Tải bản đầy đủ

công nghệ truyền hình internet (IPTV) và hệ thống IPTV tại việt nam

Học viện bưu chính viễn thông

Báo cáo thực tập tốt nghiệp

LỜI MỞ ĐẦU
Nếu như vào cuối những năm 90, sự phát triển của các dịch vụ truyền hình vệ
tinh, truyền hình cáp, truyền hình kỹ thuật số, và đặc biệt là sự ra đời của HDTV
(Truyền hình độ nét cao) đã để lại dấu ấn trong lịch sử phát triển của lĩnh vực truyền
hình thì sự ra đời của IPTV dựa trên sự “hậu thuẫn” của mạng băng rộng được dự báo
trở thành cuộc “cách mạng” trong ngành viễn thông với sự hội tụ giữa viễn thông,
truyền hình và các dịch vụ giải trí tương tác.
Trên thế giới IPTV đã được triển khai mạnh mẽ và thu được lợi nhuận rất
lớn.Tại Việt Nam, dịch vụ IPTV đã bắt đầu được thử nghiệm cung cấp với một
số dịch vụ cơ bản. Cơ sở hạ tầng mạng băng rộng tại Việt Nam đã và đang phát
triển mạnh mẽ đáp ứng được nhu cầu giải trí của người xem truyền hình.
IPTV với tính năng vượt trội, cùng với chi phí giá thành thấp do đó IPTV sẽ
phát triển mạnh mẽ và là dịch vụ truyền hình số 1 trong tương lai không xa.
IPTV là vấn đề đang được nhiều người quan tâm, sau một thời gian tìm hiểu
cùng với sự hướng dẫn của cô giáo Phan Thị Nga em đã hoàn thành xong đồ án tốt
nghiệp với đề tài “Tìm hiểu công nghệ truyền hình Internet (IPTV) và hệ thống
IPTV tại Việt Nam”. Nội dung báo cáo bao gồm những phần chính sau:



Chương I: Giới thiệu về IPTV: Chương này trình bày về IPTV,
đặc điểm về công nghệ IPTV và thực trạng sử dụng dịch vụ IPTV

tại Việt Nam
 Chương II: Cấu trúc nội dung phân phối IPTV: Chương này đưa ra
mô hình hệ thống của mạng IPTV và phương thức phân phối dịch
vụ IPTV
 Chương III: Mạng truyền tải dịch vụ IPTV: Chương này tìm hiểu
về các loại mạng truy cập dùng cho dịch vụ IPTV và công nghệ
mạng lõi IPTV
 ChươngIV: Kết luận và đánh giá xu hướng phát triển IPTV tại Việt
Nam
Do IPTV là công nghệ mới và đang phát triển. Do đó khả năng tìm hiểu còn hạn
chế chưa được đầy đủ và xác thực, bài báo cáo còn nhiều thiếu sót mong được
sự đóng góp ý kiến của các thầy cô và các bạn để báo cáo được hoàn thiện hơn.

Sinh viên: Đoàn Văn Vũ

1


Học viện bưu chính viễn thông

Báo cáo thực tập tốt nghiệp

TÌM HIỂU VỀ VIỆN KHOA HỌC KỸ THUẬT BƯU ĐIỆN VÀ
TRUNG TÂM TƯ VẤN ĐẦU TƯ CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ
I. Lịch sử hình thành, phát triển của Viện Khoa học kỹ thuật Bưu điện
1. Về lịch sử hình thành Viện Khoa học kỹ thuật Bưu điện
Viện Khoa học kỹ thuật Bưu điện ra đời trong sự nghiệp xây dựng Chủ nghĩa
xã hội vào năm 1966 trong thời kì phục vụ kháng chiến chống Mĩ cứu nước. Ngày
17 tháng 09 năm 1966, Hội đồng Chính phủ ra quyết định số 180/CP về việc điều
chỉnh tổ chức bộ máy của Tổng cục Bưu điện và Truyền thanh, trong đó có việc
thành lập Viện nghiên cứu Khoa học kỹ thuật Bưu điện và Truyền thanh. Viện có
chức năng, nhiệm vụ:




Nghiên cứu những vấn đề cơ bản về Khoa học kỹ thuật Bưu điện và truyền thanh.
Nghiên cứu thì nghiệm nhằm chế tạo và cải tiến máy móc, thiết bị, vật liệu về cải
tiển máy móc, thiết bị, vật liệu về Bưu điện và truyển thanh cho thích hợp với tình



hình tại nguyên và đặc điểm khí hậu ở nước ta.
Về tình hình cụ thể và tổ chức bộ máy của Viện Nghiên cứu Khoa học kỹ thuật Bưu
điện và Truyền thanh, Hội đồng chính phủ giao cho Tổng cục trưởng Tổng cục Bưu
điện – Truyền thanh quy định.
Thực hiện Quyết định của Hội đồng Chính phủ, để thiết lập Viện Nghiên cứu
Khoa học kỹ thuật Bưu điện và Truyền thanh, Tổng cục thành lập Phòng Kỹ thuật
trực thuộc Tổng cục Bưu điện và truyển thanh. Phòng kỹ thuật có nhiệm vụ tiếp
nhận tài sản thuộc phần quản lý kỹ thuật, tập san, xuất bản, sáng kiến cải tiến kỹ
thuật, xây dựng tiêu chuẩn, qui trình qui phạm do Phòng Nghiên cứu ký thuật trước
đây đảm nhiệm.
2. Về quá trình phát triển Viện Khoa học kỹ thuật Bưu điện
Ngày 04 tháng 03 năm 1977, Tổng cục trưởng Tổng cục Bưu điện ra Quyết
định số 304/QĐ qui định về chức năng, nhiệm vụ và bộ máy tổ chức của Viện. Với
quyết định 304/QĐ chức năng, nhiệm vụ của Viện Khoa học kỹ thuật Bưu điện đã
được cụ thể hóa một cách chi tiết, phù hợp với tình hình mới. Quyết định này đã

Sinh viên: Đoàn Văn Vũ

2


Học viện bưu chính viễn thông

Báo cáo thực tập tốt nghiệp

giải quyết các mối quan hệ trong lĩnh vức nghiên cứu mà Viện còn không ít mâu
thuẫn chưa được xử lý. Đây là cơ sở quan trọng để công tác nghiên cứu của Viện
phát triển mở rộng và cân đối giữa các lĩnh vực nghiên cứu, đáp ứng tốt hơn nữa
yêu cầu Khoa học kĩ thuật của ngành và đất nước.
Đầu năm 1981, trên cơ sở tổng kết đánh giá quá trình quản lý công tác
nghiên cứu khoa học kỹ thuật của Viện trong 15 năm từ khi thành lập và trong kế
hoạch 05 năm (1976-1980), lãnh đạo Viện đã đánh giá nghiêm túc về những thành
tựu cũng như những mặt còn hạn chế của Viện, đồng thời xây dựng đề án “Củng cố
và xây dựng Viện Khoa học kỹ thuật Bưu điện trong giai đoạn 1981-1985”. Đề án
đưa ra một số biện pháp nghiên cứu quản lý công tác nghiên cứu khoa học kỹ thuật,
phương án cũng cố tổ chức Viện, chương trình nghiên cứu khoa học kĩ thuật 05
năm 1981-1985, chương trình xây dựng cơ sở vật chất và tiềm lực khoa học kỹ
thuật của Viện. Đề án là cơ sở để định hướng các đề tài nghiên cứu, mà chủ yếu là
chuyển hướng từ nghiên cứu thiết bị sang nghiên cứu khoa học mạng lưới.
Bước vào thời kì đổi mới năm 1986, Viện cũng có những nhiệm vụ thực hiện
chiến lược số hóa mạng lưới nhằm từng bước hiện đại hóa mạng lưới viễn thông.
Ngày 14 tháng 06 năm 1986, Tổng cục Bưu điện ra Quyết định 558/QĐ-TCCB sửa
đổi bổ sung nhiệm vụ của Viện Khoa học kỹ thuật Bưu điện, chuyển hướng các đề
tài nghiên cứu của Viện sang phục vụ quá trình số mạng lưới hóa.
Những năm từ 1996 đến 2006 là giai đoạn Viện có những chuyển biến quan
trọng trên tất cả các mặt: mô hình tổ chức, cơ chế quản lý, qui mô và hình thức hoạt
động.
Năm 2008 là giai đoạn Viện chủ động tổ chức lại mô hình và các cơ chế hoạt
động. Về cơ bản , cơ cấu tổ chức của Viện Khoa học kỹ thuật bưu điện hiện nay có
03 phòng chức năng (Phòng Tổng hợp; Phòng Kế hoạch; Phòng Tài chính Kế toán)
và 03 đơn vị tác nghiệp chuyên môn (Trung tâm Nghiên cứu và phát triển công
nghệ; Trung tâm Đo kiểm và thử nghiệm công nghệ; Trung tâm Tư vấn Đầu tư
Chuyển giao công nghệ), và Cơ sở 2 của Viện tại thành phố Hồ Chí Minh.

Sinh viên: Đoàn Văn Vũ

3


Học viện bưu chính viễn thông

Báo cáo thực tập tốt nghiệp

Sang năm 2012 –Viện tổ chức cơ cấu lại, mô hình mới của Viện bao gồm
như sau:

Hiện nay, Viện đang dần đi vào ổn định cơ cấu tổ chức, cơ chế quản lý phục
vụ cho hoạt động nghiên cứu khoa học, đào tạo gắn liền với sản xuất kinh doanh
theo chủ trương Học viện đề ra.
II. Thông tin chung Trung tâm Tư vấn Đầu tư Chuyển giao Công nghệ
1. Về chức năng của Trung tâm Tư vấn Đầu tư Chuyển giao Công nghệ
Trung tâm Tư vấn Đầu tư Chuyển giao Công nghệ có chức năng tư vấn đầu
tư, sản xuất, tiếp nhận, chuyển giao công nghệ trong các lĩnh vực Bưu chính, Viễn
thông, Công nghệ thông tin và Truyền thông.
2. Về lĩnh vực hoạt động của Trung tâm Tư vấn Đầu tư Chuyển giao Công
nghệ


Tư vấn đầu tư xây dựng; tư vấn đấu thầu; tư vấn quản lý dự án; tư vấn giám sát; tư
vấn thẩm tra dự án, thiết kế, dự toán xây dựng công trình trong các lĩnh vực Bưu



chính, Viễn thông, Công nghệ thông tin và Truyền thông.
Thiết kế xây dựng các công trình Bưu chính, Viễn thông, Công nghệ thông tin và
Truyền thông.

Sinh viên: Đoàn Văn Vũ

4


Học viện bưu chính viễn thông



Báo cáo thực tập tốt nghiệp

Tiếp nhận và chuyển giao công nghệ từ các kết quả nghiên cứu, chế thử của các đơn
vị trong và ngoài Viện Khoa học Kỹ thuật Bưu điện thuộc các lĩnh vực Bưu chính,

Viễn thông, Công nghệ thông tin và Truyền thông.
− Sản xuất, cung cấp trang thiết bị, triển khai thi công xây dựng, lặp đặt các công
trình Bưu chính, Viễn thông, Công nghệ thông tin và Truyền thông.
− Các nhiệm vụ khác: Tư vấn Khoa học Công nghệ. Nghiên cứu các đề tài, thực hiện
các nhiệm vụ ứng dụng công nghệ mới, dịch vụ mới phục vụ cho công tác tư vấn
đầu tư và chuyển giao công nghệ. Tham gia các công tác đào tạo, bồi dưỡng kiến
thức khoa học, công nghệ trong các cơ sở đào tạo của Học viện và xã hội để thực
hiện gắn kết giữa nghiên cứu, đào tạo và sản xuất kinh doanh. Hợp tác trong và
ngoài nước về tư vấn, đầu tư, chuyển giao công nghệ thuộc lĩnh vực Bưu chính,
Viễn thông, Công nghệ thông tin và Truyền thông. Thực hiện các nhiệm vụ khác do
Viện trưởng giao.
3. Các công việc Trung tâm Tư vấn Đầu tư Chuyển giao Công nghệ đang thực
hiện



Thực hiện đề tài đề tài khoa học công nghệ cấp Tập đoàn, cấp bộ và cấp nhà nước;
Nhiệm vụ tư vấn thiết kế công trình Viễn thông, Công nghệ Thông tin, tư vấn giám

sát, tư vấn đấu thầu, tư vấn tái đầu tư, lập dự toán mua sắm thiết bị…
− Nhiệm vụ chế thử hệ thống điều khiển và giám sát trạm viễn thông và công nghệ
thông tin;
− Viết các bài báo, tập san cho tạp chí bưu chính;
− Nhiệm vụ đào tạo: Tham gia hướng dẫn sinh viên thực tập, sinh viên tốt nghiệp của
Học Viện CNBC Viễn thông (hệ cao đẳng, đại học liên thông và đại học chính quy),
Đại học Giao thông Vận tải.

MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU

Sinh viên: Đoàn Văn Vũ

5


Học viện bưu chính viễn thông

Báo cáo thực tập tốt nghiệp

TÌM HIỂU VỀ VIỆN KHOA HỌC KỸ THUẬT BƯU ĐIỆN VÀ TRUNG TÂM TƯ
VẤN ĐẦU TƯ CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ
I. Lịch sử hình thành, phát triển của Viện Khoa học kỹ thuật Bưu điện..........................
II. Thông tin chung Trung tâm Tư vấn Đầu tư Chuyển giao Công nghệ
MỤC LỤC
THUẬT NGỮ VIẾT TẮT...............................................................................................................
DANH MỤC HÌNH VẼ
CHƯƠNG 1 - GIỚI THIỆU VỀ IPTV......................................................................................
1.1 IPTV là gì?..........................................................................................................................
1.2. Đặc điểm của công nghệ IPTV.........................................................................................
1.3 So sánh IPTV và các dịch vụ truyền hình........................................................................
1.3.1 Ưu điểm
1.3.2 Nhược điểm..................................................................................................................
1.4 Thực trạng sử dụng dịch vụ IPTV ở Việt Nam
CHƯƠNG 2- CẤU TRÚC, NỘI DUNG PHÂN PHỐI IPTV
2.1 Mô hình hệ thống của mạng IPTV...................................................................................
2.1.1 Cơ sở hạ tầng của mạng IPTV...................................................................................
2.1.2 Cấu trúc chức năng cho dịch vụ IPTV
2.2. Phương thức phân phối dịch vụ IPTV
2.2.1 IP Unicast.....................................................................................................................
2.2.2 IP Broadcast................................................................................................................
2.2.3 IP Multicast.....................................................................................................
2.3. So sánh các phương thức phân phối IPTV
CHƯƠNG 3 - MẠNG TRUYỀN TẢI DỊCH VỤ IPTV...........................................................
3.1 Các loại mạng truy cập dùng cho dịch vụ........................................................................
3.1.1 Mạng truy cập cáp quang...........................................................................................
3.1.1.1 Mạng quang thụ động..........................................................................................
3.1.1.2 Mạng quang tích cực............................................................................................
3.1.2 IPTV truy cập trên mạng ADSL
3.1.2.1 ADSL......................................................................................................................
3.1.2.2 ADSL2
3.1.2.3 VDSL
3.1.3 IPTV truy cập trên mạng truyền hình cáp
Sinh viên: Đoàn Văn Vũ

6


Học viện bưu chính viễn thông

Báo cáo thực tập tốt nghiệp

3.1.3.1 Tổng quan về kỹ thuật HFC................................................................................
3.1.3.2 IPTV truy cập trên mạng truyền hình cáp
3.1.4. IPTV truy cập trên mạng Internet
3.1.4.1 Các kênh truyền hình Internet streaming..........................................................
3.1.4.2 Download Internet................................................................................................
3.1.4.3 Chia sẻ video ngang hàng.....................................................................................
3.2 Các công nghệ mạng lõi IPTV..........................................................................................
3.2.1 ATM và SONET/SDH.................................................................................................
3.2.2 IP và MPLS..................................................................................................................
3.2.3 Metro Ethernet
CHƯƠNG 4 - KẾT LUẬN VÀ ĐÁNH GIÁ XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN IPTV TẠI
VIỆT NAM...................................................................................................................................
4.1 Các loại dịch vụ dựa trên IPTV........................................................................................
4.2. Đánh giá Xu hướng phát triển dịch vụ IPTV tại Việt Nam.........................................
KẾT LUẬN...................................................................................................................................
TÀI LIỆU THAM KHẢO
LỜI CẢM ƠN

Sinh viên: Đoàn Văn Vũ

7


Học viện bưu chính viễn thông

Báo cáo thực tập tốt nghiệp

THUẬT NGỮ VIẾT TẮT
Thuật ngữ viết
tắt
ADSL

Thuật ngữ Tiếng Anh đầy đủ
Asymmetric

Digital

Subcriber

Line
AON
ATM
BPON

Active Optical Network
Asynchronnuos Transfer Mode
Broadband
Passive
Optical

Thuật ngữ Tiếng Việt
đầy đủ
Đường đây thuê bao số bất
đối xứng
Mạng quang tích cực
Mode truyền dẫn bất đồng
Mạng thụ động băng rộng

Network
CAS

Conditional Access System

CMTS

Cable

Modem

Termination

System
CPU
DSLAM

Central Processing Unit
Digital Subscriber Line Access
Multiplexer

DRM

Digital Rights Management

DSL

Dynamic

Host

Configuration

Protocol
DWDM

Dense

Wavelength

Division

Multiplexing
DVB
EPG

Digital Video Broadcasting
Electronic Program Guide

EPON
EVC
FTP
FTTC
FTTH
FTTN

Ethernet Passive Optical Network
Ethernet Virtual Connection
File Transfer Protocol
Fiber To The Curd
Fiber To The Home
Fiber To The Neighbourhood

GPON

Gigabit PON

GiE

Gigabit Ethernet

HD

High Definition

Sinh viên: Đoàn Văn Vũ

8

Hệ thống truy cập có điều
kiện
Hệ thống kết cuối modem
cáp
Đơn vị xử lý trung tâm
Bộ
ghép kênh truy
cập đường dây thuê bao
số
Quản lý quyền nội dung
số
Giao thức cấu hình Host
động
Ghép kênh phân chia theo
mật độ bước sóng
Quảng bá video số
Chỉ dẫn chương trình điện
tử
Mạng thụ động Ethernet
Kết nối ảo Ethernet
Giao thức vận chuyển
Cáp quang tới lề đường
Cáp quang tới hộ gia đình
Cáp quang tới vùng lân
cận
Mạng quang thụ động
Gigabit
Giao thức Gigabit
Ethernet
Định dạng chất lượng cao


Học viện bưu chính viễn thông

Báo cáo thực tập tốt nghiệp

HDTV

High Definition Televison

IP
IPTV

Internet Protocol
Internet Protocol Television

IPTVCD
ISP

IPTV Cunsumer Device
Internet Service Provider

MPEG

Moving Picture Experts Group

NMS
NTSC

Network Management System
National
Television
System
Committee

PC
PON
QoS
RF
SD
STB
THVN
VoD

Personal Computer
Passive Optical Network
Quality of Service
Radio Frequency
Standard Definition
Set Top Box

Máy tính cá nhân
Mạng quang thụ động
Chất lượng dịch vụ
Tần số vô tuyến
Định dạng chất lượng
Bộ giải mã
Truyền hình Việt Nam
Video theo yêu cầu

Video on Demand

Sinh viên: Đoàn Văn Vũ

Truyền hình chất lượng
cao
Giao thức Internet
Truyền hình giao thức
Internet
Thiết bị khách hàng IPTV
Nhà cung cấp dịch vụ
Internet
Nhóm chuyên gia về ảnh
động.
Hệ thống quản lý mạng
Ủy ban hệ thống truyền
hình quốc gia (Mỹ)

9


Học viện bưu chính viễn thông

Báo cáo thực tập tốt nghiệp

DANH MỤC HÌNH VẼ

Sinh viên: Đoàn Văn Vũ

10


Học viện bưu chính viễn thông

Báo cáo thực tập tốt nghiệp

CHƯƠNG 1 - GIỚI THIỆU VỀ IPTV
Truyền hình dựa trên giao thức Internet IPTV (Internet Protocol – based
Television) là một cơ chế để truyền tải luồng nội dung truyền hình dựa trên nền
tảng là một mạng sử dụng giao thức IP. Lợi ích của cơ chế này là khả năng phân
phối nhiều loại tín hiệu truyền hình khác nhau, tăng các tính năng tương tác và
cải tiến để tương tác và cải tiến để tương thích với mạng các thuê bao đang tồn
tại.
Sự phát triển nhanh chóng của mạng Internet băng rộng làm thay đổi cả
về nội dung và kỹ thuật truyền hình. Sự vượt trội trong kỹ thuật truyền hình của
IPTV là tính năng tương tác giữa hệ thống với người xem, cho phép người xem chủ
động về thời gian và khả năng triển khai dịch vụ giá trị gia tăng tiện ích khác
trên hệ thống nhằm đáp ứng nhu cầu của người sử dụng. Đây là xu hướng hội tụ
của mạng viễn thông thế giới.
1.1 IPTV là gì?
IPTV truyền hình sử dụng giao thức IP là một hệ thống ở đó các dịch vụ
truyền hình số cung cấp tới các thuê bao sử dụng giao thức IP trên kết nối băng
rộng. IPTV thường được cung cấp cùng với dịch vụ VoD và cũng có thể cung cấp
cung với các dịch vụ Internet khác như truy cập Web và VoIP.
Khi mới bắt đầu IPTV được gọi là truyền hình giao thức Internet hay
Telco TV hoặc Truyền hình băng rộng. Thực chất tất cả các tên đều được sử
dụng để nói đến việc phân phối truyền hình băng rộng chất lượng cao hoặc nội dung
âm thanh và hình ảnh theo yêu cầu trên một mạng băng rộng. IPTV là một định
nghĩa chung cho việc áp dụng để phân phối các kênh truyền hình truyền thông,
phim truyện, và nội dung video theo yêu cầu trên một mang riêng. Theo tổ chức
Liên Hiệp Viễn Thông Quốc Tế ITU thì IPTV là dịch vụ đa phương tiện bao gồm
truyền hình, video, audio, văn bản, đồ họa và dữ liệu qua một mạng IP và được
quản lý để cung cấp mức độ yêu cầu của chất lượng dịch vụ và sự trải nghiệm, tính
bảo mật, tính tương tác và độ tin cậy.

Sinh viên: Đoàn Văn Vũ

11


Học viện bưu chính viễn thông

Báo cáo thực tập tốt nghiệp

IPTV có một số điểm đặc trưng sau:


Hỗ trợ truyền hình tương tác: Khả năng của hệ thống IPTV chophép các nhà
cung cấp dịch vụ phân phối đầy đủ các ứng dụng của truyền hình tương tác. Các
dạng dịch vụ IPTV có thể được phân phối bao gồm chuẩn truyền hình trực tiếp,
truyền hình hình ảnh chất lượng cao HDTV (High Definition Television), các trò

chơi tương tác và truy cập Internet tốc độ cao.
 Dịch thời gian: IPTV kết hợp với một bộ ghi hình video số cho phép dịch chuyển
thời gian để xem nội dung chương trình, đây là một kỹ thuật ghi hình và lưu trữ
nội dung để có thể xem lại sau.
 Tính cá nhân: Một hệ thống IPTV từ kết cuối đến kết cuối(end-to- end) hỗ trợ
thông tin có tính hai chiều và cho phép các user xem các chương trình theo sở
thích, thói quen…Hay cụ thể hơn là cho các user xem cái gì họ muốn vào bất kỳ
lúc nào.
 Yêu cầu băng thông thấp: Để thay thế cho việc phân phối mọi kênh cho mọi
user, công nghệ IPTV cho phép các nhà cung cấp dịch vụ chỉ phân phối các kênh
mà user đã yêu cầu. Đây là điểm hấp dẫn cho phép các nhà khai thác mạng bảo toàn
được băng thông của họ.
 Nhiều thiết bị có thể sử dụng được: Việc xem nội dung IPTV không giới han ở
việc dùng tivi. Khách hàng có thể sử dụng PC của họ và các thiết bị di động để
truy cập các dịch vụ IPTV.
Những nhược điểm “chí mạng” của IPTV chính là khả năng mất dữ liệu rất
cao và sự chậm trễ truyền tín hiệu. Nếu như đường kết nối mạng của người dùng
không thật sự tốt cũng như không đủ băng thông cần thiết thì khi xem chương
trình sẽ rất dễ bị giật hay việc chuyển kênh có thể tốn khá nhiều thời gian để tải
về. Thêm vào nữa nếu máy chủ của nhà cung cấp dịch vụ không đủ mạnh thì khi
số lượng người xem truy cập vào đông làm cho chất lượng dịch vụ giảm sút. Tuy
nhiên công nghệ mạng Internet càng ngày càng phát triển mạnh mẽ đẩy băng
thông kết nối lên cao hơn góp phần giúp IPTV khắc phục nhược điểm nói trên và
biến thành công nghệ truyền hình của tương lai.
1.2. Đặc điểm của công nghệ IPTV
Khi thế giới bước vào kỉ nguyên của truyền thông đa phương tiện, nhiều
dịch vụ, công nghệ hội tụ số đã được cung cấp đến người dùng, trong đó không thể
Sinh viên: Đoàn Văn Vũ

12


Học viện bưu chính viễn thông

Báo cáo thực tập tốt nghiệp

không nhắc đến công nghệ IPTV – truyền hình trên giao thức IP truyền qua đường
cáp Internet băng thông rộng.
Không đơn thuần chỉ là truyền hình ảnh và âm thanh, TV được gắn thêm bộ
giải mã (set-top box) trong mô hình IPTV sẽ trở thành phương tiện giao tiếp cho
một dịch vụ đa nền tảng trong cuộc sống hiện đại.
IPTV - Internet Protocol TV - là tín hiệu truyền hình truyền trên mạng viễn
thông tới các thiết bị điện từ trong nhà gồm TV và máy tính. Không còn cần tới cáp
truyền hình, chỉ một đường cáp duy nhất đáp ứng nhu cầu lướt net, xem truyền
hình, xem phim và các dịch vụ theo yêu cầu khác.

Sinh viên: Đoàn Văn Vũ

13


Học viện bưu chính viễn thông

Báo cáo thực tập tốt nghiệp

H
ìn
h
1.
1.
M
ô

n
h
ki
ến
tr
úc
hệ
th

n
g
cu
n
g
cấ
p
dị
ch
v

IP
T
V
Hãng nghiên cứu thị trường Infonetics (Mỹ) khẳng định, IPTV đã qua "thời
kỳ thai nghén", số người sử dụng dịch vụ này sẽ tăng lên 53,7 triệu thuê bao vào
năm 2009, đem lại doanh thu tới 44 tỷ USD. Con số về thuê bao IPTV sẽ phát triển
nhân đôi theo từng năm trong thời gian tới. IPTV sẽ mở ra con đường mới trong
truyền thông: khả năng lựa chọn chương trình muốn xem và thời điểm xem, khả
Sinh viên: Đoàn Văn Vũ

14


Học viện bưu chính viễn thông

Báo cáo thực tập tốt nghiệp

năng “đối thoại” giữa từng người xem truyền hình với nhà cung cấp dịch vụ với hệ
thống tương tác được công nghệ IPTV hỗ trợ.
IPTV có 2 đặc điểm cơ bản là: dựa trên nền công nghệ IP và có khả năng cá thể
hoá đáp ứng nhu cầu từng người dùng một. So với mạng truyền hình số DTV thì
IPTV có nhiều đổi mới về dạng tín hiệu cũng như phương thức truyền nội dung.
Trong khi truyền hình số thông qua các menu đã định trước để các user lựa
chọn, thì IPTV có khả năng tương tác, đáp ứng đúng yêu cầu người dung ngay lập
tức. Ví dụ người dùng muốn xem bộ phim “Người Sói”, khi bấm chọn bằng điều
khiển từ xa, một yêu cầu sẽ được bộ giải mã gừi lên máy chủ và luồng tín hiệu sẽ
được chuyển riêng xuống bộ giải mã duy nhất phục vụ cho yêu cầu của người này.
Cùng lúc đó, một người khác bấm chọn chương trình “Hoa hậu Hoàn vũ”, quy trình
tương tự sẽ gừi yêu cầu lên máy chủ và chuyển luồng tín hiệu xuống bộ giải mã yêu
cầu. Đấy chính là cơ chế truyền tín hiệu đơn tuyến đáp ứng từng yêu cầu cá thể của
người xem truyền hình.
Về mặt kỹ thuật, IPTV là công nghệ truyền dẫn hình ảnh kỹ thuật số tới
người sử dụng qua đường cáp Internet băng rộng. Dịch vụ này thường được cung
cấp chung với điện thoại IP (Voice over IP - VoIP), video theo yêu cầu (Video on
Demand - VOD) nên thường được gọi là công nghệ tam giác về truyền tải dữ liệu,
hình ảnh, âm thanh. Điểm đặc biệt và hấp dẫn nhất của IPTV là sự tương tác giữa
người xem với chương trình. IPTV không đơn thuần là truyền hình như truyền hình
cáp truyền thống, mà là một tổng thể chuỗi dịch vụ truyền hình có tính tương tác.
Ngoài việc tự do lựa chọn chương trình truyền hình hay phim muốn xem, khách
hàng còn có thể tham gia các cuộc hội thảo từ xa, chơi game, mua hàng qua TV
hoặc viết blog video (vlog), nhắn tin qua TV…
IPTV cũng cho phép khán giả chủ động chọn những nội dung gì mình muốn
xem, không đơn thuần xem một cách thụ động như các loại truyền hình truyền
thống. Chính điểm “theo yêu cầu” này và sự gắn kết chặt chẽ giữa TV với mạng
Internet và máy tính đã làm nên sức hút của IPTV, đặc biệt với giới trẻ châu á vốn
"thích" máy tính hơn TV. Ở Châu Á, sản phẩm công nghệ cao tích hợp nhiều tính
năng luôn được chào đón.

Sinh viên: Đoàn Văn Vũ

15


Học viện bưu chính viễn thông

Báo cáo thực tập tốt nghiệp

IPTV có thể thực hiện các dịch vụ multimedia, sử dụng bộ giải mã nối với
tivi, chủ nhân ngồi trước TV ấn phím điều khiển có thể xem các tiết mục video đang
hoạt động, thực hiện đàm thoại IP có hình, nghe nhạc, tra tìm tin tức du lịch trên
mạng, gửi và nhận e-mail, thực hiện mua sắm gia đình, giao dịch trái phiếu... Đích
thực là công nghệ tất cả trong một sẽ trở thành công nghệ truyền hình chính của
tương lai.
Ở Việt Nam, hiện có nhiều nhà khai thác dịch vụ viễn thông lớn đang cạnh
tranh nhau nhằm cung cấp cho khách hàng các dịch vụ băng rộng với chất lượng
cao và giá rẻ. Người dùng truy cập vào các trang web cung cấp dịch vụ IPTV,
chẳng

hạn

như:

http://wwitv.com,

http://www.global-itv.com,

hay

(http://www.vtc.com.vn), (http://iTV.vn) rồi đăng kí, cài đặt theo hướng dẫn và
chọn kênh là có thể yên tâm tận hưởng HBO, MTV, VTV, VTCV... yêu thích. Một
số Website cung cấp thừ nghiệm các chương trình truyền hình trực tuyến của
VietNamNet, Công ty VTC, Đài truyền hình thành phố Hồ Chí Minh đã ghi nhận số
lượng truy cập rất lớn, cho thấy sức hấp dẫn của dịch vụ này đối với công chúng.
Tuy nhiên mới chỉ có duy nhất FPT Telecom cung cấp dịch vụ trên TV thông qua
bộ giải mã iTV - Muốn gì xem nấy cạnh tranh với truyền hình cáp và truyền hình kỹ
thuật số, với các tính năng nổi bật như sau:


Xem lịch phát sóng trên TV: Xem lịch phát sóng trong ngày hoặc các ngày tiếp
theo vào bất cứ thời điểm nào. Chức năng đặt giờ cho phép TV tự động chuyển

sang chương trình đã đặt sẵn khi đến giờ chiếu của chương trình này.
 Truyền hình theo yêu cầu: Cho phép khách hàng lựa chọn chương trình muốn
xem, chẳng hạn như ca nhạc, phim truyện hay tin tức…Người xem cũng có thể lựa


chọn những bộ phim cụ thể, album nhạc của ca sĩ yêu thích… để thưởng thức.
Đọc báo qua TV: Trang tin điện từ cập nhật trên TV giúp người dung tiết kiệm tiền
mua

báo



đọc

trực

tiếp

trên

màn

hình

TV.

Chia sẻ video: Một ví dụ nổi bật cho sự liên thông TV – máy tính: nếu người dùng
có clip video muốn chia sẻ với cộng đồng truyền hình, có thể tải clip từ máy tính lên
trang web iTV.vn, và cộng đồng người sử dụng iTV đều có thể xem được clip này
trên TV như mô hình YouTube.

Sinh viên: Đoàn Văn Vũ

16


Học viện bưu chính viễn thông

Báo cáo thực tập tốt nghiệp

1.3 So sánh IPTV và các dịch vụ truyền hình
1.3.1 Ưu điểm
Hệ thống IPTV dựa trên IP nên có những ưu điểm đáng kể, bao gồm khả
năng tích hợp truyền hình với các dịch vụ IP khác như truy nhập internet tốc độ cao
và VoIP. Mạng IP cũng cho phép truyền nhiều thông tin hơn và với nhiều chức
năng hơn. Trong mạng vệ tinh hay truyền hình truyền thống, sử dụng công nghệ
broadcast thì tất cả nội dung được truyền liên tục đến mỗi thuê bao, thuê bao
chuyển kênh tại set-top-box. Thuê bao có thể lựa chọn từ nhiều lựa chọn như công
ty vệ tinh, cáp, truyền thông để đưa luồng thông tin về nhà. Mạng IP làm việc khác,
nội dung được giữ ở trên mạng và chỉ những nội dung khách hàng lựa chọn là được
gửi đến nhà thuê bao. Điều này sẽ tiết kiệm băng thông và sự lựa chọn của khách
hàng ít bị giới hạn bởi “đường ống” dẫn đến nhà thuê bao. Điều này cũng có nghĩa
là tính riêng tư của khách hàng được đảm bảo hơn so với hệ thống vệ tinh và truyền
hình truyền thống.Tính tương tác hệ thống IPTV cho phép người xem có cơ hội để
xem các chương trình TV có tính tương tác hơn và cá nhân hơn. Ví dụ nhà cung cấp
dịch vụ có thể cung cấp chức năng tương tác cho phép người xem lựa chọn nội
dung xem theo tên phim hay tên của diễn viên hay chức năng picture in picture cho
phép người xem có thể chuyển kênh mà không phải rời bỏ chương trình họ đang
xem. Người xem còn có thể truy nhập vào album ảnh và kho nhạc trên PC của họ từ
màn hình TV, sử dụng điện thoại để đặt lịch ghi lạicác chương trình TV yêu thích.
Ngoài ra họ còn có thể sử dụng chức năng giám sát điều khiển (parent control) để
cấm con cái xem một số chương trình truyền hình không phù hợp.
VOD: VOD cho phép khách hàng duyệt một chương trình trực tuyến hoặc
một danh sách các bộ phim để xem qua và sau đó lựa chọn chúng. Về mặt kỹ thuật,
khi khách hàng lựa chọn một bộ phim, thì một kết nối point-to-point được thiết lâp
giữa bộ giải mã của khách hàng (Set top box hoặc PC) và server phân phát luồng
nội dung. Báo hiệu về các chức năng như pause, backward/ forward… được đảm
bảo bởi giao thức RTSP. Dạng mã hóa chung nhất được sử dụng cho VOD là
MPEG-2, MPEG-4 và VC-1. Để tránh hiện tượng ăn cắp bản quyền nội dung phim
thì nội dung của VOD thời được mã hóa. Với công nghệ IPTV việc mã hóa được
Sinh viên: Đoàn Văn Vũ

17


Học viện bưu chính viễn thông

Báo cáo thực tập tốt nghiệp

thực hiện hiệu quả thông qua hệ thống DRM. Với hệ thống này nếu khách hàng lựa
chọn xem phim trong thời gian 24 giờ thì sau 24 giờ nội dung phim sẽ không thể
xem được nữa…
Các dịch vụ hội tụ dựa trên IPTV
Một ưu điểm khác của mạng IP là khả năng tích hợp và hội tụ. Các dịch vụ
hội tụ ở đây nói đến khả năng tương tác của các dịch vụ hiện có theo cách trong
suốt để tạo ra các dịch vụ gia tăng mới. Ví dụ là dịch vụ On-Screen Caller ID, nhận
Caller IP trên màn hình TV và khả năng xử lý (gửi đến voice mail…). Các dịch vụ
dựa trên IP sẽ cung cấp khả năng cho khách hàng có thể truy nhập ở bất kỳ đâu, bất
kỳ khi nào đến nội dung thông qua TV, PC hay điện thoại của khách hàng, và khả
năng tích hợp các dịch vụ và nội dung để gắn chặt chúng với nhau.
1.3.2 Nhược điểm
Nhược điểm chính của IPTV chính là khả năng mất dữ liệu rất cao và sự
chậm trễ truyền tín hiệu. Nếu như đường kết nối mạng của người dùng không thật
sự tốt cũng như không đủ băng thông cần thiết thì khi xem chương trình sẽ rất dễ bị
giật hay việc chuyển kênh có thể tốn khá nhiều thời gian để tải về. Thêm vào nữa
nếu máy chủ của nhà cung cấp dịch vụ không đủ mạnh thì khi số lượng người xem
truy cập vào đông thì chất lượng dịch vụ sẽ bị giảm sút. Ngoài ra, các nhà cung cấp
dịch vụ IPTV cũng gặp nhiều khókhăn trong việc đàm phán hợp đồng với các nhà
cung cấp dịch vụ nội dung dẫn đến tình trạng nghèo nàn thông tin trên các kênh
IPTV. Nhiều công ty viễn thông đang tận dụng cơ sở hạ tầng sẵn có để phân phối
IPTV, nhưng bài toán đặt ra là làm sao để đáp ứng đủ nhu cầu về băng rộng. Một
vấn đề khác là nhà cung cấp dịch vụ khó có thể thu được lợi nhuận từ quảng cáo vì
người xem có thể tua nhanh hoặc làm bất cứ thao tác nào để không phải tốn thời
gian xem những đoạn mà họ không thích
1.4 Thực trạng sử dụng dịch vụ IPTV ở Việt Nam
Tại Việt Nam, truyền hình trực tuyến, hay còn gọi là IPTV (Internet
Protocol Television) hiện nay vẫn còn là một khái niệm chưa được nhiều người sử

Sinh viên: Đoàn Văn Vũ

18


Học viện bưu chính viễn thông

Báo cáo thực tập tốt nghiệp

dụng biết tới. Đó là điều dễ hiểu khi IPTV Việt Nam mới đang phát triển ở những
bước đi sơ khai đầu tiên.
Hiểu một cách đơn giản, IPTV là truyền hình trên mạng Internet, thông tin
thay vì được truyền dẫn bằng tín hiệu sóng (analog), qua sợi cáp quang (cable) hay
qua vệ tinh (DTH) thì được truyền dẫn bằng các gói thông tin qua mạng.
Một câu hỏi đặt ra, tại sao cần có thêm IPTV khi mà những hình thức
truyền hình kia đã phủ sóng rộng khắp. Trên bề ngoài, điều này có vẻ đúng, song
thực tế lại cho thấy cả ba hình thức truyền hình kia đều có những hạn chế. Ví dụ
kênh analog và cable TV chỉ có thể phủ sóng trong nước, DTH TV cần một khoản
đầu tư khổng lồ để phủ sóng toàn cầu. Trong khi đó, IPTV tận dụng được cơ sở hạ
tầng sẵn có là mạng Internet đã rộng khắp toàn thế giới. Đây chính là lợi điểm quan
trọng nhất của IPTV.
Tại Việt Nam, Internet đang có những bước phát triển rất mạnh và chưa có
dấu hiệu chững lại. Theo thống kê của trang web www.vnnic.vn, vào tháng 2/2009,
tỉ lệ dân số Việt Nam sử dụng Internet đã là 24,58%, trong đó tổng số thuê bao sử
dụng Internet băng thông rộng ADSL là 2 171 206. Đây chính là cơ hội rất lớn để
phát triển IPTV tại Việt Nam.
Dẫu vậy, cơ sở hạ tầng mạng vẫn còn là một trở ngại cho sự tăng tốc này,
bởi lẽ theo tính toán, IPTV cần đường truyền Internet ADSL có tốc độ tối thiểu cam
kết lúc nào cũng phải đạt ≥ 300Kbps. Vì thế việc xem IPTV trên ADSL vào lúc này
tại Việt Nam là điều gần như không tưởng bởi lẽ tốc độ kết nối cho đa số các thuê
bao sử dụng ADSL gia đình hiện nay ở Việt Nam chỉ đạt bằng 1/3 con số này Các
loại đường truyền khác thì quá đắt, không khả thi với người dùng do chi phí đường
truyền riêng thường đắt gấp 30 lần gói dịch vụ của ADSL. Theo các chuyên gia kĩ
thuật, chỉ có hạ tầng mạng backbone Internet mới có thể đáp ứng được 100% yêu
cầu và tại Việt Nam, truyền hình trực tuyến phát thời gian thực (realtime) có lẽ là
hướng đi duy nhất.
Đối với người tiêu dùng, việc biết tới và theo dõi IPTV hiện vẫn còn rất hạn
chế, một mặt do chính chất lượng chưa cao, chủ yếu phát lại các chương trình

Sinh viên: Đoàn Văn Vũ

19


Học viện bưu chính viễn thông

Báo cáo thực tập tốt nghiệp

truyền hình khác, một mặt do tốc độ đường truyền không đảm bảo, song ngày càng
có nhiều hơn sự quan tâm dành cho loại hình này.
Phát triển IPTV thành một ‘kênh’ độc lập trong so sánh với analog TV, cable
TV hay DTH TV cũng là sự trăn trở và tìm tòi của chính những nhà cung cấp dịch
vụ. truyền hình analog, do đó, ít lôi kéo được sự quan tâm của người xem”.
Mới chỉ ra đời được hơn 10 năm, song IPTV đang ngày càng tỏ ra chiếm ưu
thế bởi những tính năng vượt trội của nó và đang chiếm thị phần ngày càng lớn,
nhất là ở các nước có hạ tầng ADSL và cáp quang phát triển. Công nghệ này đang
được ưa chuộng ở châu Âu và Mỹ. Báo cáo mới nhất của Infonetics cho biết năm
2009 thị trường truyền hình trực tuyến IPTV sẽ bắt đầu bùng nổ, với số lượng
khách hàng đạt 53,7 triệu với doanh thu 44 tỷ đô la. Châu Á – Thái Bình Dương là
một trong những khu vực phát triển mạnh mẽ nhất dịch vụ này do IPTV đã trở
thành trào lưu chính cuốn hút người sử dụng. Trong bối cảnh đó, truyền thông mạng
Việt Nam nói chung và dịch vụ IPTV nói riêng đang có một tương lai hứa hẹn. Đó
là một tương lai không xa.

Sinh viên: Đoàn Văn Vũ

20


Học viện bưu chính viễn thông

Báo cáo thực tập tốt nghiệp

CHƯƠNG 2- CẤU TRÚC, NỘI DUNG PHÂN PHỐI IPTV
2.1 Mô hình hệ thống của mạng IPTV
2.1.1 Cơ sở hạ tầng của mạng IPTV

Hình 2.1 Mô hình hệ thống IPTV end-to-end


Trung tâm dữ liệu IPTV
Trung tâm dữ liệu IPTV nhận nội dung từ nhiều nguồn khác nhau, bao

gồm truyền hình địa phương, các nhà tập hợp nội dung, nhà sản xuất nội dung, qua
đường cáp, trạm số mặt đất hay vệ tinh. Ngay khi nhận được nội dung, một số
các thành phần phần cứng khác nhau từ thiết bị mã hóa và các máy chủ video
tới bộ định tuyến IP và thiết bị bảo mật giành riêng được sử dụng để chuẩn bị
nội dung video cho việc phân phối qua mạng dựa trên IP. Ngoài ra, hệ thống
quản lý thuê bao được yêu cầu quản lý hồ sơ và phí thuê bao của những người
sử dụng.


Mạng truy cập băng thông rộng
Việc truy cập các dịch vụ IPTV yêu cầu kết nối điểm - điểm (one-to-one).

Việc triển khai IPTV trên diện rộng thì số lượng kết nối one-to-one sẽ tăng lên. Do
đó, yêu cầu về băng thông trên mạng là khá lớn. Những tiến bộ về công nghệ mạng
cho phép các nhà cung cấp viễn thông đáp ứng được một số lượng lớn về độ rộng
băng thông của mạng. Riêng mạng truyền hình cáp thì sử dụng hỗn hợp cả cáp đồng

Sinh viên: Đoàn Văn Vũ

21


Học viện bưu chính viễn thông

Báo cáo thực tập tốt nghiệp

trục và cáp quang đa ứng cho việc truyền tải nội dung IPTV.


Thiết bị khách hàng IPTV (IPTVCD)
IPTVCD (IPTV Consumer Device) là các thành phần quan trọng cho

phép người sử dụng có thể truy cập dịch vụ IPTV. IPTVCD kết nối tới mạng
băng rộng, chúng đảm nhiệm chức năng giải mã, xử lý các luồng tín hiệu tới dựa
trên gói IP. IPTVCD được hỗ trợ các kỹ thuật tiên tiến để tối thiểu hóa hoặc
loại trừ hoàn toàn ảnh hưởng của các vấn đề về mạng khi xử lý nội dung IPTV.
Các loại IPTVCD phổ biến nhất là RG, IP set-top-box. Trong đó RG là modem
ADSL và modem cáp trên mạng truyền hình cáp hai chiều HFC.


Mạng gia đình
Mạng gia đình liên kết các thiết bị kỹ thuật số bên trong một khu vực có

diện tích nhỏ. Nó cải thiện thông tin và cho phép chia sẻ tài nguyên giữa các
thành viên trong gia đình. Mục đích của mạng gia đình là cung cấp quyền truy cập
thông tin như là tiếng nói, âm thanh, dữ liệu, giải trí, giữa các thiết bị kỹ thuật số
xung quanh nhà. Với mạng gia đình, khách hàng có thể tiết kiệm tiền và thời gian
do việc chia sẻ các thiết bị phần cứng rất tốt và dễ dàng, thông qua các kết nối
Internet băng rộng.
2.1.2 Cấu trúc chức năng cho dịch vụ IPTV
Một mạng IPTV có thể bao gồm nhiều thành phần cơ bản, nó cung cấp một cấu
trúc chức năng cho phép phân biệt và chuyên môn hoá các nhiệm vụ.

Sinh viên: Đoàn Văn Vũ

22


Học viện bưu chính viễn thông

Báo cáo thực tập tốt nghiệp

Hình 2.2. Cấu trúc chức năng cho dịch vụ IPTV
• Cung cấp nội dung
Tất cả nội dung được sử dụng bởi dịch vụ IPTV, bao gồm VoD và truyền
hình quảng bá sẽ phải thông qua chức năng cung cấp nội dung, ở đó các chức
năng tiếp nhận, chuyển mã và mã hóa sẽ tạo nên các luồng video số có khả năng
được phân phối qua mạng IP.


Phân phối nội dung
Khối phân phối nội dung bao gồm các chức năng chịu trách nhiệm về

việc phân phối nội dung đã được mã hoá tới thuê bao. Thông tin nhận từ các
chức năng vận truyển và điều khiển IPTV sẽ giúp phân phối nội dung tới thuê
bao một cách chính xác. Chức năng phân phối nội dung sẽ bao gồm cả việc lưu
trữ các bản copy của nội dung để tiến hành nhanh việc phân phối, các lưu trữ tạm
thời (cache) cho VoD và các bản ghi video cá nhân. Khi chức năng thuê bao liên
lạc với chức năng điều khiển IPTV để yêu cầu nội dung đặc biệt, thì nó sẽ gửi tới
chức năng phân phối nội dung để có được quyền truy cập nội dung.


Điều khiển IPTV
Các chức năng điều khiển IPTV là trái tim của dịch vụ. Chúng chịu trách

nhiệm về việc liên kết tất cả các chức năng khác và đảm bảo dịch vụ hoạt động ở
cấp độ thích hợp để thoả mãn nhu cầu của khách hàng. Chức năng điều khiển

Sinh viên: Đoàn Văn Vũ

23


Học viện bưu chính viễn thông

Báo cáo thực tập tốt nghiệp

IPTV nhận yêu cầu từ thuê bao, liên lạc với chức năng phân phối và vận chuyển
nội dung để đảm bảo nội dung được phân phối tới thuê bao. Một chức năng khác
của điều khiển IPTV là cung cấp hướng dẫn chương trình điện tử EPG (Electronic
Program Guide), EPG được thuê bao sử dụng để chọn nội dung theo nhu cầu.
Chức năng điều khiển IPTV cũng sẽ chịu trách nhiệm về quản lý quyền nội dung
số DRM (Digital Rights Management) được yêu cầu bởi thuê bao để có thể truy
cập nội dung.


Chức năng vận chuyển IPTV
Sau khi nội dung yêu cầu từ thuê bao được chấp nhận, chức năng vận chuyển

IPTV sẽ chịu trách nhiệm truyền tải nội dung đó tới thuê bao, và cũng thực hiện
truyền ngược lại các tương tác từ thuê bao tới chức năng điều khiển IPTV.


Chức năng thuê bao
Chức năng thuê bao bao gồm nhiều thành phần và nhiều hoạt động khác

nhau, tất cả đều được sử dụng bởi thuê bao để truy cập nội dung IPTV. Một số
thành phần chịu trách nhiệm liên lạc thông tin với chức năng truyền dẫn, ví dụ
như truy cập getway kết nối với bộ ghép kênh truy cập đường dây thuê bao số
DSLAM, hay trình STB (bộ giải mã) sử dụng trình duyệt web để kết nối với
Middleware server. Trong chức năng này, STB lưu trữ một số các thành phần
quan trọng như các key DRM và thông tin xác thực user. Khối chức năng thuê bao
sẽ sử dụng EPG cho phép khách hàng lựa chọn hợp đồng để truy cập và yêu cầu
nó từ các chức năng điều khiển IPTV. Nó cũng nhận các giấy phép số và các key
DRM để truy cập nội dung.

Sinh viên: Đoàn Văn Vũ

24


Học viện bưu chính viễn thông

Báo cáo thực tập tốt nghiệp

Hình 2.3 Các thành phần của cấu trúc chức năng
2.2. Phương thức phân phối dịch vụ IPTV
Các kiểu lưu lượng mạng IP thời gian thực khác nhau được tạo ra bởi các loại
dịch vụ trên nền IP khác nhau như VoIP và truy cập Internet tốc độ cao. Với mỗi
loại dịch vụ có những đặc điểm riêng về nội dung, vì thế cần phải có những phương
thức phân phối thích hợp. Hiện nay có ba phương thức dùng để phân phối nội dung
IPTV qua mạng IP là unicast, broadcast và multicast.
• IP Unicast: Được sử dụng để truyền dữ liệu (hay một gói dữ liệu) từ một
máy phát (sender) đến một máy thu đơn giản.
• IP Broadcast: Được sử dụng để gửi dữ liệu từ một máy phát (sender) đến
toàn bộ một mạng con Subnetwork gồm nhiều máy thu.
• IP Multicast: Được sử dụng để cung cấp dữ liệu từ một máy phát đến một
nhóm các máy thu được cài đặt theo một cấu hình thống nhất, các thành viên của
một nhóm này có thể thuộc các mạng phân tán khác nhau.
Tuy nhiên, đối với vấn đề truyền dẫn video trong môi trường mạng, do yêu cầu phải
phân phối dữ liệu từ một điểm đến nhiều điểm, trong đó dòng dữ liệu cần được

Sinh viên: Đoàn Văn Vũ

25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×