm và ít
có khả năng sinh lời nên đầu tư vào lĩnh vực này dễ gặp nhiều rủi do về kinh
tế (giá cả, lãi suất, lạm phát, khấu hao vô hình, sự thay đổi quan hệ cung - cầu
…) và phi kinh tế (như thay đổi chính sách, thể chế, môi trường…), đây chính
là trở ngại cho chủ đầu tư tư nhân. Tuy nhiên, tùy theo sự hấp dẫn của môi
trường đầu tư, nhất là mức độ tự do hóa kinh doanh, sự ổn định và dự báo
trước về chính sách, độ thông thoáng về quản lý nhà nước và các ưu đãi
khác… mà vốn đầu tư dài hạn có thể được huy động ngày càng nhiều hơn
thông qua sự kết hợp linh hoạt của các công cụ và kênh huy động vốn đa

13


dạng, phong phú, trong đó đầu tư trực tiếp của các doanh nghiệp, các nhà đầu
tư tư nhân trong nước và nước ngoài.
Do các công trình KCHT chiếm diện tích không gian lớn và khó di
dời… nên dễ gây tình trạng lãng phí, thất thoát, tham nhũng, chính vì vậy cần
quản lý và sử dụng nguồn vốn này một cách có hiệu quả đem lại niềm tin cho
các chủ đầu tư trong và ngoài nước.
1.4.3. Đánh giá hiệu quả vốn đầu tư phát triển KCHT cần được xem xét
dưới góc độ hiệu quả kinh tế - xã hội tổng hợp và dài hạn.
Việc vận hành và bảo dưỡng điều này ảnh hưởng đến hiệu quả vốn
đầu tư. Khác với đầu tư khác cho phát triển sản xuất kinh doanh là có thể tính
được ngay lợi nhuận khi bỏ một lượng tiền nhất định, việc đánh giá hiệu quả
vốn đầu tư cho phát triển KCHT phải được xét dưới góc độ hiệu quả kinh tếxã hội tổng hợp và lâu dài.
Do đặc điểm của vốn đầu tư cho phát triển KCHT vừa dài hạn, khó
thu hồi vốn, lại dễ gặp rủi ro, hơn nữa, một số dự án lại không thể định lượng
trực tiếp và chính xác được lợi ích mà nó tạo ra (nhất là các công trình kết cấu
hạ tầng công ích), vì vậy, khi đánh giá hiệu quả vốn đầu tư cho phát triển
KCHT phải xét dưới góc độ hiệu quả kinh tế - xã hội tổng hợp và dài hạn. Khi
đưa ra quyết định cho mỗi dự án đầu tư cần xem xét hiệu quả với một cách
nhìn toàn diện, xem xét hiệu quả kinh tế đi đôi với hiệu quả xã hội, kết hợp
lợi ích trước mắt với lợi ích lâu dài, lợi ích cục bộ của từng bộ phận với lợi
ích tổng thể của toàn xã hội.
Hiệu quả kinh tế- xã hội luôn gắn liền với nhau, tác động trực tiếp đến
chính sách huy động và sử dụng vốn, đặc biệt là đối với các công trình kết cấu
hạ tầng dịch vụ công cộng, cho nên, khi đầu tư vào các dự án ngoài việc chú
trọng đến hiệu quả kinh tế của dự án cần xem xét các vấn đề xã hội như thu

14


nhập, công ăn việc làm, mức sống của người lao động… cần đạt hiệu quả
tổng hợp cao nhất.
Việc quản lý các công trình sau khi các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng
hoàn thành đưa vào sử dụng chưa tốt; có những nơi các dự án đã xây dựng xong,
bàn giao đưa vào sử dụng còn có hiện tượng "vô chủ" không có người quản lý,
bảo dưỡng, sửa chữa, duy tu thường xuyên liên tục, vì vậy tuổi thọ của công trình
giảm, nhất là đối với hệ thống giao thông liên xã, không phân định rõ ai là chủ
đích thực để xác định trách nhiệm trong việc khai thác sử dụng công trình. Do vậy
công trình không phát huy được tối đa công suất thiết kế, cá biệt có công trình đưa
vào khai thác sử dụng 1 đến 2 năm đã xuống cấp nghiêm trọng.
1.5. Nguồn vốn đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng
Nguồn vốn đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng có thể được đầu tư từ một
hay nhiều nguồn vốn sau:
1.5.1. Nguồn vốn trong nước
Nguồn vốn ngân sách nhà nước: Đây chính là nguồn chi của ngân
sách Nhà nước cho đầu tư. Đó là một nguồn vốn đầu tư quan trọng trong
chiến lựơc phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia. Nguồn vốn này
thường được sử dụng cho các dự án kết cấu kinh tế - xã hội, quốc phòng, an
ninh, hỗ trợ cho các dự án của doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực cần sự tham
gia của Nhà nước, chi cho các công tác lập và thực hiện các quy hoạch tổng
thể phát triển kinh tế - xã hội vùng, lãnh thổ, quy hoạch xây dựng đô thị và
nông thôn.
Vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước: Cùng với quá trình đổi
mới và mở cửa, tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước ngày càng đóng vai
trò đáng kể trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội. Nguồn vốn tín dụng
đầu tư phát triển của Nhà nước có tác dụng tích cực trong việc giảm đáng kể
việc bao cấp vốn trực tiếp của Nhà nước. Với cơ chế tín dụng, các đợn vị sử
15


dụng nguồn vốn này phải đảm bảo nguyên tắc hoàn trả vốn vay. Chủ đàu tư là
người vay vốn phải tính kỹ hiệu quả đầu tư, sử dụng vốn tiết kiệm hơn. Vốn
tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước là một hình thức quá độ chuyển từ
hình thức cấp phát ngân sách sang phương thức tín dụng đối với các dự án có
khả năng thu hồi vốn trực tiếp.
Nguồn vốn đầu tư từ doanh nghiệp Nhà nước: Được xác định là thành
phần chủ đạo trong nền kinh tế, các doanh nghiệp Nhà nước vẫn nắm giữ một
khối lượng vốn khá lớn. Mặc dù vẫn còn một số hạn chế nhưng đánh giá một
cách công bằng thì khu vực thì khu vực kinh tế Nhà nước với sự tham gia của
các doanh nghiệp Nhà nước vẫn đóng một vai trò chủ đạo trong nền kinh tế
nhiều thành phần.Với chủ trương tiếp tục đổi mới doanh nghiệp Nhà nước,
hiệu quả hoạt động của khu vực kinh tế này ngày càng được khẳng định, tích
luỹ của các doanh nghiệp Nhà nước ngày càng gia tăng và đóng góp đáng kể
vào tổng quy mô vốn đầu tư của toàn xã hội.
Nguồn vốn từ khu vực tư nhân. Nguồn vốn từ khu vực tư nhân bao
gồm phần tiết kiệm của dân cư, phần tích luỹ của các doanh nghiệp dân
doanh, các hợp tác xã. Đây được coi là một lợi thế mà không một phương
thức huy động nào có thể làm được.
1.5.2. Nguồn vốn ngoài nước
Có thể xem xét nguồn vốn đầu tư ngoài nước có thể phân loại các
nguồn vốn chính như sau:
Nguồn vốn ODA. Đây là nguồn vốn phát triển do các tổ chức quốc tế
và các chính phủ nước ngoài cung cấp với mục tiêu trợ giúp các nước đang
phát triển. So với các hình thức tài trợ khác, ODA mang tính ưu đai cao hơn
bất cứ nguồn vốn ODF nào khác. Mặc dù có tính ưu đai cao, song sự ưu đai
cho loại vốn này thường di kèm các điều kiện và ràng buộc tương đối khắt
khe (tính hiệu quả của dự án, thủ tục chuyển giao vốn và thị trường…). Vì
16


vậy, để nhận được loại tài trợ hấp dẫn này với thiệt thòi ít nhất, cần phải xem
xét dự án trong điều kiện tài chính tổng thể. Nếu không việc tiếp nhận viện trợ
có thể trở thành gánh nặng nợ nần lâu dài cho nền kinh tế. Điều này có hàm ý
rằng, ngoài những yếu tố thuộc về nội dung dự án tài trợ, còn cần có nghệ
thuật thoả thuận để vừa có thể nhận vốn, vừa bảo tồn được những mục tiêu có
tính nguyên tắc.
Nguồn vốn tín dụng từ các ngân hàng thương mại. Điều kiện ưu đẫi
dành cho loại vốn này không dễ dàng như đối với nguồn vốn ODA. Tuy
nhiên, bù lại nó có ưu điểm rõ ràng là không có gắn với các ràng buộc về
chính trị, xã hội. Mặc dù vậy, thủ tục vay đối với nguồn vốn này thường là
tương đối khắt khe, thời gian trả nợ nghiêm ngặt, mức lãi suất cao là những
trở ngại không nhỏ đối với các nước nghèo. Do được đánh giá là mức lãi suất
tương đối cao cũng như sự thận trọng trong kinh doanh ngân hàng (tính rủi ro
ở nước đi vay, của thị trường thế giới và xu hướng lãi suất quốc tế), nguồn
vốn tín dụng của các ngân hàng thương mại thường được sử dụng chủ yếu để
đáp ứng nhu cầu xuất khẩu và thường là ngắn hạn. Một bộ phận của nguồn
vốn này có thể được dùng để đầu tư phát triển. Tỷ trọng của nó có thể gia tăng
nếu triển vọng tang trưởng của nền kinh tế là lâu dài, đặc biệt là tăng trưởng
xuất khẩu của nước đi vay là sáng sủa.
Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) Nguồn đầu tư trực tiếp
nước ngoài có đặc điểm cơ bản khác nguồn vốn nước ngoài khác là việc tiếp
nhận nguồn vốn này không phát sinh nợ cho nước tiếp nhận. Thay vì nhận lãi
suất trên vốn đầu tư, nhà đầu tư sẽ nhận được phần lợi nhuận thích đáng khi
dự án đầu tư hoạt động có hiệu quả. Đầu tư trực tiếp nước ngoài mang theo
toàn bộ tài nguyên kinh doanh vào nước nhận vốn nên có thể thúc đẩy phát
triển ngành nghề mới, đặc biệt là những ngành đoi hỏi cao về trình độ kỹ
thuật, công nghệ hay cần nhiều vốn. Vì thế nguồn vốn này có tác dụng cực kỳ
17


to lớn đối với quá trình công nghiệp hoá, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tốc độ
tăng trưởng nhanh ở các nước nhận đầu tư .
Thị trường vốn quốc tế. Với xu hướng toàn cầu hoá, mối liên kết ngày
càng tăng của các thị trường vốn quốc gia vào hệ thống tài chính quốc tế đa
tạo nên vẻ đa dạng vế các nguồn vốn cho mỗi quốc gia và làm tăng khối
lượng vốn lưu chuyển trên phạm vi toàn cầu. Ngay tại nhiều nước đang phát
triển, dòng vốn đầu tư qua thị trường chứng khoán cũng gia tăng mạnh mẽ.
1.6. Các yếu tố ảnh hưởng đến huy động vốn đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến việc huy động vốn đầu tư phát triển
kết cấu hạ tầng. Bên cạnh những nhóm nhân tố chung, từng loại vốn khác
nhau còn có những yếu tố đặc thù.
1.6.1. Khung chính sách pháp luật
Khung chính sách pháp luật tạo ra môi trường pháp lý cho hoạt động
của doanh nghiệp và điều chỉnh hành vi hoạt động của doanh nghiệp. Huy
động vốn đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng chịu ảnh hưởng của các khung
chính sách như (1) luật đầu tư; (2) luật doanh nghiệp; (3) Phân cấp quản lý
nhà nước về đầu tư; (4) phân cấp quản lý nhà nước về ngân sách ...
Các khung chính sách này sẽ tác động đến việc huy động vốn từ các
nguồn như nguồn ngân sách nhà nước, nguồn vốn doanh nghiệp tư nhân và
nguồn vốn doanh nghiệp nước ngoài.
Trong một số lĩnh vực kết cấu hạ tầng có liên quan đến an ninh quốc
phòng, như hạ tầng viễn thông, một phần hạ tầng giao thông, việc huy động
và sử dụng vốn đầu tư còn phụ thuộc vào các khung chính sách về an ninh,
quốc phòng, với sự tham gia của quân đội và hoặc công an...
1.6.2. Môi trường kinh doanh
Môi trường đầu tư kinh doanh là yếu tố tổng hợp, có vai trò quyết
định trong duy trì, tái tạo, kích thích tiết kiệm, đặc biệt là việc bỏ vốn kinh
18


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×