Tải bản đầy đủ

Hôn nhân của người dao quần chẹt hiện nay ở làng thành công, xã lãng công, huyện sông lô, tỉnh vĩnh phúc

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

HOÀNG THỊ MINH NGUYỆT

HÔN NHÂN CỦA NGƯỜI DAO QUẦN CHẸT HIỆN NAY
Ở LÀNG THÀNH CÔNG, XÃ LÃNG CÔNG,
HUYỆN SÔNG LÔ, TỈNH VĨNH PHÚC

LUẬN VĂN THẠC SĨ DÂN TỘC HỌC

HÀ NỘI - 2016


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

HOÀNG THỊ MINH NGUYỆT

HÔN NHÂN CỦA NGƯỜI DAO QUẦN CHẸT HIỆN NAY

Ở LÀNG THÀNH CÔNG, XÃ LÃNG CÔNG,
HUYỆN SÔNG LÔ, TỈNH VĨNH PHÚC

Chuyên ngành: Dân tộc học
Mã số: 60.31.03.10

LUẬN VĂN THẠC SĨ DÂN TỘC HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. PHẠM QUANG HOAN

HÀ NỘI - 2016


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi.
Nguồn dữ liệu điều tra, khảo sát thực địa và nội dung của luận văn là trung thực và
chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Tác giả luận văn

Hoàng Thị Minh Nguyệt


LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn thạc sĩ với đề tài Hôn nhân của người Dao Quần
Chẹt hiện nay ở làng Thành Công, xã Lãng Công, huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh
Phúc, tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ của các thầy cô giáo, bạn bè,
đồng nghiệp cũng như các cơ quan, tổ chức, cá nhân trên địa bàn nghiên cứu.
Trước hết, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS. Phạm
Quang Hoan, người đã trực tiếp động viên, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập
cũng như nhiệt tình hướng dẫn, chỉ bảo cho tôi để hoàn thành luận văn.
Tôi xin được gửi lời cảm ơn tới tập thể các Giáo sư, Tiến sĩ, Giảng viên
khoa Dân tộc học và Nhân học của Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn
lâm Khoa học Xã hội Việt Nam đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập.
Trân trọng cảm ơn Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam và tập thể Phòng
Giáo dục đã tạo điều kiện thuận lợi và giúp đỡ để tôi yên tâm học tập và
nghiên cứu.
Tôi xin được gửi lời cảm ơn tới toàn thể bà con người Dao ở xã Lãng
Công và Uỷ ban Nhân dân xã Lãng Công đã tận tình giúp đỡ tôi trong thời
gian điền dã và thu thập tư liệu trên địa bàn.

Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè, đồng
nghiệp luôn động viên, giúp đỡ tôi để tôi hoàn thành luận văn của mình.
Hà Nội, tháng 7 năm 2016

Hoàng Thị Minh Nguyệt


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KHÁI QUÁT VỀ NGƯỜI DAO QUẦN
CHẸT Ở LÀNG THÀNH CÔNG ................................................................ 10
1.1. Cơ sở lý thuyết ..................................................................................................... 10
1.2. Khái quát về xã Lãng Công ............................................................................... 13
1.3. Người Dao Quần Chẹt ở làng Thành Công ....................................................... 17
TiỂu kết chương 1 .......................................................................................... 29
Chương 2: ĐẶC ĐIỂM HÔN NHÂN CỦA NGƯỜI DAO QUẦN CHẸT .. 30
2.1. Quan niệm về hôn nhân ...................................................................................... 30
2.2. Tiêu chuẩn chọn vợ, chồng ................................................................................. 31
2.3. Quyền quyết định trong hôn nhân ...................................................................... 33
2.4. Tuổi kết hôn .......................................................................................................... 34
2.5. Các nguyên tắc và hình thức hôn nhân .............................................................. 36
2.6. Cư trú sau hôn nhân ............................................................................................. 39
2.7. Hôn nhân bị chi phối bởi những yếu tố vật chất ............................................... 40
2.8. Các trường hợp hôn nhân khác ........................................................................... 41
Tiểu kết chương 2 .......................................................................................... 43
Chương 3: PHONG TỤC TẬP QUÁN VÀ NGHI LỄ TRONG HÔN
NHÂN CỦA NGƯỜI DAO QUẦN CHẸT ................................................. 44
3.1. Nghi lễ trước đám cưới ....................................................................................... 44
3.2. Nghi lễ trong đám cưới ........................................................................................ 47
3.3. Lễ lại mặt (ùi mịn) ............................................................................................... 54
3.4. Bước đầu so sánh hôn nhân của người Dao Quần Chẹt ở Thành Công và Ba
Vì (Hà Nội) .................................................................................................................. 56
Tiểu kết chương 3 .......................................................................................... 59


Chương 4: BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY CÁC GIÁ TRỊ TRONG HÔN
NHÂN CỦA NGƯỜI DAO QUẦN CHẸT ................................................. 60
4.1. Đặc trưng tộc người qua hôn nhân ..................................................................... 60
4.2. Xu hướng trong hôn nhân ................................................................................... 62
4.3. Một số biến đổi trong hôn nhân .......................................................................... 63
4.4. Nguyên nhân của sự biến đổi .............................................................................. 68
4.5. Một số vấn đề đặt ra và khuyến nghị nhằm bảo tồn, phát huy các giá trị hôn
nhân .............................................................................................................................. 74
Tiểu kết chương 4 ........................................................................................... 77
KẾT LUẬN .................................................................................................... 78
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 80
PHỤ LỤC


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt

Chữ viết thường

CNH

Công nghiệp hóa

HĐH

Hiện đại hóa

HTX

Hợp tác xã

NQ

Nghị quyết

Nxb

Nhà xuất bản

PGS

Phó giáo sư

UBND

Ủy ban nhân dân

THCS

Trung học cơ sở



Trung ương

TS

Tiến sĩ

tr

Trang


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hôn nhân là thể chế xã hội kèm theo những nghi thức xác nhận quan hệ
tính giao giữa hai hay nhiều người thuộc hai giới tính khác nhau (nam, nữ),
được coi nhau là chồng vợ, quy định mối quan hệ giữa họ với nhau và giữa họ
với con cái của họ [54, tr.389]. Hôn nhân đóng vai trò quan trọng trong việc
tạo lập, bảo vệ những giá trị cốt lõi tạo nên sự bền vững của gia đình, hỗ trợ
gia đình thực hiện những chức năng cơ bản của mình.
Mỗi tộc người, mỗi nhóm địa phương (nhóm tộc người) đều có những
nét văn hóa riêng của mình. Trong đó, hôn nhân được xem như một hiện
tượng xã hội - văn hóa phản ánh đặc trưng văn hóa tộc người (nhóm tộc
người). Hôn nhân cũng chứa đựng nhiều giá trị văn hóa, đóng vai trò quan
trọng trong việc bảo tồn, trao truyền văn hóa truyền thống tộc người.
Dân tộc Dao ở Việt Nam có nhiều nhóm nhóm địa phương (nhóm tộc
người) phân bố cư trú ở nhiều vùng cảnh quan khác nhau, giữa các nhóm địa
phương có những sự khác nhau nhất định về ngôn ngữ, phong tục tập quán,
hôn nhân...
Cho đến nay, hôn nhân truyền thống cũng như những biến đổi của người
Dao ở nước ta đã được một số nhà nghiên cứu trong và ngoài nước tìm hiểu ở
các mức độ khác nhau. Tuy nhiên, đa số các tác giả tập trung nghiên cứu
những nhóm Dao có dân số đông như Dao Đỏ, Dao Tuyển, Dao Tiền, phân bố
ở các tỉnh Hà Giang, Lào Cai, Tuyên Quang, Quảng Ninh, Yên Bái…
Trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc, chỉ có nhóm Dao Quần Chẹt với trên 160
hộ gia đình cư trú ở làng Thành Công, xã Lãng Công, huyện Sông Lô. Họ
chiếm 70% dân số của làng và sống cận kề với người Việt (Kinh). Tuy nhiên,
cho đến nay vẫn chưa có công trình nghiên cứu chuyên sâu nào về hôn nhân
của người Dao Quần Chẹt tại địa bàn này.

1


Hiện nay, quá trình hội nhập kinh tế, giao lưu tiếp xúc văn hóa giữa các
tộc người đang diễn ra mạnh mẽ khiến cho văn hóa truyền thống, trong đó có
hôn nhân của dân tộc Dao nói chung, của nhóm Dao Quần Chẹt ở tỉnh Vĩnh
Phúc nói riêng, cũng biến đổi theo.
Trước những tác động của hiện đại hóa và hội nhập, Đảng và Nhà nước
đã đề ra đường lối phát triển văn hóa trong tình hình mới, đó là bảo tồn, phát
huy những giá trị văn hóa truyền thống và tiếp thu những tinh hoa văn hóa
của nhân loại, xây dựng nền văn hóa Việt Nam theo hướng dân tộc, khoa học
và đại chúng.
Trong bối cảnh nêu trên, việc nghiên cứu sâu về hôn nhân của người Dao
Quần Chẹt tại một làng cụ thể - làng Thành Công giúp chúng ta nhận diện
được những điểm chung và những nét riêng, đồng thời cũng hiểu rõ hơn sự đa
dạng văn hóa của dân tộc Dao ở Việt Nam. Việc nghiên cứu đầy đủ , có hệ
thống về hôn nhân của người Dao Quần Chẹt còn góp phần giữ gìn những giá
trị văn hóa tộc người, vừa góp phần cung cấp cơ sở khoa học cho việc hoạch
định và cụ thể hóa Luật Hôn nhân và gia đình, chính sách xã hội và chính
sách văn hóa, phù hợp với tinh thần Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm (khóa
VIII) của Ban chấp hành Trung ương Đảng Về xây dựng và phát triển nền văn
hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc và Nghị quyết Hội nghị lần
thứ chín (Khóa XI) Về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam
đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước. Nghiên cứu về hôn nhân của
người Dao Quần Chẹt còn góp phần bảo tồn và phát huy giá trị bản sắc tộc
người trong hôn nhân.
Với những lý do trên, tác giả chọn vấn đề: Hôn nhân của người Dao
Quần Chẹt hiện nay ở làng Thành Công, xã Lãng Công, huyện Sông Lô, tỉnh
Vĩnh Phúc làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình. Đây là nghiên cứu điểm nghiên cứu trường hợp đầu tiên về hôn nhân của người Dao Quần Chẹt tại địa
phương này, do đó lại càng có ý nghĩa về khoa học và giá trị thực tiễn.

2


2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
2.1. Các công trình nghiên cứu về người Dao ở Việt Nam
Trong thời kỳ thực dân Pháp cai trị, có ít học giả nước ngoài (chủ yếu là
người Pháp) đã để tâm nghiên cứu và công bố một số công trình về người
Dao được nhiều người biết đến như Bonifacy Augustevới các tác phẩm: Một
cuộc công cán ở vùng người Mán từ tháng 10 năm 1901 đến cuối tháng giêng
năm 1902; Giản chí về người Mán quần cộc; Giản chí về người Mán Cao Lan
đăng trên tạp chí BEFEO của Trường Viễn Đông Bác Cổ năm 1902. Các bài
viết này thường đề cập đến sinh hoạt hàng ngày, tâm lý, tập quán văn hoá của
người Dao nhằm phục vụ cho mục đích cai trị của thực dân Pháp.
Khi nói tới các công trình về người Dao ở Việt Nam của các tác giả
trong nước, trước hết phải kể đến tác phẩm Kiến văn tiểu lục của nhà bác học
Lê Quý Đôn (1726-1784). Trong công trình này, Lê Quý Đôn không chỉ giới
thiệu các ngành Dao mà còn trình bày khá chi tiết về phong tục tâp quán, địa
bàn cư trú của họ.
Từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến nay, các công trình nghiên
cứu về người Dao xuất hiện ngày càng nhiều, trong đó, đáng chú ý là công
trình Người Dao ở Việt Nam của nhóm tác giả Bế Viết Đẳng, Nguyễn Khắc
Tụng, Nông Trung, Nguyễn Nam Tiến (1971). Đây là khảo cứu tổng thể về
dân tộc Dao, đã đề cập khái quát về dân số, nguồn gốc lịch sử, phân loại c
ác ngành Dao, các hình thái kinh tế, phong tục tập quán, tôn giáo, tín ngưỡng,
văn học nghệ thuật, tri thức dân gian cũng như những đổi mới trong đời sống
sinh hoạt của dân tộc Dao từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945. Ở khía
cạnh hôn nhân và gia đình, nhóm tác giả đã giới thiệu khá chi tiết về dòng họ,
quy mô gia đình, quan hệ giữa các thành viên trong gia đình, tính chất hôn
nhân, hình thái cư trú sau hôn nhân... của người Dao ở nước ta.
Cũng với tiêu đề Người Dao ở Việt Nam, công trình của tác giả Vũ Quốc
Khánh lại có cái nhìn khái quát về đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội cũng như
các nghi lễ quan trọng trong đời sống của cộng đồng người Dao.
3


Nghiên cứu về người Dao còn phải kể đến những công trình của Phan
Hữu Dật, Hoàng Hoa Toàn về Xác minh tên gọi và phân nhóm các ngành Dao
ở Tuyên Quang (1971), Nguyễn Khắc Tụng về Vấn đề phân loại các nhóm
Dao ở Việt Nam (1995).
Năm 1995, Hội thảo Quốc tế lần thứ VII với tiêu đề Sự phát triển văn
hóa xã hội của người Dao: Hiện tại và tương lai, được tổ chức tại Thái
Nguyên. Kỷ yếu Hội thảo đã tập hợp những bài viết của các học giả Việt Nam
và quốc tế đề cập đến các khía cạnh khác nhau trong đời sống của người Dao
ở Việt Nam cũng như ở một số nước trên thế giới như: phân loại nhóm Dao,
tình hình dân số, vấn đề giới, các vấn đề về văn hoá vật thể và phi vật thể...
Về nhà ở và trang phục của người Dao, trước hết là công trình nghiên
cứu của Nguyễn Khắc Tụng: Nhà ở của người Dao, xưa và nay (1996), của
Lê Ngọc Thắng: Nữ phục Dao ở Việt Nam- phong cách và cá tính (1990), của
Phạm Minh Phúc: Nhà ở của người Dao Áo Dài ở Hà Giang (2014)…
Về tôn giáo, tín ngưỡng, đáng chú ý là công trình Thầy cúng trong văn
hoá tín ngưỡng của người Dao Họ (2014) của Phạm Văn Dương. Trong công
trình nghiên cứu công phu này, tác giả đã không chỉ mô tả rất cụ thể các hình
thức thờ cúng, các nghi lễ hiện hành cũng như sự biến đổi của chúng mà còn
có những phân tích khá sâu sắc về vai trò của thầy cúng trong đời sống xã hội
của người Dao Họ ở tỉnh Lào Cai.
2.2. Các công trình nghiên cứu về hôn nhân và gia đình của người Dao
và người Dao Quần Chẹt
Hầu như trong các công trình khảo cứu chung về dân tộc Dao hoặc về
một nhóm địa phương đều có đề cập đến vấn đề hôn nhân và gia đình; ngoài
ra, có một số chuyên khảo về đề tài này.
Tạp chí Dân tộc học số 2 (2008) đăng bài của Vũ Tuyết Lan về những biến
đổi trong quan niệm hôn nhân của người Dao Quần Chẹt ở xóm Mạ, xã Tu Lý,
huyện Đà Bắc, tỉnh Hoà Bình. Tại Hội nghị Thông báo Dân tộc học năm 2005,
Vũ Tuyết Lan cũng cho người đọc thấy rõ những nghi lễ hôn nhân xưa và nay
của người Dao Quần Chẹt ở xã Yên Đơn, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ.
4


Trong công trình Lễ cưới của người Dao Tuyển ở Lào Cai (2001), tác giả
Trần Hữu Sơn đã phác họa khái quát về người Dao Tuyển ở vùng núi phía Bắc
và những nghi lễ trong hôn nhân của họ. Tác phẩm Văn hóa truyền thống của
người Dao ở Hà Giang do Phạm Quang Hoan và Đình Hùng Quý đồng chủ
biên (1999), cung cấp những thông tin quý báu về các hình thức kết hôn, nghi
lễ đám cưới và tập quán sinh đẻ của hai nhóm Dao Đỏ và Dao Áo Dài để làm
nổi bật nét văn hoá đặc thù riêng của mỗi nhóm Dao. Công trình Văn hóa các
tộc người vùng lòng hồ và vùng tái định cư thủy điện Sơn La do Phạm Quang
Hoan chủ biên (2012), cũng cho thấy những nguyên tắc và tập quán hôn nhân,
quan hệ gia đình của người Dao ở vùng lòng hồ thủy điện Sơn La thuộc huyện
Mường Tè, tỉnh Lai Châu …. Chuyên khảo về Người Dao Quần Chẹt ở miền
núi và Trung du Bắc Bộ (2015) do Nguyễn Ngọc Thanh chủ biên, cung cấp
những thông tin có giá trị về đời sống kinh tế, dòng họ, nhà cửa, các nghi lễ
trong hôn nhân của người Dao Quần Chẹt. Ngoài ra, còn có luận văn thạc sỹ
với tiêu đề Biến đổi trong hôn nhân và ảnh hưởng của nó tới văn hóa gia đình
người Dao Quần Chẹt ở xã Ba Vì, huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây của Vũ Thị Uyên
(2008); khóa luận tốt nghiệp cử nhân Hôn nhân của người Dao Tiền ở xã Hiền
Lương, huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình của Nguyễn Đức Trị (2014)...
Như vậy, cho đến nay, mặc dù đã có nhiều nghiên cứu về dân tộc Dao và
văn hóa của một số nhóm Dao, tuy nhiên chưa có tác giả nào đi sâu nghiên
cứu về hôn nhân của nhóm Dao Quần Chẹt ở Việt Nam nói chung và ở Vĩnh
phúc nói riêng. Tác giả luận văn là người đầu tiên nghiên cứu về hôn nhân
hiện nay của người Dao Quần Chẹt ở làng Thành Công, xã Lãng Công, huyện
Sông lô, tỉnh Vĩnh Phúc.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
- Trình bày có hệ thống bức tranh về hôn nhân của người Dao Quần
Chẹt ở làng Thành Công, góp phần làm rõ đặc điểm văn hóa trong hôn nhân
của một nhóm địa phương ở dân tộc Dao.
5


- Chỉ ra những yếu tố ảnh hưởng đến hôn nhân của người Dao Quần
Chẹt ở làng Thành Công.
- Đưa ra một số khuyến nghị nhằm góp phần bảo tồn và phát huy các
giá trị văn hóa truyền thống trong hôn nhân của người Dao Quần Chẹt.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Luận văn tập trung nghiên cứu những quan niệm, nguyên tắc, hình
thức, các bước thực hành trong nghi lễ hôn nhân, vấn đề cư trú sau hôn nhân...
của người Dao Quần Chẹt.
- Nghiên cứu những biến đổi trong hôn nhân hiện nay và các yếu tố tác
động đến sự biến đổi này ở người Dao Quần Chẹt.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là hôn nhân của người Dao Quần
Chẹt ở làng Thành Công, huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh phúc. Nội dung chính của
luận văn tập trung làm rõ một số đặc điểm về hôn nhân của người Dao Quần
Chẹt, thể hiện qua quan niệm về hôn nhân, nguyên tắc kết hôn, hình thức,
nghi lễ trong hôn nhân, những biến đổi và xu hướng của hôn nhân cũng như
nguyên nhân dẫn đến sự biến đổi đó.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Không gian nghiên cứu: Địa bàn nghiên chính là làng Thành Công, xã
Lãng Công, huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc, nơi đây tập trung cư trú của
người Dao Quần Chẹt.
Thời gian nghiên cứu: Luận văn giới hạn phạm vi nghiên cứu từ đổi
mới (năm 1986) đến nay. Đó là khoảng thời gian mà tỉnh Vĩnh Phúc nói
chung, làng Thành Công thuộc huyện Sông Lô nói riêng có những bước phát
triển mới, có sự biến đổi sâu sắc về kinh tế - xã hội và văn hóa. Hôn nhân của
người Dao Quần Chẹt vừa bảo lưu tính truyền thống, vừa có những biến đổi
dưới ảnh hưởng của các yếu tố chính trị, kinh tế - xã hội.

6


5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở phương pháp luận
Nghiên cứu hôn nhân của người Dao Quần Chẹt ở tỉnh Vĩnh phúc chủ
yếu dựa trên cơ sở lý luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa
Mác - Lênin để nhận diện, trình bày và phân tích đối tương nghiên cứu trong
sự vận động, biến đổi từ truyền thống đến hiện nay trong bối cảnh của người
Dao Quần Chẹt ở làng Thành Công, cũng như trong quá trình giao lưu, tiếp
biến văn hóa, hội nhập và toàn cầu hóa. Luận văn cũng dựa trên quan điểm của
Đảng và Nhà nước ta về vấn đề hôn nhân và gia đình, về bảo tồn và phát huy
các giá trị văn hóa tộc người trong phát triển.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài luận văn này, tác giả sử dụng các phương pháp
nghiên cứu sau:
- Phương pháp tổng hợp và phân tích tài liệu có sẵn: Tác giả đã đọc
các công trình nghiên cứu về dân tộc Dao, trong đó có nhóm Dao Quần Chẹt
ở Vĩnh Phúc. Các nghiên cứu này được in thành sách, các bài báo đăng trên
tạp chí chuyên ngành, luận án, luận văn, báo cáo tập sự, báo cáo khoa học tại
các hội nghị, hội thảo, trong đó có đề cập đến hôn nhân và gia đình của người
Dao nói chung, nhóm Dao Quần Chẹt nói riêng. Ngoài ra, các tài liệu thứ cấp
như báo cáo, số liệu về dân số, dân tộc, niên giám thống kê liên quan đến
người Dao cũng được tác giả lưu tâm và tham khảo phục vụ cho nội dung
nghiên cứu của luận văn.
- Phương pháp điền dã dân tộc học: Đây là phương pháp chủ đạo được
tác giả sử dụng để thu thập tư liệu, thông tin cho luận văn, với các thao tác kỹ
thuật như sau:
+ Quan sát tham dự: Việc quan sát được thực hiện trong suốt quá trình
nghiên cứu tại thực địa tại làng Thành Công, giúp tác giả dễ hòa nhập với
người dân và cộng đồng, hiểu được sâu sắc hơn về văn hóa và hôn nhân của
người Dao Quần Chẹt tại địa bàn nghiên cứu.
7


+ Phỏng vấn sâu: Công cụ này đã được tác giả luận văn áp dụng cho
nhiều đối tượng là người Dao Quần Chẹt ở làng Thành Công. Người được
phỏng vấn sâu khác nhau về giới tính, độ tuổi, nghề nghiệp và địa vị xã hội.
Trong đó, đối tượng được tác giả quan tâm nhiều hơn là những người cao
tuổi, minh mẫn, am hiểu phong tục tập quán, những người làm thầy cúng, mai
mối và gia đình hai bên cô dâu, chú rể. Ngoài ra, tác giả còn phỏng vấn những
người trẻ tuổi để tìm hiểu quan niệm của họ về lựa chọn người bạn đời, đồng
thời thấy được xu hướng biến đổi trong hôn nhân của người Dao Quần Chẹt ở
làng Thành Công hiện nay.
+ Thảo luận nhóm để nhận được những nhận định, đánh giá về giá trị truyền
thống và biến đổi trong hôn nhân, cũng như các yếu tố có ảnh hưởng đến việc lựa
chọn người bạn đời cho cuộc sống gia đình người Dao Quần Chẹt hiện nay.
+ Trong thời gian điền dã tại làng Thành Công, tác giả luận văn đã tiến
hành quay phim, chụp ảnh, được tham dự đầy đủ một đám cưới của người
Dao Quần Chet, nhờ vậy đã thu thập được những tư liệu thực tế cập nhật liên
quan đến các nội dung cụ thể phục vụ cho làm sáng tỏ các nhiệm vụ nghiên
cứu đặt ra.
- Phương pháp so sánh
Tác giả đã bước đầu so sánh hôn nhân của người Dao Quần Chẹt ở làng
Thành Công và Ba Vì (Hà Nội) nhằm tìm ra sự tương đồng và khác biệt trong
nghi lễ hôn nhân của người Dao Quần Chẹt tại hai địa phương.
- Phương pháp hồi cố: Thực hiện phương pháp này, tác giả đã gặp gỡ,
trao đổi và phỏng vấn một số người Dao Quần Chẹt lớn tuổi, các thầy cúng,
trưởng họ… nhằm thu thập tư liệu để hồi cố lại lịch sử lập làng Thành Công,
quá trình di cư của người Dao Quần Chẹt đến làng này, cũng như những thay
đổi đã và đang diễn ra trong hôn nhân của họ so với truyền thống.
Ngoài ra, tác giả luận văn còn sử dụng phương pháp chuyên gia, phân
tích, tổng hợp trong quá trình thực hiện luận văn.

8


5.3. Nguồn tư liệu của luận văn
Nguồn tư liệu chủ yếu để hoàn thành luận văn là các tư liệu điền dã do
chính tác giả thu thập được trong các đợt khảo sát, nghiên cứu vào năm 2015
tại làng Thành Công, xã Lãng Công , huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc. Ngoài
ra, tác giả còn tham khảo và kế thừa các nguồn tài liệu đã công bố, kết quả
nghiên cứu của các tác giả đi trước, đồng thời cũng sử dụng các nguồn tài liệu
lưu trữ ở địa phương.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Luận văn là nghiên cứu chuyên sâu đầu tiên, có hệ thống dưới góc độ
Dân tộc học về hôn nhân hiện nay của người Dao Quần Chẹt ở làng Thành
Công, xã Lãng Công, huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc. Qua đó giúp người đọc
thấy rõ một số nét đặc trưng văn hóa của nhóm Dao quần Chẹt và sự đa dạng
văn hóa của tộc người Dao ở nước ta.
Luận văn cung cấp thêm những thông tin, tư liệu mới về hôn nhân của
người Dao Quần Chẹt làm cơ sở khoa học cho việc xây dựng và cụ thể hóa
chính sách bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa tộc người cũng như thực hiện
Luật Hôn nhân và gia đình hiện ở nhóm Dao Quần Chẹt hiện nay.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận văn
được kết cấu thành 4 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và khái quát về người Dao Quần Chẹt ở làng
Thành Công
Chương 2: Đặc điểm hôn nhân của người Dao quần Chẹt
Chương 3: Phong tục tập quán và nghi lễ trong hôn nhân của người
Dao Quần Chẹt
Chương 4: Bảo tồn và phát huy các giá trị hôn nhân của người Dao
Quần Chẹt

9


Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KHÁI QUÁT VỀ NGƯỜI DAO QUẦN CHẸT
Ở LÀNG THÀNH CÔNG
1.1. Cơ sở lý thuyết
1.1.1 Một số khái niệm công cụ
Trong phạm vi nghiên cứu được xác định, luận văn đã làm rõ nội hàm
một số khái niệm liên quan, như: Hôn nhân, nội hôn tộc người, ngoại hôn
dòng họ, hôn nhân hỗn hợp dân tộc, nghi lễ hôn nhân, truyền thống, biến đổi.
- Hôn nhân
Theo Từ điển Nhân học, “Hôn nhân là mối quan hệ gắn bó được thừa
nhận về mặt xã hội giữa một người đàn ông và một người đàn bà nhằm mục
đích duy trì nòi giống một cách hợp pháp lập gia đình hạt nhân mới hoặc
nhằm tạo ra hộ gia đình mới” [55, tr.519]. Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam,
"Hôn nhân là một thể chế xã hội kèm theo nghi thức xác nhận quan hệ tính
giao giữa hai hay nhiều người thuộc hai giới tính khác nhau (nam, nữ) được
coi nhau là chồng và vợ, quy định mối quan hệ và trách nhiệm giữa họ với
nhau và giữa họ với con cái của họ. Sự xác nhận đó, trong quá trình phát triển
của xã hội, dần dần mang thêm những yếu tố mới". [54, tr.389-390].
Khi nghiên cứu về hôn nhân, Emily A. Schultz và Robobert H. Lavenda
cho rằng: "Hôn nhân là một quá trình xã hội mà mô hình mẫu của nó là sự kết
hợp giữa một người đàn ông và một người đàn bà, là một sự kiện làm biến đổi
những thành viên của nó, làm thay đổi quan hệ giữa những người thân thuộc
của mỗi bên và những khuôn mẫu xã hội thông qua việc sinh đẻ cùng với một
số quyền lợi và nghĩa vụ đi kèm". Theo hai tác giả này, hôn nhân cũng tạo
nên tính hợp pháp của con cái do người vợ sinh ra và thiết lập các mối quan
hệ giữa họ hàng bên vợ và họ hàng bên chồng.
Luật Hôn nhân và Gia đình của Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt
Nam ghi rằng: "Hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi đã kết hôn".
10


Đồng thời, Lụât này cũng định nghĩa "Tập quán về hôn nhân và gia đình là
quy tắc xử sự có nội dung rõ ràng về quyền, nghĩa vụ của các bên trong quan
hệ hôn nhân và gia đình, được lặp đi lặp lại trong một thời gian dài và được
thừa nhận rộng rãi trong một vùng, miền hoặc cộng đồng. Kết hôn là việc
nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng với nhau theo quy định của Luật này về
điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn" [39, mục 1,4,5; điều 3].
Nội hàm của hôn nhân còn bao gồm các quan niệm và nguyên tắc hôn
nhân, hình thức hôn nhân, nguyên tắc và hình thức cư trú sau hôn nhân. Vì
vậy, trong nghiên cứu này, tác giả luận văn cũng tìm hiểu một số khái niệm
khác liên quan đến hôn nhân để thấy được bản sắc tộc người của người Dao
Quần Chẹt nói riêng và của người Dao nói chung.
- Ngoại hôn dòng họ: Đó là những quy tắc kết hôn ngoài dòng họ được
luật tục hay tập quán quy định.
- Nội hôn tộc người: Là quy tắc chỉ kết hôn với người đồng tộc hay cùng
một nhóm tộc người ( nhóm địa phương) vói mình.
- Hôn nhân hỗn hợp dân tộc: Là chỉ sự kết hôn giữa hai người không
cùng một dân tộc.
- Nghi lễ hôn nhân: Nghi lễ hôn nhân được hiểu là các nghi lễ diễn ra
theo tập quán hoặc theo quy định của cộng đồng trong mỗi cuộc hôn nhân. Để
tiến đến hôn nhân cũng như để hoàn tất cuộc hôn nhân, đôi trai gái và hai bên
gia đình của họ phải thực hiện những nghi lễ nhất định theo quy định mang
tính tập quán của một tộc người cũng như của địa phương của họ. Nghi lễ
hôn nhân nhằm mục đích đảm bảo sự chứng kiến và công nhận của cộng đồng
và gia đình, ngoài ra nó còn chứa đựng một số yếu tố tâm linh.
- Truyền thống: Truyền thống được hiểu là thói quen được hình thành
đã từ lâu trong lối sống và nếp nghĩ của mỗi cá nhân hay một cộng đồng và
được trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.
- Biến đổi: Là sự thay đổi thành khác trước hoặc sự thay đổi, điều thay
đổi khác với trước. Cũng như các yếu tố văn hóa khác, hôn nhân không phải
11


là bất biến, mà nó luôn luôn vận động, thích hợp với hoàn cảnh và yêu cầu
của thực tiễn.
1.1.2. Cơ sở lý thuyết
Trong luận văn này, tác giả sử dụng một số quan điểm lý thuyết của
Dân tộc học/ Nhân học làm cơ sở cho việc phân tích và nhận định, đó là:
- Lý thuyết bản sắc văn hóa tộc người: Bản sắc tộc người là tổng thể
những yếu tố vật chất và tinh thần mang tính đặc trưng và đặc thù của một tộc
người, giúp phân biệt tộc người này với tộc người khác, và giữa các nhóm
khác nhau của cùng một tộc người. Bản sắc tộc người được hình thành lâu dài
trong lịch sử, gắn liền với hoàn cảnh kinh tế, xã hội và môi trường tự nhiên
của tộc người. Bản sắc tộc người có sức sống lâu bền, ngay cả khi đời sống
của tộc người đã có những thay đổi mạnh mẽ. Bản sắc tộc người còn thể hiện
bản lĩnh của tộc người. Vì vậy áp dụng lý thuyết bản sắc văn hóa tộc người
giúp tác giả luận văn nhận diện được rõ những sắc thái riêng trong hôn nhân
của người Dao Quần Chẹt ở làng Thành Công.
- Lý thuyết giao lưu, tiếp biến văn hóa: Lý thuyết này được trường phái
Nhân học Anglo - Saxon đưa ra vào cuối thế kỷ XIX để chỉ sự tiếp xúc trực
tiếp và lâu dài giữa hai nền văn hóa khác nhau và hậu quả của sự tiếp xúc đó
là sự thay đổi hay biến đổi của một số loại hình văn hóa ở cả hai nền văn hóa.
Theo các nhà Nhân học Mỹ, giao lưu tiếp biến văn hóa là quá trình trong đó
một nền văn hóa thích nghi, ảnh hưởng bởi một nền văn hóa khác bằng cách
vay mượn nhiều nét đặc trưng. Sự giao lưu, tiếp biến văn hóa cũng là một cơ
chế khác của biến đổi văn hóa, đó là sự trao đổi những đặc tính văn hóa nảy
sinh khi các cộng đồng tiếp xúc trực diện và liên tục. Các thành tố của nền
văn hóa tuy có biến đổi, song mỗi nền văn hóa vẫn giữ tính riêng biệt của
mình… Tiếp biến văn hóa còn được hiểu là quá trình biến đổi văn hóa diễn ra
do sự tiếp xúc của hai hệ thống văn hóa riêng rẽ mà kết quả làm cho chúng
ngày càng trở nên giống nhau hơn.

12


Như vậy, lý thuyết về giao lưu, tiếp biến văn hóa cho thấy biến đổi là
quá trình tất yếu của mọi sự vật và hiện tượng, trong đó bao gồm cả văn hóa
tộc người nói chung và hôn nhân nói riêng. Ngày nay, dưới sự tác động của
quá trình phát triển, hiện đại hóa, toàn cầu hóa và xu hướng hội nhập đang
diễn ra mạnh mẽ thì sự giao lưu, biến đổi văn hóa của các tộc người, trong đó
có hôn nhân của người Dao Quần Chẹt là không tránh khỏi. Do đó, khi nghiên
cứu văn hóa tộc người, trong đó có các quan niệm, nguyên tắc, đặc điểm và
các nghi lễ trong hôn nhân của người Dao Quần Chẹt ở làng Thành Công, tác
giả luận văn không thể chỉ xem xét vấn đề này một cách biệt lập hay trong
trạng thái tĩnh, mà luôn đặt chúng trong trạng thái động, trong quá trình biến
đổi, tiếp biến.
- Lý thuyết về nghi lễ chuyển đổi: Là nghi lễ đánh dấu sự thay đổi địa vị
xã hội của con người do nhà dân tộc học người Pháp Arnold Van Gennep
(1873-1975) đưa ra vào thế kỷ XX. Nghi lễ chuyển đổi thường đi kèm với
những nghi lễ xung quanh những sự kiện liên quan đến đời người như việc ra
đời của đứa trẻ, tuổi vào đời, hôn lễ, thượng thọ. Tác giả luận văn đã vận
dụng lý thuyết về nghi lễ chuyển đổi để nghiên cứu việc thực hành các nghi lễ
hôn nhân của người Dao Quần Chẹt ở làng Thành Công.
1.2. Khái quát về xã Lãng Công.
1.2.1. Điều kiện tự nhiên
Xã Lãng Công tiếp giáp với huyện Sơn Dương (tỉnh Tuyên Quang) và
với xã Quang Yên cùng huyện Sông Lô ở phía Bắc; phía Đông tiếp giáp các
xã Quang Sơn, Ngọc Mỹ của huyện Lập Thạch; phía Nam tiếp giáp các xã
Đồng Quế, Nhân Đạo, phía Tây tiếp giáp xã Hải Lựu. Địa hình của xã Lãng
Công khá phức tạp, phía Tây là vùng gồi đò nhấp nhô, phía Đông là dãy núi
Sáng trùng điệp, chạy dọc giữa xã là những cánh đồng ruộng bậc thang, thuận
lợi cho việc trồng trọt của nhân dân.
Địa bàn của xã Lãng Công trải từ Bắc xuống Nam dài trên 4km và từ
Đông sang Tây hơn 5km, với tổng diện tích tự nhiên là 2053,3ha, trong đó,
13


đất nông nghiệp 317,23 ha, đất lâm nghiệp 1,235,7 ha, còn lại là đất chuyên
dùng và đất ở.
1.2.2. Quá trình hình thành xã Lãng Công
Trước cách mạng tháng Tám năm 1945, phần đất của xã Lãng Công
ngày nay nằm trong địa phận của tổng Nhân Mục, huyện Lập Thạch, tỉnh
Vĩnh Yên. Tổng Nhân Mục có 7 làng: Đôn Mục, Khoan Bộ, Lãng Sơn, Nhân
Mục, Nhân Lạc, Phương Ngạc và Đạo Nội. Sau cách mạng tháng Tám, đơn vị
hành chính cấp tổng được xóa bỏ và nhiều xã mới được hình thành. Xã Lãng
Công được thành lập trên cơ sở làng Lãng Sơn, xóm Thành Công và hai làng
Nhân Lạc, Đạo Nội (nay là hai làng thuộc xã Nhân Đạo) thuộc huyện Lập
Thạch, tỉnh Vĩnh Yên. Tên gọi Lãng Công được hình thành trên cơ sở ghép
một thành tố của tên làng Lãng Sơn với thành tố của tên xóm Thành Công.
Thực hiện Nghị định số 09-NĐ/CP ngày 23/12/2008 của Chính phủ về
việc điều chỉnh địa giới hành chính huyện Lập Thạch, huyện Sông Lô được
chính thức thành lập ngày 01 tháng 4 năm 2009 với 17 xã và thị trấn, trong đó
có xã Lãng Công [5, tr. 10].
1.2.3. Dân số và dân tộc
Theo số liệu của UBND xã, năm 2009 Lãng Công có 1.461 hộ với
6.389 nhân khẩu sinh sống ở 10 thôn. Khác với đặc điểm dân cư ở các địa
phương khác trong huyện Sông Lô chỉ thuần nhất người Kinh, xã Lãng Công
hiện nay có 2 dân tộc cùng sinh sống đó là dân tộc Kinh và Dao (dân tộc Dao
chiếm tỷ lệ 8 % dân số toàn xã, cư trú tập trung ở làng Thành Công).
Được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, năm 1985 UBND tỉnh Vĩnh
Phúc đã cho khởi công xây dựng hồ Suối Sải, sau gần hai năm thi công đến
năm 1986 công trình thuỷ lợi này đã chính thức cung cấp nước tưới phục vụ
sản xuất nông nghiệp cho hơn 200 ha diện tích lúa, màu của xã Lãng Công và
4 xã lân cận (Quảng Yên, Hải Lựu, Nhân Đạo và Phương Khoan). Nhờ đó,
nhân dân Lãng Công đã chuyển sang trồng hai vụ lúa và một vụ cây màu,

14


tăng diện tích sử dụng lên từ 2,3 đến 2,5 lần và tăng tổng sản lượng từ 15 đến
30 tấn thóc/năm.
Trồng trọt phát triển đã tạo điều kiện cho chăn nuôi gia đình phát triển.
Chăn nuôi gà, lợn, vịt, ngan, trâu, bò, dê… vẫn được các gia đình duy trì để
phục vụ cải thiện bữa ăn của gia đình và đặc biệt trong các nghi lễ đám cưới,
đám ma, cấp sắc… Trong 5 năm qua, phong trào chăn nuôi ở địa phương cơ
bản vẫn được phát triển tốt, có nhiều mô hình chăn nuôi gia đình theo hướng
sản xuất hàng hoá cho hiệu quả kinh tế cao. Tỷ trọng thu từ chăn nuôi trong
tổng giá trị thu nhập từ sản xuất nông nghiệp hàng năm vẫn đạt khá (năm
2010 là 55,3%; năm 2013 là 61,3%, năm 2014 là 63,7%) vượt chỉ tiêu đã
được Đại hội nhiệm kỳ đề ra.
Cùng với sự phát triển của trồng trọt, chăn nuôi, các ngành nghề khác
mở ra trước đây cũng được duy trì và phát triển có chiều hướng gia tăng rõ rệt
như: sản xuất gạch, ngói đã thu hút nhiều lao động tham gia và đáp ứng nhu
cầu xây dựng cơ sở hạ tầng ngày càng tăng của địa phương.
Các cấp uỷ Đảng và chính quyền thường xuyên chỉ đạo phát triển kinh
tế địa phương bằng cách áp dựng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất,
các giống cây có năng suất, chất lượng cao. Năng suất lúa bình quân hàng
năm đều vượt kế hoạch đề ra: năm 2010 là 51,4 tạ/ha/vụ; năm 2011 đạt 54,16
tạ/ha/vụ; năm 2012 đạt 56,94 tạ/ha/vụ; năm 2014 đạt 57,67 tạ/ha/vụ. Trong
đó, có những giống lúa cho năng suất, chất lượng cao như BC15 có vụ cho
năng suất bình quân lên tới 69,9 tạ/ha/vụ.
Thu nhập từ kinh tế rừng, vườn đồi của xã cũng có sự tăng trưởng rõ
rệt, cụ thể năm 2010 tổng thu đạt 2,889 tỷ đồng; năm 2012 là 3,4 tỷ đồng,
năm 2013 là 4,756 tỷ đồng.
Chính quyền xã cũng quan tâm đầu tư về hoạt động tiểu thủ công
nghiệp và giải quyết việc làm cho nhân dân. Một số ngành hoạt động ổn định
và cho thu nhập khá như: kinh doanh vận tải, kinh doanh đồ gỗ gia dụng cao
cấp, hàng điện tử, điện lạnh, xăng dầu, vật liệu xây dựng…
15


Hiện nay trên địa bàn xã có một đơn vị kinh tế tập thể là HTX dịch vụ
điện vẫn luôn duy trì hoạt động ổn định. Trong 5 năm qua, xã đã đề nghị Nhà
nước đầu tư kinh phí xây dựng bổ sung thêm 4 trạm biến áp, cải tạo, nâng cấp
và phát triển mới hệ thống lưới hạ thế với trị giá trên 10 tỷ đồng. Vì vậy, nhu
cầu sản xuất và điều kiện sinh hoạt của nhân dân đã được đáp ứng ngày càng
tốt hơn.
Ngoài ra, xã thường xuyên có 90 -110 lao động của địa phương tham
gia lao động xuất khẩu ở nước ngoài, 700 - 950 người đi làm việc ổn định ở
các khu công nghiệp trong nước, 250 - 300 người đi lao động theo thời vụ đã
tạo ra nguồn thu nhập đáng kể, hàng năm chiếm tỷ trọng bình quân khoảng
24,8% trong tổng giá trị thu nhập, góp phần tăng thu nhập cho nhân dân.
Công tác giáo dục và đào tạo được duy trì tốt, công tác khuyến dạy
khuyến học ngày càng phát triển đã góp phần không ngừng nâng cao chất
lượng, hiệu quả trong công tác dạy và học ở các trường… Xã có đội ngũ giáo
viên các trường 100% đạt chuẩn và trên chuẩn về cấp bằng đào tạo. Đặc biệt
là trường THCS Lãng Công luôn được xếp trong tốp 5 trường dẫn đầu huyện
Sông Lô. Tỷ lệ học sinh đỗ tốt nghiệp hàng năm đạt 98% trở lên. Tỷ lệ học
sinh tiếp tục vào trung học phổ thông, trung học bổ túc và các trường nghề
hàng năm đạt bình quân từ 85% trở lên. Trong 5 năm (2010-2015) đã có 174
học sinh đỗ vào các trường Đại học.
Trong nhiệm kỳ 2010 - 2015, hầu hết các chỉ tiêu đã đề ra được hoàn
thành và vượt mức Nghị quyết của Đại hội như: gía trị thu nhập đầu người
hàng năm tăng, tỷ lệ hộ nghèo đã giảm (năm 2010 bình quân lương thực đầu
người là 10,57 triệu đồng, tỷ lệ hộ nghèo là 9,18%; đến năm 2014 bình quân
thu nhập đầu người là 24,5 triệu, tỷ lệ hộ nghèo còn 3,2%. Đặc biệt chính
quyền xã Lãng Công đã lãnh đạo thực hiện tốt chương trình quốc gia về xây
dựng nông thôn mới trên địa bàn xã. Vì vậy đã góp phần giữ vững ổn định
chính trị, kinh tế - xã hội tăng trưởng và có những bước phát triển khá; quốc
phòng, an ninh được giữ vững, an sinh xã hội được đảm bảo, diện mạo nông
16


thôn ngày một đổi mới; đời sống cả về vật chất lẫn tinh thần của nhân dân
được nâng lên rõ rệt. [5, tr. 2-5].
1.3. Người Dao Quần Chẹt ở làng Thành Công
1.3.1. Nguồn gốc và lịch sử lập làng
Thành Công là một trong 10 làng của xã Lãng Công - một xã miền núi của
huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc, cách trung tâm huyện gần 10 km về phía Bắc.
Theo thống kê của xã Lãng Công, cho đến năm 2014 làng Thành Công
có 165 hộ với gần 1000 người Dao sinh sống. Họ thuộc nhóm Dao Quần
Chẹt, gồm 5 dòng họ: Dương, Triệu, Đặng, Phùng và Bàn, trong đó, các dòng
họ Dương, Triệu có nhân khẩu đông hơn cả.
Người Dao ở làng Thành Công tự nhận mình là Miền. Theo lời kể của
một số người Dao Quần Chẹt ở làng Thành Công thì người Dao ở đây có
nguồn gốc từ Quảng Đông, Trung Quốc. Tổ tiên lâu đời nhất của họ đã đến
sinh sống ở làng Thành Công hơn 100 năm trước đây. Theo Nguyễn Ngọc
Thanh và cộng sự, nguyên nhân người Dao di cư sang Việt Nam là do thiếu
đất canh tác, chiến tranh, dịch bệnh. Họ đã đến Hoành Bồ, Quảng Ninh, sinh
sống được bốn đời nhưng sau đó gặp khó khăn họ lại chuyển về Kim Bôi,
Hoà Bình được hai đời rồi cũng do thiếu đất canh tác, người Dao Quần Chẹt
lại chuyển đi và tới Thành Công và lưu lại đó cho đến ngày nay [51, tr. 19].
Người Dao ở làng Thành Công kể lại rằng, họ Dương di cư đến đây sớm nhất,
lúc đó có khoảng 5-6 gia đình, đến nay đã được 6 đời. Tiếp đến là họ Triệu và
họ Đặng. Các dòng họ đầu tiên này đã cùng nhau lập miếu thờ thần nông, thờ
thổ địa. Các cụ cho biết rằng, những miếu thờ này rất quan trọng đối với các
điểm tụ cư của người Dao Quần Chẹt vì theo tập tục, phải hội tụ ít nhất ba
dòng họ thì mới được lập miếu thờ. Dòng họ Phùng và dòng họ Bàn đến địa
phương sau cùng, vào những năm 1960. Miếu thờ thần núi, thổ địa và được
dân làng đến cúng vào những ngày âm lịch như: 3-3 (lễ mở cửa rừng), 6-6
(Tết thần núi), 2-8 (Tết chính), Tháng 12 (lễ đóng cửa rừng). Đồng bào vẫn
giữ nếp cúng thần núi với xôi đen, xôi đỏ, xôi tím, …
17


Ngoài miếu thờ thần, ở làng Thành Công còn có một điểm rất khác biệt
so với các làng khác của người Dao. Đó là người Dao Quần Chẹt nơi đây
cũng xây dựng đình làng và thờ Thành Hoàng làng từ khi mới di cư đến đây.
Theo người dân ở đây kể lại thì từ khi mới đến Thành Công, mấy năm đầu
người Dao Quần Chẹt gặp đói kém, mất mùa. Do sống xen kẽ với người
Kinh, thấy người Kinh được mùa nên người Dao đã hỏi lý do và được người
Kinh bày cách đi cúng lễ ở đình để Thành Hoàng làng và các vị thần phù hộ
cho. Nghe theo lời khuyên đó, người Dao Quần Chẹt bắt đầu cùng người
Kinh đi cầu cúng ở đình. Quả nhiên, từ đó người Dao Quần Chẹt được mùa,
đời sống người dân không còn khó khăn như trước kia nữa. Biết ơn Thành
Hoàng làng và các vị thần, hàng năm người Dao Quần Chẹt đều đi cúng lễ ở
đình cùng người Kinh. Bắt đầu từ năm 1930, để việc thờ cúng được thuận lợi,
ít phải đi lại, người Dao Quần Chẹt đã xin tách ra và xây dựng một ngôi đình
nhỏ thờ ngay trong làng của mình.
1.3.2. Kinh tế - xã hội, văn hóa
* Về đời sống kinh tế:
Người Dao Quần Chẹt ở làng Thành Công trước đây sinh sống chủ yếu
bằng trồng trọt, chăn nuôi và khai thác các nguồn lợi trong thiên thiên. Họ
trồng lúa nương mỗi năm một vụ và trên nương trồng xen kẽ cả ngô, khoai,
mía, các loại đậu…
Hiện nay, người Dao Quần Chẹt ở làng Thành Công trồng hai vụ lúa/
năm: vụ Đông Xuân và vụ mùa. Do được đầu tư máy cày, máy bừa để sản
xuất nên năng suất và giá trị thu được từ sản xuất nông nghiệp không ngừng
tăng cao (thôn có 17 máy cày và máy bừa, 3 máy vò, 5 máy xay sát). Trong
năm 2012, tổng sản lượng cây có hạt là 256 tấn. Năm 2014 đạt 288 tấn, trung
bình 50 tạ/ha/vụ. Năm 2014 giá trị thu đạt 12.350.000 đồng, đến năm 2014
đạt 114.360.000 đồng. [6, tr. 4-5].
Bên cạnh cây nông nghiệp, loại cây dược liệu được trồng khá phổ biến
ở làng Thành Công là cây đinh lăng (lá to), một loại cây thích hợp với vườn
18


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×