Tải bản đầy đủ

Quản lý công tác xã hội đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt từ thực tiễn tỉnh Thái Bình

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

ĐÀM HỮU HIỆP

QUẢN LÝ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI TRẺ EM
CÓ HOÀN CẢNH ĐẶC BIỆT TỪ THỰC TIỄN
TỈNH THÁI BÌNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

HÀ NỘI, 2016


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

ĐÀM HỮU HIỆP


QUẢN LÝ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI TRẺ EM
CÓ HOÀN CẢNH ĐẶC BIỆT TỪ THỰC TIỄN
TỈNH THÁI BÌNH

Chuyên ngành: Công tác xã hội
Mã số
: 60 90 01 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Trung Hải

HÀ NỘI, 2016


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn này là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi,
được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Nguyễn Trung Hải.
Các số liệu, những kết luận nghiên cứu được trình bày trong luận văn này
hoàn toàn trung thực.
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình.
Học viên

Đàm Hữu Hiệp


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .................................................................................................................... 1
Chương 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI
VỚI TRẺ EM CÓ HOÀN CẢNH ĐẶC BIỆT ........................................................... 11

1.1. Khái niệm công cụ .......................................................................................... 11
1.2. Hệ thống luật pháp chính sách với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt .................. 12
1.3. Mục đích, tầm quan trọng của quản lý công tác xã hội với trẻ em có hoàn
cảnh đặc biệt .......................................................................................................... 14
1.4. Các hoạt động của quản lý công tác xã hội với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt 16
1.5. Các yếu tố tác động đến quản lý công tác xã hội với trẻ em có hoàn cảnh đặc
biệt ......................................................................................................................... 28
Chương 2. THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI TRẺ EM CÓ
HOÀN CẢNH ĐẶC BIỆT TẠI TỈNH THÁI BÌNH................................................... 33


2.1. Tổng quan địa bàn nghiên cứu ....................................................................... 33
2.2. Thực trạng về quản lý công tác xã hội đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt tại
tỉnh Thái Bình ........................................................................................................ 38
2.3. Các yếu tố tác động đến quản lý công tác xã hội đối với trẻ em có hoàn cảnh
đặc biệt tại tỉnh Thái Bình ..................................................................................... 52
Chương 3 . GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ CÔNG TÁC XÃ
HỘI ĐỐI VỚI TRẺ EM CÓ HOÀN CẢNH ĐẶC BIỆT TỪ THỰC TIỄN TỈNH
THÁI BÌNH ................................................................................................... 59

3.1. Nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động hoạch định trong quản lý công
tác xã hội ................................................................................................................ 59
3.2. Nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động ra quyết định trong quản lý
công tác xã hội với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt .................................................. 60
3.3. Nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động giải quyết xung đột trong quản
lý công tác xã hội với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt .............................................. 61
3.4. Nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động kiểm tra giám sát trong quản lý
công tác xã hội với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt .................................................. 62
KẾT LUẬN ................................................................................................................ 64
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................................... 70


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BTXH

: Bảo trợ xã hội

CTXH

: Công tác xã hội

CSXH

: Chính sách xã hội

ĐT

: Đối tượng

NVXH

: Nhân viên xã hội

TECHCĐB

: Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt

TTCTXH

: Trung tâm công tác xã hội

TTBTXH

: Trung tâm bảo trợ xã hội


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Công tác xã hội là một nghề mới ở Việt Nam, được ra đời căn cứ theo Quyết
định số 32/2010/QĐ-TTg ngày 25/3/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề
án phát triển nghề Công tác xã hội giai đoạn 2010-2020 (sau đây gọi tắt là Đề án
32). Sau khi Đề án 32 được phê duyệt, các hoạt động công tác xã hội đã được các cơ
quan và các tổ chức xã hội quan tâm thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau góp
một phần hỗ trợ các đối tượng yếu thế, dễ bị tổn thương giải quyết khó khăn và hòa
nhập với cuộc sống của cộng đồng. Trong đó các hoạt động công tác xã hội thì công
tác hỗ trợ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt luôn được quan tâm, đặt lên hàng đầu.
Những năm qua, nước ta đã đạt được nhiều thành tựu to lớn về chính trị, kinh
tế và xã hội. Nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao, liên tục và ổn định, đời sống
nhân dân không ngừng được cải thiện, hệ thống an sinh xã hội nói chung và công
tác xã hội nói riêng ngày càng được quan tâm. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu
đã đạt được, vẫn còn nhiều vấn đề xã hội bức xúc cần được xem xét một cách
nghiêm túc để có hướng đi đúng với mục tiêu phát triển vì con người. Bảo vệ và
chăm sóc trẻ em là mối quan tâm hàng đầu của tất cả các quốc gia trên thế giới, vì
rằng trẻ em hôm nay sẽ là những chủ nhân trong tương lai của đất nước; Chủ tịch
Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ thiên tài của nhân dân Việt Nam cũng đã từng nói: “Vì lợi
ích mười năm phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm phải trồng người”. Tuy nhiên hiện
nay, vấn đề trẻ em nói chung và trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt nói riêng đang là một
vấn đề xã hội bức xúc, không phải chỉ riêng nước ta mà là vấn đề chung của các
nước trên thế giới. Nguyên nhân của vấn đề này có nhiều, có nguyên nhân xuất phát
từ nền kinh tế thị trường, có nguyên nhân xuất phát từ gia đình, có nguyên nhân
thuộc về cơ chế, chính sách. Các em rất cần sự quan tâm, trợ giúp của Nhà nước,
của các cấp các ngành và đặc biệt là sự quan tâm từ phía gia đình và toàn xã hội.
Hiện nay số lượng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt cần sự trợ giúp xã hội rất
lớn, phần lớn trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt tập trung ở các vùng có điều kiện kinh tế
còn khó khăn, thiên tai bão lụt hay xảy ra và tỷ lệ hộ nghèo cao; nhưng lâu nay các

1


em chỉ nhận được sự trợ giúp của đội ngũ cán bộ nhân viên không chuyên nghiệp ở
các Trung tâm bảo trợ xã hội, Hội Chữ thập đỏ, các đoàn thể và các cán bộ văn hóaxã hội ở các xã, phường, thị trấn. Các hoạt động nói trên chủ yếu là trợ cấp xã hội,
hỗ trợ lương thực, thực phẩm, thăm hỏi, tặng quà... trong khi đó việc trợ giúp nhóm
đối tượng tiếp cận với các chính sách trợ giúp còn hạn chế và chưa được triển khai
đồng bộ. Do vậy, hiệu quả giải quyết các vấn đề xã hội của trẻ em có hoàn cảnh đặc
biệt không cao và thiếu sự phát triển bền vững.
Trong thực tế, quản lý công tác xã hội bao gồm nhiều hoạt động trong tiến
trình chuyển đổi chính sách thành các dịch vụ cụ thể. Như vậy để thực sự cung cấp
những dịch vụ với chất lượng và hiệu quả tốt nhất, ngoài các tác nghiệp chuyên
môn cụ thể thì hoạt động quản lý CTXH cũng rất cần thiết để tạo ra một môi trường
chăm sóc, hỗ trợ toàn diện cho trẻ em. Xuất phát từ những lý do trên tôi lựa chọn đề
tài nghiên cứu: “Quản lý công tác xã hội đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt từ
thực tiễn tỉnh Thái Bình”. Nghiên cứu được đưa ra với mục đích tìm hiểu, đánh
giá công tác quản lý trợ giúp về công tác xã hội đối với em có hoàn cảnh đặc biệt
và các dịch vụ xã hội hiện nay đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt nhằm góp
phần mang lại cái nhìn tổng quát nhất; giúp cộng đồng xã hội hiểu rõ hơn về hoàn
cảnh cũng như việc thực hiện các chính sách trợ giúp trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt
và tạo nền tảng cho những nghiên cứu, đánh giá về sau của bản thân tôi cũng như
để chia sẻ kinh nghiệm nghiên cứu với các cá nhân quan tâm tới đề tài này.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
“Báo cáo Phân tích tình hình trẻ em ở Việt Nam” do UNICEF thực hiện
năm 2010. Báo cáo lấy cách tiếp cận dựa trên quyền con người, xem xét tình hình
trẻ em dựa trên quan điểm các nguyên tắc chính về quyền con người như bình đẳng,
không phân biệt đối xử và trách nhiệm giải trình. Kết quả nghiên cứu đã làm rõ tình
hình trẻ em nam và nữ, nông thôn và thành thị, dân tộc Kinh và dân tộc thiểu số, trẻ
em giàu và trẻ em nghèo hiện nay ở Việt Nam. Trong đó, nhóm trẻ em thiếu sự
chăm sóc của bố mẹ ở Việt Nam có diễn biến phức tạp. Các cơ sở chăm sóc cả công
lập và dân lập có ở hầu hết các tỉnh thành trong cả nước dưới nhiều hình thức như

2


chăm sóc tại nhà, chăm sóc tập trung và các hình thức chăm sóc hỗ trợ không chính
thức khác. Tình trạng số lượng cho con nuôi ra nước ngoài cao trong khi đây được
quy định là biện pháp cuối cùng chỉ sử dụng khi không còn cách nào khác. Ngoài
ra, báo cáo cũng chỉ ra rằng Việt Nam còn thiếu các quy định cụ thể cho việc truy tố
những đối tượng hoạt động môi giới cho nhận con nuôi trái pháp luật..[33]
“Đánh giá tình hình chăm sóc nhận nuôi và việc thực hiện quyết định
38/2004/QĐ-TTg”, một nghiên cứu được phối hợp thực hiện giữa Bộ Lao động,
Thương binh và Xã hội với UNICEF năm 2011. Nghiên cứu đã phân tích, đánh giá
thực trạng trẻ em mồ côi, trẻ em cần được chăm sóc thay thế cũng như thực trạng
việc thực hiện Quyết định 38/2004/QĐ-TTg ngày 17/3/2004 của Thủ tướng Chính
phủ về chính sách trợ giúp kinh phí cho gia đình, cá nhân nhận nuôi dưỡng trẻ em
mồ côi và trẻ em bị bỏ rơi. Kết quả nghiên cứu cho thấy số lượng trẻ mồ côi và trẻ
bị bỏ rơi dự kiến sẽ còn tăng lên do những biến đổi kinh tế-xã hội, hầu hết các cán
bộ của Chính phủ ở cả cấp trung ương và địa phương, cũng như cán bộ nhân viên
các Trung tâm Bảo trợ xã hội và những gia đình, cá nhân nhận nuôi dưỡng trẻ ít biết
đến Quyết định số 38/2004/QĐ-TTg, đặc biệt là ở cấp huyện và cấp xã có những trẻ
em và gia đình thuộc đối tượng thụ hưởng của Quyết định 38. Nghiên cứu nhận
thấy mô hình chăm sóc nhận nuôi là mô hình phù hợp để thí điểm ở các khu vực
thành phố/đô thị, là nơi được biết có số lượng trẻ em bị bỏ rơi cao hơn và có nhiều
khả năng hơn là các gia đình có điều kiện tài chính, có các kỹ năng và sẵn lòng nhận
nuôi dưỡng trẻ và cũng có ý kiến phỏng vấn cho rằng không nên áp dụng mô hình
chăm sóc nhận nuôi ở các khu vực nông thôn bởi vì hình thức chăm sóc này không
phù hợp với văn hóa địa phương và các tập quán truyền thống..[4]
“Xây dựng môi trường bảo vệ trẻ em Việt Nam: đánh giá pháp luật và chính
sách bảo vệ trẻ em, đặc biệt là trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt ở Việt Nam” là đánh
giá của Vụ Pháp chế, Bộ Lao động -Thương binh và Xã hội phối hợp với các
chuyên gia của một số bộ, ngành liên quan. Đánh giá tập trung đến pháp luật đối với
trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, so sách với các chuẩn mực quốc tế, tìm ra những thiếu
hụt và hạn chế của pháp luật Việt Nam, trên cơ sở đó kiến nghị, đề xuất nhằm hoàn

3


thiện hệ thống pháp luật Việt Nam, đảm bảo từng bước hài hoà với pháp luật và các
chuẩn mực quốc tế. Đối với trẻ em mồ côi, trẻ em bị bỏ rơi, trên cơ sở phân tích các
quy định của pháp luật liên quan, đánh giá đã nêu ra những đề xuất phù hợp với
thực tiễn điều kiện kinh tế, xã hội và văn hóa ở Việt Nam: Cải thiện những cơ sở
chăm sóc cho trẻ em mồ côi mới và hiện có theo hướng xây dựng giống gia đình và
thu hẹp quy mô; đầu tư vào việc thực hiện những chiến lược chăm sóc thay thế;
tăng cường cam kết của cộng đồng đối với việc chăm sóc trẻ em mồ côi, trẻ em bị
bỏ rơi trong môi trường gia đình. [36]
Nghiên cứu “Một số vấn đề cơ bản về trẻ em Việt Nam” của tác giả Đặng
Bích Thủy đã chỉ ra những vấn đề xã hội mang tính gay gắt mà trẻ em đang phải đối
mặt như bất bình đẳng trong tiếp cận các cơ hội chăm sóc, bảo vệ, lao động sớm, bị
xâm hại, bị bỏ rơi... Qua nghiên cứu, tác giả lý giải, phân tích bối cảnh, nguyên
nhân của các vấn đề trẻ phải đối mặt từ góc độ chính sách, nhận thức, hành vi, hành
động xã hội đồng thời dự báo xu hướng, đề xuất giải pháp cho giai đoạn 2010-2020
nhằm góp phần hạn chế và giải quyết các vấn đề của trẻ em [10].
Bài viết “Kinh nghiệm của một số nước về hệ thống bảo vệ trẻ em” của tác
giả Nguyễn Hải Hữu cho thấy thực tế ở Australia, Thuỵ Điển, Hồng Kông, việc
hình thành hệ thống bảo vệ trẻ em liên quan rất nhiều đến các quy định của pháp
luật và chính sách hiện hành. Một trong những điểm mới trong bài viết là khái
niệm “tư pháp thân thiện với trẻ em”.Khi trẻ em vi phạm pháp luật thì áp dụng các
hình thức điều tra, xét hỏi, xử lí tại toà án như thế nào để không gây tổn hại cho
trẻ em đặc biệt là trong trường hợp trẻ em là nạn nhân của các hành vi bạo lực,
xâm hại..[20]
“Một số kinh nghiệm quốc tế và những vấn đề đặt ra đối với việc phát triển
các dịch vụ công tác xã hội trong công tác bảo vệ trẻ em” của tác giả Đỗ Thị Ngọc
Phương nhận định tại Anh, M ,

c, Philippines, Thái Lan, Singapore, Nhật Bản,

Trung Quốc, việc cung cấp dịch vụ xã hội chủ yếu là trách nhiệm của các bộ và cơ
quan nhà nước. Tại các quốc gia này, cán bộ xã hội vẫn thực hiện chức năng tham
vấn tâm lý xã hội, nhưng lồng ghép với đánh giá các nhu cầu phúc lợi xã hội và

4


quản lý việc tiếp cận với các dịch vụ xã hội đa dạng khác nhau. Dịch vụ xã hội cũng
có thể bao gồm việc xem xét các nhu cầu phát triển của trẻ em, gia đình, cộng đồng
và lồng ghép với sự tham gia của cộng đồng..[12]
“Một số giải pháp bảo vệ, chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh khó khăn” là bài
viết của tác giả Trần Thị Thanh Thanh, nguyên Bộ trưởng, Chủ tịch Ủy ban Dân
số, Gia đình và Trẻ em, Chủ tịch Hội Bảo vệ quyền trẻ em Việt Nam. Tác giả đã
nêu bật các loại trẻ em thuộc đối tượng có hoàn cảnh đặc biệt và tình hình trẻ em
có hoàn cảnh đặc biệt ở Việt Nam. Dưới góc nhìn về vai trò và hiệu quả hoạt động
bảo vệ, chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt của các hội, hiệp hội và cơ sở ngoài
công lập, TS Thanh đã đưa ra các khuyến nghị với cơ quan có thẩm quyền, tạo
điều kiện thuận lợi về cơ chế, chính sách hỗ trợ các tổ chức này hoạt động có hiệu
quả hơn..[31]
Ở góc tiếp cận khác về giải pháp bảo vệ và chăm sóc trẻ em, tác giả Nguyễn
Xuân Lập, nguyên Phó cục trưởng Cục Bảo trợ xã hội qua bài viết “Một số giải
pháp bảo vệ, chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt” đã tổng quan tình hình trẻ em
có hoàn cảnh đặc biệt và những chính sách của Nhà nước vận dụng trong những
năm qua. Để thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về bảo vệ, chăm sóc trẻ em, thúc
đẩy thực hiện mục tiêu vì trẻ em, đảm bảo các quyền cơ bản cho trẻ em theo Công
ước quốc tế về Quyền trẻ em và luật pháp Việt Nam, tác giả đã đưa ra bảy giải pháp
về cần tập trung thực hiện trong thời gian tới. Bảy giải pháp mà tác giả đưa ra đã
bao trùm hầu hết những vấn đề tồn tại cơ bản trong công tác bảo vệ và chăm sóc trẻ
em có hoàn cảnh đặc biệt ở Việt Nam [22].
“Chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn dựa vào cộng đồng –
Những cơ sở xã hội và thách thức” là bài viết đồng tác giả Nguyễn Hồng Thái và
Phạm Đỗ Nhật Thắng đã tìm hiểu sự chuyển đổi cách tiếp cận trẻ em truyền thống
sang tiếp cận trên cơ sở quyền trẻ em hiện nay. Theo đó, cách tiếp cận truyền thống
là tiếp cận dưới góc độ trẻ em là đối tượng cần được hỗ trợ và bảo vệ từ trên xuống
mang nặng tính từ thiện, bao cấp, còn tiếp cận trên cơ sở quyền trẻ em nhìn nhận trẻ
em là chủ thể của quyền, có quyền được chăm sóc, bảo vệ. Trước bối cảnh số lượng

5


trẻ em đặc biệt cần được bảo vệ ngày càng gia tăng trong khi các hình thức chăm
sóc tập trung đã và đang vượt quá nhu cầu đầu vào thì hình thức chăm sóc, bảo vệ
trẻ em dựa vào cộng đồng ngày càng trở lên phù hợp hơn. Tác giả đã rất cố gắng khi
chỉ ra những bất cập, trở ngại trong việc chăm sóc, bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc
biệt dựa vào cộng đồng song vẫn chưa chú trọng đến các giải pháp để khắc phục
những hạn chế, bất cập đó..[21]
Phần tổng quan nghiên cứu đã cho thấy có khá nhiều các đề tài, báo cáo khoa
học đánh giá về thực trạng chung về vấn đề trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt cũng như
phân tích về các chính sách, chương trình hỗ trợ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt. Tuy
nhiên có thể nhận thấy l nh vực Quản lý CTXH đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt
còn chưa được nghiên cứu. Như đã phân tích ở trên, quản lý công tác xã hội hướng
tới việc chuyển đổi chính sách thành các dịch vụ cụ thể cho trẻ em. Do đó việc thiếu
vắng những nghiên cứu ở l nh vực này là một khoảng trống lớn trong việc cung cấp
và mang lại dịch vụ, lợi ích tốt nhất cho nhóm đối tượng này.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
- Đánh giá thực trạng công tác quản lý công tác xã hội đối với trẻ em có hoàn
cảnh đặc biệt.
- Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động quản lý CTXH với trẻ em có
hoàn cảnh đặc biệt.
- Đưa ra một số giải pháp, khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả quản lý
công tác xã hội với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu nêu trên, đề tài đặt ra những nhiệm vụ
nghiên cứu như sau:
- Làm sáng tỏ các khái niệm về người trẻ em, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt và
quản lý công tác xã hội đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt.
- Đánh giá thực trạng công tác quản lý công tác xã hội đối với trẻ em có hoàn
cảnh đặc biệt tại tỉnh Thái Bình.

6


- Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động quản lý công tác xã hội với trẻ
em có hoàn cảnh đặc biệt.
- Đưa ra một số giải pháp, khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả quản lý công
tác xã hội với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Quản lý công tác xã hội đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nội dung: Một số hoạt động của quản lý CTXH với trẻ em có hoàn
cảnh đặc biệt tại Tỉnh Thái Bình.
- Phạm vi không gian và thời gian: Các cơ sở chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh
đặc biệt tại Tỉnh Thái Bình; Thời gian: 2015 – 2016
- Phạm vi khách thể:
+ Cán bộ quản lý làm việc trong l nh vực chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc
biệt tại Tỉnh Thái Bình.
+ Cán bộ cung cấp các dịch vụ công tác xã hội cho trẻ em có hoàn cảnh đặc
biệt tại Tỉnh Thái Bình.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Đề tài dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ ngh a duy vật biện chứng và
chủ ngh a duy vật lịch sử và quan điểm chung của ngành công tác xã hội. Việc quản
lý, hoạch định các chính sách xã hội nói chung và công tác xã hội đối với trẻ em có
hoàn cảnh đặc biệt nói riêng là phù hợp với xu thế phát triển chung của nền kinh tế
xã hội. Xã hội càng phát triển thì kéo theo đó là những hệ luỵ không thể tránh khỏi;
các vấn đề xã hội như ma tuý, mại dâm, HIV/AIDS, phụ nữ bị bạo hành, trẻ em lao
động sớm, trẻ em bị bạo hành, bị lạm dụng tình dục... ngày càng tăng về số lượng
và nghiêm trọng về mức độ. Chính vì vậy, công tác xã hội từng bước khẳng định
được vai trò của mình trong việc trợ giúp các nhóm đối tượng giải quyết vấn đề, thể

7


hiện được vai trò trong việc nghiên cứu, đánh giá và thực hiện các chính sách trợ
giúp, triển khai các dịch vụ xã hội dành cho các nhóm đối tượng yếu thế.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phỏng vấn sâu
Là phương pháp phỏng vấn từng cá nhân, giúp hiểu sâu, hiểu k về các vấn
đề của cá nhân. Sử dụng phương pháp này nhằm thu nhận những thông tin cụ thể
liên quan đến đối tượng nghiên cứu, tìm hiểu về việc triển khai thực hiện các chính
sách trợ giúp, các dịch vụ xã hội dành cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt cũng như
tìm hiểu chi tiết về các nhu cầu, tâm tư, nguyện vọng và những khó khăn của nhóm
đối tượng này. Các đối tượng tham gia phỏng vấn sâu trong nghiên cứu bao gồm:
Cán bộ quản lý, lãnh đạo trong các cơ quan tổ chức chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh
đặc biệt và, Nhân viên cung cấp dịch vụ xã hội trực tiếp cho trẻ em có hoàn cảnh
đặc biệt.
Nghiên cứu sẽ tiến hành phỏng vấn sâu tại một số cơ sở chăm sóc trẻ em có
hoàn cảnh đặc biệt. Cụ thể là:
+ Cán bộ lãnh đạo cấp Sở, cán bộ lãnh đạo trong ban giám đốc và cấp
Trưởng, phó phòng: 10 trường hợp để đánh giá về các hoạt động quản lý CTXH
+ Nhân viên làm việc trong các cơ sở: 10 trường hợp nhằm đánh giá về hiệu
quả của các hoạt động quản lý CTXH.
Tổng số: 20 trường hợp.
- Phương pháp phân tích tài liệu
Là phương pháp thu thập thông tin từ các công trình nghiên cứu và các tài
liệu có sẵn của các tác giả trong và ngoài nước. Phương pháp này được áp dụng
phân tích các tài liệu như: Các văn bản pháp luật liên quan đến công tác xã hội và
trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt của cả nước và của tỉnh Thái Bình; Các quy định,
chính sách của cơ quan, tổ chức trong l nh vực quản lý công tác xã hội… Ngoài ra
luận văn còn phân tích một số báo cáo khoa học, khoá luận tốt nghiệp có liên quan;
Phân tích số liệu báo cáo từ cơ sở cung cấp; Tìm hiểu về các Nghị định, Thông tư

8


hướng dẫn dành cho đối tượng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt; Phân tích một số báo
cáo khoa học, khoá luận tốt nghiệp có liên quan.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Đề tài nghiên cứu sử dụng những kiến thức và lý thuyết chủ đạo trong quản
lý, quản trị công tác xã hội, an sinh xã hội, chính sách trợ giúp xã hội dành cho các
nhóm đối tượng yếu thế trong xã hội như trẻ em, người cao tuổi, người khuyết tật,
người nhiễm HIV/AIDS… nhằm ứng dụng những kiến thức đã học vào thực tiễn,
vào việc tiếp cận, trợ giúp và giải quyết các vấn đề xã hội của đối tượng. Bên cạnh
đó nghiên cứu cũng góp phần vào việc giúp các cá nhân, các tổ chức trong và ngoài
nước cũng như cộng đồng xã hội có cái nhìn tổng thể hơn về trẻ em có hoàn cảnh
đặc biệt cũng như việc quản lý chính sách trợ giúp dành cho nhóm đối tượng này.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Đề tài nghiên cứu xuất phát từ thực tiễn và nhu cầu được thụ hưởng các
chính sách trợ giúp, các dịch vụ xã hội dành cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt.
- Đề tài nghiên cứu giúp các cá nhân, các tổ chức và cộng đồng xã hội thấy
được tầm quan trọng của việc chăm sóc và thực hiện các chính sách trợ giúp, quản
lý công tác xã hội đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt trong quá trình phát triển
kinh tế xã hội, từ đó có sự quan tâm hơn về vật chất cũng như tinh thần với nhóm
đối tượng này.
- Kết quả nghiên cứu của đề tài này mở ra một hướng nghiên cứu mới là việc
nâng cao các hoạt động quản lý công tác xã hội để từ đó mang lại những lợi ích tốt
nhất cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt.
- Cuối cùng việc thực hiện nghiên cứu đề tài này sẽ là cơ hội tốt để bản thân
tôi trau dồi kiến thức và có những kinh nghiệm tiếp cận và tiến hành can thiệp, giải
quyết vấn đề với đối tượng.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, mục lục, tài liệu tham khảo, phần nội dung gồm 3
chương như sau:

9


- Chương 1: Những vấn đề lý luận về quản lý công tác xã hội đối với trẻ em
có hoàn cảnh đặc biệt.
- Chương 2: Thực trạng về trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt và quản lý công tác
xã hội đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt tại tỉnh Thái Bình.
- Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý công tác xã hội đối với trẻ
em có hoàn cảnh đặc biệt từ thực tiễn tỉnh Thái Bình.

10


Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI
TRẺ EM CÓ HOÀN CẢNH ĐẶC BIỆT
1.1. Khái niệm công cụ
- Trẻ em: Theo luật bảo vệ chăm sóc trẻ em năm 2004: Trẻ em là những
công dân Việt Nam dưới 16 tuổi. [16, Điều 1]
- Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt: là trẻ em có hoàn cảnh không bình thường
về thể chất hoặc tinh thần, không đủ điều kiện để thực hiện quyền cơ bản và hoà
nhập với gia đình và cộng đồng, bao gồm: Trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ
em bị bỏ rơi; trẻ em khuyết tật, tàn tật; trẻ em là nạn nhân của chất độc hoá học;
trẻ em bị nhiễm HIV/AIDS; trẻ em phải làm việc nặng nhọc, nguy hiểm, tiếp xúc với
chất độc hại; trẻ em phải làm việc xa gia đình; trẻ em lang thang; trẻ em bị xâm hại
tình dục; trẻ em nghiện ma tuý; trẻ em vi phạm pháp luật. [16, Điều 40].
- Quản lý
Quản lý là sự tác động có hướng đích của chủ thể quản lý đến một hệ thống
nào đó nhằm biến đổi nó từ trạng thái này sang trạng thái khác theo nguyên lý phá
vỡ hệ thống cũ để tạo lập hệ thống mới và điều khiển hệ thống”[23] Có nhiều quan
điểm khác nhau về khái niệm Quản lý và Quản trị tuy nhiên trong luận văn này
Quản lý và Quản trị được hiểu với ngh a tương đương.
- Công tác xã hội
Công tác xã hội là một nghề, một hoạt động chuyên nghiệp nhằm trợ giúp
các cá nhân, gia đình và cộng đồng nâng cao năng lực đáp ứng nhu cầu và tăng
cường chức năng xã hội, đồng thời thúc đẩy môi trường xã hội về chính sách,
nguồn lực và dịch vụ nhằm giúp cá nhân, gia đình và cộng đồng giải quyết và
phòng ngừa các vấn đề xã hội góp phần đảm bảo an sinh xã hội [6]
- Quản lý công tác xã hội
Theo Skidmore "Quản lý công tác xã hội là một tiến trình chuyển đổi chính
sách xã hội thành các dịch vụ xã hội... trong một tiến trình hai chiều: (1) chuyển đổi
chính sách thành các dịch vụ xã hội cụ thể và (2) dùng kinh nghiệm để khuyến nghị

11


sửa đổi điểu chỉnh chính sách". Vậy quản lý CTXH có thể hiểu là một tiến trình
hành động liên tục của nhân viên xã hội trong việc sử dụng các kiến thức, kỹ năng
quản lý để chuyển đổi các chính sách xã hội thành các dịch vụ xã hội. Nó bao gồm
hoạt động của những người lãnh đạo tổ chức và tất cả những nhân viên trong tổ
chức để hoàn thành mục đích chung của tổ chức. Tiến trình căn bản bao gồm các
yếu tố: quản lý, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra. [28].
1.2. Hệ thống luật pháp chính sách với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt
Trẻ em ở Việt Nam có vị trí đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp xây dựng,
phát triển và bảo vệ đất nước. Các mục tiêu về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em
luôn gắn liền với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội quốc gia. Để thực hiện mục
tiêu đó, Đảng và Nhà nước ta đã luật hóa thành những quy định, điều khoản, chế tài
trong các luật. Mặt khác, nhiều đề án, chính sách, chương trình hành động được ban
hành có tính thực tiễn cao góp phần không nhỏ hỗ trợ, giúp đỡ trẻ em có hoàn cảnh
đặc biệt.
Về mặt hiến pháp và luật pháp, Đảng và Nhà nước ta đã tích cực xây dựng
và từng bước hoàn thiện hệ thống pháp lý nhằm đảm bảo tính đồng bộ, thống nhất,
kịp thời điều chỉnh mọi quan hệ xã hội phát sinh, trong đó có pháp luật về bảo vệ,
chăm sóc và giáo dục trẻ em. Ngay sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra
đời, Nhà nước đã dành sự quan tâm đặc biệt cho trẻ em. Điều 14, Hiến pháp nước
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1946 quy định: “Trẻ em được săn sóc về mặt giáo
dưỡng” và Điều 15: “Nền sơ học cưỡng bách và không học phí... học trò nghèo được
Chính phủ giúp”. Đến Hiến pháp năm 2013, tiếp tục khẳng định trẻ em được Nhà
nước, gia đình và xã hội bảo vệ, chăm sóc và giáo dục; được tham gia vào các vấn đề
về trẻ em. Nghiêm cấm xâm hại, hành hạ, ngược đãi, bỏ mặc, lạm dụng, bóc lột sức
lao động và những hành vi khác vi phạm quyền trẻ em..[15]
Ngày 12/08/1991, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ ngh a Việt Nam đã
chính thức thông qua Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em (có hiệu lực từ ngày
16/08/1991). Ngày 15/06/2004, Quốc hội tiếp tục thông qua Luật Bảo vệ, chăm sóc
và giáo dục trẻ em sửa đổi nhằm từng bước điều chỉnh luật cho phù hợp hơn trong

12


thực tiễn. Trong đó, Luật quy định cụ thể: “Nghiêm cấm các hành vi cha mẹ bỏ rơi
con, người giám hộ bỏ rơi trẻ em được mình giám hộ”; Để thực hiện được biện
pháp có gia đình thay thế, có nguồn nuôi dưỡng: “Nhà nước khuyến khích gia đình,
cá nhân nhận nuôi con nuôi; cơ quan, tổ chức, cá nhân nhận đỡ đầu, nhận chăm
sóc, nuôi dưỡng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn”..[16]
Luật Nuôi con nuôi được ban hành ngày 17/6/2010 quy định rất cụ thể về
trách nhiệm của người nhận nuôi con nuôi cũng như trách nhiệm của địa phương
nơi cư trú. Đối với người nhận nuôi con nuôi: “Nhà nước khuyến khích việc nhận
trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt làm con nuôi”, “Trường hợp trẻ em mồ côi không có
người nuôi dưỡng hoặc trẻ em có cha mẹ đẻ, người thân thích nhưng không có khả
năng nuôi dưỡng thì người giám hộ, cha mẹ đẻ, người thân thích có trách nhiệm
báo cáo Ủy ban nhân dân cấp xã/phường nơi trẻ em thường trú tìm gia đình thay
thế cho trẻ em. Ủy ban nhân dân cấp xã/phường có trách nhiệm hỗ trợ nuôi dưỡng
trẻ em và thông báo, niêm yết tại trụ sở Ủy ban nhân dân trong thời hạn 60 ngày để
tìm người nhận trẻ em làm con nuôi”..[17]
Hiện thực hóa quan điểm, chủ trương của Đảng, nhiều chương trình, đề án,
chính sách, kế hoạch hành động được ban hành nhằm tạo điều kiện tốt nhất cho trẻ
trong đó có nhóm trẻ em lang thang.,bên cạnh các mục tiêu đối với trẻ em nói chung
thì các mục tiêu đối với trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, trẻ em lang thang cũng được
quy định cụ thể theo [5]: Tăng tỷ lệ trẻ em lang thang được chăm sóc bằng mọi hình
thức từ 70% lên 80% vào năm 2005 và 100% vào năm 2010; 70% trẻ em có hoàn
cảnh khó khăn được hỗ trợ, chăm sóc vào năm 2010. Tiếp theo đó, chính phủ đã
ban hành Quyết định số 1555/QĐ-TTg về việc phê duyệt chương trình hành động
quốc gia vì trẻ em giai đoạn 2012 – 2020.
Chương trình quốc gia bảo vệ trẻ em giai đoạn 2011 – 2015, đã triển khai Dự
án xây dựng và nhân rộng các mô hình trợ giúp trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt dựa
vào cộng đồng. Đối với trẻ em mồ côi, mục tiêu của dự án: Giảm tỷ lệ trẻ em lang
thang xuống 7/10.000 trẻ em. Tiếp theo đó, chính phủ đã ban hành Quyết định số
2361/QĐ-TTg ngày 22/12/2015 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình
bảo vệ trẻ em giai đoạn 2016 – 2020 [5].

13


Ngày 26 tháng 4 năm 2013, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số
647/QĐ-TTg phê duyệt Đề án chăm sóc trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em
bị bỏ rơi, trẻ em nhiễm HIV/AIDS, trẻ em là nạn nhân của chất độc hóa học, trẻ em
khuyết tật nặng và trẻ em bị ảnh hưởng bởi thiên tai, thảm họa giai đoạn 2013-2020.
Đề án nhằm huy động sự tham gia của xã hội, nhất là gia đình, cộng đồng trong việc
chăm sóc, trợ giúp trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn để ổn định cuộc sống.
Mục tiêu cụ thể của Đề án là phấn đấu đến năm 2020 có 95% trẻ em có hoàn cảnh
đặc biệt khó khăn được nhận sự trợ giúp và được cung cấp các dịch vụ xã hội phù
hợp; tiếp tục thí điểm mô hình gia đình, cá nhân nhận nuôi có thời hạn đối với trẻ
em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn; mô hình dạy nghề gắn với tạo việc làm cho trẻ
em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, nâng cấp cơ sở vật chất và trang thiết bị cho các
cơ sở bảo trợ xã hội và nhà xã hội để đủ điều kiện chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh
đặc biệt..[11]
Trên địa bàn Thái Bình, thực hiện Chương trình Quốc gia bảo vệ trẻ em, mục
tiêu trong giai đoạn 2011- 2015 giảm tỷ lệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt và đảm bảo ít
nhất 90% trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt được trợ giúp, chăm sóc để phục hồi, tái hòa
nhập và có cơ hội phát triển. Đồng thời, 70% trẻ em được phát hiện có nguy cơ rơi vào
hoàn cảnh đặc biệt được can thiệp để giảm thiểu, loại bỏ nguy cơ này; xây dựng và đưa
vào hoạt động có hiệu quả hệ thống cung cấp dịch vụ bảo vệ trẻ em..[27]
Để thực hiện được các mục tiêu đã đề ra, UBND tỉnh Thái Bình yêu cầu
100% các quận, huyện, thị xã tổ chức Tháng hành động vì trẻ em, chăm lo cho trẻ
em nhân ngày Quốc tế thiếu nhi 1/6, tổ chức các hoạt động vui chơi an toàn, bổ ích
cho trẻ em trong dịp hè, 100% trẻ em có hoàn cảnh khó khăn được quan tâm, tạo
điều kiện và đảm bảo các quyền của trẻ trong việc chăm sóc sức khỏe, giáo dục và
phát triển..[27]
1.3. Mục đích, tầm quan trọng của quản lý công tác xã hội với trẻ em có
hoàn cảnh đặc biệt
1.3.1. Mục đích của quản lý công tác xã hội với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt
- Chuyển đổi các chính sách xã hội thành các dịch vụ xã hội cụ thể,
- Nâng cao kết quả, hiệu quả của các dịch vụ xã hội,

14


- Tăng cường tính trách nhiệm và khả năng giải trình.
Trong thế giới đang có những thay đổi nhanh chóng, thì các dịch vụ phục vụ
cho con người, vì con người là bộ phận chủ yếu trong các chương trình, chính sách
xã hội của mỗi quốc gia. Trong những năm gần đây, các dịch vụ cho người dân có
nhu cầu đã gia tăng nhanh chóng và quản lý công tác xã hội, với tư cách là một
phương pháp của công tác xã hội, được công nhận như một bộ phận cần thiết trong
việc cung cấp dịch vụ xã hội. Hơn nữa, quản lý công tác xã hội là một khoa học xét
về mặt lý thuyết, là một nghệ thuật xét về mặt thực hành trong việc nâng cao kết
quả, hiệu quả của các dịch vụ xã hội. Mặt khác, bằng sự tác động của quản lý, con
người trong tổ chức làm việc với tinh thần trách nhiệm tốt hơn và thông qua quản
lý, là cơ sở bảo đảm cho việc tăng cường khả năng giải trình của các nhân viên và tổ
chức trong việc sử dụng nguồn lực con người và nguồn lực vật chất.
1.3.2. Tầm quan trọng của quản lý công tác xã hội với trẻ em có hoàn
cảnh đặc biệt
Trong Bộ Tư Bản, Mác đưa ra một hình ảnh về một hoạt động quản lý, đó là
hoạt động của người chỉ huy một dàn nhạc. Người này không chơi một loại nhạc cụ
nào mà dùng cây đũa chỉ huy để điều khiển các nhạc công chơi các nhạc cụ khác
nhau để tạo nên một bản giao hưởng. Điều đó nói nên rằng một nghệ sỹ độc tấu thì
tự điều khiển lấy mình, còn đối với một dàn nhạc thì cần phải có một nhạc trưởng.
Hoạt động của mỗi tổ chức mang lại những kết quả, hiệu quả khác nhau đều
liên quan đến quản lý. Hiệu quả cao khi kết quả đạt được nhiều hơn so với chi phí;
và hiệu quả thấp khi chi phí nhiều hơn so với kết quả đạt được.
Trong thực tế, hoạt động quản lý sẽ có hiệu quả khi:
- Giảm thiểu chi phí các nguồn lực ở đầu vào mà vẫn bảo đảm đạt được kết
quả thực hiện các mục tiêu ở đầu ra.
- Giữ nguyên các yếu tố đầu vào (chi phí nhân lực, vật lực, tài chính) mà gia
tăng kết quả thực hiện các mục tiêu ở đầu ra.
- Vừa giảm được các chi phí ở đầu vào, vừa tăng kết quả thực hiện các mục
tiêu ở đầu ra.

15


1.4. Các hoạt động của quản lý công tác xã hội với trẻ em có hoàn
cảnh đặc biệt
Theo, quan điểm về phân chia hoạt động quản lý, Henry Fayol (1841 -1925)
đã nêu 5 hoạt động: lập kế hoạch, tổ chức, điều khiển, phối hợp và kiểm tra. Vào
những năm 1930, Lyther Gulick và Lydal Urwich đã nêu 7 hoạt động quản lý, viết
tắt là POSDCORB; P: Planning - lập kế hoạch, O: Organizing - Tổ chức; S: Staffing
- Quản lý nhân lực; D: Directing - Chỉ huy; CO: Coordinating - Phối hợp; R:
Reviewing - Kiểm tra; B - Budgeting - Tài chính. Một số nhà khoa học quản lý lại
nêu công thức POSDCIR, trong đó: I: Innovating: Đổi mới; R: Representation - Đối
ngoại. Gần đây, có ý kiến của (James Stoner và Stephen P. Robbins) dùng khái
niệm “lãnh đạo” theo ngh a điều hành thay cho hai hoạt động điều khiển và phối
hợp như vậy chỉ còn 4 hoạt động cụ thể. Qua tham khảo các quan điểm trên, đề tài
nghiên cứu này sẽ tập trung đánh giá hoạt động quản lý CTXH với trẻ em có hoàn
cảnh đặc biệt ở các hoạt động sau: Hoạch định, Ra quyết định, Kiểm tra giám sát,
Giải quyết xung đột..[32]
1.4.1. Hoạch định trong quản lý công tác xã hội với trẻ em có hoàn cảnh
đặc biệt
1.4.1.1. Khái niệm và vai trò của hoạch định
- Khái niệm hoạch định: Hoạch định là một quá trình xác định mục tiêu, xây
dựng chiến lược tổng thể để thực hiện mục tiêu và phát triển một hệ thống kế hoạch
toàn diện để phối hợp và thống nhất các hoạt động với nhau. Như vậy, hoạch định
chính là phương thức xử lý và giải quyết các vấn đề có kế hoạch cụ thể từ trước. [32].
Hoạch định có thể là chính thức và không chính thức. Trong hoạch định
không chính thức mọi thứ không được viết ra, ít hoặc không có sự chia sẻ các mục
tiêu và phương thức thực hiện mục tiêu với những người khác trong tổ chức. Loại
hoạch định này thường được áp dụng ở các tổ chức nhỏ. Hoạch định chính thức
được tính toán dự báo khoa học và thể hiện trên các văn bản của tổ chức.
Trong quản lý công tác xã hội, hoạch định cần thiết ở tất cả các cấp tác vụ và
là bộ phận trong công việc thường ngày của mỗi nhân viên. Nó là một bộ phận chủ

16


yếu của công tác xã hội thực hành và được xem là quan trọng trong tác vụ điều hành
của các cơ sở xã hội và trong cung ứng các dịch vụ xã hội.
Đối tượng của hoạch định chính là những hoạt động, những lực lượng ... có
ảnh hưởng trực tiếp đến việc xác định và tổ chức thực hiện các mục tiêu. Muốn cho
công tác hoạch định đạt được kết quả mong muốn thì nó phải đáp ứng được các đòi
hỏi sau: khoa học, khách quan, hệ thống, nhất quán, khả thi, cụ thể, linh hoạt, phù
hợp với hoàn cảnh thực tiễn.
Hoạch định có nhiều loại khác nhau tuỳ theo cơ sở phân biệt chúng:
Theo thời gian: có hoạch định dài hạn, ngắn hạn và trung hạn;
Theo cấp độ: có hoạch định v mô, hoạch định vi mô;
Theo mức độ: có hoạch định chiến lược, hoạch định tác nghiệp;
Theo phạm vi: có hoạch định toàn diện, hoạch định từng phần;
Theo l nh vực: có hoạch định kinh doanh, dịch vụ, nhân sự, tài chính ...
- Vai trò của hoạch định:
+ Tính hiệu quả: Mỗi một tổ chức đều hướng đến một số mục tiêu nào đó
trong tương lai. Để tồn tại và phát triển, hoạch định là nhịp cầu nối giữa hiện tại và
tương lai. Hoạch định cũng làm cho chúng ta luôn sẵn sàng đối phó với mọi tình
huống thay đổi có thể sảy ra, liên kết được các nguồn lực, nhờ đó sẽ làm tăng khả
năng đạt được các mục tiêu và kết quả mong muốn của tổ chức.
+ Tính kết quả: Nhờ hoạch định từ trước mà một tổ chức có thể nhận ra và
tận dụng được các cơ hội và giúp các nhà quản lý chủ động ứng phó với sự bất trắc
và rủi ro. Thông qua hoạch định đề ra các nhiệm vụ, thiết lập các mục tiêu, xây
dựng các định mức, tiêu chuẩn, chỉ tiêu, dự đoán các biến cố và lựa chọn các chiến
lược để thực hiện mục tiêu đã xác định. Mặt khác, nhờ có hoạch định mà các nhà
quản lý có thể biết tập trung chú ý vào việc thực hiện các mục tiêu trọng điểm trong
những kgoảng thời gian khác nhau.
+ Sự chịu trách nhiệm và phát triển tinh thần làm việc tập thể: Khi thực hiện
những công việc đã được hoạch định cẩn thận, khoa học, chu đáo từ trước mọi
người cảm thấy trách nhiệm của cá nhân trong tổ chức, có tinh thần làm việc thoải
mái, hăng hái và mọi người hợp tác, gắn bó với nhau.

17


1.4.1.2. Mục tiêu và cơ sở khoa học của hoạch định
- Mục tiêu:
Mục tiêu là những mong đợi của nhà quản lý muốn đạt được trong tương lai
cho tổ chức của mình, là phương tiện để đạt tới sứ mạng của tổ chức.
Mục tiêu của công tác hoạch định có thể được phân thành các loại sau:
+ Mục tiêu ngắn hạn và mục tiêu dài dạn;
+ Mục tiêu chủ yếu và mục tiêu thứ yếu;
+ Mục tiêu sơ cấp và mục tiêu thứ cấp;
+ Mục tiêu cuối cùng và mục tiêu trong từng giai đoạn...
- Cơ sở khoa học của hoạch định: Muốn hoạch định một cách đúng đắn, khả
thi và có hiệu quả thì cần phải căn cứ vào những cơ sở khoa học chủ yếu sau đây:
+ Mục tiêu, nhiệm vụ;
+ Phân cấp về quyền hạn và trách nhiệm trong tổ chức;
+ Khả năng về tài chính;
+ Hoàn cảnh thực tiễn bên trong và bên ngoài của tổ chức;
+ Đòi hỏi của các quy luật khách quan chi phối hoạt động quản lý trong l nh
vực hoạch định (kinh tế, chính trị, xã hội v.v...).
+ Hệ thống định mức kinh tế, kỹ thuật tiên tiến v.v...
+ Dự báo khoa học.
- Các yêu cầu trong hoạch định:
+ Đảm bảo tính liên tục và kế thừa;
+ Phải rõ ràng bằng các chỉ tiêu định lượng là chính;
+ Phải tiên tiến để thể hiện được sự phấn đấu của các thành viên;
+ Có kết quả cụ thể bằng các chỉ tiêu định lượng là chủ yếu. [32]
1.4.1.3. Chức năng, nguyên tắc hoạch định
- Chức năng:
+ Định hướng đúng đắn mọi hoạt động chiến lược của tổ chức;
+ Đảm bảo chủ động trong các hoạt động của đơn vị;
+ Lựa chọn phương thức tối ưu để hoàn thành các nhiệm vụ đã xác định;

18


+ Đảm bảo huy động và sử dụng tốt nhất những nguồn tiềm năng để thực
hiện có hiệu quả các quyết định quản lý đã được xác định;
+ Đảm phản ứng linh hoạt, năng động và có hiệu quả đối với mọi yếu tố tác
động từ bên ngoài;
+ Đảm bảo phục vụ tốt nhất nhu cầu của khách hàng về lâu dài.
- Nguyên tắc:
+ Nguyên tắc khoa học;
+ Nguyên tắc hệ thống, không chồng chéo, mâu thuẫn lẫn nhau;
+ Nguyên tắc kế thừa;
+ Nguyên tắc xuất phát từ nhu cầu của khách hàng;
+ Nguyên tắc kết hợp quyền hạn, quyền lợi và trách nhiệm;
+ Nguyên tắc chuyên môn hoá;
+ Nguyên tắc phát huy tối đa tính năng động và tự chủ của các cấp thừa hành.
+ Nguyên tắc năng động, linh hoạt và tận dụng thời cơ;
+ Nguyên tắc tập trung vào mắt xích chủ yếu;
+ Nguyên tắc hiệu quả;
1.4.1.4. Nội dung và phương pháp hoạch định
- Nội dung hoạch định:
Nội dung của công tác hoạch định trong mỗi trường hợp tuy có sự khác nhau
về các nội dung chi tiết, song xét về mặt cơ cấu thành phần thì nội dung của hoạch
định đều có chung ít nhất 4 thành phần cơ bản:
+ Mục tiêu của tổ chức;
+ Biện pháp để đạt được mục tiêu;
+ Nguồn lực;
+ Thực hiện.
Trong thực tế, nội dung của mỗi phần đều được xác định trong một thể thống
nhất, hoàn chỉnh và có liên quan chặt chẽ với nhau. Thông thường mục tiêu phải
được xác định phù hợp với khả năng thực hiện và nguồn lực con người và vật chất
có thể huy động và sử dụng. Nội dung của các biện pháp phải căn cứ vào mục tiêu
đã xác định và phù hợp với trình độ, năng lực của người thực hiện.

19


Trên thực tế, người ta có thể áp dụng nhiều phương pháp hoạch định khác
nhau. Tuy nhiên đối với mỗi tổ chức cụ thể và vào từng thời điểm cụ thể, thì việc
lựa chọn những phương pháp hoạch định thích hợp và tối ưu là một vấn đề quan
trọng. Để làm được việc này, người ta thường căn cứ vào một số nguyên tác và tiêu
chuẩn nhất định sau: Khoa học; Hệ thống; Logic; Kế thừa; Phù hợp với hoàn cảnh
thực tế; Phát huy được tính chủ động sáng tạo của những người tham gia; Nâng cao
được tính hiệu quả và chất lượng của hoạch định [32, Tr 233-241].
1.4.1.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạch định
Dưới đây là một số yếu tố có tác động ảnh hưởng đến hoạch định:
- Thời gian: vấn đề thời gian là một yếu tố ảnh hưởng đến việc xây dựng và
thực hiện kế hoạch. Có 2 vấn đề: Thời gian của kế hoạch kéo dài bao lâu? Và thời
gian cần thiết để xây dựng kế hoạch.
- Chi phí: chi phí có thể là một yếu tố hạn chế cho việc xây dựng một kế
hoạch hoàn chỉnh như mong muốn, nhất là trong trường hợp các chi phí là những
khoản đầu tư tốn kém mà những phí tổn này không cho phép thay đổi một hoạt
động.
- Tâm lý của nhà quản lý và nhân viên thực hiện: Đôi khi, nhà quản lý và
nhân viên có tâm lý ngại thay đổi trong cách ngh và cách làm mà chỉ coi trọng
những kinh nghiệm đã tích luỹ được trong quá khứ, ít có tính sáng tạo trong công
tác hoạch định và thực hiện kế hoạch.
Ngoài 3 yếu tố chủ yếu trên, còn một số yếu tố khác ảnh hưởng đến việc
hoạch định, như: việc dự báo không chính xác và sự cứng nhắc mang tính áp đặt từ
trên xuống [32, Tr 246].
1.4.2. Ra quyết định trong quản lý công tác xã hội với trẻ em có hoàn cảnh
đặc biệt
1.4.2.1. Khái niệm, vai trò và chức năng quyết định .
* Khái niệm
Quyết định quản lý là hành vi sáng tạo của nhà quản lý nhằm định ra chương
trình và tính chất hoạt động của tổ chức để giải quyết một vấn đề đã chín muồi, trên

20


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×