Tải bản đầy đủ

Dịch vụ Công tác xã hội đối với người cao tuổi từ thực tiễn tỉnh Hà Tĩnh

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGÔ THỊ TÂM TÌNH

DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI
NGƯỜI CAO TUỔI TỪ THỰC TIỄN TỈNH HÀ TĨNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

HÀ NỘI, 2016


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGÔ THỊ TÂM TÌNH

DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI

NGƯỜI CAO TUỔI TỪ THỰC TIỄN TỈNH HÀ TĨNH

Chuyên ngành : Công tác xã hội
Mã số

: 60.90.01.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
GS.TS. VÕ KHÁNH VINH

HÀ NỘI, 2016


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, Luận văn này là công trình nghiên cứu của cá nhân
tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của GS.TS Võ Khánh Vinh.
Các số liệu, những kết luận nghiên cứu được trình bày trong luận văn này là
trung thực.
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình./.
Học viên

Ngô Thị Tâm Tình


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU............................................................................................................. 1
Chương 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP
LUẬT VỀ DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI CAO TUỔI ..... 7

1.1. Những vấn đề lý luận về dịch vụ công tác xã hội đối với người cao tuổi....... 7
1.2. Chính sách pháp luật về dịch vụ công tác xã hội đối với người cao tuổi ..... 11
1.3. Các dịch vụ công tác xã hội dành cho người cao tuổi tại Việt Nam......... 15
1.4. Nhiệm vụ của nhân viên công tác xã hội khi làm việc với người cao tuổi ... 16
1.5. Những phẩm chất đạo đức và nguyên tắc cơ bản khi nhân viên công tác
xã hội tiếp xúc với người cao tuổi .................................................................... 17
Chương 2. THỰC TRẠNG DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI
CAO TUỔI TẠI TỈNH HÀ TĨNH ......................................................................... 21


2.1. Đặc điểm địa bàn nghiên cứu .................................................................... 21
2.2. Dịch vụ công tác xã hội đối với người cao tuổi tại tỉnh Hà Tĩnh ............. 23
2.3. Đặc điểm tâm sinh lý và nhu cầu của người cao tuổi ............................... 28
2.4. Cách tiếp cận và nhiệm vụ của nhân viên công tác xã hội khi làm việc với
người cao tuổi ................................................................................................... 33
2.5. Những kết quả đạt được của dịch vụ công tác xã hội tại tỉnh Hà Tĩnh .... 41
2.6. Nguyên nhân của những hạn chế và nhu cầu cung cấp dịch vụ công tác xã
hội của người cao tuổi tại tỉnh Hà Tĩnh ........................................................... 45
Chương 3. ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG DỊCH VỤ CÔNG
TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI CAO TUỔI TẠI TỈNH HÀ TĨNH ................... 50

3.1. Định hướng về phát triển mạng lưới dịch vụ xã hội đối với người cao tuổi
tại tỉnh Hà Tĩnh ................................................................................................ 50
3.2. Các giải pháp tăng cường dịch vụ công tác xã hội đối với người cao tuổi ... 55
3.3. Mô hình và quy mô các dịch vụ chăm sóc người cao tuổi tại cộng đồng ....... 58
3.4. Các yêu cầu về kiến thức, kỹ năng và thái độ làm việc đối với nhân viên
công tác xã hội trong trợ giúp người cao tuổi tại tỉnh Hà Tĩnh ....................... 62
KẾT LUẬN....................................................................................................... 68
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................ 71


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Từ, cụm từ viết tắt
AAR

Nghĩa của từ, cụm từ viết tắt
Nghiên cứu tuổi già và người cao
tuổi

BHYT

Bảo hiểm y tế

CTXH

Công tác xã hội

CLB

Câu lạc bộ

CSSK

Chăm sóc sức khỏe

ESCAP

Kinh tế của Liên Hiệp Quốc và Ủy ban xã
hội Châu Á Thái Bình Dương

LĐTBXH

Lao động thương binh xã hội

NCT

Người cao tuổi

NV.CTXH

Nhân viên công tác xã hội

TTBTXH

Trung tâm Bảo trợ xã hội

TW

Trung ương


DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1. Tốc độ tăng số lượng người cao tuổi tỉnh Hà Tĩnh từ năm 2010 2015 .................................................................................................................. 24
Bảng 1.2: Cơ cấu người cao tuổi tỉnh Hà Tĩnh năm 2015 ............................... 25
Bảng 1.3: Tỷ lệ người cao tuổi phân chia theo độ tuổi .................................... 26
Bảng 1.4. Những bệnh người cao tuổi tỉnh Hà Tĩnh thường mắc trong 12
tháng vừa qua. .................................................................................................. 29
Bảng 1.5. Số bệnh của người cao tuổi tỉnh Hà Tĩnh ........................................ 30
Bảng 1.6. Người cao tuổi tỉnh Hà Tĩnh biết về chăm sóc và bảo vệ sức khỏe ...... 30
Bảng 1.7. Hình thức kiểm tra chăm sóc sức khỏe của người cao tuổi tỉnh Hà
Tĩnh .................................................................................................................. 31
Bảng 1.8. Sự quan tâm của các thành viên trong gia đình đối với sức khỏe
người cao tuổi ................................................................................................... 36
Bảng 1.9. Sự tham gia các tổ chức xã hội của người cao tuổi tỉnh Hà Tĩnh ... 37
Bảng 1.10. Những đóng góp của người cao tuổi cho gia đình ........................ 38
Bảng 1.11. Những đóng góp của người cao tuổi cho xã hội............................ 39
Bảng 1.12. Các hoạt động vui chơi giải trí người cao tuổi tỉnh Hà Tĩnh......... 39
Bảng 1.13. Tình hình kinh tế của người cao tuổi so với nhu cầu sinh hoạt hàng
ngày .................................................................................................................. 40


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam trong quá trình đổi mới toàn diện, hơn hai thập kỷ qua đã tạo
ra những thay đổi tích cực về kinh tế - xã hội, mức sống và có nhiều dịch vụ
phúc lợi của đại bộ phận dân cư được nâng lên. Tuy vậy đi kèm với những đổi
mới trên là tồn tại một khoảng cách lớn giữa những người được hưởng lợi và
những đối tượng yếu thế. Vì thế đòi hỏi cần có những dịch vụ công tác xã hội
chuyên nghiệp để có thể giải quyết các vấn đề một cách khoa học và hiệu quả
nhằm thúc đẩy an sinh xã hội. Người cao tuổi nước ta là lớp người “cây cao,
bóng cả”, có vai trò quan trọng trong việc kết nối các giá trị truyền thống về
đạo đức, lịch sử và văn hoá giữa các thời đại. Là lớp người đã từng trải qua
hai cuộc kháng chiến gian khổ, có công lớn trong sự nghiệp giải phóng dân
tộc. Là lớp người đã có những đóng góp quan trọng trong sự nghiệp đổi mới,
phát triển đất nước.
Nước ta được đánh giá là một nước có số người cao tuổi ngày càng gia
tăng nhanh. Điều đó tạo áp lực cho hệ thống hạ tầng cơ sở hiện có, hệ thống
dịch vụ sức khỏe, giao thông, đi lại… cho người cao tuổi cũng như quan hệ
gia đình, tâm lý, lối sống, chăm sóc người cao tuổi và đảm bảo chất lượng
chăm sóc người cao tuổi…chắc chắn sẽ làm cho những vấn đề kinh tế - xã
hội, môi trường thêm khó khăn và có nhiều biến động không thể lường trước.
Từ đó tạo ra các khó khăn, thách thức đối với nhà nước, xã hội, gia đình và
người cao tuổi. Để thích ứng với già hóa dân số, việc chuẩn bị các điều kiện
cần và đủ để đáp ứng nhu cầu của dân số già là một thách thức rất lớn đối với
các nhà lập kế hoạch và hoạch định chính sách khi Việt Nam đẩy mạnh thực
hiện xã hội hóa các dịch vụ, chính sách của nền kinh tế thị trường có sự quản
lý của nhà nước và định hướng xã hội chủ nghĩa. Vậy an sinh xã hội sẽ làm gì
và làm như thế nào trước vấn đề đó? Đây chính là vấn đề cần nghiên cứu cụ
thể. Ở Việt Nam dịch vụ công tác xã hội được xem là một lĩnh vực quan trọng
1


trong việc tăng cường an sinh xã hội và hỗ trợ cho sự phát triển, tăng trưởng
nhanh và bền vững. Với vai trò của công tác xã hội trong hệ thống an sinh,
thiết nghĩ hoạt động công tác xã hội đối với người cao tuổi sẽ mang lại những
ý nghĩa thực tiễn góp phần giải quyết những vấn đề đã nêu.
Hà Tĩnh hiện có hơn 159.220 người cao tuổi trên tổng 263 xã phường
chiếm gần 12,5% dân số của tỉnh. Trong những năm gần đây chính quyền,
Đảng bộ và nhân dân Hà Tĩnh đã có nhiều cố gắng trong việc quan tâm, chăm
lo mọi mặt đời sống vật chất cũng như tinh thần đối với người cao tuổi. Do
vậy đời sống của người cao tuổi ở tỉnh đã phần nào được ổn định và cải thiện.
Song, với điều kiện kinh tế, xã hội còn nhiều khó khăn nên việc chăm sóc,
giúp đỡ mới chỉ có thể đáp ứng được những nhu cầu thiết yếu của họ mà chưa
thể đáp ứng những nhu cầu đa dạng khác, cũng như chưa thể giải quyết tốt
những vấn đề mang tính chất cá nhân, nhóm đối tượng đặc thù. Do đó cần
thực hiện những dịch vụ của công tác xã hội với những phương pháp đặc thù
của công tác xã hội nhằm hỗ trợ, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho
người cao tuổi trên mọi phương diện. Bên cạnh đó, công tác xã hội với người
cao tuổi là lĩnh vực khoa học khá mới, nghề công tác xã hội đang được chú ý
và coi trọng nhằm trợ giúp các nhóm đối tượng yếu thế, gặp khó khăn trong
cuộc sống. Vì những lý do trên tôi quyết định lựa chọn đề tài: “Dịch vụ Công
tác xã hội đối với người cao tuổi từ thực tiễn tỉnh Hà Tĩnh” làm đề tài
nghiên cứu cho luận văn của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Qua nghiên cứu của giảng viên Nguyễn Thị Như Hương đã bảo vệ
thành công luận văn thạc sỹ với đề tài:“Công tác xã hội với thương bệnh binh
tại thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình” [33] và Luận văn thạc sỹ “Trợ
giúp xã hội đối với người cao tuổi tại cộng đồng (Nghiên cứu tại xã Trực
Tuấn, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định)” của Đồng Thị Minh Phúc [34], luận
án tiến sỹ “Một số giải pháp nâng cao chất lượng chăm sóc người cao tuổi
2


Việt Nam” của giảng viên trường Đại học Kinh tế Quốc dân Phạm Vũ Hoàng
[35], đã cho thấy việc nghiên cứu đa dạng với các khía cạnh khác nhau về người
cao tuổi nhưng chủ yếu dừng lại ở các nghiên cứu mang tính chất của chuyên
ngành xã hội học là chủ yếu. Đề tài thuộc lĩnh vực nghiên cứu của công tác xã
hội đối với người cao tuổi còn rất ít. Những nghiên cứu trên chỉ mới tiếp cận ở
khía cạnh chủ yếu như: tìm hiểu về chăm sóc sức khỏe hoặc phân tích thực trạng
cũng như các đặc điểm lao động và sắp xếp công việc trong gia đình của người
lao động hay đánh giá hiệu quả chính sách của công tác xã hội. Cho đến nay vẫn
chưa có đề tài nào nghiên cứu về vấn đề dịch vụ công tác xã hội đối với người
cao tuổi từ thực tiễn của tỉnh Hà Tĩnh. Có chăng các nghiên cứu về dịch vụ xã
hội mới chỉ đi vào đánh giá nhu cầu hay dịch vụ xã hội một cách chung nhất
hoặc cũng đã đề cập tới khía cạnh dịch vụ xã hội nhưng chưa chú trọng tới các
dịch vụ trợ giúp xã hội từ góc độ công tác xã hội. Vì vậy để đưa ra căn cứ khoa
học phát triển mạng lưới cung cấp dịch vụ về trợ giúp xã hội tôi xin nghiên cứu
đề tài: “Dịch vụ Công tác xã hội đối với người cao tuổi từ thực tiễn tỉnh Hà
Tĩnh” nhằm góp phần phát triển và nâng cao chất lượng dịch vụ xã hội đối với
người cao tuổi trong thời gian tới tại tỉnh Hà Tĩnh.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích của việc nghiên cứu đề tài này là tìm hiểu thực trạng đời sống
của người cao tuổi tại tỉnh Hà Tĩnh. Từ đó phân tích các dịch vụ công tác xã
hội đối với người cao tuổi tại tỉnh Hà Tĩnh hiện nay. Để nhận diện những vấn
đề, nhu cầu mà người cao tuổi cần sự trợ giúp từ công tác xã hội. Từ đó đưa
ra các dịch vụ hỗ trợ phù hợp và những yêu cầu với nhân viên công tác xã hội
hoạt động trong các lĩnh vực này.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục tiêu đã đặt ra của đề tài thì nghiên cứu cần phải giải
quyết những nhiệm vụ sau:
3


- Xây dựng những vấn đề lý luận và các quy định của pháp luật về dịch
vụ công tác xã hội đối với người cao tuổi.
- Thu thập và xử lý thông tin để tìm hiểu thực trạng dịch vụ công tác xã
hội đối với người cao tuổi tại Hà Tĩnh.
- Nghiên cứu phân tích, đánh giá những thực trạng nhằm đưa ra định
hướng và giải pháp can thiệp từ góc nhìn công tác xã hội, bảo đảm thực hiện
tốt dịch vụ công tác xã hội cho người cao tuổi trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
- Những vấn đề lý luận và thực tiễn về dịch vụ hỗ trợ của công tác xã
hội đối với người cao tuổi tại tỉnh Hà Tĩnh.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu: Nghiên cứu thực trạng người cao tuổi giai đoạn
2010 - 2015 và đề xuất kiến nghị giai đoạn 2016 – 2020 trên địa bàn Hà Tĩnh.
- Phạm vi không gian: Khảo sát trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh.
- Giới hạn nội dung nghiên cứu: Dịch vụ công tác xã hội đối với người
cao tuổi.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận nghiên cứu
Các tài liệu, Luật Người cao tuổi, các chính sách, các tài liệu có liên
quan đến dịch vụ công tác xã hội đối với người cao tuổi. Phân tích các thông
tin đã thu thập được từ nhiều nguồn khác nhau, từ đó tổng hợp và đưa ra các
nhận xét, đánh giá. Đồng thời, sử dụng phương pháp này nhằm thu thập, tổng
hợp, phân tích tài liệu từ sách, báo, tạp chí và các báo cáo khoa học để xây
dựng cơ sở lý luận cho đề tài nghiên cứu.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
a) Phương pháp phỏng vấn bảng hỏi

4


Đây là phương pháp chính được tác giả sử dụng trong đề tài nghiên
cứu của mình. Phương pháp này tác giả sử dụng trên đối tượng là những NCT
và cán bộ hội NCT trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh, phòng Lao động - Thương binh
xã hội các huyện, thị xã . Đối tượng phỏng vấn 150 người thuộc ba nhóm đối
tượng trên. Với phương pháp này ở nội dung phỏng vấn cán bộ Hội NCT,
Phòng Lao động – Thương binh - Xã hội các huyện, thị chúng tôi thu thập
những thông tin nhằm tìm hiểu những vấn đề: Các dịch vụ xã hội nào đã được
triển khai và đáp ứng ở địa phương, cộng đồng người cao tuổi sinh sống? Nhu
cầu của người cao tuổi đối với các dịch vụ Công tác xã hội, những khó khăn
cũng như những thuận lợi khi tiếp cận với các dịch vụ đó…
b) Phương pháp đàm thoại.
Đàm thoại với 13 cán bộ Phòng Lao động thương binh xã hội của các
huyện, thị và 26 người thuộc Hội NCT, 50 gia đình người trực tiếp chăm sóc
NCT, 61 người cao tuổi trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh. Thông qua các cuộc trò
chuyện bằng mẫu bảng hỏi để khai thác thêm thông tin, hỗ trợ các phương
pháp khác trong việc xử lý phân tích và đưa ra kết luận khách quan. Nội dung
đàm thoại là những hoạt động mà Hội và xã hội đang triển khai trợ giúp cho
NCT như thế nào, đánh giá kết quả đạt được, nhu cầu của NCT hiện nay,
những dịch vụ CTXH mà NCT đã được tiếp cận.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận của luận văn
Đề tài này thuộc nhóm đề tài nghiên cứu ứng dụng lý thuyết, phương
pháp công tác xã hội vào việc giải quyết một vấn đề xã hội cụ thể. Cụ thể là
việc sử dụng hệ thống khái niệm, lý thuyết, phương pháp công tác xã hội vào
việc đánh giá, phân tích và đưa ra phương pháp hỗ trợ thích hợp.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn của luận văn
Kết quả nghiên cứu làm sáng tỏ những chủ trương, chính sách hỗ trợ,
chế độ trợ cấp của Đảng và Nhà nước ta đối với người cao tuổi.
5


Kết quả nghiên cứu cũng góp phần giúp những người quản lý, những nhà lãnh
đạo, có thêm cái nhìn toàn diện, sâu sắc tích cực trong công tác tuyên truyền,
phổ biến chính sách, Luật pháp của Đảng và Nhà nước đến với người cao
tuổi, gia đình người cao tuổi cũng như cộng đồng mà người cao tuổi đang
sinh sống. Giúp cho người cao tuổi nhận ra vấn đề và tiềm năng giải quyết
vấn đề của mình. Bên cạnh đó, hiểu rõ các chế độ trợ cấp đối với họ và các
dịch vụ trợ giúp của công tác xã hội trong lĩnh vực này.
Giúp cho nhân viên công tác xã hội nói riêng và các ngành có liên quan
hiểu biết thêm về các chế độ trợ cấp, các dịch vụ hỗ trợ của công tác xã hội
đối với người cao tuổi và những yêu cầu cần thiết để trở thành nhân viên xã
hội chuyên nghiệp trong lĩnh vực chăm sóc, trợ giúp người cao tuổi.
Bản thân sau khi nghiên cứu đề tài sẽ củng cố, mở rộng kiến thức về công tác
xã hội nói chung và các dịch vụ công tác xã hội đối với người cao tuổi nói
riêng, từ đó rút ngắn khoảng cách giữa lý luận và thực tiễn trong lĩnh vực này.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu, các phụ lục luận văn
còn có 3 chương, gồm:
Chương 1: Những vấn đề lý luận và các quy định của pháp luật về dịch
vụ công tác xã hội đối với người cao tuổi
Chương 2: Thực trạng dịch vụ công tác xã hội đối với người cao tuổi
tại Hà Tĩnh
Chương 3: Định hướng và giải pháp bảo đảm thực hiện dịch vụ công
tác xã hội tại tỉnh Hà Tĩnh

6


Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT
VỀ DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI CAO TUỔI
1.1. Những vấn đề lý luận về dịch vụ công tác xã hội đối với người cao tuổi
Trên thế giới, công tác xã hội phát triển như một nghề nhằm giải quyết
các vấn đề xã hội. Thông qua hỗ trợ và tác động đối với cá nhân, gia đình,
nhóm đối tượng, cộng đồng và hệ thống xã hội, CTXH nhằm giải quyết vấn
đề xã hội, tăng cường phúc lợi và công bằng xã hội. Công tác xã hội đã ra đời
do nhu cầu xã hội trong quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa; đã có quá
trình phát triển hơn 100 năm qua trên thế giới. Công tác xã hội chuyên nghiệp
đã tồn tại ở nhiều quốc gia trên thế giới.
Tuy nhiên, đối với Việt Nam nghề công tác xã hội mới chỉ ở bước đầu
hình thành, chưa được phát triển theo đúng ý nghĩa của nó trên tất cả các khía
cạnh. Công tác xã hội hiện đang là một trong những vấn đề đặc biệt quan
trọng và đang giành được nhiều quan tâm của nhiều nhà xã hội học cũng như
của các nhà nghiên cứu và các cấp lãnh đạo. Mục tiêu đưa công tác xã hội đạt
yêu cầu về chất lượng gắn với phát triển hệ thống cơ sở cung cấp dịch vụ
công tác xã hội tại các cấp.
Hiện nay, nghề CTXH đã được khẳng định ở Việt Nam về mã số, ngạch
bậc, thực hiện ở các cấp, bước đầu đã có cơ sở pháp lý - đó là Quyết định
32/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ [26]. Việc tồn tại và phát triển CTXH
ở Việt Nam đã trở thành một nhu cầu xã hội. Không phải đến đầu những năm
1990 CTXH mới được biết đến thông qua các khóa tập huấn ngắn hạn, qua
các chương trình đào tạo ở một số trường đại học, cao đẳng, hoặc khi Bộ Giáo
dục và Đào tạo ban hành mã số đào tạo cho CTXH là một ngành học ở cấp
cao đẳng và đại học 2004, hay đến khi có Quyết định số 32/2010/QĐ-TTg
ngày 25/3/2010 của TTgCP về phê duyệt Đề án phát triển nghề công tác xã
7


hội ở Việt Nam giai đoạn 2010 - 2020…[26]. Trên thực tế, CTXH với những
biểu hiện cụ thể của nó đã được đề cập trong pháp luật Việt Nam từ rất sớm,
ngay những năm 40 - 50 của thế kỷ trước thông qua các hoạt động trợ giúp,
hỗ trợ người cao tuổi, trẻ em mồ côi, khuyết tật, những người gặp hoàn cảnh
đặc biệt khó khăn do cá nhân, tổ chức như Hội Chữ thập đỏ, phụ nữ, thanh
niên …thực hiện. Do đó, việc sửa đổi, bổ sung hệ thống văn bản pháp luật về
lĩnh vực này đã có tiền đề và là một thuận lợi để chúng ta hoàn thiện.
- Đã có những văn bản có liên quan đến hoạt động CTXH được quy định
trong các lĩnh vực cụ thể là cơ sở thuận lợi cho việc bổ sung, điều chỉnh, xây
dựng các quy định pháp luật về nghề CTXH trong thời gian tới. Nhiều nội
dung liên quan đến CTXH đã được qui định trong pháp luật Việt Nam, có liên
quan đến nhiều lĩnh vực của các Bộ, ngành. Pháp luật Việt Nam đã có một số
văn bản quy định trực tiếp về CTXH như Luật nuôi con nuôi, Nghị định số
19/2011/NĐ-CP của Chính phủ hướng dẫn Luật nuôi con nuôi, Nghị định 67
và Nghị định 13 về chính sách bảo trợ xã hội…[5,6,7]. Bên cạnh đó có nhiều
văn bản mặc dù không quy định cụ thể về CTXH nhưng đã có quy định thể
hiện khá rõ nét bản chất của CTXH và dịch vụ công tác xã hội [2,3,4].
- Việc tổ chức thực hiện các quy định có liên quan đến công tác xã hội
và dịch vụ công tác xã hội về cơ bản đã được các cấp ủy Đảng, chính quyền,
lãnh đạo các ban ngành, tổ chức quan tâm chỉ đạo, triển khai và đã đạt được
nhiều kết quả đáng ghi nhận, đó là cơ sở để từng bước đóng góp vào sự phát
triển, hoàn thiện ngành, nghề CTXH ở Việt Nam [9,20,21,22].
1.1.1.Các khái niệm
1.1.1.1. Dịch vụ
Dịch vụ là hoạt động có chủ đích nhằm đáp ứng nhu cầu nào đó của con
người. Đặc điểm của dịch vụ là không tồn tại ở dạng sản phẩm cụ thể (hữu
hình) như hàng hóa nhưng nó phục vụ trực tiếp nhu cầu nhất định của xã hội.
8


Dịch vụ xã hội là hoạt động cung cấp, đáp ứng nhu cầu cho các cá nhân,
nhóm người nhất định nhằm bảo đảm các giá trị và chuẩn mực xã hội.
1.1.1.2. Công tác xã hội
Nghề Công tác xã hội thúc đẩy sự phát triển xã hội, giải quyết các vấn
đề trong các mối quan hệ tương tác, tăng năng lực và tạo khả năng giải phóng
con người nhằm thúc đẩy an sinh xã hội. Sử dụng các học thuyết về hành vi
con người trong môi trường xã hội, công tác xã hội can thiệp vào những điểm
khi con người tương tác với các môi trường của mình. Nhân quyền và công
bằng xã hội là những nguyên tắc nền tảng của nghề công tác xã hội.
Theo từ điển công tác xã hội định nghĩa: “CTXH đó là một ngành khoa
học xã hội ứng dụng nhằm giúp con người thực hiện chức năng tâm lý xã hội
của mình một cách có hiệu quả và tạo ra những thay đổi trong xã hội để đem
lại sự an sinh cao nhất cho con người.” Nó còn là “Một nghệ thuật, một khoa
học, một nghề nhằm giúp người dân giải quyết vấn đề từ cấp độ cá nhân, gia
đình, nhóm, cộng đồng” [22]. Công tác xã hội giúp con người phát triển hài
hòa, đem lại cuộc sống tốt đẹp cho con người.
1.1.1.3. Người cao tuổi
Người cao tuổi hay người già là một thuật ngữ dùng để chỉ những người
nhìn chung đã có nhiều tuổi. Lâu nay ta vẫn quen dùng khái niệm “người
già”. Theo từ điển tiếng Việt, già tức là “ở vào tuổi có những hiện tượng sinh
lý suy yếu dần trong giai đoạn cuối của quá trình sống tự nhiên”[9]. Như vậy,
về mặt thuật ngữ “người già” hoặc “người cao tuổi” cũng chỉ là hai cách gọi
khác nhau mang cùng một nội dung chỉ “người đã nhiều tuổi so với tuổi đời
trung bình”. Theo quy đinh hành chính quốc tế, người từ 60 tuổi trở lên gọi là
người cao tuổi [9]. Trong đề tài này sử dụng thuật ngữ “người cao tuổi”.
Với đặc thù là một nghề trợ giúp xã hội, CTXH nhìn nhận NCT như sau:
NCT với những thay đổi về tâm sinh lý, lao động - thu nhập, quan hệ xã hội
9


sẽ gặp nhiều khó khăn, vấn đề trong cuộc sống. Do đó, NCT là một đối tượng
yếu thế, đối tượng cần sự trợ giúp của CTXH.
1.1.1.4. Dịch vụ công tác xã hội
Dịch vụ công tác xã hội cho nhóm yếu thế là các hoạt động có chủ đích
của con người nhằm phòng ngừa - hạn chế và khắc phục rủi ro, đảm bảo đáp
ứng được nhu cầu cơ bản và thúc đẩy khả năng hòa nhập cộng đồng, xã hội
cho nhóm đối tượng yếu thế.
1.1.1.5. Dịch vụ công tác xã hội đối với người cao tuổi
Từ những phân tích trên có thế thấy rằng dịch vụ công tác xã hội đối
với người cao tuổi dù ở cộng đồng hay ỏ các cơ sở xã hội đều có những khó
khăn khác nhau trong cuộc sống, ngay cả khi họ được nhà nước tạo cơ hội để
có những dịch vụ trợ giúp. Khó khăn ở mỗi đối tượng có thể khác nhau ở mức
độ và một số khía cạnh cụ thể, song khó khăn nổi trội nhất vẫn là khía cạnh
sức khỏe, tài chính, những bất ổn tâm lý và sự hòa nhập xã hội. Điều này cho
thấy cần có các dịch vụ khác nhau để cung cấp nhu cầu đa dạng cho nhóm đối
tượng người cao tuổi trong xã hội.
Việc này đòi hỏi người cung cấp dịch vụ phải xác định được nhu cầu
của từng đối tượng và khả năng trợ giúp để đưa ra những quyết định đúng
đắn, phù hợp và hiệu quả nhất. Do vậy, người cung cấp dịch vụ cần tính tới
một kế hoạch trợ giúp tổng thế với sự trợ giúp của các cơ sở dịch vụ khác
nhau để đảm bảo vấn đề của họ được giải quyết càng nhiều khía cạnh càng tốt
như vậy sự trợ giúp sẽ mang tính bền vững. Một cơ sở thường không có khả
năng đáp ứng được hết các nhu cầu của đối tượng, muốn vậy người cung cấp
dịch vụ mà ở đây là nhân viên CTXH cần kết nối và chuyển gửi đối tượng tới
những cơ sở cung cấp dịch vụ khác. Đối với người cao tuổi việc cung cấp các
dịch vụ không chỉ là các dịch vụ cơ bản mà còn có các dịch vụ nâng cao về mặt
tinh thần, ổn định đời sống văn hóa cho người cao tuổi. Nếu được trợ giúp một
10


cách chuyên nghiệp, đảm bảo tính liên tục của các dịch vụ xã hội sẽ giúp cho
người cao tuổi giải quyết vấn đề một cách xuyên suốt, không bị ngắt đoạn.
1.2. Chính sách pháp luật về dịch vụ công tác xã hội đối với người cao tuổi
1.2.1. Những chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam
Sau khi Hội Người cao tuổi Việt Nam được thành lập (10/5/1995), Ban
Bí thư TW đã ban hành Chỉ thị 59/CT-TW “Về chăm sóc người cao tuổi”,
quy định: “Việc chăm sóc đời sống vật chất và tinh thần của người cao tuổi là
trách nhiệm của Đảng, Nhà nước và toàn xã hội. Hội Người cao tuổi Việt
Nam mới được thành lập, cần được nhanh chóng ổn định về tổ chức và mở
rộng hoạt động ở cơ sở. Đảng đoàn Mặt trận Tổ quốc, các ban đảng, các đoàn
thể nhân dân cần giúp đỡ Hội hoạt động có hiệu quả thiết thực, phối hợp với
Hội trong việc vận động gia đình và xã hội chăm sóc, bồi dưỡng, phát huy
người cao tuổi phục vụ công cuộc đổi mới. Đảng đoàn Quốc hội, Đảng đoàn
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các ban của Đảng, các ban cán sự đảng Chính
phủ, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Y tế, Bộ Tư pháp phối hợp
với Hội nghiên cứu, soát xét các chính sách luật pháp hiện hành, đề xuất
những văn bản pháp quy của Nhà nước nhằm bảo vệ, chăm sóc và phát huy
người cao tuổi. Nhà nước cần dành ngân sách để giải quyết các vấn đề xã hội,
trong đó có vấn đề chăm sóc người cao tuổi. Trước hết cần quan tâm chăm
sóc những người cao tuổi có công, cô đơn không nơi nương tựa, tàn tật và bất
hạnh, nhanh chóng xoá bỏ tình trạng người già lang thang trên đường phố,
ngõ xóm. Đề nghị Chính phủ hỗ trợ Hội người cao tuổi Việt Nam về kinh phí
và điều kiện hoạt động”[5].
Báo cáo chính trị tại Đại hội IX của Đảng đã nêu: “Đối với các lão
thành cách mạng, những người có công với nước, các cán bộ nghỉ hưu,
những người cao tuổi thực hiện chính sách đền ơn đáp nghĩa, chăm sóc sức
khoẻ, nâng cao đời sống tinh thần và vật chất trong điều kiện mới; đáp ứng

11


nhu cầu thông tin, phát huy khả năng tham gia đời sống chính trị của đất
nước và các hoạt động xã hội; nêu gương tốt, giáo dục lý tưởng và truyền
thống cách mạng cho thanh niên, thiếu niên…”[16].
Thông báo số: 12 TB/TW ngày 13 tháng 6 năm 2001 đã khẳng định
Hội Người cao tuổi Việt Nam là tổ chức xã hội của người cao tuổi, có các
nhiệm vụ đã được quy định cụ thể tại Pháp lệnh Người cao tuổi; Hội có Ban
đại diện ở cấp tỉnh và cấp huyện; Cấp tỉnh có từ 2 đến 3, cấp huyện có từ 1
đến 2 cán bộ chuyên trách đồng thời khẳng định: “Nhà nước tiếp tục trợ cấp
kinh phí hoạt động cho Hội. Các cơ quan có chức năng của Nhà nước tạo
thuận lợi, bảo đảm cấp kinh phí kịp thời cho Hội”.
Báo cáo chính trị tại Đại hội XII của Đảng ghi rõ: “Vận động toàn dân
tham gia các hoạt động đền ơn đáp nghĩa, uống nước nhớ nguồn đối với lão
thành cách mạng, những người có công với nước, người hưởng chính sách xã
hội. Chăm sóc đời sống vật chất và tinh thần của người già, nhất là những
người già cô đơn, không nơi nương tựa…”[24].
Như vậy, từ Chỉ thị 59/CT-TW, các văn kiện Đại hội Đảng và Thông
báo số: 12 TB/TW của Ban Bí thư TW Đảng đều khẳng định: Người cao tuổi
là nền tảng của gia đình, là tài sản vô giá, nguồn lực quan trọng cho sự phát
triển xã hội. Vì thế, chăm sóc và phát huy tốt vai trò người cao tuổi là thể hiện
bản chất tốt đẹp của chế độ ta và đạo đức người Việt Nam, góp phần tăng
cường khối đại đoàn kết toàn dân vì sự nghiệp dân giàu, nước mạnh, xã hội
công bằng, dân chủ, văn minh [5].
1.2.2. Chính sách và pháp luật của Nhà nước về người cao tuổi
1.2.2.1. Chính sách của Nhà nước Việt Nam về người cao tuổi
Nghị định số 136/2013/NĐ-CP ngày 21 tháng 10 năm 2013 quy định
chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội trong đó người cao
tuổi từ 80 tuổi trở lên được hưởng cấp bảo hiểm y tế miễn phí, trợ cấp hàng
tháng 270.000 đồng/tháng, được hỗ trợ mai tang phí khi từ trần…[10].
12


Thông tư liên tịch số 29/2014/TTLT-BLĐTBXH-BTC ngày 24 tháng 10
năm 2014 về việc hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số
136/2013/NĐ-CP quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo
trợ xã hội [1].
Trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh, thực hiện theo Quyết định số 06/2015/QĐUBND ngày 13 tháng 2 năm 2015 về việc quy định mức trợ giúp xã hội đối
với đối tượng bảo trợ xã hội trên địa bàn tỉnh. Điều chỉnh mức trợ cấp nuôi
dưỡng hàng tháng cho các đối tượng bảo trợ xã hội sống trong các cơ sở bảo
trợ xã hội quy định tại khoản 1,2 điều 25 Nghị định số 136/2013 áp dụng theo
mức lương cơ sở hiện hành: hệ số 1,0 (khi có sự điều chỉnh mức lương cơ sở
thì được điều chỉnh theo) [29].
Như vậy, ngoài nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng, chăm sóc của gia đình,
người thân, Nhà nước có những cơ chế, chính sách cụ thể, phù hợp và bổ
sung, tăng dần theo xu thế đà tăng trưởng của nền kinh tế để bảo đảm chăm
sóc và phát huy vai trò của người cao tuổi [12].
1.2.2.2. Pháp luật liên quan đến người cao tuổi
Quan điểm trên của Đảng và Bác Hồ được thể hiện trong Hiến pháp
năm 1946, Điều 14 quy định: “Những công dân già cả hoặc tàn tật không làm
được việc thì được giúp đỡ”. Điều 32 của Hiến pháp 1959 ghi rõ: “Giúp đỡ
người già, người đau yếu và tàn tật. Mở rộng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm sức
khoẻ và cứu trợ xã hội…”. Điều 64 của Hiến pháp 1992 quy định: “…Cha mẹ
có trách nhiệm nuôi dạy con cái. Con cái có trách nhiệm kính trọng và chăm
sóc ông bà, cha mẹ… ”. Và Điều 87 Hiến pháp ghi rõ: “Người già, người tàn
tật, trẻ mồ côi không nơi nương tựa được Nhà nước và xã hội giúp đỡ”… [13]
Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, khoản 2 Điều 104 quy
định:“Cháu có nghĩa vụ kính trọng, chăm sóc, phụng dưỡng ông bà nội, ông
bà ngoại; trường hợp ông bà nội, ông bà ngoại không có con để nuôi dưỡng
mình thì cháu đã thành niên có nghĩa vụ nuôi dưỡng”…[14].
13


Luật Bảo vệ chăm sóc sức khoẻ nhân dân đã dành một chương riêng:
Bảo vệ sức khoẻ người cao tuổi… trong đó, khoản 1 Điều 41 của Luật này
quy định: “Người cao tuổi… được ưu tiên khám bệnh, chữa bệnh, được tạo
điều kiện thuận lợi để đóng góp cho xã hội phù hợp với sức khoẻ của
mình”[5].
Luật Lao động sửa đổi năm 2012 quy định tại Mục 2 Điều 166:
“Người lao động cao tuổi được rút ngắn thời giờ làm việc hằng ngày hoặc
được áp dụng chế độ làm việc không trọn thời gian” Và tại Mục 2 Điều 167:
“Không được sử dụng người lao động cao tuổi làm những công việc nặng
nhọc, độc hại, nguy hiểm có ảnh hưởng xấu tới sức khoẻ người lao động cao
tuổi, trừ trường hợp đặc biệt theo quy định của Chính phủ” và trong điều này
có ghi “Người sử dụng lao động có trách nhiệm quan tâm chăm sóc sức khoẻ
của người lao động cao tuổi tại nơi làm việc”.
Điều 151 của Bộ luật Hình sự quy định: “Tội ngược đãi hoặc hành hạ
ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình” và
Điều 152 quy định “Tội từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng”. Bên
cạnh đó, luật cũng quy định một số tình tiết giảm nhẹ khi “người phạm tội là
người già”.
Từ ngày 1/7/2010, Luật Người cao tuổi có hiệu lực, Luật Người cao
tuổi thể hiện rất rõ nét tính ưu việt cũng như truyền thống "uống nước nhớ
nguồn" của xã hội ta. Ngoài việc được Nhà nước, các tổ chức, đoàn thể chúc
thọ, mừng thọ theo quy định, người cao tuổi sẽ được chăm sóc sức khỏe thông
qua việc định kỳ khám, chữa bệnh tại các cơ sở y tế, đặc biệt ưu tiên cho
người đủ 80 tuổi trở lên. Các bệnh viện sẽ thành lập các khoa lão khoa hoặc
dành một số giường để điều trị người bệnh cao tuổi. Người cao tuổi được
chăm sóc đầy đủ hơn về đời sống tinh thần trong hoạt động văn hoá, giáo dục,
thể dục, thể thao, giải trí, du lịch, hưởng phúc lợi từ các công trình công cộng
14


và giao thông công cộng do Nhà nước và xã hội đầu tư. Chính phủ sẽ ban
hành danh mục dịch vụ mà người cao tuổi sử dụng với mức miễn, giảm nhất
định. Mặc dù đất nước còn khó khăn nhưng Đảng, Chính phủ vẫn bố trí một
phần ngân sách nhà nước để thực hiện bảo trợ xã hội đối với người cao tuổi,
hộ có người cao tuổi nghèo. Theo luật mới ban hành, người đủ 80 tuổi trở lên
không có lương hưu và bảo hiểm xã hội sẽ được trợ cấp hàng tháng, được
hưởng bảo hiểm y tế, được hỗ trợ chi phí mai táng khi chết... Các cơ quan nhà
nước cũng có trách nhiệm tạo điều kiện tốt nhất để người cao tuổi phát huy vai
trò phù hợp với khả năng của mình thông qua việc bày tỏ ý kiến, nguyện vọng,
kiến nghị, việc trực tiếp cống hiến trong khoa học, sản xuất, kinh doanh [14].
1.3. Các dịch vụ công tác xã hội dành cho người cao tuổi tại Việt Nam
Hiện nay, ở nước ta các dịch vụ công tác xã hội dành cho người cao
tuổi chủ yếu thông qua hai hình thức:
1.3.1. Hình thức thứ nhất
Chăm sóc người cao tuổi trong các cơ sở bảo trợ xã hội, chăm sóc người
già hoặc trung tâm dưỡng lão ở các thành phố lớn. Việc thực hiện các dịch vụ
ngoài nhân viên công tác xã hội còn có sự tham gia của nhiều nhân viên
chuyên nghiệp khác như bác sỹ, cán bộ điều dưỡng, cán bộ dinh dưỡng,
chuyên viên tham vấn tâm lý…
1.3.2. Hình thức thứ hai
Cung cấp dịch vụ chăm sóc người cao tuổi tại gia đình và cộng đồng.
Gần đây xu hướng thứ hai được quan tâm nhiều hơn. Trong các dịch vụ này
thường là cơ sở xã hội tiếp nhận người cao tuổi và cử nhân viên công tác đến
gia đình họ để trực tiếp thực hiện các dịch vụ như vãng gia, đánh giá, xác định
vấn đề, giúp xây dựng kế hoạch thiết lập mối quan hệ giữa những người cao
tuổi với các thành viên gia đình, giúp họ gắn bó và tự giác tham gia các sinh
hoạt cộng đồng; tham vấn, điều chỉnh các mối quan hệ giữa người già và các
15


thành viên trong gia đình, giúp họ sống hòa thuận, biết yêu thương và kính
trọng lẫn nhau; cung cấp các dịch vụ tập huấn, nâng cao kiến thức, kỹ năng
chăm sóc người cao tuổi cho các thành viên trong gia đình để họ tạo ra môi
trường hỗ trợ tốt nhất cho người cao tuổi. Nhân viên công tác xã hội cũng tư
vấn, hướng dẫn các công việc phù hợp với tuổi già, tạo niềm vui, tạo thu nhập
làm giảm cảm giác lệ thuộc; vận động cộng đồng (làng xóm) quan tâm giúp
đỡ người cao tuổi sống một mình…
1.4. Nhiệm vụ của nhân viên công tác xã hội khi làm việc với người cao tuổi
1.4.1. Nhiệm vụ nghiên cứu lý luận
Công tác xã hội đối với người cao tuổi là một lĩnh vực khoa học khá mới
mẻ của Việt Nam, vì vậy nhiệm vụ hàng đầu của nhân viên công tác xã hội
đối với người cao tuổi là xây dựng và phát triển hệ thống các khái niệm, phạm
trù, lý thuyết đặc thù của công tác xã hội đối với người cao tuổi. Ví dụ có sự
thống nhất về khái niệm công tác xã hội đối với người cao tuổi.
Nhân viên công tác xã hội đối với người cao tuổi có nhiệm vụ hình thành
và phát triển công tác nghiên cứu lý luận để vừa củng cố hệ thống khái niệm
vừa tìm tòi tích lũy tri thức tiến tới phát triển nhanh, mạnh về lý luận và
phương pháp tiếp cận trợ giúp thân chủ.
Đồng thời nhân viên công tác xã hội cần nghiên cứu một cách bài bản, hệ
thống những vấn đề lý luận và thực tiễn nhằm đáp ứng nhu cầu về điều kiện
vật chất cũng như tinh thần của người cao tuổi trong giai đoạn hiện nay.
1.4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu thực nghiệm
Đây là một nhiệm vụ quan trọng của nhân viên công tác xã hội đối với
người cao tuổi. Công tác xã hội đối với người cao tuổi tiến hành nghiên cứu
thực nghiệm nhằm kiểm nghiệm, chứng minh các vai trò, vị trí, đặc điểm tâm
sinh lý…của người cao tuổi trong thực tiễn.

16


Phát hiện những bằng chứng và vấn đề mới làm cơ sở cho việc sửa đổi,
phát triển và hoàn thiện các khái niệm, lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
tiếp cận trong công tác xã hội. Hình thành tư duy nghiên cứu của công tác xã
hội đối với người cao tuổi.
Bên cạnh đó nghiên cứu thực nghiệm trong công tác xã hội đối với người
cao tuổi nhằm tạo ra các dịch vụ hỗ trợ xã hội tạo điều kiện để cung cấp các
dịch vụ có tính khả thi và rút ngắn khoảng cách giữa lý thuyết và thực tiễn.
Khi thực hiện nhiệm vụ này thì tay nghề của nhân viên công tác xã hội và
những người nghiên cứu trong lĩnh vực này ngày càng nâng lên.
1.4.3. Nhiệm vụ nghiên cứu ứng dụng
Nhân viên công tác xã hội có nhiệm vụ nghiên cứu ứng dụng khoa học
vào cuộc sống. Nghiên cứu ứng dụng hướng tới việc đề ra các giải pháp vận
dụng những khái niệm, lý thuyết, phương pháp can thiệp giải quyết vấn đề
trong hoạt động thực tiễn.
Đòi hỏi nhân viên công tác xã hội phải nhanh chóng ứng dụng các kiến
thức, kỹ năng, phương pháp làm việc trong công tác xã hội đối với người cao
tuổi dựa trên nhu cầu, điều kiện sống thực tế của người cao tuổi.
Tích cực nghiên cứu các đề tài khoa học về công tác xã hội đối với người
cao tuổi ở các khu vực, các nhóm độ tuổi, các hoàn cảnh khác nhau để góp
phần hoàn thiện về lý luận và thực nghiệm.
1.5. Những phẩm chất đạo đức và nguyên tắc cơ bản khi nhân viên công
tác xã hội tiếp xúc với người cao tuổi
1.5.1. Những phẩm chất đạo đức
Đạo đức là một trong những hình thái ý thức xã hội, một chế định xã
hội thực hiện chức năng điều chỉnh hành vi của con người trong mọi lĩnh vực
xã hội. Trong đạo đức, sự cần thiết xã hội, những nhu cầu lợi ích của xã hội
hoặc của giai cấp biểu hiện dưới hình thức những quy định và những sự đánh
giá đã được mọi người thừa nhận và hình thành một cách tự phát, được củng
cố bằng sức mạnh và tấm gương của quần chúng của thói quen, phong tục.
17


Cũng như mọi ngành nghề tồn tại trong xã hội, đặc biệt là những nghề
có mối liên hệ xã hội sâu rộng, công tác xã hội cần thiết phải xây dựng các
tiêu chuẩn đạo đức của mình. Các tiêu chuẩn đạo đức (hay còn gọi là các chế
định đạo đức) có thể tồn tại ở dạng thành văn, được công bố chính thức và
rộng rãi trong toàn xã hội, cũng có thể chỉ tồn tại dưới dạng những quy ước
ngầm thông qua các hành vi ứng xử và sự chấp nhận trong cộng đồng. Nhưng
dù tồn tại dưới dạng nào thì những tiêu chuẩn đó vẫn phải phản ánh mức độ
chuyên nghiệp hóa của nghề nghiệp và thể hiện được mong muốn của xã hội
đối với nghề. Tính chuyên nghiệp và ảnh hưởng xã hội của nghề càng cao thì
yêu cầu về sự chuẩn hóa càng lớn. Do vậy, một nghề cụ thể khi phát triển đến
một trình độ nhất định bao giờ cũng phải xây dựng cho mình những bảng tiêu
chuẩn nghề nghiệp cụ thể. Trong đó, tiêu chuẩn đạo đức nghề luôn được đặt
lên hàng đầu.
Trong thời điểm hiện nay, khi công tác xã hội ở nước ta đang bắt đầu
những bước đi đầu tiên, vấn đề đạo đức nghề nghiệp cần phải được nhận thức
một cách đầy đủ hơn bao giờ hết. Đạo đức trong công tác xã hội hay nói cách
khác, các chế định đạo đức của công tác xã hội bao gồm một hệ thống các giá
trị, nguyên tắc và một tập hợp các chuẩn mực hành vi. Chúng được sắp xếp
theo ba cấp độ trong các văn bản quy định về đạo đức của các hội nghề
nghiệp công tác xã hội ở các quốc gia. Trong đó, hệ thống các điều khoản quy
định các chuẩn mực hành vi đạo đức thường được nói tới nhiều hơn cả.
1.5.2. Nguyên tắc cơ bản khi nhân viên công tác xã hội tiếp xúc với người
cao tuổi
Có thể nêu lên bốn nguyên tắc cơ bản như sau:
- Nguyên tắc thứ nhất: Hoạt động vì phúc lợi và hạnh phúc của người
cao tuổi và xã hội là quan trọng nhất. Theo đó, công tác xã hội tính về hiệu
quả kinh tế, tài chính sẽ không đặt lên hàng đầu.
18


- Nguyên tắc thứ hai: Liên qua đến bản chất của mối quan hệ giữa người
làm công tác xã hội với đối tượng cần giúp đỡ, mà nói gọn lại là đảm bảo mối
quan hệ qua lại, bình đẳng và công bằng giữa hai bên. Nguyên tắc này được cụ
thể hóa thành nhiều phương châm xử thế: Tôn trọng đối tượng, chấp nhận trạng
thái hiện có của đối tượng, bảo đảm quyền tự quyết… Nguyên tắc này cũng giúp
ta phân biệt công tác xã hội với các hoạt động từ thiện.
- Nguyên tắc thứ ba: Liên quan đến nền tảng triết học của công tác xã
hội, tạo nên giá trị tinh thần và niềm tin của họat động này. Một cách ngắn
gọn, trong công tác xã hội người ta xem:
+ Con người là giá trị tối cao, là mối quan tâm hàng đầu của xã hội,
mỗi cá nhân là một giá trị không thể thay thế.
+ Giữa cá nhân và xã hội có mối liên hệ tương hỗ và có trách nhiệm đối
với nhau.
+ Cá nhân cũng như xã hội đều có khả năng biến đổi nhưng chỉ có thể
thực hiện điều đó thông qua sự hỗ trợ lẫn nhau để cùng phát triển; người làm
công tác xã hội là “chiếc cầu nối”, là chất xúc tác trong mối liên hệ này, trong
quá trình cùng phát triển đó.
- Nguyên tắc thứ tư: Ít được đề cập trong các tài liệu nhưng không
kém phần quan trọng, đó là thái độ đối với bản thân mỗi nguyên tắc, chúng
cần được hiểu thấu như là kim chỉ nam dẫn dắt hành động nhưng không
phải là sự giáo điều, chúng được chấp nhận và thực hiện một cách sáng tạo,
thích hợp với các nền văn hóa và khung cảnh xã hội của mỗi quốc gia cũng
như địa phương.

19


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×