Tải bản đầy đủ

Quản lý trường hợp đối với người cai nghiện ma túy từ thực tiễn Trung tâm Chữa bệnh –Giáo dục Lao động Xã hội Bến Tre, tỉnh Bến Tre

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LÊ MINH CHƯƠNG

QUẢN LÝ TRƯỜNG HỢP ĐỐI VỚI NGƯỜI CAI NGHIỆN MA
TÚY TỪ THỰC TIỄN TRUNG TÂM CHỮA BỆNH – GIÁO DỤC
– LAO ĐỘNG XÃ HỘI BẾN TRE, TỈNH BẾN TRE

Chuyên ngành: Công tác xã hội
Mã số : 60.90.01.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH CÔNG TÁC XÃ HỘI

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. NGUYỄN THỊ VÂN HẠNH

HÀ NỘI - 2016



LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn Thạc sĩ Công
tác xã hội về “Quản lý trường hợp đối với người cai nghiện ma túy từ thực tiễn
Trung tâm Chữa bệnh –Giáo dục Lao động Xã hội Bến Tre, tỉnh Bến Tre” là
hoàn toàn trung thực và không trùng lặp với các đề tài khác trong cùng lĩnh vực.
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này.
Tác giả luận văn

Lê Minh Chương


LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian thực hiện đề tài nghiên cứu luận văn tốt nghiệp, bản
thân tôi cũng gặp một số khó khăn nhất định về thời gian, xử lý số liệu mẫu thống
kê, kỹ thuật phân tích số liệu, đi lại,... Tuy nhiên, tôi đã nhận được sự hướng dẫn,
giúp đỡ tận tình, cũng như sự khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi của thầy cô,
gia đình và bạn bè trong suốt quá trình nghiên cứu. Với tấm lòng biết ơn sâu sắc,
tôi xin bày tỏ lòng cám ơn chân thành đến thầy cô, bạn bè và gia đình đã hỗ trợ tôi
hoàn thành luận văn này.
- Tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS. Nguyễn Thị Vân Hạnh đã hướng
dẫn nghiên cứu đề tài luận văn, giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn
thành luận văn.
- Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô, nhà khoa học đang công tác
tại Học viện Khoa học Xã hội Việt Nam đã tạo điều kiện về thời gian cũng như hỗ
trợ các tài liệu học tập cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu.
- Tôi xin gửi lời cảm ơn tới các anh/chị là công chức, viên chức viên
Trung tâm Chữa bệnh – Giáo dục – Lao động xã hội Bến Tre, tỉnh Bến Trei đã tạo
điều kiện và nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu.
- Tôi xin gửi lời cảm ơn tới các học viên và gia đình học viên đang cai
nghiện ma túy tại Trung tâm Chữa bệnh – Giáo dục – Lao động xã hội Bến Tre,
tỉnh Bến Tre đã tạo điều kiện và hợp tác cùng tôi trong quá trình nghiên cứu.
- Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình và bạn bè đã động
viên, nhiệt tình hỗ trợ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu.
Dù đã có nhiều cố gắng, song chắc chắn không thể tránh khỏi thiếu
sót. Tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của quý thầy giáo, cô giáo, các
nhà khoa học để luận văn của tôi được hoàn chỉnh.
Bến Tre, tháng

năm 2016


Tác giả

Lê Minh Chương


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ................................................................................................................ 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ TRƯỜNG
HỢP ĐỐI VỚI NGƯỜI CAI NGHIỆN MA TÚY ............................................ 10
1.1. Các khái niệm chung......................................................................................10
1.2. Cơ sở lý luận của quản lý trường hợp đối với người nghiện ma túy .............17
1.3. Cơ sở pháp lý của quản lý trường hợp đối với người cai nghiện ma túy ......27
1.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý trường hợp đối với người cai
nghiện ma túy ............................................................................................................30
Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ TRƯỜNG HỢP ĐỐI VỚI NGƯỜI
CAI NGHIỆN MA TÚY TỪ THỰC TIỄN TRUNG TÂM CHỮA BỆNH –
GIÁO DỤC – LAO ĐỘNG XÃ HỘI BẾN TRE, TỈNH BẾN TRE ................. 33
2.1.Địa bàn và khách thể nghiên cứu ....................................................................33
2.2. Thực trạng về Quản lý trường hợp đối với người cai nghiện ma túy từ thực
tiễn trung tâm ............................................................................................................40
Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO THỰC HIỆN QUẢN
LÝ TRƯỜNG HỢP ĐỐI VỚI NGƯỜI CAI NGHIỆN MA TÚY TỪ THỰC
TIỄN TRUNG TÂM CHỮA BỆNH – GIÁO DỤC – LAO ĐỘNG XÃ HỘI
BẾN TRE, TỈNH BẾN TRE ............................................................................... 58
3.1. Định hướng đảm bảo thực hiện quản lý trường hợp đối với người cai nghiện
ma túy từ thực tiễn Trung tâm Chữa bệnh – Giáo dục – Lao động xã hội ..............58
3.2. Giải pháp đảm bảo thực hiện quản lý trường hợp đối với người cai nghiện
ma túy từ thực tiễn Trung tâm Chữa bệnh – Giáo dục – Lao động xã hội ...............67
KẾT LUẬN .......................................................................................................... 73
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................... 75
PHỤ LỤC


DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT
LĐ – TB &XH

Lao động – Thương binh và Xã hội

QLTH

Quản lý trường hợp

NVQLTH

Nhân viên quản lý trường hợp

MT

Ma túy

NSDMT

Người sử dụng ma túy

CTXH

Công tác xã hội

UBND

Ủy ban nhân dân

HĐND

Hội đồng nhân dân

NĐ-CP

Nghị định - Chính phủ

PP

Phương pháp



Cộng đồng


DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ

Bảng 2.1. Độ tuổi của người nghiện ma túy .............................................................37
Bảng 2.2: Nhu cầu về chăm sóc Y tế của người cai nghiện ma túy ......................41
Bảng 2.3: Nhu cầu về được tư vấn, tham vấn tâm lý .............................................42
Bảng 2.4: Nhu cầu về mặt xã hội ............................................................................43
Bảng 2.5. Nhu cầu học nghề và việc làm của người cai nghiện ma túy ...............44

Biểu đồ 2.1: Trình độ học vấn của người cai nghiện ma túy ....................................38
Biểu đồ 2.2: Nghề nghiệp của người cai nghiện ma túy ...........................................38
Biểu đồ 2.3: Tình trạng hôn nhân của người cai nghiện ma túy ...............................39
Biểu đồ 2.4: Loại ma túy sử dụng .............................................................................40
Biểu đồ 2.5: Đào tạo nghề tại trung tâm ................................................................55


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay, Công tác xã hội không còn là một nghề xa lạ tại Việt Nam mà vị
trí, tầm quan trọng, sức ảnh hưởng và những đóng góp từ ngành Công tác xã hội đã
góp phần mang lại tiếng cười, niềm hi vọng cho vô số những mảnh đời bất hạnh,
cùng khổ, lầm đường, lạc lối tìm thấy một ngày mai tươi sáng. Nghề Công tác xã
hội được luật pháp công nhận chính thức qua nhiều Thông tư, Quyết định... Đặc
biệt, vào ngày 25/03/2010 Phó Thủ tướng chính phủ đã ký quyết định phê duyệt đề
án phát triển nghề CTXH giai đoạn 2010- 2020 (QĐ số 32/2010/QĐ- TT). Đây
được xem là bước ngoặt thúc đẩy thực hiện các vai trò, nhiệm vụ của nhân viên
CTXH trong hỗ trợ đối tượng (những người yếu thế, dễ bị tổn thương) của xã hội
trong đó có người nghiện ma túy đang được cai nghiện tại các trung tâm cai nghiện
trong cả nước.
Ma túy được coi là hiểm họa đối với loài người và đã thực sự trở thành vấn
đề nóng bỏng, vượt qua biên giới của mỗi quốc gia. Ma túy làm ảnh hưởng rất lớn
đến nhiều mặt của đời sống xã hội. Ma túy trực tiếp phá vỡ hạnh phúc gia đình của
những người nghiện, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe, trí tuệ và nhân cách
của người nghiện ma tuý, là mối hiểm họa đối với tương lai, nòi giống dân tộc, để
lại hậu quả nghiêm trọng cho thế hệ mai sau đồng thời nó còn tác động xấu đến an
ninh trật tự, sự ổn định và phát triển của xã hội.
Thực hiện Quyết định số 2596/QĐ-TTg ngày 27/12/2013 của Chính phủ về
phê duyệt Đề án “ Đổi mới công tác cai nghiện nghiện ma túy” ở Việt Nam đến
năm 2020. Nghị quyết 98/NQ-CP, ngày 26/12/2014 của Chính phủ về tăng cường
chỉ đạo công tác phòng, chống, kiểm soát và cai nghiện ma túy trong tình hình mới.
Thực hiện theo quan điểm đổi mới công tác cai nghiện ma túy, trước hết là thay đồi
nhận thức về nghiện ma túy là bệnh mãn tính do rối loạn não bộ, là nạn nhân của tệ
nạn ma túy. Cai nghiện ma túy được hiểu là điều trị nghiện ma túy, là một quá trình
lâu dài bao gồm tổng thể các can thiệp hỗ trợ về tâm lý, y tế và xã hội từ đó làm
thay đổi nhận thức, hành vi nhằm giảm tác hại của việc nghiện ma túy và giảm tình
1


trạng sử dụng ma túy trái phép. Từ nhận thức đó, để quản lý tốt tình trạng nghiện
của người sử dụng ma túy cần phải áp dụng phương pháp cai nghiện khoa học đó
chính là: “Quản lý trường hợp đối với người nghiện ma túy’’.
Tuy nhiên, từ trước đến nay, việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của trung
tâm là tổ chức cắt cơn cai nghiện, giáo dục chữa trị, dạy nghề và tổ chức lao động
sản xuất cho người nghiện ma túy bị áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc theo
quy định của pháp luât. Vì thế việc quản lý chăm sóc, tư vấn, xác định nhu cầu để
kết nối các dịch vụ công tác xã hội đối với người nghiện ma túy là chưa thực hiện
được nên hiệu quả quản lý cũng còn những khó khăn và hạn chế.
Chính vì vậy, tác giả đã chọn đề tài: “Quản lý trường hợp đối với người cai
nghiện ma túy từ thực tiễn Trung tâm Chữa bệnh-Giáo dục-Lao động xã hội Bến
Tre, tỉnh Bến Tre” làm luận văn tốt nghiệp của mình. Với đề tài này, tác giả luận
văn hi vọng sẽ đóng góp một phần công sức trong việc quản lý các đối tượng cai
nghiện tại đơn vị công tác cũng như tìm ra các giải pháp hữu hiệu giúp nâng cao
hiệu quả công tác cai nghiện đối với người nghiện ma túy tại trung tâm trên địa bàn
tỉnh. Đồng thời, góp phần kéo giảm tệ nạn ma túy đang gia tăng trong giai đoạn
hiện nay và góp phần ổn định, phát triển kinh tế nước ta trong quá trình hội nhập
quốc tế được xem là vấn đề là hết sức quan trọng và cấp bách hiện tại cũng như
định hướng phát triển lâu dài của đất nước trong tương lai.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Người cai nghiện ma túy là một trong những nhóm đối tượng nhận được sự
quan tâm của các nhà khoa học, nhà nghiên cứu, các chuyên gia, học giả trong và
ngoài nước, những người làm công tác xã hội. Trong phạm vi các công trình có liên
quan đến đề tài, tác giả lựa chọn và phân tích một số công trình nghiên cứu, các đánh
giá, bài viết tiêu biểu. Các công trình nghiên cứu, bài viết liên quan đến quản lý trường
hợp đối với người nghiện ma túy nói chung:
Đề tài cấp Bộ “Các giải pháp tạo việc làm cho người nghiện ma túy, người mại
dâm sau khi được chữa trị phục hồi” do Nguyễn Văn Minh (2002) làm chủ nhiệm. Đề
tài tập trung nghiên cứu thực trạng việc làm, đời sống người nghiện ma túy, người bán
2


dâm. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng nhiều khả năng tái nghiện của người nghiện ma
túy sau cai là do không có việc làm, mặc dù nghị lực của đối tượng là yếu tố quyết
định, sự quan tâm của gia đình là yếu tố quan trọng giúp đối tượng từ bỏ tệ nạn xã hội.
Do vậy, các đề xuất của tác giả hướng tới hoàn thiện hệ thống các giải pháp tạo việc
làm cho đối tượng nhằm giúp họ ổn định cuộc sống, giảm tỷ lệ tái phạm, tái nghiện.
Đề tài nghiên cứu khoa học cấp thành phố: “Nghiên cứu các giải pháp nhằm nâng
cao hiệu quả quản lý cai nghiện ma túy và sau cai” 02-X07 của tiến sỹ Nguyễn Thành
Công, Hà Nội 2003”. Đề tài tập trung nghiên cứu vấn đề dạy nghề, lao động sản xuất cho
người cai nghiện ma túy và tạo việc làm cho người sau cai nghiện ma túy. Kết quả chỉ ra
rằng hỗ trợ việc làm cho người sau cai nghiện ma túy có ý nghĩa quyết định đến chất
lượng, hiệu quả của công tác cai nghiện, phục hồi, góp phần làm giảm tỷ lệ tái nghiện.
Đồng thời đề tài cũng chỉ ra được những tồn tại của công tác dạy nghề, tạo việc làm cho
người nghiện ma túy sau khi đã được chữa trị phụ hồi và nguyên nhân của những tồi tại
này, và một trong những giải pháp là phải nâng cao đội ngũ cán bộ trực tiếp làm công tác
đào tạo, dạy nghề tại trung tâm.
Nhóm tác giả Nguyễn Thanh Hiệp và cộng sự với đề tài “Khảo sát các yếu tố
ảnh hưởng dẫn đến nghiện ma túy lần đầu ở người sau cai nghiện ma túy (tại Trung
tâm giáo dục dạy nghề và giải quyết việc làm Bình Đức và Đức Hạnh)” đã phân tích
đặc điểm, hoàn cảnh xã hội của người nghiện ma tuý lần đầu. Theo kết quả nghiên
cứu, các yếu tố ảnh hưởng đến lý do nghiện ma túy lần đầu có yếu tố bản thân, gia
đình và bạn bè. Trong đó, tác động của bạn bè có ảnh hưởng quan trọng đến hành vi
sử dụng ma túy của người nghiện. Nếu có thêm các yếu tố nguy cơ về gia đình và
bản thân, người nghiện càng dễ dàng chịu sự tác động của bạn bè hơn và thúc đẩy
họ sử dụng ma túy sớm hơn.
Tác giả Phan Thị Mai Hương (2002), Tìm hiểu đặc điểm nhân cách và hoàn
cảnh xã hội của thanh niên nghiện ma túy và mối tương quan giữa chúng là một
cách tiếp cận mới về thanh niên nghiện ma tuý từ góc độ của tâm lý học. Tác giả đã
phân tích, hệ thống hoá những lý luận về đặc điểm nhân cách, hoàn cảnh xã hội và
sự ảnh hưởng của chúng trong việc nghiên cứu hành vi của người nghiện ma tuý,
3


cũng như quan điểm về việc giải quyết chúng trong thực tiễn. Kết quả nghiên cứu
chỉ ra một số đặc điểm nhân cách và hoàn cảnh xã hội nổi trội của thanh niên
nghiện ma tuý, mối quan hệ giữa các đặc điểm với hành vi nghiện. Trong đó, vai trò
gia đình được tác giả tìm hiểu ở khía cạnh môi trường gia đình gắn với vị thế kinh
tế, xã hội có ảnh hưởng đến đặc điểm nhân cách và mức độ nghiện của thanh niên
nghiện ma túy, cách quản lý của cha mẹ với con. Trên cơ sở đó, việc ngăn ngừa
hành vi nghiện ma tuý và việc cai nghiện ma tuý ở thanh niên cần phải kết hợp giữa
tri thức và biện pháp của tâm lý học. Kết quả nghiên cứu đã định hướng về hướng
giáo dục và ứng xử thích hợp với người nghiện ma tuý cũng như góp phần ngăn
ngừa việc lạm dụng ma tuý ở thanh thiếu niên [19].
Đề tài “Tâm lý học giáo dục nhân cách người cai nghiện ma túy từ thực tế
thành phố Hồ Chí Minh” do tác giả Phan Xuân Biên và Hồ Bá Thâm đồng chủ biên,
xuất bản năm 2004 là một công trình nghiên cứu công phu của nhiều tác giả về
nguyên nhân, đặc điểm tâm lý, công tác giáo dục nhân cách, đạo đức xã hội dành
cho những người liên quan đến nghiện ma túy. Các tác giả cho rằng, người nghiện
là người rối loạn về tâm lý, không làm chủ được hành vi của mình, từ không làm
chủ được bản thân, họ hành động chủ yếu theo ham muốn bản năng, dẫn tới lệch
chuẩn xã hội, khủng hoảng nhân cách, tha hóa - rối loạn nhân cách và việc cai
nghiện, phục hồi nhân cách, sửa đổi và phát triển nhân cách người cai nghiện thành
công hay không phụ thuộc vào thái độ, tình thương, trách nhiệm của cộng đồng, gia
đình, xã hội và bản thân người nghiện. Do vậy, công tác điều chỉnh tâm lý, giáo
dục, phục hồi nhân cách cho người cai nghiện và những giải pháp giúp người sau
cai nghiện ma túy trở về với gia đình, cộng đồng được thực hiện bằng biện pháp
tâm lý.
Báo cáo số 69/BC-BĐTBXH ngày 08 tháng 9 năm 2011 của Bộ Lao động –
Thương binh và Xã hội về công tác cai nghiện ở Việt Nam trong thời gian qua, nội
dung báo cáo đã nêu tình hình sử dụng ma túy, chính sách, pháp luật của Việt Nam
về công tác cai nghiện, kết quả công tác cai nghiện cũng như định hướng, giải pháp
trong thời gian tới. Trong đó, có định hướng nâng cao nhận thức của lãnh đạo các
4


cấp có liên quan về nghiện ma túy và điều trị nghiện ma túy; tăng cường năng lực
cho cán bộ làm công tác cai nghiện phục hồi thông qua việc xây dựng và triển khai
các chương trình bồi dưỡng, đào tạo nghiệp vụ về điều trị nghiện ma túy, đồng thời
chuẩn hóa và đưa nội dung đào tạo về điều trị nghiện ma túy vào giáo trình đào tạo
cho sinh viên ngành công tác xã hội .
Ngoài ra, còn nhiều tài liệu đáng chú ý khác như tài liệu về quản lý trường hợp
với người sử dụng ma túy của tác giả PGS.TS. Nguyễn Hồi Loan – Trường Đại học
KHXH&NV Hà Nội, giáo trình quản lý trường hợp với người sử dụng ma túy của tác giả
TS. Hoàng Trung Hải – Trường Đại học Lao động xã hội, tài liệu “Giới thiệu và hướng
dẫn áp dụng mô hình cai nghiên có hiệu quả”, Cục Phòng chống tệ nạn xã hội, Hà Nội,
2007.
Có thể thấy các tài liệu nói về quản lý trường hợp đối với người cai nghiện từ
thực tiễn trung tâm chưa nhiều có nhiều đề tài công bố, các tài liệu mới chỉ đề cập tới
vấn đề việc làm và giải quyết việc làm; hỗ trợ vốn cho người sau cai nghiện ma túy;
hỗ trợ tâm lý; các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình nghiện ma túy. Việc tìm hiểu về
quản lý trường hợp đối với người cai nghiện ma túy từ thực tiễn trung tâm chưa có
công trình nào nghiên cứu một cách đầy đủ, logic và mang tính khoa học. Từ những
công trình nghiên cứu nêu trên, tôi đã tham khảo được nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn
rất có giá trị cho đề tài nghiên cứu. Trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc những vấn đề nghiên
cứu trong các công trình khoa học đó, kết hợp với khảo sát thực tế ở địa phương, tôi có
thể rút ra một số vấn đề lý luận để đề xuất giải pháp quản lý trường hợp đối với người cai
nghiện ma túy trong luận văn này, hy vọng sẽ là sự đóng góp nhỏ của tác giả vào nỗ
lực phòng chống tệ nạn ma túy chung của toàn xã hội.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu thực trạng quản lý trường hợp đối với người cai nghiện ma túy từ
thực tiễn Trung tâm Chữa bệnh - Giáo dục - Lao động xã hội Bến Tre, tỉnh Bến Tre,
trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác
quản lý trường hợp đối với người nghiện ma túy đang cai nghiện Trung tâm Chữa
5


bệnh - Giáo dục - Lao động xã hội Bến Tre, tỉnh Bến Tre.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý trường hợp đối với người cai nghiện
ma túy.
- Đánh giá nhu cầu của người nghiện và gia đình trong việc cai nghiện tại
trung tâm và mức độ đáp ứng nhu cầu của trung tâm bao gồm cơ chế, chính sách,
đội ngũ nhân lực, cơ sở vật chất, tài chính, các dịch vụ hỗ trợ trong việc quản lý
trường hợp đối với người nghiện ma túy Trung tâm Chữa bệnh –Giáo dục - Lao
động xã hội Bến Tre, tỉnh Bến Tre.
- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý trường hợp đối với
người ngiện ma túy tại Trung tâm Chữa bệnh – Giáo dục Lao động Xã hội Bến Tre,
tỉnh Bến Tre.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Hoạt động quản lý trường hợp đối với người cai nghiện ma túy từ thực tiễn
Trung tâm Chữa bệnh –Giáo dục - Lao động xã hội Bến Tre, tỉnh Bến Tre.
Khách thể nghiên cứu
Có 04 nhóm:
- Nhóm người nghiện ma túy đang cai nghiện tại trung tâm (70/120 người).
- Nhóm thân nhân, gia đình người cai nghiện (10 thân nhân).
- Phụ trách quản lý người cai nghiện – nhân viên Giáo dục tư vấn (05 người).
- Lãnh đạo trung tâm (02 người).
4.3. Phạm vi nghiên cứu và nội dung nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 05 năm 2015 đến tháng 05 năm 2016.
- Nơi nghiên cứu: Trung tâm Chữa bệnh – Giáo dục – Lao động xã hội Bến
Tre, tỉnh Bến Tre.
- Nội dung nghiên cứu:
Về công tác quản lý trường hợp đối với người cai nghiện ma túy, đề tài
nghiên cứu những khía cạnh sau:
6


+ Cơ chế, chính sách, chỉ đạo của cấp trên;
+ Thực trạng cơ sở vật chất, nguồn lực tài chính của trung tâm và đội ngũ
nhân viên giáo dục – tư vấn;
+ Thực trạng các dịch vụ hỗ trợ cung cấp cho người nghiện và gia đình.
+ Nhu cầu của người nghiện và gia đình trong việc cai nghiện tại trung tâm.
+ Đánh giá của người nghiện và gia đình về chất lượng, hiệu quả các dịch vụ
hỗ trợ.
5. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích tài liệu: Sử dụng các kỹ thuật chuyên môn nhằm
thu thập thông tin, số liệu, tài liệu từ các nguồn tài liệu đã được công bố hoặc rút ra
từ các nguồn tài liệu những thông tin cần thiết phục vụ cho quá trình nghiên cứu.
Trong quá trình nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích tài liệu để:
+ Đọc và tìm hiểu các giáo trình, tài liệu có liên quan đến Quản lý trường hợp,
quản lý trường hợp đối với người sử dụng ma túy và CTXH , tâm lý người sử dụng
ma túy, Phát triển cộng đồng, Hành vi con người và môi trường xã hội;
+ Đọc và phân tích các tài liệu, báo cáo của các ngành, các cấp có liên quan
đến hoạt động cai nghiện ma túy.
- Phương pháp điều tra bảng hỏi: Phương pháp nghiên cứu chính của đề tài là
phương pháp nghiên cứu định lượng dựa trên các khái niệm đã được thao tác hóa.
Bảng hỏi là công cụ thu thập thông tin chủ yếu trong cuộc điều tra này, bao gồm
những câu hỏi được xây dựng xoay quanh vấn đề như: Thông tin người cai nghiện
ma túy, nhu cầu của người cai nghiện ma túy. Thông qua việc thu thập và phân tích
các thông tin định lượng giúp đo lường một cách hệ thống các vấn đề mà cuộc
nghiên cứu đặt ra.
- Phương pháp phỏng vấn sâu: Bên cạnh việc sử dụng phương pháp thu thập
thông tin bằng bảng hỏi, phỏng vấn sâu một số đối tượng với một số nội dung mà
bảng hỏi không đáp ứng được. Phỏng vấn sâu cũng nhằm thu thập thông tin nhiều
chiều hoặc trái chiều để làm rõ vấn đề nghiên cứu.
7


Trong phạm vi đề tài này, dự kiến sẽ phỏng vấn sâu lãnh đạo trung tâm, nhân
viên quản lý trường hợp để đánh giá mức độ quá trình thực hiện quản lý trường hợp
đối với người cai nghiện ma túy tại trung tâm. Đồng thời cũng xác định nhận thức
của nhân viên trung tâm về tầm quan trọng của quản lý trường hợp đối với người
cai nghiện ma túy.
- Phương pháp quan sát là phương pháp thu thập thông tin của nghiên cứu xã
hội học thực nghiệm thông qua các tri giác như nghe, nhìn để thu thập các thông tin
từ thực tế quá trình người nghiện ma túy đang cai nghiện tại trung tâm nhằm đáp
ứng mục tiêu nghiên cứu của đề tài.
Trong đề tài tác giả sử dụng phương pháp này nhằm thu thập, bổ sung thông
tin còn thiếu và kiểm tra đối chiếu, so sánh các thông tin từ việc quan sát để đánh
giá độ tin cậy của các thông tin thông qua việc quan sát thái độ chấp hành nội quy;
cách ứng xử với bạn bè, gia đình, nhân viên Trung tâm…để từ đó có hướng trợ giúp
tâm lý xã hội cho người nghiện. Đồng thời hình thành được câu trả lời đầy đủ và có
được những thông tin chính xác cho bảng hỏi cũng như bảng phỏng vấn sâu.
- Sử dụng phương pháp thống kê toán học để phân tích các số liệu điều tra, số
liệu thống kê.

6. Ý nghĩa nghiên cứu
6.1. Ý nghĩa lý luận
Đề tài đóng góp cho việc nâng cao lý luận về quản lý trường hợp đối với
người cai nghiện ma túy tại Trung tâm, cụ thể là lý luận về vai trò của nhân viên
công tác xã hội trong việc điều trị nghiện và kết nối cung cấp các dịch vụ cho người
cai nghiện ma túy tại Trung tâm, đồng thời tạo nguồn tài liệu tham khảo cho những
nghiên cứu sau nay trong lĩnh vực Quản lý trường hợp đối với người cai nghiện ma
túy.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Áp dụng thực tế về quản lý trường hợp đối người nghiện ma túy đang cai
nghiện tại Trung tâm, làm cơ sở cho việc đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng,
hiệu quả hoạt động quản lý trường hợp đối với người cai nghiện ma túy.
8


Những yếu tố thuận lợi từ cơ chế, điều kiện cơ sở vất chất và nguồn nhân lực
hiện có của Trung tâm, cũng như thái độ hợp tác của người nghiện và gia đình
người cai nghiện đã làm cho việc thực hiện quản lý trường hợp đối với người
nghiện ma túy đang cai nghiện tại Trung tâm có hiệu quả nhất định. Tuy nhiên, từ
trước đến nay, việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của trung tâm là tổ chức cắt cơn
cai nghiện, giáo dục chữa trị, dạy nghề và tổ chức lao động sản xuất cho người cai
nghiện ma túy bị áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc theo quy định của pháp
luật. Việc quản lý chăm sóc, tư vấn, xác định nhu cầu để kết nối các dịch vụ công
tác xã hội đối với người nghiện ma túy chưa thực hiện được nên hiệu quả quản lý
chưa cao, một số nhu cầu của người cai nghiện và gia đình chưa được đáp ứng.
7. Cấu trúc của luận văn
Chương 1: Cơ sở lý luận của quản lý trường hợp đối với người cai nghiện
ma túy.
Chương này trình bày các khái niệm cũng như lý thuyết được áp dụng để tìm
hiểu và phân tích hoạt động quản lý trường hợp đối với người cai nghiện ma túy.
Chương 2: Thực trạng Quản lý trường hợp đối với người cai nghiện ma túy
từ thực tiễn Trung tâm Chữa bệnh - Giáo dục - Lao động xã hội Bến Tre, tỉnh Bến
Tre.
Chương này mô tả thực trạng công tác quản lý trường hợp đối với người cai
nghiện ma túy tại trung tâm, đánh giá sơ bộ nhu cầu và sự đáp ứng nhu cầu đối với
người cai nghiện tại đây.
Chương 3: Định hướng và giải pháp đảm bảo thực hiện quản lý trường hợp
đối với người cai nghiện ma túy từ thực tiễn Trung tâm Chữa bệnh – Giáo dục - Lao
động xã hội Bến Tre, tỉnh Bến Tre.
Chương này xác định các định hướng và đề xuất các giải pháp nhằm nâng
cao hiệu quả công tác quản lý trường hợp đối với người cai nghiện ma túy.

9


Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ TRƯỜNG HỢP
ĐỐI VỚI NGƯỜI CAI NGHIỆN MA TÚY
1.1. Các khái niệm chung
1.1.1. Ma túy, nghiện ma túy, cai nghiện ma túy, cơ chế kích thích khi sử
dụng ma túy
a. Khái niệm Ma túy
Con người đã phát hiện và sử dụng các chất ma túy từ cách đây khoảng 6000
năm. Việc trồng và sử dụng các cây có chứa hoạt chất ma túy đã trở thành thói quen
và tập tục của nhiều nước trên thế giới. Từ thời thượng cổ người Ba tư và người Ai
Cập đã biết dùng nhựa mủ cây thuốc phiện để hút, tạo cảm giác hưng phấn, dễ chịu
cho con người khi sử dụng. Điều này chứng minh ma túy đã tồn tại từ rất lâu đời vì
thế có nhiều cách hiểu khác nhau về ma túy:
Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO) thì: “ Ma túy là bất kì chất gì khi đưa vào
cơ thể sống có thể thay đổi một hay nhiều chức năng sinh lý của cơ thể”.
Theo các chuyên gia về ma túy của Liên Hiệp Quốc thì: “ Ma túy là những
chất có nguồn gốc tự nhiên và nhân tạo, khi thâm nhập vào cơ thể con người sẽ làm
thay đổi tâm trạng, ý thức và trí tuệ, làm cho con người bị lệ thuộc vào ma túy gây
nên những tổn thương cho cá nhân và cộng đồng” [9, trang 18, 19]. Theo cách hiểu
thông thường ma túy thì ma túy là chất gây nghiện, bị nhà nước cấm. Ma túy bao
gồm nhiều loại như: thuốc phiện, cần sa, heroin, cocain, các chất ma túy tổng hợp.
Nếu tách từ “ma túy” thành từng từ riêng lẻ từ “ma” và từ “túy” thì từ “ma” nghĩa là
“tê liệt” và từ “túy” là “say sưa”. “Ma túy là các chất hóa học có nguồn gốc từ tự
nhiên hoặc tổng hợp, có khả năng ức chế thần kinh, có tính chất gây nghiện và khi
đưa vào cơ thể quá liều sẽ làm thay đổi các chức năng tâm sinh lý bình thường của
con người”.
Luật phòng chống ma túy được Quốc hội thông qua ngày 09/10/2000 quy
định: “ Chất ma túy là chất gây nghiện, chất hướng thần được quy định trong các
danh mục do chính phủ ban hành” (khoản 1, điều 2).
10


b. Khái niệm Nghiện ma túy
Sử dụng ma túy nhiều với liều lượng ngày càng tăng theo thời gian sẽ gây ra
việc lạm dụng ma túy là con đường duy nhất dẫn đến nghiện ma túy. Vì vậy sử
dụng ma túy và lạm dụng ma túy, nghiện ma túy có khác nhau như sau:
Sử dụng ma túy là việc dùng ma túy với mục đích chữa bệnh, đúng liều
lượng, đúng lúc và tuân theo chỉ định mang lại một số lợi ích nhất định về sức khỏe
cho người dùng.
Lạm dụng ma túy là sử dụng ma túy quá liều, không tuân theo sự chỉ định
nhằm mục đích tiêu khiển và gây nhiều tác hại đối với cơ thể.
Khái niệm về nghiện ma túy cũng được nhìn nhận ở nhiều góc độ khác nhau:
Tổ chức Y tế thế giới (WHO) định nghĩa là: “ Trạng thái nhiễm độc chu kỳ
hay mãn tính do sử dụng lặp lại nhiều lần một chất tự nhiên hay tổng hợp nào đó.
Sự nhiễm độc này thể hiện ở sự gia tăng liều dùng và sự lệ thuộc tâm sinh lý của
người dùng vào tác dụng của chất đó”. Theo quan điểm xã hội thì: “ Nghiện ma túy
là tệ nạn xã hội làm tổn hại đến sức khỏe, nhân cách, ảnh hưởng xấu đến đời sống
sinh hoạt và trật tự an toàn xã hội”.
Tóm lại, nghiện ma túy là hiện tượng phụ thuộc cả về thể xác lẫn tinh thần
vào ma túy do sử dụng thường xuyên với liều lượng ngày càng tăng dẫn đến mất
khả năng kiểm soát bản thân ở người nghiện ma túy, có hại cho nhân cách và xã hội.
Quá trình nghiện ma túy diễn ra với các mức độ ngày càng tăng, đầu tiên là những
khoái cảm mang tính chất cá nhân rồi đến nỗi khổ sở, đau đớn, vật vã của người
nghiện và cuối cùng là hành vi gây nguy hiểm cho gia đình và xã hội. Chính vì vậy,
nghiện ma túy bị coi là tệ nạn xã hội cần phải lên án và loại bỏ.
c. Cơ chế kích thích khi sử dụng ma túy
Ma túy khi đưa vào cơ thể bằng nhiều con đường khác nhau sẽ làm thay đổi
nhiều chức năng tâm sinh lý của cơ thể khiến cho bất kỳ ai nếu đã sử dụng ma túy
một lần thì sẽ có tiếp tục bị kích thích sử dụng những lần tiếp theo với liều lượng
ngày càng tăng. Theo thời gian, ma túy chính là thủ phạm tàn hại sức khỏe và đe
dọa tính mạng của người sử dụng làm phá vỡ các cấu trúc của cơ thể, làm băng hoại
11


các giá trị đạo đức truyền thống, tha hóa nhân cách của người nghiện dẫn đến phát
sinh hàng loạt mâu thuẫn, bất hòa trong gia đình nếu có người nghiện ma túy. Cơ
chế kích thích khi sử dụng ma túy chính là kích thích gây tác hại về mặt sinh lý và
mặt tâm lý của người nghiện ma túy.
Cơ chế kích thích về mặt sinh lý: Nếu là người đang nghiện thì sức khỏe suy
sụp dần, không quan tâm chăm sóc đến sức khỏe bản thân. Có thể mắc phải một số
bệnh lây truyền qua đường máu và đường tình dục, các hoạt động thể lý suy giảm,
có vấn đề về răng miệng… Gây ảnh hưởng đến hệ hô hấp, hệ tim mạch, hệ thần
kinh. Các chất ma túy kích thích hô hấp, gây tần suất thở trong thời gian ngắn, sau
đó gây ức chế hô hấp khi dùng quá liều có thể dẫn đến tử vong. Ngoài ra, sau khi
dùng ma túy có thể gây phù phổi cấp, tràn khí màng phổi, viêm phổi, ung thư
phổi… Các chất ma túy sẽ kích thích làm tăng nhịp tim, ảnh hưởng trực tiếp lên tim,
gây co thắt mạch vành tạo nên cơn đau thắt ngực, nặng hơn dẫn đến nhồi máu cơ
tim, gây nên tình trạng co mạch, làm tăng huyết áp [13, tr 24].
Ngoài tác dụng kích thích thần kinh giai đoạn đầu gây hưng phấn, sảng
khoái, lệ thuộc thuốc cũng có thể gây ra các tai biến như: co giật, xuất huyết, đột
quỵ… thay đổi giờ giấc thất thường, tính tình thay đổi, ít quan tâm đến giữ gìn vệ
sinh cá nhân, ít giao tiếp, tự hủy hoại thân thể bằng dao, kéo, vật nhọn, ngáp thường
xuyên, chảy nước mắt nước mũi, bồn chồn sợ hãi và tìm mọi cách để có ma túy.
Người nghiện ma túy có khả năng tái nghiện sau khi cai nghiện.
Cơ chế kích thích về mặt tâm lý: Tùy thuộc và từng chất gây nghiện khác
nhau và thời điểm thiếu thuốc (hội chứng cai) hoặc lúc phê thuốc mà người sử dụng
có những biểu hiện tâm lý khác nhau. Có sự thôi thúc tâm lý mạnh mẽ phải sử dụng
thuốc để đạt được những khoái cảm do ma túy mang lại dù đã được điều trị không
còn vật vã nhưng người nghiện vẫn dùng ma túy trở lại. Thông thường đối với
người sử dụng ma tuý thường có những đặc điểm như bức xúc về mặt tâm lý muốn
sử dụng lại chất gây nghiện, khi lên cơn nghiện, người nghiện khó có thể kiểm soát
được suy nghĩ và hành vi của mình nên dễ dàng gây ra những tổn thương cho người
khác hoặc gây ra những hành động làm ảnh hưởng xấu đến gia đình và người xung
12


quanh [13, tr24].
Tuy nhiên, khi tỉnh táo, người nghiện nhận thức được tác hại của việc lạm
dụng chất gây nghiện và đôi khi cũng có mong muốn cai nghiện và thực hiện những
hoạt động có ích cho bản thân, gia đình và xã hội. Sử dụng ma túy gây ra sự lệ
thuộc về ma túy của bản thân người nghiện vì nếu ngưng sử dụng thì người nghiện
sẽ vật vã, khó thở và rất đau đớn về thể xác. Chính vì các kích thích nêu trên nếu
một khi dùng thử ma túy một lần thì con nghiện sẽ tiếp tục sử dụng vào những lần
tiếp theo và ngày càng tăng liều. Đây chính là một trong những nguy cơ đe dọa
mạng sống, làm tha hóa nhân cách của người nghiện khiến người nghiện ngày càng
dấn sâu vào con đường tội lỗi và là nguy cơ đe dọa đến toàn xã hội nếu người
nghiện ma túy không được áp dụng các biện pháp cai nghiện hữu hiệu.
1.1.2. Quản lý trường hợp và quản lý trường hợp đối với người nghiện ma
túy
Theo định nghĩa của Unicef là một phương pháp cung cấp dịch vụ nhằm
hướng dẫn và tổ chức tiến trình cung cấp dịch vụ hỗ trợ người nghiện ma túy một
cách hiệu quả nhất.
Theo Tài liệu Quản lý trường hợp với người sử dụng ma túy của
PGS.TS.Nguyễn Hồi Loan, Quản lý trường hợp (tiếng Anh là Case Management)
còn được gọi là quản lý case. Ở một số nước, QLTH được sử dụng trong các lĩnh
vực cung cấp dịch vụ an sinh cho con người, do đó hình thành nhiều định nghĩa
khác nhau về QLTH. QLTH có thể hiểu như sau: QLTH là một quá trình trợ giúp
của công tác xã hội, bao gồm các hoạt động đánh giá nhu cầu thân chủ (cá nhân, gia
đình), xác định, kết nối và điều phối các nguồn lực, dịch vụ nhằm giúp thân chủ tiếp
cận với các nguồn lực để giải quyết vấn đề của thân chủ một cách hiệu quả.
Từ đó, có thể thấy QLTH có một số đặc điểm cơ bản: Cách tiếp cận thông
qua việc cung cấp các dịch vụ khác nhau. Phương pháp tiếp cận căn cứ vào minh
chứng, hướng dẫn và tổ chức công việc cho người làm công tác xã hội. Bảo đảm
cho thân chủ được hưởng các dịch vụ hỗ trợ một cách toàn diện nhất. Bao gồm việc
đánh giá chi tiết nhu cầu hỗ trợ, xây dựng và thực hiện kế hoạch nhằm đạt được
13


mục tiêu và xây dựng các tiêu chuẩn đánh giá kết quả.
QLTH với người sử dụng ma túy là một quá trình trợ giúp của công tác xã
hội, bao gồm các hoạt động đánh giá nhu cầu của khách hàng (là cá nhân, gia đình
người sử dụng ma túy), xác định, kết nối và điều phối các nguồn lực, dịch vụ nhằm
giúp khách hàng phục hồi với việc sử dụng chất gây nghiện hoặc với các vấn đề
khác. Quản lý trường hợp còn là sự phối hợp giữa các dịch vụ hỗ trợ xã hội và lâm
sàng chuyên nghiệp nhằm hỗ trợ những người hiện đang có nhiều nhu cầu phức tạp,
chủ yếu vì mục đích bảo vệ và chăm sóc dài hạn.
QLTH với người sử dụng ma túy có một số đặc điểm cơ bản:
Thứ nhất: Việc cung cấp các dịch vụ khác nhau đối với người sử dụng ma
túy là hoạt động rất quan trọng trong quá trình giúp đỡ người sử dụng ma túy.
Thứ hai: Phương pháp tiếp cận đối với người sử dụng ma túy cần nêu cao vai
trò của nhân viên quản lý trường hợp với những khả năng, năng lực cần có ở họ, để
có kế hoạch tốt nhất (bao gồm việc đánh giá chi tiết nhu cầu hỗ trợ, xây dựng kế
hoạch nhằm đạt được mục tiêu và xây dựng các tiêu chuẩn đánh giá kết quả) giúp
người sử dụng ma túy thực hiện các yêu cầu trong quy trình cai nghiện hoặc sử
dụng các biện pháp thay thế.
Thứ ba: Nhân viên quản lý trường hợp cần có những phương pháp bảo đảm
cho khách hàng được hưởng các dịch vụ hỗ trợ về chuyên môn (cai nghiện, cắt cơn,
điều trị thay thế, các liệu pháp tâm lý xã hội...) một cách toàn diện nhất. Đảm bảo
phương pháp tiếp cận theo hướng lấy khách hàng (là người sử dụng ma túy) làm
trung tâm, tất cả các hoạt động trợ giúp đều phải đặt lợi ích của thân chủ lên trên
đáp ứng tốt nhất cho thân chủ.
Quy trình QLTH với người sử dụng ma túy áp dụng cách thức quản lý chặt
chẽ từ khi tiếp nhận đánh giá sơ bộ mức độ tổn thương nhằm đánh giá sự cần thiết
phải có sự can thiệp khẩn cấp đến đánh giá toàn bộ, lập kế hoạch, thực hiện, lượng
giá và kết thúc. Vì vậy, thân chủ luôn được đảm bảo an toàn để có thể tiếp cận đến
các dịch vụ chuyên sâu khác thông qua việc kết nối và chuyển gửi tới các dịch vụ
phù hợp.
14


Vai trò của nhân viên quản lý trường hợp là người kết nối dịch vụ: nhân viên
quản lý trường hợp là người có được những thông tin về các dịch vụ, chính sách và
giới thiệu cho khách hàng các chính sách, dịch vụ, nguồn tài nguyên đang sẵn có từ
các cá nhân, cơ quan tổ chức để họ tiếp cận với những nguồn lực, chính sách, tài
chính, kỹ thuật để có thêm sức mạnh trong giải quyết vấn đề cho cá nhân họ.
ŠVai trò là người điều phối:Mục tiêu của quản lý trường hợp là làm thế nào
giúp khách hàng tiếp cận được các nguồn lực trong cộng đồng có hiệu quả, điều này
phụ thuộc nhiều vào khả năng điều tiết các nguồn lực của nhân viên quản lý trường
hợp. Do đó mục đích của điều phối nguồn lực, tạo cơ hội cho khách hàng tiếp cận
được các nguồn lực nhằm hỗ trợ việc điều trị nghiện một cách hiệu quả, tránh sự
chồng chéo và lãng phí các nguồn lực này.
Vai trò là người vận động: Trong vai trò này, NVQLTH sẽ thực hiện các hoạt
động nhằm vận động và thu hút sự tham gia của khách hàng, các thành viên trong
gia đình, người thân, các cơ quan tổ chức liên quan, v.v. tham gia vào tiến trình hỗ
trợ khách hàng. Nguồn lực có thể bao gồm người thân của khách hàng, cơ sở vật
chất, tài chính, kỹ thuật, thông tin, sự ủng hộ về chính sách đối với họ; Trong số các
nguồn lực thì nguồn lực về chính sách và tài chính là 2 nguồn lực rất quan trọng
trong quy trình QLTH với người sử dụng ma túy.
Vai trò là người trợ giúp: nhân viên quản lý trường hợp còn được xem như
người cung cấp các dịch vụ trợ giúp cho những khách hàng và gia đình không có
khả năng tự đáp ứng được nhu cầu của mình và tự giải quyết vấn đề trong quy trình
điều trị nghiện.
Vai trò là người truyền thông: Trong quản lý trường hợp NVQLTH sử dụng
truyền thông để cung cấp thông tin và kiến thức tới nhóm đối tượng khác nhau trong
cộng đồng (khách hàng, gia đình của khách hàng, cộng đồng, các tổ chức khác, v.v.)
đồng thời cũng truyền thông thông tin về khách hàng của mình tới các cá nhân, tổ
chức, v.v. với mục đích tìm kiếm nguồn lực để hỗ trợ khách hàng của mình.
NVQLTH cần cung cấp kiến thức về những hậu quả của ma túy, các chương
trình/ mô hình điều trị nghiện hiện tại, các dịch vụ hỗ trợ cho khách hàng, những
15


quy định của pháp luật liên quan đến ma túy, v.v, cho khách hàng. Bên cạnh đó,
NVQLTH cũng có vai trò làm cho xã hội thông cảm và giảm kỳ thị và phân biệt đối
xử với khách hàng.
1.1.3. Thực tiễn về nghiện ma túy và tình hình nghiện ma túy ở tỉnh Bến
Tre
Nghiện ma túy đã xuất hiện từ rất lâu ở Việt Nam và tác hại của việc dùng
ma túy được phát hiện từ năm 1665 đến năm 1802 Luật phòng chống ma túy đầu
tiên ra đời. Sau đó, thực dân Pháp xâm lược nước ta chúng thấy món lợi khổng lồ
do ma túy mang lại, chúng đã khuyến khích dân ta nhổ lúa trồng thuốc phiện. Từ
sau cách mạng tháng tám đến nay với những nổ lực của Chính phủ, diện tích trồng
cây thuốc phiện đã bị thu hẹp dần. Từ cuối những năm 1980 đến nay, nước ta
chuyển từ nền kinh tế tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa đã tạo nên bước thay đổi trong xã hội và thành tựu về kinh tế, xã hội.
Tuy nhiên, các năm gần đây dưới tác động của nền kinh tế thị trường phát sinh một
số vấn đề xã hội đáng quan tâm đặc biệt là vấn đề nghiện ma túy không ngừng gia
tăng với diễn biến ngày càng phức tạp. Số người nghiện tăng, tỉ lệ tái nghiện cao,
chủ yếu ở lứa tuổi thanh thiếu niên.
Theo số liệu thống kê đến tháng 03 năm 2016 toàn tỉnh Bến Tre có khoảng
1.217 người nghiện ma túy, tập trung nhiều nhất ở độ tuổi 14 đến 47 tuổi. Địa bàn
có số lượng người ghiện ma túy đông nhất là Thành phố Bến Tre. Hiện có 118/164
xã, phường, thị trấn có người nghiện ma túy. Trong đó, sử dụng ma túy tổng hợp
hơn 490 người, chích heroin 613 người, còn lại hút cần sa. Tình hình nghiện ma túy
trên địa bàn tỉnh diễn biến ngày càng phức tạp và có chiều hướng tăng nhanh. Đa
phần các đối tượng sử dụng và nghiện ma túy tập trung chủ yếu vào người không có
nghề nghiệp ổn định, thích ăn chơi, đua đòi nên bị bạn bè rủ rê, lôi kéo vào con
đường nghiện hút ma túy. Cùng với đó là các đối tượng trên đa phần thiếu sự quan
tâm, giáo dục của gia đình nên dễ sa ngã vào tệ nạn xã hội trong đó có nghiện ma
túy.
Thực hiện Quyết định số 1008/QĐ-TTg ngày 20 tháng 6 năm 2014 của Thủ
16


tướng Chính phủ về việc giao chỉ tiêu bệnh nhân được điều trị thay thế nghiện các
chất dạng thuốc phiện bằng thuốc Methadone năm 2014 và 2015. Và để tháo gỡ
những khó khăn, vướng mắc thời gian qua, Ủy ban nhân dân tỉnh đề ra Kế hoạch
số 3226/KH-UBND của Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre ngày 29 tháng 6 năm
2015 về mở đợt vận động cai nghiện ma tuý tự nguyện tại gia đình, cộng đồng
và tham gia Chương trình điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc
thay thế Methadone (gọi tắt là cai nghiện tự nguyện và tham gia Chương
trình điều trị Methadone).
Qua thời gian hoạt động, cơ sở điều trị cho các đối tượng nghiện bằng
Methadone đầu tiên của tỉnh Bến Tre đã điều trị cho 231 bênh nhân, đạt 78% chỉ
tiêu của Chính phủ giao cho tỉnh Bến Tre. Các đối tượng được điều trị cai
nghiện ma túy bằng Methadone đã phục hồi về thể chất lẫn tinh thần, hơn 70%
bệnh nhân sau điều trị có việc làm và thu nhập ổn định. Các cơ sở điều trị
Methadone luôn quan tâm, giúp đỡ bệnh nhân, thường xuyên tư vấn, hỗ trợ về
tâm lý xã hội, giúp bệnh nhân vượt qua khó khăn và an tâm điều trị. Sở Y tế Bến
Tre có mở thêm cơ sở cấp phát thuốc Methadone tại huyện Mỏ Cày Nam, huyện
Châu Thành và Trung tâm Chữa bệnh – Giáo dục – Lao động xã hội, thủ tục đơn
giản và chỉ cần sự phối hợp của gia đình người nghiện. Hơn nữa, UBND tỉnh
Bến Tre chủ trương trích ngân sách từ nguồn kinh phí chi cho Sở Y tế để mua
thuốc Methadone cấp miễn phí cho bệnh nhân điều trị trong thời gian sắp tới nếu
các tổ chức quốc tế ngưng nguồn kinh phí hỗ trợ.
Trước tình hình đó, các trung tâm cai nghiện, các cơ sở cai nghiện bắt
buộc là nơi mà đối tượng nghiện ma túy đến cai nghiện thế nên công tác quản lý
trường hợp tại các trung tâm cai nghiện cần được đặt lên hàng đầu góp phần kéo
giảm tình trạng nghiện ma túy và cai nghiện thành công cho đối tượng ma túy
trên địa bàn các tỉnh thành trong cả nước nói chung và Bến Tre nói riêng.
1.2. Cơ sở lý luận của quản lý trường hợp đối với người nghiện ma túy
1.2.1. Cơ sở lý luận về quản lý trường hợp đối với người cai nghiện ma
túy.
17


Nghiện ma túy là bệnh mãn tính rất khó chữa và có đặc tính dễ tái nghiện vì
vậy cần có sự kiên trì sự bền bỉ của những người quản lý, điều trị cai nghiện ma túy.
Do đó, việc áp dụng công tác xã hội vào quy trình quản lý trường hợp đối với người
cai nghiện ma túy là phương pháp tốt nhất.
Quy trình Quản lý trường hợp gồm 05 bước như sau:
Bước 1: Tiếp nhận và đánh giá sơ bộ
Khi nhận thông báo từ cá nhân, tổ chức hay từ bộ phận tiếp nhận thông tin của
Trung tâm, NVQLTH chính là nhân viên xã hội phải nhanh chóng khai thác những
thông tin cần thiết về đối tượng và gia đình đảm bảo đủ thông tin tiếp nhận. Cùng
lúc cán bộ quản lý trường hợp cần đánh giá sơ bộ về tình trạng sức khỏe thể chất và
tâm lý của đối tượng, môi trường sống và làm việc của đối tượng để đưa ra các biện
pháp hỗ trợ kịp thời đặc biệt trong tình huống cần hỗ trợ khẩn cấp đảm bảo an toàn
tính mạng của đối tượng.
Bước 2: Thu thập thông tin và đánh giá toàn diện
Sau khi đã có thông tin sơ bộ về đối tượng, NVQLTH cần phối hợp với chính
quyền địa phương, các ban ngành và đoàn thể có liên quan tiến hành thu thập thêm
thông tin nhằm xác minh lại thông tin đã thu được và bổ sung thông tin cần thiết
khác. Mục đích của bước này nhằm có được những bằng chứng cụ thể liên quan đến
các thông tin đã được cung cấp. Để tiến hành xác minh thông tin, cán bộ QLTH và
các đối tác phải tổ chức gặp gỡ đối tượng, gia đình và các bên liên quan để có được
những bằng chứng cụ thể liên quan đến vấn đề và nhu cầu của đối tượng. Trên thực
tế, nhu cầu của đối tượng có thể là rất nhiều, tuy nhiên dựa trên tính cấp thiết và
nguồn lực sẵn có, NVQLTH có thể tiến hành lựa chọn các nhu cầu ưu tiên. Để kết
thúc bước 2, NVQLTH cần đưa ra những kết luận cụ thể về vấn đề và các nhu cầu
cần ưu tiên của đối tượng để làm cơ sở xây dựng kế hoạch can thiệp phù hợp hoặc
chuyển gửi nếu nhu cầu của đối tượng vượt quá khả năng đáp ứng của Trung tâm.
Bước 3: Lập kế hoạch can thiệp
Dựa trên cơ sở kết luận của bước 2, cán bộ và nhóm liên ngành bao gồm
những cán bộ thuộc các đơn vị, ngành liên quan cùng thảo luận để đưa ra kế hoạch
18


can thiệp nhằm đáp ứng các nhu cầu nói trên. Một kế hoạch can thiệp cần có:
- Các mục tiêu: được xây dựng dựa trên nhu cầu của đối tượng. Mục tiêu phải
cụ thể và phải phản ánh được kết quả cần đạt được trong thời gian nhất định.
- Các hoạt động: được xây dựng nhằm đạt được mục tiêu nói trên.
- Tổ chức thực hiện: nêu rõ ai là người sẽ thực hiện hoạt động, nguồn lực đang
có và cần huy động để thực hiện hoạt động, hoạt động thực hiện trong bao lâu.
Khi xây dựng kế hoạch cần có sự tham gia tối đa của đối tượng để đảm bảo kế
hoạch được phù hợp và thực thi với đối tượng.
Bước 4: Triển khai kế hoạch can thiệp
Sau khi có kế hoạch can thiệp, nhân viên xã hội thực hiện chức năng điều phối,
khai thác và kết nối các nguồn lực để thực hiện kế hoạch. Một mặt cán bộ phải làm
việc với đối tượng và gia đình để cung cấp cho họ những kỹ năng để họ tự giải
quyết các vấn đề của mình, mặt khác phải phối hợp với các nhà cung cấp dịch vụ để
thực hiện cung cấp dịch vụ cho đối tượng và gia đình theo đúng kế hoạch đề ra. Bên
cạnh đó, cán bộ sẽ phải thường xuyên giữ mối liên lạc giữa đối tượng và người cung
cấp dịch vụ để đảm bảo rằng kế hoạch thực hiện đúng tiến độ và yêu cầu. Ở bước
này, cán bộ cần phải tiến hành vận động nguồn lực từ cộng đồng, có thể là vật chất,
con người hay mối quan hệ, để giúp đối tượng giải quyết được vấn đề của mình.
Bước 5: Kết thúc
Ở bước này, NVQLTH cần đánh giá lại tình trạng của đối tượng xem mục tiêu
hỗ trợ đối tượng có đạt được không: các vấn đề đã được giải quyết chưa, có yếu tố
mới nào nảy sinh cho đối tượng và gia đình không. Trong trường hợp đối tượng đã
giải quyết được vấn đề của mình và không có yếu tố mới nảy sinh, cán bộ có thể kết
thúc sự hỗ trợ ở đây. Trong trường hợp vấn đề của đối tượng chưa được giải quyết
hoặc có vấn đề mới nảy sinh, cần phải đánh giá lại lập kế hoạch trợ giúp khác.
Xuyên suốt trong quá trình quản lý trường hợp, NVQLTH cần tuân thủ công
tác ghi chép tài liệu của đối tượng theo đúng mẫu biểu bảng và quy định đã được
thống nhất trong trung tâm. Tất cả các hoạt động nghiệp vụ cần phải lưu hồ sơ theo
quy định và cất trữ ở nơi an toàn để đảm bảo nguyên tắc bảo mật.
19


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×