Tải bản đầy đủ

Nguyễn Khuyến và chủ đề tự Thuật trong văn chương

II NỘI DUNG
CHƯƠNG I. Chương 1
SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA -BỐI CẢNH LỊCH SỬ- THỜI ĐẠI-VĂN HÓA ĐẾN
THỜI ĐẠI LỊCH SỬ VÀ VĂN CHƯƠNG NGUYỄN KHUYẾN
1. Bối cảnh lịch sử-thời đại
Theo những tài liệu về Nguyễn Khuyến được biết ông sinh năm ất Ất Mùi
1835 ở quê mẹ, làng Hoàng Xá, huyện ý Ý Yên, tỉnh Nam Định nhưng lớn lên chủ
yếu ở quê cha là làng Yên Đổ,huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam.Tên lúc đầu là Thắng,
về sau mới đổi là Khuyến để chỉ rõ quyết tâm học tập của mình.
Nguyễn Khuyến được sinh ra trong một gia đình nhà nho nghèo, từ bé đã nổi
tiếng học giỏi. Tuy nhiên, Nguyễn Khuyến đã phải vất vả mấy lần thi hỏng sau đó
mới lần lượt đỗ Hội nguyên, rồi Đình nguyên, được vua Tự Đức ban cờ biển và viết
cho ông hai chữ “Tam nguyên”. Sau khi thi đỗ, Nguyễn Khuyến ra làm quan, ông
đựơc được giữ chức vụ khá nhàn nhã,không phải lo lắng những vấn đề gay go của
đất nước.Thế nhưng chỉ sau mười một năm ra làm quan dưới triều Nguyễn, đến
năm 1883, Nguyễn Khuyến đã xin từ quan về ở ẩn (với danh nghĩa về hưu non do bị
đau mắt) không màng chính sự khi ông mới 49 tuổi. Tại sao lại có sự “nghỉ hưu
non” này?
Như trên đã nói, ngay từ thuở thiếu thời, Nguyễn Khuyến đã nổi tiếng học
giỏi khắp vùng; gia đình ông lại là dòng dõi Nho gia.Vì thế mà tương lai của ông
được vạch ra theo thứ tự: học-thi đỗ-làm quan. Và sau nhiều năm dùi mài kinh

sử,cận kề đèn sách,Nguyễn Khuyến đã đậu được đến Tam Nguyên. Tuy nhiên,
đường quan trường của ông không có gì nổi trội,hiển hách là mấy.Có lẽ,vì trong
khoảng mười hai năm làm quan thì có đến sáu năm (một nửa đời làm quan của ông)
là làm ở sử quán, một công việc rất nhàn nhã,không phải lo lắng cho quốc sự
nhiều.Năm 1858, thực dân Pháp chính thức đem quân sang xâm lược nước ta ,
chúng chiếm lấy Bắc Bộ rồi chiếm luôn cả kinh thành, vua Tự Đức chết khiến cho cả
triều đình hỗn loạn như rắn mất đầu. Các quan lại hoang mang lo lắng,tình hình vô


cùng rối ren.Bản thân Nguyễn Khuyến là một nhà nho theo đạo Thánh hiền, lấy chữ
Trung làm trọng,vì thế mà ông quan niệm phải trung với vua,thờ vua giúp
nước.Hơn nữa,qua ba lần thi Hương,thi Hội,thi Đình ông đều đạt giải nguyên đỗ
đầu ,lại được vua tự tay khen thưởng, “cái ơn huệ” đối với ông có nghĩa là trách
nhiệm (Theo “Nguyễn Khuyến-một phong cách lớn”, Nguyễn Lộc). [ ,

] Có lẽ do

vậy mà sau khi thi đậu, mặc dù lúc đó nước ta đã bị thực dân Pháp xâm lược, tình
hình hết sức rối ren, nhưng Nguyễn Khuyến vẫn quyết định ra làm quan,vì ông nghĩ
rằng đó là con đường duy nhất để một nhà nho có thể thực hiện được lý tưởng “trí
quân trạch dân” của mình:
“Mười mấy năm qua ấn với thao
Thân này mong được đức vua yêu”
Tuy nhiên khi giặc Pháp nổ súng và xâm lược,Nguyễn Khuyến đã không có
dũng khí lấy cái chết để đền nợ nước như Trần Bích San,hay Phan Thanh Giản, ông
cũng không đủ tự tin và can đảm để theo tướng tài chiêu mộ binh sĩ chờ thời cơ khởi
nghĩa như tổng đốc Sơn Tây Nguyễn Đình Nhuận hay nho sĩ Nguyễn Quang
Bích.Nhưng ông cũng chẳng làm quan cho giặc như Nguyễn Hữu Độ mà chọn con
đường từ quan về nhà để khỏi mang tiếng xấu đến muôn đời.
Trứơc Trước lẽ xuất xử,Nguyễn Khuyến đã băn khoăn, chết thì:
Nhược vi thảng thốt lâm nghi dị
Đáo đắc thoan tuần biện diệc nan
( Xuân dạ liên nga)
(Nếu như thảng thốt mà xông vào chỗ chết thì còn dễ, nhưng dùng dằng mà
quyết chết được thực là khó)
Nếu theo Nguyễn Quang Bích thì ông tự nhận thấy mình không đủ tài cán:
Vô tài cự khả khinh đầu bút
Hữu dục an năng bất sĩ bào
(Bất tài há dám xem nhẹ việc bứt bút theo quân
Còn ham muốn sao cho khỏi thẹn với tấm áo)



Có thể thấy một điều là ở vào thời điểm đó, đối với ông giải pháp nào cũng là
gượng gạo và miễn cưỡng. Đó là giai đoạn khủng hoảng và bế tắc buộc Nguyễn
Khuyến.. Ông đã so sánh giữa tình thế và sức lực của mình với kẻ khác ,giữa bản
thân với gia đình để cuối cùng lựa chọn con đường cáo quan về quê:
Việc nhiều,hay ốm, đành hưu vậy
Ngày một lần ăn chưa nỗi nào
Giúp nước bạn bè còn lại đó
Về nhà con cháu chắc hiền đâu?
Nguyễn Khuyến nghĩ rằng bạn bè ông ở lại giúp nước còn ông đã già lại đau
ốm không đủ tài đủ sức để chống giặc mà cứ bám lấy một chức quan là tham
lam.Suy nghĩ của ông về lẽ xuất xử chỉ đơn giản là thời thế loạn lạc, không hành
được thì tàng chứ chẳng phải là do thiếu ơn tri ngộ hay do gặp hôn quân gian thần.
Ông chọn cách ẩn dật để mong chút tự do,thoải mái cho riêng mình. Có những lúc
ông đã ao ước giá mình là một hòn đá vô tri vô giác vì ông sợ lương tâm còn thì hẳn
còn khiến ông suy nghĩ và khổ sở.Kiểu ẩn dật mà Nguyễn Khuyến lựa chọn cũng
như nhiều nho sĩ khác, đó là cách lựa chọn thái độ sống của nhà nho.Tuy nhiên,lựa
chọn theo cách đó phải có tiền đề là một thể chế chính trị xã hội cho phép con người
quan niệm mình không có trách nhiệm với xã hội ,hoặc trách nhiệm đó thuộc về vua
hoặc cá nhân là cứu cánh -đồng thời có hoàn cảnh kinh tế tự túc, có thể sống biệt lập
,có ít liên quan với kẻ khác.Nhưng hoàn cảnh hiện tại không cho Nguyễn Khuyến
sống biệt lập như các ẩn sĩ đời xưa; vì thế mà ông luôn phải suy nghĩ và khổ sở bởi
điều ấy.
Theo ông Nguyễn Lộc, Nguyễn Khuyến cáo quan lui về vườn Bùi chốn cũ là
do sự chi phối của một tâm lý bất lực thất bại chủ nghĩa. Ông nhìn thấy nước không
còn nữa nên đành quay về ở ẩn:
Cờ đương dở cuộc không còn nước
Bạc chửa thâu canh đã chạy làng


Thực ra,sự lựa chọn của Nguyễn Khuyến đã bao phen làm ông suy đi nghĩ lại
bởi lịch sử bấy giờ chưa thể có câu trả lời chính xác,người nho sĩ bị dồn vào thế
bí .Nguyễn Khuyến bị bao mối ràng buộc:
Ơn vua chưa chút báo đền
Cúi trông hổ đất,ngửa lên thẹn trời
Nhưng nếu làm quan lại để tiếng xấu cho đời sau.Cho nên ,sự lựa chọn xuất
xử của Nguyễn Khuyến không được rõ ràng ,vì ông từ quan với danh nghĩa là về
hưu non, ông lại không tham gia chống Pháp và vẫn giao thiệp tốt với những bạn
quan cũ,bởi vậy mà lẽ xuất xử của ông không minh bạch, “vẫn có chỗ để nghi
ngờ,chê cười”(theo GS.Trần Đình Hượu). Điều này khiến nhà thơ hết sức khổ tâm;
đó cũng là lúc con người cá nhân của ông được bộc lộ:một con người khát khao
được thờ vua giúp nước nhưng gặp thời buổi nhiễu nhương đành bất lực làm một
ông già vườn Bùi trốn thân vào cảnh vật. Đó là một kẻ sĩ bụng đầy chữ mà không
được đem hết ra để trả nợ tang bồng cho vẹn chí nam nhi.Nỗi niềm thương cho dân
tình thế thái của Nguyễn Khuyến chẳng lúc nào nguôi ngoai cả khi ông từ quan về ở
ẩn. Sự lựa chọn xuất xử của ông trong thời buổi ấy có lẽ chỉ có thể như thế nhưng
những khổ tâm, dằn vặt của ông về quyết định lựa chọn của mình đã được ông giải
toả qua những vần thơ mà từ đó,ta hiểu hơn con người Tam nguyên Yên Đổ, một
nhân cách lớn.
2.Sự ảnh hưởng của nho giáo đến tư tưởng Nguyễn Khuyến.
Nnhững lý tưởng về mặt chính trị xã hội của hệ tư tưởng Nho giáo ảnh hưởng
rất loén đến tư tưởng Nguyễn Khuyến.Học thuyết này,luôn được giáo dục đề cao
tinh thần “tự nhiệm” lấy “tu thân” làm gốc để cảm hoá lòng người (Tu kỉ trị
nhân).Tuy nhiên, khi bắt tay vào thực tế,trước sự phức tạp của thời đại cũng như
chốn bổng lộc quan trường đầy cám dỗ “làm thế nào để trọn đạo Vua-tôi?”, “sống
làm sao để giữ được chữ Tâm cho thanh sạch?” …đó là vấn đề bao thế hệ Nho gia
suy tư trăn trở..
Chúng ta trước hết có thể khẳng định Nho giáo là nguồn gốc sâu xa đặt ra
vấn đề Xuất - xử. Hay nói cách khác, sự lựa chọn Hành hay Tàng, ở hay Về là một


sự chọn lựa ứng xử của các nhà Nho khi áp dụng tư tưởng của Nho giáo vào thực
tiến.Chính vì vậy, ta cần nắm vững những điều cốt lõi về lịch sử cũng như nội dung
tư tưởng của hệ ý thức này.
Thứ nhất, Nho giáo là một học thuyết đạo đức-chính trị mang tính chất tôn
giáo, được sáng lập bởi nhà tư tưởng Trung Hoa cổ đại Khổng Tử (551-479 TCN).
Sau khi ra đời, Nho giáo đã nhanh chóng phát triển thành hệ tư tưởng chính thống
và Nho học được xem là loại hình giáo dục phổ biến của Trung Hoa,kéo dài suốt
thời trung đại (Thế kỉ II TCN đến Cách mạng Tân Hợi 1911.1913). Nhưng chưa
dừng lại ở đó, học thuyết này còn gây ảnh hưởng sâu đậm khắp khu vực Đông
á,trong đó có Việt Nam.
Ở nước ta,Nho giáo được truyền bá rất sớm,từ thời Bắc thuộc( khoảng năm
111TCN hoặc sớm hơn) nhưng phải đến giai đoạn từ thời Trần sang thời Lê nó mới
trở thành ý thức hệ chính thống.Vai trò độc tôn của Nho giáo ở Việt Nam kéo dài
gần năm thế kỉ (Thế kỉ XV-Thế kỉ XIX) gây ảnh hưởng sâu sắc và toàn diện tới mọi
lĩnh vực trong đời sống xã hội nước ta. Đặc biệt hơn,nó đã tạo ra một đội ngũ trí
thức Nho học uyên bác. Đây chính là những chủ thể thẩm mỹ trực tiếp cấu thành
nên loại hình văn học nhà Nho-một bộ phận quan trọng trong nền Văn học trung
đại Việt Nam.
Từ sự sơ khảo về lịch sử như trên đã chỉ rõ lịch sử hình thành và phát triển
của Nho giáo nói chung và ở nước ta nói riêng. ở phần sau này, chúng tôi sẽ tập
trung trình bày làm nổi bật nội dung tư tưởng cốt lõi học thuyết đạo đức-chính trị
này.Bởi đây chính là cơ sở giúp ta lí giải nguồn gốc nảy sinh vấn đề Xuất-xử trong
Nho gia.
Nội dung cơ bản của Nho giáo được thể hiện tập trung trong ba học thuyết:
Thuyết “Đạo đức”,Thuyết “Lễ trị” và Thuyết “Chính danh”.Trong đó,lí tưởng của
học thuyết là chủ trương thiết lập lại trật tự xã hội một cách ổn định thông qua việc
tu luyện đạo đức nhằm hoàn thiện nhân cách bản thân và cảm hoá lòng người (Tu kỉ
trị nhân). Chính bởi vậy các môn sinh luôn phải lấy tu thân làm gốc, lấy chữ
“Nhân”, chữ “Nghĩa” làm đức mục cao nhất của quá trình tu thân.


Việc hiện thực hoá lí tưởng kiến tạo xã hội trên được Nho giáo giao phó tập
trung ở một số lớp người, được xem là tinh hoa của thời đại. Đó là những nhà
nho,các bậc thánh nhân quân tử,lớp người được xem là đã đạt được tính mẫu mực
điển hình của con đường tu thân dưỡng đức. Bởi vậy, trong nhân cách của
họ,thường trực một tinh thần “tự nhiệm”, “nhập thế” trước hiện thực đời sống.
“Vũ trụ giai ngô phận sự” (Nguyễn Công Trứ).Và để thể hiện tinh thần hữu
trách-phẩm chất đặc trưng của nhà Nho,họ sẽ bứơc vào con đường “lập thân ,cứu
thế” mà Nho giáo cho là “chính đạo”, đó là con đường học-thi đỗ và ra làm
quan.Nho giáo quan niệm rằng nhà Nho bước vào chốn quan trường là để giúp vua
giáo hoá dân chúng,ban ân huệ cho dân bằng chính đạo đức nhân cách của mình
(con đường “Đức trị”, phò vua trị quốc, trị quốc cứu đời, trị đời để cứu dân). Chính
vì thế con đường trước tiên, con đường chính thống nhất mà nhà Nho muốn lựa
chọn bao giờ cũng là con đường “nhập thế”.
Tuy nhiên, có một nghịch lý nảy sinh là giữa lý tưởng hành đạo của nhà Nho
với thực tế lại bị mâu thuẫn với nhau rất sâu sắc. Nho giáo quan niệm trọng “Đạo”
khinh vật chất và chủ trương coi con đường làm quan là con đường hành đạo chân
chính nhất. Thế nhưng quan trường chính là nơi trực tiếp liên quan đến đời sống
chính trị, thời đại, lại là nơi có nhiều thủ đoạn trục lợi cầu danh, phức tạp nhất, khó
nắm bắt nhất.Do vậy,mặc dù tu thân lập tề theo con đường “Chính đạo” nhưng các
nhà nho vẫn luôn trăn trở giữ mình, giữ được chí khí của bậc quân tử “Phú quý bất
năng dâm,bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất” (Giàu sang không cám dỗ được
lòng mình, nghèo khó không làm mình nao núng,cường quyền không làm mình
khuất phục). Nhưng chưa dừng ở đó, việc nhà nho có thực hiện được lí tưởng của
mình hay không lại phụ thuộc vào phẩm chất của các ông vua: có được vua minh tin
dùng thì họ mới có thể đem sở học của mình ra phò vua giúp nước được.Hơn
nữa,thời thế luôn luôn thay đổi, lại thêm buổi loạn lạc phân li…càng đẩy các nhà
nho vào bi kịch “Tài cao phận thấp chí khí uất”. Nhưng dù rơi vào hoàn cảnh nào,
nhân cách của nhà nho cũng buộc họ phải hành xử sao cho trọn đạo.Chính vì vậy
mà họ thường xuyên phải đặt ra vấn đề Xuất -Xử. Tâm lý họ luôn mong muốn


“nhập thế”, “hành đạo” nhưng thời cuộc thay đổi, để bảo vệ phẩm giá của mình,họ
sẵn sàng chọn con đường ẩn dật “Lánh đục về trong”.
Lựa chọn con đường ẩn dật đồng nghĩa với việc các nhà nho bước ra ngoài
chốn quan trường chính sự để về với cuộc sống “an bần lạc đạo” hưởng thú thanh
nhàn nơi cảnh quê yên tĩnh. Nhưng trong thực tế,họ chỉ nhàn “thân” mà không
nhàn “tâm”;họ trốn vào thiên nhiên cảnh vật đấy mà lòng vẫn đau đáu sự đời:
“Bui có một lòng trung với hiếu
Mài chăng khuyết ,nhuộm chăng đen”
(Thuật hứng 24-Nguyễn Trãi)
Chính sự day dứt này đã trở thành nguồn xúc cảm để các nhà nho tự bạch
lòng mình,làm nên một bộ phận đặc sắc trong văn học-Văn chương nhà Nho ẩn dật.
Độc giả hẳn không thể quên dòng tâm sự trong thơ Nguyễn Trãi,Nguyễn Công
Trứ,Cao Bá Quát,Nguyễn Đình Chiểu,Nguyễn Khuyến…Họ cũng chọn lựa con
đường “Lánh đục về trong” để bảo toàn phẩm giá trước những đổi thay của thời
cuộc. Tuy nhiên, sự lựa chọn Xuất-Xử của họ lại đựơc thể hiện theo những phương
thức xúc cảm riêng. Đây chính là cơ sở để chúng tôi đi đến việc tìm tìm hiểu “Cái
Tôi của nhà thơ Nguyễn Khuyến trong sự lựa chọn Xuất-xử”.
Tóm lại, những việc trình bày như trên cho ta thấy rằng Nho giáo là một học
thuyết chính trị-đạo đức giàu tính thực tiễn và có ý nghĩa tích cực. Trong đó nó chủ
trương hứơng tới việc tạo dựng một xã hội thái bình thịnh trị. Đồng thời đề cao tinh
thần hữu trách tự nhiệm của nhà nho trước hiện thực cũng như coi trọng phẩm
cách của họ trước cuộc đời. Đây chính là nguyên nhân làm nảy sinh mối trăn trở mà
nhà nho luôn băn khoăn,day dứt,suy tư: đó là vấn đề về sự lựa chọn xuất-xử.Trước
mỗi bậc chính nhân luôn có hai con đường:gặp thời ra sức làm quan phò vua giúp
nước;bất phùng thời sẵn sàng từ chức về an trù tại quê hương.Chính vì vậy mà việc
bỏ Hành về Tàng vẫn được xem là con đường “dũng thoái”.Nó vừa thể hiện thái độ
phản ánh của nhà nho trước thực tại vừa góp phần giữ gìn tâm hồn trong sạch của
bản thân.


CHƯƠNG II .SỰ THỂ HIỆN CÁI TÔI TRONG VĂN CHƯƠNG NGUYỄN
KHUYẾN
II.1. Tư thế một nhà Nho tự thẹn, tự nhận thức, tự trào
Chín lần lều chõng đi thi và đỗ đạt (Tam Nguyên), Nguyễn Khuyến là nhà
Nho đích thực, một danh Nho. Vậy điều gì làm cho nhà Nho Yên Đổ băn khoăn, tự
thẹn, trăn trở day dứt ? Tư cách một nhà Nho, các nho sĩ trước Nguyễn Khuyến có
lo nghĩ day dứt không ? Điều này không khó trả lời, Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh
Khiêm… các tác giả văn học nổi tiếng này đã không ít đau buồn và cô độc khi lui về
ở ẩn. Vì sao vậy ? PGS.TS. Trần Nho Thìn cắt nghĩa khá rõ: “Sự kiên trì lý tưởng
đạo đức, quyết tâm giữ vững nhân cách nhà Nho. Chủ trương một lối sống lánh đời
tất mang sắc thái lội ngược dòng lánh đục về trong và tất có nét cô độc”. Nguyễn
Khuyến khi từ chối chức Tổng đốc Sơn Tây tức là từ chối danh lợi như không ít các
nhà Nho trước đó. Có điều, đối với các nhà Nho trước, có hai con đường: xuất và
xử. Khi con đường làm quan hanh thông thì tiếp tục làm quan, khi không thuận lợi
thì cáo quan về ở ẩn hoặc dạy học. Có trường hợp từ quan vì vua không “minh
quân”, quan lại ganh ghét đố kị. Như trường hợp của Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh
Khiêm… Con đường từ chối chức Tổng đốc Sơn Tây không vì lẽ đó khi giặc Pháp
thực sự đặt ách thống trị lên đất nước (1881), nhiều nho sĩ, trí thức Việt Nam đã đi
theo ngọn cờ Cần Vương. Nguyễn Khuyến đã băn khoăn trước ngã ba đường, cuối
cùng, ông quyết không hợp tác với giặc, nhưng cũng không đủ trí dũng để chiến
đấu. Giải pháp của nhà nho này là từ quan về với vườn Bùi, quê hương của ông.
Như đã nói, về quê là một bước ngoặt trong đời thơ Nguyễn Khuyến. Ở đây cần
nhấn mạnh một vấn đề khác: tư cách nhà Nho Nguyễn Khuyến. Là một nho sĩ từng
bước qua cửa khổng sân trình, cũng như bao Nho sĩ khác, ông mong muốn và tin
tưởng “vào sứ mệnh cao cả và thiêng liêng cao cả mà một nhân cách đứng giữa trời


đất như mình được, tin tưởng vào tính hữu ích của cái học vấn mà mình có được
nhờ học tập sách thánh hiền” (Trần Nho Thìn). Nhưng giờ đây “áo xiêm nghĩ lại
thẹn thân già” nhà Nho Nguyễn Khuyến luôn day dứt, mặc cảm về sự bất lực của
bản thân trong tư cách một nhà Nho. “Có thể nói, qua thơ Nguyễn Khuyến, lần đầu
tiên trong lịch sử, nhà Nho tự thú về sự vô dụng của mẫu người mà mình đại diện.
Nhà thơ tự trách vấn, tự xỉ vả, thậm chí tự mạt sát”. Tư cách một nhà văn hóa, một
người tự ý thức rất rõ về sự bất lực của loại hình nhân cách như mình, sự vô dụng
của một trí thức trước cảnh nước mất, nhà tan:
“Sách vở ích gì cho buổi ấy
Áo xiêm nghĩ lại thẹn thân già”
(Ngày xuân dặn các con)
Cũng ở bi kịch của một nhà Nho trước thời cuộc, “cái tôi” Nguyễn Khuyến
hiện ra ở biểu hiện “tự trào”:
“Mở miệng nói ra gàn bát sách
Mềm môi chén mãi tít cung thang
Nghĩ mình lại gớm cho mình nhỉ
Thế cũng bia xanh, cũng bảng vàng”
(Tự trào)
Như vậy, bối cảnh lịch sử xã hội lúc bấy giờ - sự đô hộ của giặc Pháp – là một
sự kiện tác động lớn đến ý thức của nhà Nho Việt Nam, khiến con người văn hóa
Nguyễn Khuyến không khỏi nhận thức lại vị trí của giai cấp mình.
Cũng với tư cách nhà Nho trước thời cuộc, ông đã nhìn về kẻ thù với cái nhìn
nhà Nho.
Bởi theo Nguyễn Khuyến, một trong hai tội ác của giặc là việc làm đương
khai mỏ có hại cho vận mệnh dân tộc giống như việc làm tổn thương long mạch theo
quan điểm phong thương. Cách nghĩ cách nhìn này rõ ràng đứng ở tư cách một nhà
nho:
Khoét rỗng ruột gan trời đất cả
Phá tung phênh dậu hạ di rồi


Trước thời cuộc nhiễu nhương mà mình - một trí thức, một nhà nho bất lực,
Nguyễn Khuyến tự thẹn, tự trào với chính mình. Nhiều bài thơ của thi nhân đã hiện
ra “cái tôi” như thế:
Cánh vô thực học tì suy thế
Thặng hữu hư danh quán đại đình
(Cận thuật)
(Dịch nghĩa: Đã không có cái học để giúp đời đang suy lại còn mang cái hư
danh đỗ đầu thi đình.)
Chân thành tự thẹn với chính mình, đó là một nhân cách đáng trọng. Tuy nhiên,
Nguyễn Khuyến không nghĩ thế. Càng tự ý thức về bản thân, thi nhân Nguyễn
Khuyến càng cảm thấy cái sự học của nhà Nho thật vô nghĩa, thấy bản thân mình
thật đáng bị phủ định. Ông phủ định chính mình bằng hình thức “tự trào” thật
chua chát:
Năm nào năm nảo hãy còn ngây
Sầm sập già đây hãy đến ngay
Mái tóc phần sâu phần lốm đốm
Hàm răng chiếc rụng chiếc lung lay
Nhập nhèm bốn mắt tranh mờ tơ
Khấp khểnh ba chân dở tỉnh say
Còn một nỗi này thêm chán ngán
Đi đâu lủng củng cối cùng chày
Thông thường, tư cách nhà nho khiến cho các nho sĩ trước đó diễn tả trong
thơ tư thế thiên sứ của mình: thực thi cái đạo (nguyên lý trị nước, nguyên lý tổ chức
xã hội, nguyên lý sống và các nguyên lý khác của vũ trụ). Nhà nho truyền thống
quan niệm: trời sinh đức ở ta tự thấy mình có nhân cách và hướng quan sát xã hội
từ bên ngoài, bên trên. Họ tỏ rõ sự nghiêm túc, khi ngợi ca hay phê phán. Do vậy,
đến Nguyễn Khuyến mới có hiện tượng một danh Nho “tự trào”, thậm chí lấy cái
xấu, cái tệ của mình ra mà cười cợt. Mạch “tự trào” trong việc thể hiện “cái tội” của


Nguyễn Khuyến biểu lộ ở khá nhiều tác phẩm như bài “tự trào”, “tự thuật”. Dưới
đây là các bài “tự thuật” viết bằng ngôn ngữ khác nhau:
Bài “tự thuật” viết bằng chữ Nôm:
Tháng ngày thấm thoát tựa chim bay
Ông ngẫm mình ông nghĩ cũng hay
Tóc bạc bao giờ không biết nhỉ
Răng long ngày trước hãy còn đây
Câu thơ được chửa, thưa rằng được
Chén rượu say rồi nói chửa say
Kẻ ở trên đời lo lắng cả
Nghĩ ra ông sợ cái ông này
Bài “tự thuật” viết bằng chữ Hán:
Tự thuật (II):
Dịch thơ:
Đã bốn năm năm trở lại nhà
Làm gì được nữa, tóc phơ phơ
Cảnh nghèo mặt võ thân thêm võ
Người bệnh hình trơ bóng cũng trơ
Và cạn hoa vàng như muốn giễu
Thư không âu trắng hẳn sinh ngờ
Kiếp sau ai sẽ là ta nhỉ
Ai sẽ phong lưu sánh kịp ta
Xét hai bài “tự thuật” trên, thì bài nguyên viết bằng chữ Nôm có cái chua
chát của ông nhà Nho thất thế, mất thời. Còn bài “tự thuật” (II) viết bằng chữ Hán
kết thúc bằng hai câu hỏi, hỏi như đang tự vấn, cười cợt với sự “phong lưu” vô
nghĩa của mình. Cần nói thêm rằng, nếu như trước ông việc ẩn dật là một cách bảo
vệ lí tưởng, cách hành đạo thì với vị quan họ Nguyễn này, lần đầu tiên trong lịch sử
nho giáo Việt Nam, về ở ẩn có nghĩa là từ bỏ tư thế nhà Nho để làm người dân
thường:


“Kẻ thù còn đó đọc gì Xuân Thu
Lòng đã dứt mọi mối lo
Âu là chống gậy ngao du cho rồi”
(Cảm nghĩ đầu xuân)
Như vậy, với tư cách một nhà Nho, biểu hiện của “cái tôi” Nguyễn Khuyến
trong thơ là một cái tôi suy tư. Vậy bối cảnh nào làm nền cho sự xuất hiện của cái
tôi ấy ? Như đã diễn ra ở phần “cái tôi” trong văn học trung đại, theo ý của PGS.TS.
Trần Nho Thìn (sách đã dẫn): “Song điều đáng phải nói rõ là trong khi gạt bỏ cuộc
sống xã hội, họ lại cứ nhất thiết đặt “cái tôi” của mình vào bối cảnh thiên nhiên nào
đó”. Khảo sát lại những bài thơ “tự trào” của thi sĩ Nguyễn Khuyến đã trích dẫn,
cho thấy một điểm khác biệt của riêng ông khi thể hiện “cái tôi” nhà Nho, nhà thơ
không tạo bối cảnh thiên nhiên – không gian cho cái tôi tự thẹn, tự trào xuất hiện
mà chủ yếu vẽ ra bối cảnh xã hội, bối cảnh cá nhân đời thường của ông để tự đó gởi
gắm một cái tôi tự thẹn, tự xấu hổ hay cười cợt về sự vô dụng với tư cách một nhà
nho. Và thêm nữa, cái tôi ấy không phải xuất hiện trong tư thế người chứng kiến từ
bên trên, bên ngoài như các Nho sĩ thường thể hiện mà bằng chính hình ảnh của
người trong cuộc . “Ông ngẫm mình ông nghĩ cũng hay”, người trong cuộc tự thấy
mình là “con người thừa”. "Tự trào" chính chân dung của mình là điểm riêng của
Nguyễn Khuyến so với những nhà thơ trước đó.Phải chăng,đó là dấu hiệu sự cáo
chung của văn học nhà Nho?Ý kiến dưới đây của nhà nghiên cứu Trần Nho Thìn có
ý nghĩa khái quát hơn khi nói về vấn đề này."Không phải tất cả các nhà thơ ở cuối
thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX đều tự trào,nhưng cũng phải thấy tự trào là một hiện
tượng đặc biệt,một dấu hiệu không thể thiếu của giai đoạn văn học chuyển từ truyền
thống,trung đại sang hiện đại."
Trong loạt bài thơ về “ông phỗng đá”, Nguyễn Khuyến đã lên án loại người
“ngây ngây dại dại” vô cảm trước nỗi đau của nhân dân, nhưng cuối cùng ông kết
luận, ông phỗng đá đáng cười ấy hóa ra lại là chính nhà thơ:
“Cõi hoá cùng đi lại
Không chừng bác cũng ta”


Chính bởi xuất phát từ người trong cuộc, nên các bài tự trào mang máu thịt,
bóng hình cụ Yên Đổ. Đó là điểm khác với tự trào của Tú Xương: tự trào để chửi
đời hơn là bộc bạch tâm sự mình.
Có một “cái tôi” trong thơ Nguyễn Khuyến qua mảng thơ tự trào đã bôi đen
mình. Hình ảnh Nguyễn Khuyến yếu đuối, nhếch nhác, cam chịu, bế tắc hiện ra
dưới nhiều gốc độ khác nhau: “Ông say”, “ông lòa”, “anh giả điếc”, “lão đá”, “đồ
chơi”, “mẹ Mốc”. Ông muốn phủ nhận con người bất lực của chính mình qua
những hình ảnh ấy. Như vậy, “cái tôi” của Nguyễn Khuyến trong thơ không thường
xuất hiện ở bình diện con người thứ nhất, kiểu như “Này của Xuân Hương”… mà
hiện diện ở tư cách con người thứ hai…
II.2. Tư thế nhà Nho tự tin, tự hào vào bản thân
Cũng ở mảng thơ “tự trào”, nhà Nho Yên Đổ lại cho thấy một cái tôi không
phải “tự thẹn” mà ngược lại, đó là một cái tôi tự tin. Số lượng bài thơ tự trào dạng
này không phải là ít. Nhà nghiên cứu khoa học Vũ Thạch – khi thống kê số lượng
tác phẩm “tự tráo”, đã đếm được 24 bài thơ thể hiện niềm lạc quan, tự tin vào bản
thân của thi sĩ họ Nguyễn này (Thống kê văn bản trong Nguyễn Khuyến – tác phẩm,
Nguyễn Văn Huyền, NXB Khoa học xã hội, H, 1984). Đó không phải là con số ít ỏi.
Qua đó cho thấy thái độ lạc quan, vươn lên vượt khó của anh khóa Thắng (tên trước
khi thi đỗ của Nguyễn Khuyến):
“Quyết chí phen này trang trải sạch
Cho đời rõ mặt cái thằng tao”
(Than nợ)
Tuy nợ “lãi mẹ, lãi con sinh đẻ mãi” (Than nợ) và nghèo đến độ “Danh giá
nhường này không nhẽ bán” (Than nghèo), chàng sĩ tử quyết tâm vượt khó, quyết
tâm mang bảng vàng về sau khi “lều chõng”. Tuổi trẻ không nản chí, lý tưởng, mơ
mộng mở ra niềm hy vọng tươi sáng cho người con Yên Đổ:
Gặp hội rồng mây cao chót vót
Đã lên, lên bổng tít bao chừng
(Cá chép vượt đăng)


Một cái tôi tự tin, trong sáng ấy, dù trải qua năm tháng, thời cuộc, đến tuổi
già, trong thơ ông vẫn còn cái dáng dấp tự tin ấy:
“Một năm, một tuổi, trời cho tớ
Tuổi tớ trời cho, tớ lại càng…”
(Khai bút)
Đọc các câu thơ dưới đây trong bài “lên lão”, ta bắt gặp niềm vui của ông già
Yên Đổ:
“Ông chẳng hay ông tuổi đã già
Năm lăm ông cũng lão đây mà
Anh em làng xóm xin mời cả
Xôi bánh trâu heo cũng gọi là”
Như vậy, xuyên suốt hành trình cuộc đời mình, từ đi thi đến thi hỏng, nợ nần
nghèo đói, tuổi già, muốn vượt lên trên hoàn cảnh, Nguyễn Khuyến nhiều lần động
viên mình. Dẫu nghèo khó, tư thế một nhà quan, một nhà nho, ông đã có lúc đầy khí
thế:
Vốn lăm chí xông pha trời thẳm
Đâu phải là điều én, sẻ hay
(Vân ngoại bằng đoàn)
Ở bài “Hý thủy thanh danh” viết bằng chữ Hán, ta thấy ở ông một cái tôi
“rạo rực những ước mơ”.Dưới đây là hai câu thơ dịch:
Những ước được thời, cơn gió cả
Chút vui thôi cũng vượt muôn trùng
Rõ ràng,ngay ở thơ "tự trào" của Nguyễn Khuyến,người đọc tinh ý nhận ra một
cuộc đối thoại và một cuộc tự đối thoại của nhà thơ với chính mình.Nhà thơ Nguyễn
Bỉnh Khiêm nói :"ta dại ta tim nơi vắng vẻ " thì có ai nghĩ về tác giả đúng nguyên
như lời nói.Cũng vậy,trong lời nói có tính phủ định của Nguyễn Khuyến,có một
tiếng nói khác,một tiếng nói phản tỉnh,một tiếng nói khẳng định,để đằng sau đó ẩn
chứa sự tự tin và tự hào của tác giả.


Nói chung,tự tin và tự hào có ý nhĩa tích cực đối vói Nguyễn Khuyến, có ý nghĩa
động viên rất lớn với một danh nhân giàu lòng tự trọng,tự ý thức về giá trị chân
chính của bản thân dù bị lý thuyết nhà Nho phần nào làm hạn chế.
II.3 Tư thế “cái tôi” bình dân , phi Nho
Như đã giới thuyết ở chương I, mục : sự thể hiện “cái tôi” trong thơ ca trung
đại, “cái tôi” nhà Nho chủ yếu xuất hiện ở tư cách nhà nho. Họ xem mình là một bộ
phận trong chỉnh thể Thiên – địa – nhân và có một thiên sứ đặc biệt mà vũ trụ
giao phó. Đến Nguyễn Khuyến , đã xuất hiện “cái tôi” bình dân. Đây là lần đầu tiên
có một cái tôi đời thường, gắn bó và hoà đồng với con người, cảnh vật ở làng quê.
“Cái tôi” của một nhân cách văn hoá thực sự sống trọn vẹn trong đời sống văn hoá
thường ấy đã nghe được “Những vang vọng của đời”:
Lưng trời gió vút diều ngân vắng
Khắp chốn cành cao chim rúc ran
Ấm xóm, gái già văng cãi tục,
Rộn ràng, trai khoá ngủ không an.
Ở đây với tư thế bình dân, “cái tôi” nhà nho không còn đứng bên ngoài ,
đứng cao hơn xã hội để quan sát nữa. Có một “cái tôi” thật gần gũi, gắn bó với đời
thường, những niềm vui bình dị của đời sống:
Cháu trai đứng sán lấy ông
Xóm giềng thấy khách cửa thông sang chào.
Đọc lại thơ cụ Tam Nguyên Yên Đỗ , ta thấy rõ một “cái tôi” dân quê đích
thực. “Cái tôi” ấy lo lắng trước nạn thiên tai như bao người dân.
“Quai Mễ Thanh Liêm đã lỡ rồi
Vùng ta thôi cũng lụt mà thôi”.


Đọc bài thơ “Ngày xuân dạy các con” (thơ dịch – Vũ Mộng Hùng dịch) , ta
thấy một “cái tôi” quan tâm đến cả chuyện “mắm múi dưa cà” thường ngày . Hai
câu kết như sau :
“Các con nối chí cha nên biết
Nghiên bút đừng quên lúa, đậu, cà”
Lâu nay sách vở ngợi ca nhiều về không khí làng quê, tính chất hiện thực
xuất hiện nhiều và sinh động trong thơ Nguyễn Khuyến. Dù chưa phải đã là chủ
nghĩa hiên thực , “nhưng cũng phải thừa nhận rằng việc miêu tả cuộc sống hằng
ngày là một dấu hiệu đánh dấu sự chuyển mình trong nguyên tắc nhìn nhận và
phản ánh thực tại của văn chương nhà nho!”. (theo nhà nghiên cứu Trần Nho Thìn,
‘từ những biến động trong nguyên tắc phản ánh thực tại của văn chương nhà nho
đến bức tranh sinh hoạt nông thông trong thơ Nguyễn Khuyến’).Việc từ bỏ tư thế
nhà nho, trở về với con người bình thường để vui buồn cùng gia đình, cùng người
nông dân là một điểm son mới của nhà thơ Nguyễn Khuyến, đã báo hiệu bước
chuyển biến quan trọng của văn chương nhà Nho cuối thế kỷ XIX hướng về phía
phản ánh thực tại khách quan.

CHƯƠNG III. NHỮNG KHÍA CẠNH NGHỆ THUẬT THỂ HIỆN CÁI TÔI
TRONG THƠ NGUYỄN KHUYẾN
1. Nguyễn Khuyến – tác giả tiêu biểu của khuynh hướng tố cáo hiện thực
Những sáng tác của Nguyễn Khuyến có một đặc điểm nổi bật mang nét chung của
văn học Việt Nam giai đoạn này đó là tập trung vào chủ đề tố cáo hiện thực. Đây là
một chủ đề rất mới, rất thời sự được bắt nguồn từ chính hoàn cảnh lịch sử của đất
nước lúc bấy giờ. Giai đoạn truớc, văn học hướng sự phát triển vào con người, cố
gắng vươn lên khẳng định những giá trị chân chính của con người cho nên những
chủ đề thường được đề cập là tình yêu, là giải phóng tình cảm, là quyền sống của
con người, và đấu tranh chống lại những thế lực phong kiến kìm hãm sự phát triển
tự nhiên của nó. Nhưng tất cả những chủ đề ấy khi văn học bước sang giai đoạn này
thì tự nó đều biến mất và nhường chỗ cho một chủ đề mới rất thời sự và tập trung
đó là chủ đề yêu nước chống Pháp và chủ đề tố cáo hiện thực, mà Nguyễn Khuyến là
một đại diện tiêu biểu. Văn học tố cáo hiện thực giai đoạn này chủ yếu là bức tranh
của xã hội Việt Nam lúc giao thời, từ một xã hội phong kiến chuyển sang xã hội thực
dân bán phong kiến, với tất cả tính chất hài hước, lố bịch nhưng cũng bi đát, đáng


thương của nó. Những năm cuối của thế kỷ XIX, phong trào Cần Vương chống
Pháp coi như thất bại. Thực dân Pháp đặt ách thống trị lên đất nước ta. Chúng ráo
riết củng cố nền thống trị của chúng và bắt đầu một công cuộc khai thác thuộc địa.
Một xã hội thực dân với đầy đủ tính chất xấu xa, bỉ ổi của nó ra đời, một bức tranh
xã hội đen tối hiện ra trước mặt. Ở thành phố, lối sống thực dân bắt đầu xuất hiện
với những nhân vật hoàn toàn mới với những “ông Tây”, “bà đầm”…Xã hội nửa
phong kiến nửa thực dân hiện ra thối nát và trâng tráo, lố lăng. Những thuần phong
mỹ tục nghìn đời nay của dân tộc đã bị dẫm đạp. Với Nguyễn Khuyến ông như một
nhà hoạ sĩ, thấy hiện tượng nào đập vào mắt, kích thích hứng thú sáng tác thì ông
ghi lại. Mảng sáng tác cũng rất có giá trị của Nguyễn Khuyến là mảng thơ trào
phúng, đả kích. Nguyễn Khuyến thấy khá rõ cái xấu xa của xã hội đương thời. Là
một nhà nho từng làm quan ông chú ý trước hết tới cái xấu của đám nho sĩ, của bọn
quan lại đi thi, làm quan trong thời buổi nước mất nhà tan thì có gì là thực chất?
Ông gọi đó là những “tiến sĩ giấy”, là “phỗng đá”, là “anh hề chèo”… Ông vạch
trần bọn quan lại chỉ lo cho túi mình đầy ắp và bất chấp tất cả sự khen chê của dư
luận. “Bồ chứa miệng dân chừng bật cạp Tiên là ý chú muốn nhiều xu” Hay trường
hợp nhà thơ đả kích một tên đốc học Hà Nam như: “Ai rằng ông dại với ông điện
Ông dại sao ông biết lấy tiền …Chỉ cốt túi mình cho nặng chắc Trăm năm mặc kệ
tiếng khen chê” (Tặng ông đốc học Hà Nam) Ông đả kích thói rởm đời lố lăng, thứ
con đẻ của xã hội thực dân. Ngòi bút đả kích của Nguyễn Khuyến trở nên chua xót,
cay đắng khi ông thấy chính nhân dân bị bọn thực dân lừa gạt đã tham gia một cách
vô ý thức vào những trò chơi làm hạ phẩm giá của mình. Nhưng có lẽ đả kích bọn
quan lại cay độc nhất là khi nhà thơ liệt ngang hàng “vợ bợm” với “chồng quan”
trong câu thơ “vợ bợm chồng quan danh phận đó”. Câu thơ này dễ làm người ta
liên tưởng tới câu tục ngữ dân gian: “mèo mả gà đồng” hay “mạt cưa mướp đắng”.
Một trong những đối tượng mà Nguyễn Khuyến tập trung tố cáo là những ông nghè,
ông cống - sản phẩm của những kỳ thi hương thi hội đã đến thời kỳ mục nát. Ghế
chéo lọng xanh ngồi bảnh choẹ Tưởng rằng đồ thực hoá đồ chơi (Vịnh tiến sĩ giấy)
Ngoài những ông nghè, ông cống hữu danh vô thực, Nguyễn Khuyến còn tập trung
lên án một số các hiện tượng lố lăng khác do xã hội thực dân đem lại. Ông xót xa,
cay đắng mà kêu lên rằng: Kìa hội Thăng bình tiếng pháo reo Bao nhiêu cờ kéo với
đèn treo! Bà quan tênh hếch xem bơi trải Thằng bé lom khom nghé hát chèo Cậy
sức cây đu nhiều chị nhún, Ham tiền cột mỡ lắm anh leo Khen ai khéo vẽ trò vui thế
Vui thế bao nhiêu nhục bấy nhiêu (Hội Tây) Nguyễn Khuyến đã dùng ngòi bút của
mình để lên tiếng đả kích những con người ấy, những con người của đất nước mình
nhưng đã vô tình mắc mưu kẻ thù bị lôi vào vòng xoáy xấu xa mà không hay biết.
Thái độ đả kích của Nguyễn Khuyến thâm trầm mà sâu sắc, bốp chát mà sắc nhọn.
Đó là thái độ của một nhà nho già đạo đức trước những diễn biến lố lăng của xã hội
đương thời.

2. Tính chất trữ tình trong hồn thơ Nguyễn Khuyến


Như chúng ta đã biết, hàng nghìn năm qua văn học Việt Nam phát triển trong điều
kiện một dân tộc luôn luôn phải chống chọi với thiên nhiên và kẻ thù xâm lược.
Thiên nhiên tai ác, nhưng khi con người đã làm chủ được nó thì thiên nhiên lại trở
thành nguồn vui, nguồn cảm hứng dồi dào cho thi tứ. Và đất nước này, những con
người trong đất nước này đã hun đúc nên một truyền thống trữ tình rất sâu đậm
trong văn học chúng ta. Nếu văn thơ một thời nào đó do ảnh hưởng của Tống nho
mà nguồn trữ tình có phần vơi cạn thì trái lại, trong văn học dân gian, tiếng nói hồn
nhiên của cuộc sống, bao giờ cũng tràn đầy những tình cảm yêu thương, ngọt ngào
chất trữ tình. Văn học giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX đã thể hiện rõ tính chât trữ
tình phong phú này. Và bài thơ Nguyễn Khuyến sáng tác ở quê nhà chính là những
dẫn chứng tiêu biểu cho đặc điểm này. Làm nên cái độc đáo của riêng Nguyễn
Khuyến đó chính là những vần thơ ông viết về nông thôn, đó là những vần thơ trữ
tình viết về những con người và cảnh vật thiên niên nơi ông sinh sống, về những
phong tục tập quán tốt đẹp còn được gìn giữ. Đó là thiên nhiên của miền quê bao la
có ao nước trong veo lóng lánh bóng trăng, có da trời xanh ngắt, có lưng giậu phất
phơ màu khói nhạt, có đom đóm lập loè ở ngõ tối và có: “Sóng biếc theo làn hơi gợn
tí Lá vàng trước gió sẽ đưa vèo” Và có cả những âm thanh trong suốt như: “Một
tiếng trên không ngỗng nước nào” Nói về thiên nhiên trong văn học cổ rất nhiều
nhưng trước Nguyễn Khuyến dường như chưa bao giờ có một thiên nhiên đậm đà
phong vị của đất nước quê hương đến thế. Nguyễn Khuyến có thể coi là nhà thơ viết
về nông thôn số một của văn học dân tộc. Điều kỳ lạ là nông thôn Việt Nam đã tồn
tại hàng nghìn năm và đã xuất hiện trong thơ ca của nhiều thế hệ nhà thơ nhưng lại
một lần nữa vừa như được phát hiện lại qua thơ văn Yên Đổ ở những góc độ không
ngờ. Thử hỏi các nhà thơ lớn trước Nguyễn Khuyến đã viết đựoc những gì về làng
quê và người nông dân? Đó là một đóng góp lớn của Nguyễn Khuyến Nguyễn
Khuyến cũng tự biểu hiện một tâm hồn khác lạ, mang dấu vết trữ tình sâu đậm.
Những ngày từ quan trở về, tuổi đã già, nhà thơ dạy học ở một miền nông thôn yên
tĩnh. Với cảnh trí thiên nhiên là những đầm nước mênh mông của ruộng đồng
chiêm trũng, những ngôi nhà cổ lặng lẽ nép mình trong khóm núi, và những đêm
trăng lên chiếu lồng trong ánh nước bạc, nhà thơ có lúc như muốn trở về với tư
tưởng ẩn dật, cầu an truyền thống của những nho sĩ sinh bất phùng thời. Ông uống
rượu và làm thơ về rượu và để rồi mỉm cười và lắc đầu: “Thế sự, tao đầu, tiếu bất
ngôn…” (Thu nhiệt) Với những câu thơ như vậy, người ta dễ có cảm tưởng Nguyễn
Khuyến là một ẩn sĩ chán đời. Nhưng khá hiếm những câu thơ như vật. Thường
xuyên trong các bài thơ của ông, dù là nói chuyện về nhà ở ẩn, chuyện thiên nhiên
hay chuyện uống rượu, nghĩa là nói về những đề tài dễ mang tính chất ẩn dật, nhà
thơ vẫn không ẩn dật tí nào, mà bao giờ cũng gắn bó với cuộc đời. Bài Trở về vườn
cũ là một bài khá tiêu biểu. Đoạn đầu cũng có cái không khí thanh thản của một con
người dường như rũ hết bụi trần, lánh đục tìm trong, nhưng ngay sau đó, nhà thơ
lại viết những câu than thở đầm đìa nước mắt: “Ngọn gió đông ngoảnh lại lệ đầm
khăn Tình thương hải tang điền qua mấy lớp” Một tấm lòng ít khi thanh thản mà
bao giờ cũng day dứt, chính vì Nguyễn Khuyến không phải là kẻ chán đời. Dưới
dạng một nho sĩ ở ẩn, tấm lòng nhà thơ vẫn có trăm nghìn mối dây bện chặt với


cuộc đời. Và gắn bó với cuộc đời của đất nước, của nhân dân, thơ Nguyễn Khuyến
quả có tầm vóc hơn, nhưng cũng buồn hơn vậy. Nói chung âm điệu trong phần lớn
thơ trữ tình của Nguyễn Khuyến là buồn. Một tiếng hát giữa đêm khuya cũng làm
nhà thơ buồn tê tái; nghe một tiếng cuốc kêu cũng thấy lòng da diết “Năm canh máu
chảy đêm hè vắng Sáu khắc hồn tàn bóng nguyệt tà Có phải tiếc xuân mà đứng gọi
Hay là nhớ nước phải nằm mơ…” (Cuốc kêu cảm hứng) Nguyễn Khuyến biết mình
là người có tài có đức nhưng vì tình thế éo le đặc biệt của nước Việt nam hồi cuối thế
kỷ XIX nên ông không thể đem tài, đem sức ra bon chen ở trường danh lợi, ông an
thân sống trong sự eo hẹp của cảnh thanh bần, không có sức gì có thể khuất phục
được khí tiết cao cả của ông Nguyễn Khuyến cũng hay say rượu như Lý Bạch,
nhưng Nguyễn Khuyến uống rượu không phải là để đi ra khỏi mặt đất này mà để đi
sâu vào cuộc sống trên mặt đất mà than vãn cho người đời phần nhiều không … Đời
sống bình dị và thanh bạch của Nguyễn Khuyến khiến ông gần gụi nhân dân, cảm
thông và chia sẻ những vui buồn và đau khổ của nhân dân, đồng tình với những
nguyện vọng của nhân dân.
3. Nghệ thuật giản dị và tinh tế thể hiện qua chùm thơ chữ Nôm
Văn học giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX, về hình thức biểu hiện, còn nhiều gắn bó
với giai đoạn trước. Nó vẫn bao gồm hai thành phần chữ Hán và chữ Nôm. Nếu như
những năm cuối của giai đoạn nửa đầu thế kỷ XIX xu hướng sáng tác bằng chữ Hán
được triều đình nhà Nguyễn khuyến khích có phần lấn át xu hướng sáng tác bằng
chữ Nôm, thì ngược lại, trong giai đoạn này sáng tác bằng chữ Nôm, chữ Hán đều
phát triển, và sáng tác bằng chữ Nôm lại phát triển và có phần sắc sảo hơn những
sáng tác bằng chữ Hán. Trong đó phải kể đến những đóng góp của Nguyễn Khuyến
qua những sáng tác thơ Nôm của mình Về mặt nghệ thuật, thơ Nguyễn Khuyến
không những có nội dung thâm thuý mà nghệ thuật cũng rất đặc sắc. Ông là người
đã đưa chất trào phúng vào thơ chữ Hán và dùng cả “điển cố” lấy từ ca dao. Trong
thơ Nguyễn Khuyến, có rất nhiều trích dẫn ca dao, tục ngữ, chỗ nào cũng uyển
chuyển, cũng lưu loát. Nguyễn Khuyến tiếp tục truyền thống học tập ca dao, tục ngữ
của những nhà thơ Nôm những thế kỷ trước, nhưng ông có cách phát triển của
riêng mình. Chẳng hạn ngoài nhưng tứ ca dao rất đẹp được nhà thơ sử dụng lại,
trong một số bài thơ trào phúng ông còn lấy đề tài gợi ý từ ca dao. Ca dao có câu:
“Gái có chồng như gông đeo cổ” thì nhà thơ có bài Muốn lấy chồng: “Mới biết có
chồng như có cánh, Giang sơn gánh vác nhẹ bằng lông” Trong một bài thơ ông viết:
“ Quyên đã gọi hè quang quốc quốc Gà từng gáy sáng té tè te Lại còn giục giã về hay
ở Đôi gót phong trần vẫn khỏe khoe..” (Chim chích chòe) Tứ thơ rất nhẹ nhàng và
âm hưởng của câu thơ cũng rất nhẹ. Những tiếng tượng thanh “quang quốc quốc”.
“tẻ tè te”, đi với nhau rất hài hòa. Trong một bài thơ Xuân nhật ngẫu đề, ông có một
sáng tác ngôn ngữ rất độc đáo. Nhà thơ tả hoa thủy tiên sắp nở: “Một khóm thủy
tiên dăm bảy cụm Xanh xanh như sắp thập thò hoa” “Thập thò” là một động từ
dành cho động vật, chỉ có Nguyễn Khuyến mới dùng cho một đối tượng khác là hoa
vậy. Trong thơ Nôm của Nguyễn Khuyến, ngôn ngữ dân tộc được nhà thơ sử dụng là
thứ ngôn ngữ của đời sống hàng ngày giản dị nhưng rất tinh tế, và sinh động, giàu
hình ảnh, giàu nhạc điệu . Nhà thơ đã khai thác được giá trị tạo hình của nhiều từ


láy. - “Làn ao lóng lánh bóng trăng loe” - Ao thu lạnh lẽo nước trong veo Một chiếc
thuyền câu bé tẻo teo. Có thể khẳng định rằng: Nguyễn Khuyến và Tú Xương là hai
nhà thơ đã có những cống hiến quan trọng làm cho ngôn ngữ thơ đi sát với đời sống
và đó là một bước tiến trong văn học Việt Nam.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×