Tải bản đầy đủ

Bài giảng luật đất đai

Chương 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN
CỦA NGÀNH LUẬT ĐẤT ĐAI
Chương 1 gồm các nội dung cơ bản sau đây:
- Giới thiệu chung về ngành Luật Đất đai.
- Quan hệ pháp luật đất đai.
- Chế độ quyền sở hữu toàn dân đối với đất đai.
Mục tiêu của chương 1 là:
- Cung cấp cho người học các kiến thức cơ bản về ngành Luật Đất đai trong
hệ thống pháp luật Việt Nam dưới giác độ của khoa học pháp lý.
- Cung cấp cho người học những kiến thức cơ bản về lịch sử quan hệ pháp
luật đất đai của Việt Nam làm cơ sở cho việc tiếp thu nội dung pháp luật thực định
ở các chương sau.
- Cung cấp cho người học một số quy định chung của Luật Đất đai thực định
gắn với lý luận pháp lý về quan hệ pháp luật đất đai, sở hữu đất đai.
- Cung cấp cho người học kiến thức lý luận về sở hữu đất đai, một trong các
nội dung lý luận cơ bản quyết định nội dung các quy định của pháp luật đất đai.
1. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ NGÀNH LUẬT ĐẤT ĐAI
1.1. Khái niệm ngành Luật Đất đai
Như các Nhà nước khác, Việt Nam có hệ thống pháp luật gồm nhiều ngành
luật, mỗi ngành luật là hệ thống các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã
hội thuộc một lĩnh vực quan trọng của cuộc sống.

Đất đai là nguồn tài nguyên quý của mỗi quốc gia và của toàn nhân loại, để
khai thác hiệu quả nguồn tài nguyên này phục vụ cho sự phát triển, đáp ứng nhu
cầu của con người, mỗi quốc gia đều coi trọng việc ban hành luật pháp để điều
chỉnh các quan hệ xã hội liên quan trực tiếp tới đất đai. Như đa số các quốc gia trên
thế giới, Việt Nam có ngành Luật Đất đai.
ngành Luật Đất đai là tổng thể quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ
xã hội phát sinh trực tiếp trong quá trình chiếm hữu, quản lý, sử dụng và định đoạt
số phận pháp lý đối với đất đai nhằm quản lý và sử dụng đất đai có hiệu quả kinh
tế cao phù hợp với lợi ích của Nhà nước, của xã hội và của người sử dụng đất.
Như mọi ngành luật, ngành Luật Đất đai gồm tất cả các quy tắc pháp lý, các
quy phạm pháp luật có chức năng điều chỉnh các quan hệ xã hội liên quan trực tiếp
tới đất đai, mà chủ yếu là các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình thực hiện
chế độ quyền sở hữu đối với đất đai, gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và
quyền định đoạt số phận pháp lý đối với đất đai. Trong đó, xét dưới góc độ thực
tiễn thì việc sử dụng đất là quan trọng nhất. Bởi việc thực hiện quyền chiếm hữu,
quyền sử dụng, quyền định đoạt đối với đất đai cũng chỉ nhằm sử dụng nguồn tài
nguyên quý giá này hiệu quả nhất. Với đặc thù là nguồn tài nguyên quý của quốc


gia, là thứ tài sản đặc biệt, việc sử dụng hiệu quả đất đai thể hiện ở nhiều góc độ,
khía cạnh với các giá trị khác nhau, trong đó cần bảo đảm việc chia sẻ lợi ích cho
nhiều chủ thể liên quan gồm Nhà nước, người sử dụng đất và toàn xã hội.
1.2. Đối tượng điều chỉnh và phương pháp điều chỉnh của ngành Luật Đất đai
Đối tượng và phương pháp điều chỉnh là hai nội dung quan trọng, là căn cứ
để xác lập một ngành luật trong khoa học pháp lý. Nói cách khác, mỗi ngành luật
có đối tượng điều chỉnh và phương pháp điều chỉnh riêng, đây là căn cứ phân biệt
các ngành luật với nhau.
1.2.1 Đối tượng điều chỉnh của ngành Luật Đất đai
Theo cách hiểu thông thường, đối tượng là mục tiêu, là cái đích của mọi hoạt
động. Pháp luật với tính chất là nhân tố điều chỉnh quan hệ xã hội thì mục tiêu, cái
đích của nó chính là những quan hệ xã hội mà nó điều chỉnh. Như vậy, đối tượng
điều chỉnh của ngành Luật Đất đai chính là các quan hệ xã hội pháp sinh trong quá
trình chiếm hữu, quản lý, sử dụng và định đoạt đối với đất đai. Cụ thể gồm hai
nhóm quan hệ sau đây:
* Quan hệ quản lý đối với đất đai:
Nhóm quan hệ này nảy sinh giữa người quản lý (Nhà nước, cơ quan nhà
nước) với người sử dụng đất (các tổ chức, cá nhân, hộ gia đình…). Trong đó, Nhà
nước, cơ quan quản lý thực hiện quyền quản lý, người sử dụng đất và đất đai là đối
tượng của hoạt động quản lý của Nhà nước, chịu sự quản lý của Nhà nước. Quan
hệ quản lý nói chung, quan hệ quản lý đối với đất đai nói riêng được các quy phạm

pháp luật điều chỉnh, được gọi chung là quan hệ pháp luật đất đai thuộc nhóm quan
hệ quản lý đối với đất đai.
Không chỉ quan hệ với người sử dụng đất, để thực hiện hoạt động quản lý
Nhà nước đối với đất đai, người quản lý có quan hệ với nhau. Tuy nhiên, quan hệ
này không thuộc đối tượng điều chỉnh của ngành Luật Đất đai mà thuộc đối tượng
điều chỉnh của ngành luật khác trong hệ thống pháp luật là ngành luật hành chính.
* Quan hệ sử dụng đất đai:
Nhóm quan hệ này nảy sinh giữa những người sử dụng đất với nhau. Trong
quá trình thực hiện các quyền sử dụng đất, người sử dụng đất thiết lập nhiều quan
hệ liên quan trực tiếp với đất đai. Các quan hệ này được các quy phạm pháp luật
đất đai điều chỉnh, được gọi chung là quan hệ pháp luật đất đai, thuộc nhóm quan
hệ sử dụng đất.
1.2.2 Phương pháp điều chỉnh của ngành Luật Đất đai
Phương pháp điều chỉnh là cách thức mà Nhà nước sử dụng pháp luật tác
động vào các quan hệ pháp luật thuộc đối tượng điều chỉnh của pháp luật. Như
vậy, phương pháp điều chỉnh của ngành Luật Đất đai là cách thức để đạt được mục
tiêu, đến được cái đích với tính chất là đối tượng điều chỉnh của ngành luật này.
Mỗi ngành luật có phương pháp điều chỉnh nhất định phù hợp với tính chất
của các đối tượng điều chỉnh của ngành luật đó. Với hai đối tượng điều chỉnh chủ


yếu nêu trên, ngành Luật Đất đai sử dụng hai phương pháp điều chỉnh phù hợp
tương ứng sau đây:
* Phương pháp phương pháp mệnh lệnh (phương pháp hành chính):
Phương pháp này phù hợp với tính chất của quan hệ quản lý đối với đất đai.
Bởi trong quan hệ quản lý, một bên là Nhà nước (cơ quan nhà nước), người có
quyền quản lý, sử dụng quyền lực nhà nước để thực hiện quyền quản lý; phía
người sử dụng đất phải chịu sự quản lý của Nhà nước. Đây là quan hệ giữa hai chủ
thể không bình đằng với nhau về địa vị pháp lý. Trong đó nước được sử dụng
quyền uy, đưa ra mệnh lệnh buộc chủ thể sử dụng đất phải phục tùng.
* Phương pháp bình đẳng:
Phương pháp này có tính chất phù hợp với quan hệ giữa các chủ thể bình
đẳng với nhau về địa vị pháp lý là quan hệ sử dụng đất, quan hệ giữa người sử
dụng đất với nhau. Trong đó, việc thiết lập quan hệ pháp luật này được thực hiện
qua cơ chế thỏa thuận giữa các chủ thể trong khuôn khổ pháp luật. Như đã nêu
trên, trong chừng mực nhất định phương pháp này được sử dụng trong quan hệ
quản lý Nhà nước đối với đất đai. Tuy nhiên, thông thường phương pháp quyền uy
không được sử dụng trong quan hệ sử dụng đất.
1.3. Các nguyên tắc cơ bản của ngành Luật Đất đai
Để đạt mục tiêu trong công tác quản lý và sử dụng đất đai, nguồn tài nguyên
quý của quốc gia, Nhà nước Việt Nam đã đề ra các nguyên tắc với tính chất là
những tư tưởng, phương hướng chỉ đạo, cơ sở chủ yếu để dựa vào đó pháp luật
điều chỉnh các quan hệ xã hội.
Nguyên tắc của ngành Luật Đất đai là những tư tưởng xuyên suốt, là kim chỉ
nam trong quá trình Nhà nước Việt Nam xây dựng pháp luật, tổ chức thực hiện
pháp luật trên thực tế để thực hiện việc chiếm hữu, quản lý, sử dụng và định đoạt
đối với đất đai. Với tính chất là một ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật
của Nhà nước Việt Nam, ngành Luật Đất đai có các nguyên tắc cơ bản sau đây.
1.3.1 Nguyên tắc đất đai thuộc sở hữu toàn dân
Trong lịch sử quan hệ pháp luật đất đai của Việt Nam đã tồn tại nhiều hình
thức sở hữu đối với đất đai. Hiện nay, kế thừa Hiến pháp năm 1980, Điều 17 Hiến
pháp năm 1992 và Khoản 1 Điều 5 Luât Đất đai năm 2003 đều ghi nhận tại Việt
Nam “đất đai thuộc sở hữu toàn dân”. Sở hữu toàn dân đối với đất đai là nguyên tắc
tối thượng của ngành Luật Đất đai, cần được hiểu như sau:
- Như mọi quan hệ khác, các quan hệ liên quan đến đất đai đều bị chi phối
bởi quan hệ sở hữu. Do đó, đề cấp tới các quan hệ liên quan đến đất đai, trước tiên
phải đề cập tới quan hệ sở hữu. Sở hữu toàn dân đối với đất đai chi phối nội dung
của tất cả các nguyên tắc còn lại của ngành Luật Đất đai, của toàn bộ nội dung của
ngành Luật Đất đai, và chi phối quá trình chiếm hữu, quản lý, sử dụng và định đoạt
đối với đất đai trên thực tế của Nhà nước và mọi tổ chức, cá nhân.


- Sở hữu toàn dân là một chế độ sở hữu, không phải là một hình thức sở hữu
theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005 (theo quy định tại Điều 200 về tài sản
thuộc hình thức sở hữu Nhà nước thì đất đai là tài sản thuộc hình thức sở hữu này).
Nhà nước thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai và thống nhất
quản lý Nhà nước về đất đai.
- Toàn bộ diện tích lãnh thổ Việt Nam gồm cả đất liền, biển, đảo… đều
thuộc chế độ sở hữu toàn dân đối với đất đai, không có điện tích đất đai nào của
Việt Nam không có chủ sở hữu (vô chủ). Đất đai do Nhà nước Việt Nam thống
nhất quản lý, các tổ chức, cá nhân chỉ có quyền sử dụng đất.
Thực hiện chế độ sở hữu toàn dân đối với đất đai là vấn đề phức tạp về lý
luận và thực tiễn, theo quy định của Hiến pháp năm 1992 và Luật Đất đai năm
2003 thì Nhà nước là đại diện và thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu toàn dân đối
với đất đai. Với tư cách này Nhà nước thiết lập hệ thống cơ quan quản lý Nhà nước
đối với đất đai, ban hành văn bản quy phạm pháp luật, ghi nhận và thực hiện quyền
định đoạt đối với đất đai; trao quyền chiếm hữu, sử dụng đất cho người sử dụng
đất… Đây là nội dung lý luận quan trọng được giới thiệu đầy đủ tại mục 3 của
chương này.
1.3.2 Nguyên tắc Nhà nước thống nhất quản lý toàn bộ đất đai theo quy hoạch
và pháp luật
Nguyên tắc này được ghi nhận tại Điều 18 Hiến pháp năm 1992 và tại
Khoản 1 Điều 6 Luật Đất đai năm 2003. Với tư cách là đại diện chủ sở hữu toàn
dân đối với đất đai và tư cách là người quản lý mọi mặt đời sống xã hội, Nhà nước
Việt Nam thống nhất quản lý đối với đất đai. Để thực hiện công tác này, ngoài các
cơ quản quản lý có thẩm quyền chung, Nhà nước Việt Nam lập hệ cơ quan quản lý
Nhà nước có thẩm quyền chuyên môn đối với đất đai, ban hành hệ thống chính
sách, pháp luật, chế độ quản lý áp dụng thống nhất trên toàn quốc, đối với mọi diện
tích đất, loại đất, thửa đất và đối với mọi chủ thể sử dụng đất… không có sự phân
biệt nào trong quá trình áp dụng các quy định của pháp luật và các quy tắc khác
trong công tác quản lý Nhà nước đối với đất đai.
Với chế độ sở hữu toàn dân đối với đất đai, công tác quản lý Nhà nước đối
với loại tài nguyên quý này càng trở nên quan trọng. Với đặc thù của đất đai là trải
rộng về không gian, sử dụng lâu dài theo thời gian, thay đổi theo nhu cầu của con
người… nên bên cạnh pháp luật, việc quản lý của Nhà nước đối với đất đai còn
được thực hiện theo quy hoạch sử dụng đất đai. Đây là công cụ quản lý đặc thù,
tương đối đặc biệt và quan trọng của Nhà nước khi thực hiện quản lý đối với đất
đai so với việc Nhà nước quản lý đối với các lĩnh vực khác của xã hội. Tuy nhiên,
xét ở khía cạnh nào đó, quy hoạch sử dụng đất cũng là pháp luật đất đai.
Để thực hiện công tác quản lý Nhà nước đối với đất đai, Nhà nước Việt Nam
sử dụng nhiều công cụ, phương tiện khác nhau, trong đó pháp luật và quy hoạch là
công cụ, phương tiện quan trọng và hiệu quả nhất. Để bảo đảm thực hiện nguyên


tắc này trong thực tế Nhà nước cần ban hành để hoàn thiện hệ thống quy phạm
pháp luật về đất đai và bảo đảm thực hiện trong thực tế; xây dựng và quản lý quy
hoạch sử dụng đất, đảm bảo thực hiện bằng việc cụ thể hóa nội quy hoạch sử dụng
đất thành kế hoạch sử dụng đất và tổ chức thực hiện hiệu quả; người sử dụng đất
triệt để thực thi pháp luật và quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; xử lý nghiêm minh
các hành vi vi phạm…
1.3.3 Nguyên tắc sử dụng đất hợp lý và tiết kiệm
Với mục đích sử dụng hiệu quả nguồn lực đất đai phục vụ cho sự phát triển
đời sống kinh tế xã hội, một trong các yêu cầu quan trọng là sử dụng đất hợp lý,
tiết kiệm.
Sử dụng đất hợp lý được hiểu là việc sử dụng đất dựa trên cơ sở khả năng
sinh lợi của đất và nhu cầu của con người về những giá trị mà đất có thể tạo ra.
Nếu việc sử dụng đất chỉ dựa trên cơ sở khả năng sinh lợi của đất nhưng những lợi
ích đó con người không có nhu cầu/có nhu cầu thấp hoặc việc sử dụng đất chỉ dựa
trên nhu cầu của con người nhưng đất lại không có khả năng/có khả năng thấp
trong việc tạo ra những giá trị đó thì chưa phải là sử dụng đất hợp lý.
Sử dụng đất tiết kiệm là việc sử dụng triệt để từng diện tích, từng thửa đất,
không để đất hoang hóa, không để đất trống, đồi trọc, không sử dụng đất. Ngoài
việc tiết kiệm đất về không gian, việc sử dụng đất liên tục, không để đất ngừng sử
dụng trong một thời gian nhất định cũng là một khía cạnh của việc sử dụng đất tiết
kiệm.
Xuất phát từ nhiều nguyên nhân như diện tích đất đai, khả năng tạo ra lợi ích
của đất để đáp ứng nhu cầu của con người… có hạn nhưng nhu cầu của con người
đối với các lợi ích phát sinh từ đất không ngừng tăng lên (do tăng dân số, nhu cầu
của cuộc sống…)… nên sử dụng đất hợp lý và tiết kiệm trở thành nguyên tắc của
ngành Luật Đất đai.
Nguyên tắc sử dụng đất hợp lý và tiết kiệm chỉ được bảo đảm thực hiện trên
thực tế khi có sự kết hợp với nhiều nội dung quản lý Nhà nước đối với đất đai, nội
dung sử dụng đất đai khác như làm tốt công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
làm cơ sở khoa học và điều kiện cho công tác sử dụng đất; xác định và bảo đảm
việc sử dụng đất đúng mục đích; chú trọng công tác khai hoang, vỡ hóa để đưa đất
chưa sử dụng vào sử dụng nhằm tăng diện tích sử dụng đất, đáp ứng tốt hơn nhu
cầu của con người; kết hợp thực thi các biện pháp tăng cường hiệu suất sử dụng
đất, thực hiện thâm canh, tăng vụ, bố trí cây trồng, vật nuôi hợp lý… trong sản xuất
nông nghiệp…
1.3.4 Nguyên tắc ưu tiên bảo vệ đất nông nghiệp, đặc biệt là đất trồng lúa
Ưu tiên bảo vệ đất nông nghiệp, đặc biệt là đất trồng lúa được hiểu là hạn
chế tới mức tối đa việc giảm diện tích đất này.
Trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa tất yếu diện tích các loại đất
khác như đất mặt bằng sản xuất kinh doanh, đất chuyên dùng… kể cả diện tích đất


ở cũng tăng lên và nhu cầu tăng diện tích của tất cả các loại đất đó đều đè nặng lên
diện tích đất nông nghiệp nói chung, diện tích đất trồng lúa nói riêng. Trong khi
đó, là một nước đi lên từ sản xuất nông nghiệp, hiện số người sống bằng sản xuất
nông nghiệp cao trong khi diện tích đất nông nghiệp hạn chế thì việc ưu tiên bảo vệ
đất nông nghiệp, đặc biệt là đất trồng lúa là vấn đề quan trọng. Đặc biệt, trong điều
kiện diện tích đất trồng lúa có nguy cơ giảm mạnh khi các đồng bằng của Việt
Nam bị ngập nước vì nước biển dâng cao do biến đổi khí hậu toàn cầu. Bảo vệ
nghiêm ngặt diện tích đất trồng lúa không chỉ là bảo đảm nhu cầu mưu sinh cho đại
đa số người dân sống tại nông thôn Việt Nam; bảo đảm an ninh lương thực quốc
gia từ đó góp phần bảo đảm trật tự an toàn xã hội, sự phát triển bền vững của đất
nước, trong điều kiện Việt Nam là nước xuất khẩu gạo lớn của thế giới thì nó còn
góp phần bảo đảm an ninh lương thực toàn cầu, đảm bảo sự ấm no, hạnh phúc của
nhân loại khi nhu cầu về lương thực, lúa gạo vẫn cao và tăng dần theo thời gian.
Để bảo đảm nguyên tắc này được thực thi trong thực tiễn cần làm tốt công
tác quy hoạch sử dụng đất, trong đó cần xác định những vùng đất lúa chuyên canh
được bảo vệ nghiêm ngặt; mở rộng diện tích đất nông nghiệp bằng công tác khai
hoang, vỡ hóa từ diện tích đất chưa sử dụng hoặc đất sử dụng vào mục đích khác
không hiệu quả nhưng có khả năng sản xuất; thâm canh tăng vụ, tăng năng xuất…
nhằm tăng hiệu quả sử dụng diện tích đất nông nghiệp có sẵn. Mặt khác, cần quy
định cụ thể và bảo đảm thực thi quy định của pháp luật về tạo điều kiện cho người
làm nông nghiệp có đất sản xuất; về hạn chế đối tượng nhận chuyển nhượng đất
nông nghiệp; về thủ tục chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp chặt chẽ; về
khuyến khích mọi chủ thể tham gia khai hoang để mở rộng diện tích đất nông
nghiệp, trong đó có diện tích đất trồng lúa…
1.3.5 Nguyên tắc cải tạo, bồi bổ đất
Để nâng cao hiệu quả sử dụng đất và bảo đảm khả năng sử dụng đất lâu dài
phục vụ sự phát triển của xã hội công tác cải tạo, bồi bổ đất trở thành vấn đề mang
tính nguyên tắc.
Cải tạo đất được hiểu là việc thực hiện các giải pháp vật chất kỹ thuật nhằm
thay đổi về dưỡng chất, tính năng của đất để đưa đất vào sử dụng, bảo đảm khả
năng sử dụng đất.
Bồ bổ đất được hiểu là việc thực hiện các giải pháp vật chất kỹ thuật nhằm
tăng dưỡng chất của đất góp phần nâng cao khả năng sinh lợi của đất.
Với nội dung như nêu trên, công tác cải tạo, bồi bổ đất chỉ đặt ra đối với một
số loại đất nhất định, chủ yếu là đất nông nghiệp, đặc biệt là đất trồng trọt. Bởi một
số loại đất này chỉ có thể sử dụng, tạo ra lợi ích khi đạt đến độ sinh hóa nhất định
và việc tăng cường dưỡng chất của các loại đất này sẽ dẫn đến nâng cao giá trị sử
dụng đất để đáp ứng tốt hơn nhu cầu của con người. Việc sử dụng đất trên thực tế
luôn dẫn đến việc dưỡng chất của đất giảm đi nên song song với quá trình sử dụng
đất là quá trình cải tạo, bồi bổ đất. Tuy nhiên, trong thời gian vừa qua chúng ta chú


trọng công tác sử dụng đất tới mức khai thác kiệt quệ tiềm năng, khả năng sinh lợi
của đất trong khi công tác cải tạo, bồi bổ đất bị coi nhẹ đã dẫn đến nhiều diện tích
đất đai bị thoái hóa, mất hoặc giảm khả năng sử dụng. Việc sử dụng đất lâm nghiệp
đã dẫn đến sự giảm sút mạnh diện tích rừng, do vậy một diện tích đáng kể đất nông
nghiệp bị sói mòn, thoái hóa nên mất hoặc giảm khả năng sử dụng. Mặt khác, trong
quá trình khai thác triệt để khả năng của đất, việc lạm dụng và sử dụng không đúng
khoa học kỹ thuật trong sản xuất cũng dẫn đến làm tổn hại đến đất đai…
Để nguyên tắc cải tạo và bồi bổ đất được thực thi trong thực tiễn cần quan
tâm áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong sản xuất; thậm chí sử dụng các biện
pháp kỹ thuật truyền thống phù hợp để giữ lại và tăng dưỡng chất cho đất; kết hợp
với nguyên tắc sử dụng đất hợp lý, không nên quá chú trọng công tác khai thác giá
trị của đất tới mức làm kiệt quệ khả năng sử dụng đất…Nhà nước cần khuyến
khích, hướng dẫn, hỗ trợ người sử dụng đất cải tạo, bồi bổ đất; xử lý vi phạm, thậm
chí thu hồi đất khi người sử dụng đất.
1.3.6 Nguyên tắc sử dụng đất gắn với bảo vệ môi trường
Hiện nay, bảo vệ môi trường là mối quan tâm của toàn nhân loại, nó trở
thành nghĩa vụ của mọi quốc gia, mọi tổ chức, cá nhân và được thể hiện trong mọi
hoạt động của mọi chủ thể, trong đó có hoạt động sử dụng đất.
Sử dụng đất gắn với bảo vệ môi trường được hiểu là cần bảo đảm không làm
xấu đi, làm tổn hại đến môi trường tự nhiên trong quá trình sử dụng đất.
Đất đai là một trong những yếu tố cơ bản của môi trường nên sử dụng đất là
sử dụng một trong các yếu tố cơ bản của môi trường, ảnh hưởng trực tiếp đến môi
trường, trước hết là ảnh hưởng đến môi trường đất, từ ô nhiễm môi trường đất sẽ
ảnh hưởng đến môi trường không khí, môi trường nước.
Môi trường là nơi diễn ra hoạt động sống của mọi loài sinh vật, trong đó có
con người, khi môi trường bị ảnh hưởng xấu, bị tổn hại sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới
sự đa dạng sinh học do nhiều loài sinh vật bị tuyệt chủng, de doạ tuyệt chủng; tới
chất lượng cuộc sống, thậm chí tới sự tồn vong của nhân loại... Do vậy bảo vệ trực
tiếp môi trường đất nói riêng, bảo vệ môi trường nói chung trong quá trình sử dụng
đất là để bảo vệ sự sống trên trái đất, bảo vệ nhân loại.
Tại Khoản 2 Điều 11 Luật Đất đai năm 2003 quy định việc sử dụng đất phải
đảm bảo tiết kiệm, có hiệu quả, bảo vệ môi trường và không làm tổn hại đến lợi ích
chính đáng của người sử dụng đất xung quanh; tại Khoản 5 Điều 107 quy định,
tuân theo các quy định về bảo vệ môi trường, không làm tổn hại đến lợi ích hợp
pháp của người sử dụng đất có liên quan... đã quán triệt nguyên tắc sử dụng đất gắn
với bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, để nguyên tắc này được thực hiện hiệu quả
trong thực tiễn cần coi trọng công tác quy hoạch sử dụng đất, theo đó những hoạt
động kinh tế công nghiệp gây ô nhiễm môi trường cần được đặt xa khu dân cư,
tránh ảnh hưởng trực tiếp tới môi trường sống của con người; coi trọng việc sử
dụng công nghệ hiện đại, thân thiện với môi trường, ít gây tổn hại tới môi trường;


coi trọng việc xử lý chất thải sinh hoạt, chất thải công nghiệp; coi trọng việc thay
đổi hành vi sử dụng hóa chất trong sản xuất nông nghiệp của người nông dân...
2. QUAN HỆ PHÁP LUẬT ĐẤT ĐAI
2.1. Lịch sử quan hệ pháp luật đất đai
Phù hợp với lịch sử của dân tộc trong từng giai đoạn, lịch sử quan hệ pháp
luật đất đai biến động và phát triển không ngừng. Như mọi quan hệ khác trong xã
hội, quan hệ pháp luật đất đai có nội dung phong phú gồm quan hệ sở hữu, quan hệ
quản lý, quan hệ sử dụng, quan hệ phân phối... trong đó, quan hệ sở hữu là quan hệ
quan trọng nhất, quyết định các quan hệ còn lại. Với ý nghĩa đó, nội dung này chủ
yếu đề cấp đến quan hệ sở hữu quan hệ pháp luật đất đai.
2.1.1 Thời kỳ lập quốc (Từ đầu thiên niên kỷ I tới thứ kỷ III trước công nguyên)
Thời kỳ này tên nước là Văn Lang và sau đó có tên gọi là Âu Lạc, lịch sử
chia thành hai phân kỳ cụ thể là:
Thời kỳ Hùng Vương công xã thị tộc với tính chất quần hôn, quan hệ huyết
thống tan dã do sự xuất hiện của gia đình. Một số gia đình sống quần tụ trên một
khu vực địa lý nhất định dẫn đến hình thành công xã nông thôn. Trong công xã
nông thôn, ngoài quan hệ xóm giềng thì quan hệ huyết thống vẫn được bảo tồn.
Công xã nông thôn khẳng định là chủ đối với diện tích đất đai (ruộng đất, ao, đầm,
hồ…) mà công xã đang quản lý và phân chia cho các thành viên của công xã là các
hộ gia đình và những người lao động tự do sử dụng.
Thực tiễn của Nhà nước Văn Lang và Âu Lạc ở thời kỳ lập quốc chưa hình
thành xã hội chiếm hữu nô lệ rõ ràng, bởi số lượng nê lệ còn ít, chủ yếu là nô lệ gia
đình. Tuy nhiên, thời kỳ này tầng lớp quí tộc đã xuất hiện. Họ chủ yếu là những
người lãnh đạo thị tộc, bộ lạc, công xã… do lạm dụng quyền hạn của mình chiếm
hữu của cải dư thừa của thị tộc, bộ lạc, công xã mà trở nên giầu có. Họ chiếm giữ,
quản lý một diện tích đất đáng kể và khẳng định là chủ đối với diện tích đất rộng
lớn này.
Là Nhà nước tập quyền, quyền lực nhà nước tập trung vào Vua, người đứng
đầu Nhà nước. Để khẳng định một Nhà nước mạnh, như các Nhà nước nói chung,
Nhà nước thời kỳ lập quốc cũng khẳng định là chủ đối với diện tích đất đai thuộc
lãnh thổ của Nhà nước mình.
Sau thời kỳ Hùng Vương kéo dài vài trăm năm là thời kỳ An Dương Vương
kéo dài khoảng nửa thế kỷ. Đất nước thời kỳ này mang tên gọi là Âu Lạc. Về cơ
bản xã hội Âu Lạc không thay đổi nhiều, do đó quan hệ pháp luật đất đai, đặc biệt
là quan hệ sở hữu đối với đất đai vẫn kế thừa từ thời kỳ Hùng Vương.
Như vậy, thời kỳ lập quốc quan hệ pháp luật đất đai được thiết lập trên cơ sở
ba hình thức sở hữu đối với đất đai là sở hữu Nhà nước đối với đất đai, sở hữu
công xã nông thôn đối với đất đai và sở hữu tư nhân đối với đất đai. Thực tế việc
sở hữu đất đai của các chủ sở hữu thời kỳ lập quốc không có đầy đủ quyền năng


pháp lý như quy định của luật pháp hiện nay mà chỉ có tính chất là sự chiếm giữ
đất đai.
2.1.2 Thời kỳ thuộc Bắc (Từ cuối thế kỷ III trước công nguyên đến thế kỷ X sau
công nguyên)
Sau các cuộc chiến tranh, nước Âu Lạc trở thành một quận, huyện của chính
quyền phong kiến phương Bắc (Nhà Triệu và nhà Hán). Khi xâm lược được miền
đất mới, Nhà nước phong kiến phương Bắc coi đất Âu Lạc là một phần diện tích
lãnh thổ của mình, khẳng định là chủ đối với diện tích đất mới chiếm đóng. Mặt
khác, chính quyền Nhà nước phong kiến phương Bắc được tổ chức tới địa phương,
gồm cả miền đất mới. Theo đó, quan lại Nhà nước phương Bắc được đưa về cơ
quan chính quyền thực hiện quản lý miền đất mới, và để bảo đảm cho họ yên tâm
với công việc, gắn bó với miền đất này, Nhà nước ban thưởng nhiều đất đai cho họ
và gia đình họ. Với chức quyền của mình, quan lại phong kiến phương Bắc lại vơ
vét, bóc lột và ngày càng thâu tóm nhiều đất đai hơn.
Như vậy, các quan hệ pháp luật đất đai gắn bó với lợi ích của chính quyền
và con người Nhà nước phong kiến phương Bắc được phát triển. Để thực hiện việc
đồng hóa dân tộc Việt, hiểu rõ nét văn hóa công xã (làng xã sau này) của người
Việt, chính quyền phong kiến phương Bắc đã từng bước làm suy yếu công xã, mà
một trong các biện pháp được tiến hành là tước bỏ đất đai thuộc quyền sở hữu của
công xã nông thôn. Tuy nhiên, tiếp tục phát huy truyền thống của mình, “ứng vạn
biến” trong tình hình chịu sự cai trị của chính quyền phương Bắc, sở hữu đất đai
của công xã nông thôn vẫn tồn tại nhưng có phần suy yếu so với thời kỳ lịch sử
trước đó.
Nội dung trên cho thấy thời kỳ thuộc Bắc quan hệ pháp luật đất đai vẫn chịu
chi phối bởi ba hình thức sở hữu là sở hữu Nhà nước đối với đất đai, sở hữu công
xã nông thôn đối với đất đai và sở hữu tư nhân đối với đất đai. Trong đó, phù hợp
với tình hình lịch sử cụ thể mà mỗi hình thức sở hữu phát triển hoặc giảm sút so
với thời kỳ lập quốc.
2.1.3 Thời kỳ Phong kiến (Từ thế kỳ X tới thế kỷ XX)
Thời kỳ này kéo dài qua nhiều triều đại, do đặc điểm lịch sử và quy luật vận
động xã hội, quan hệ pháp luật đất đai có nhiều thay đổi.
a. Thời kỳ nhà Đinh và nhà Tiền lê
Sau khi giành được độc lập từ phong kiến phương Bắc, chính sự trong nước
không ổn định do hiện tượng loạn mười hai sứ quân. Do vậy, sau khi thống nhất
được quyền lực, Đinh Tiên Hoàng bắt tay vào xây dựng một Nhà nước tập quyền
mạnh, toàn bộ quyền lực nhà nước tập trung vào Vua. Là một Nhà nước mạnh,
toàn bộ diện tích đất đai thuộc lãnh thổ quốc gia đều thuộc quyền sở hữu của Nhà
nước. Việc sử dụng đất sản xuất nông nghiệp được coi trọng, trong đó ngoài việc
phát triển thủy lợi, chống thiên tai, nhà vua còn thực hiện việc cầy tịch điền là hình
thức vua cầy tượng trưng, lấy thóc lúa đó thờ tôn miếu.


Trong triều đại nhà Đinh, một số quan lại được vua cấp cho một số hộ hoặc
một diện tích đất để hưởng thuế gọi là thực ấp, một số quan lại được nhà vua cấp
đất thưởng công, nhưng đất đó vẫn là của vua. Do vậy, Nhà nước có quyền sở hữu
tối cao đối với đất đai.
Công xã nông thôn vẫn quản lý và chia ruộng đất cho các thành viên của
công xã sử dụng đất, các thành viên không có quyền sở hữu đất đai mà chỉ có
quyền chiếm hữu đất đai riêng lẻ. Người nông dân là thần dân của vương quyền
được phân phối ruộng đất để cấy cầy, có nghĩa vụ nộp tô, thuế, đi phu, đi lính cho
Nhà nước. Như vậy, về cơ bản hình thức sở hữu tư nhân đối với đất đai ít tồn tại.
Quan hệ pháp luật đất đai trong triều đại nhà Hậu Lê về cơ bản không thay
đổi so với quan hệ pháp luật đất đai trong triều đại nhà Đinh. Trong đó, hình thức
sở hữu Nhà nước đối với đất đai được củng cố, phát triển mạnh, hình thức sở hữu
tư nhân đối với đất đai suy giảm mạnh còn sở hữu công xã nông thôn khôi phục trở
lại so với thời kỳ lịch sử trước đó.
b. Thời kỳ nhà Lý và nhà Trần
Nối tiếp chính sách đất đai của hai triều đại trước đó, chế độ sở hữu Nhà
nước đối với đất đai vẫn chiếm ưu thế trong xã hội, kể cả ruộng đất của công xã,
dù công xã thực hiện việc quản lý và phân phối cho các thành viên sử dụng nhưng
vẫn phải đặt dưới quyền tối cao của vua. Người dân sử dụng ruộng công phải nộp
tô, thuế, đi lao dịch, đi lính cho Nhà nước. Mặt khác, vua thực hiện việc phong cấp
cho quý tộc và quan lại ruộng đất hoặc một số hộ để họ quản lý, thu thuế hưởng
bổng lộc thay cho việc hưởng lương.
Tuy nhiên, hai triều đại nhà Lý và nhà Trần xây dựng Nhà nước thân dân,
việc mua bán ruộng đất và hình thức sở hữu tư nhân đối với đất đai được luật pháp
công nhận. Ngoài ra, luật còn có nhiều quy định cụ thể về việc chuộc lại đất đã
được cầm đợ, đã bị bỏ hoang, đã có văn khế bán đoạn cũng như quy định việc cấm
các nhà quyền thế ngăn trở việc sử dụng đất đai ngoài phạm vi đầm, ao của mình.
Đặc biệt, triều đại nhà Trần vào thế thử thứ XIII đã đặt ra chính sách chuyển đất
công thành đất tư góp phần cho sự phát triển hình thức sở hữu tư nhân đối với đất
đai. Mặc dù vậy, quyền sở hữu tối cao của Nhà nước đối với toàn bộ diện tích lãnh
thổ quốc gia vẫn được coi là thiêng liêng.
Triều đại nhà Lý đã tạo lập được một công cụ phục vụ quản lý Nhà nước đối
với đất đai là sổ điền bạ. Đây là công cụ có tính chất pháp lý và tính chất tác
nghiệp kỹ thuật đầu tiên trong lịch sử được tạo lập để phục vụ quản lý Nhà nước
đối với đất đai. Nó thể hiện trình độ quản lý Nhà nước đối với đất đai được nâng
cao, góp phần ổn định, phát triển quan hệ pháp luật đất đai.
Hai triều đại nhà Lý và nhà Trần có chính sách đất đai tương đồng với nhau,
trong đó cùng có chính sách sử dụng đất phát triển sản xuất nông nghiệp với các
nội dung cơ bản là coi trọng công tác khai khẩn đất đai, mở rộng diện tích sản xuất,
triều đại nhà Trần thậm chí đã lập các chức quan, giao trách nhiệm cho các chức


quan đó trông coi công việc quan trọng này; coi trọng công tác trị thủy, thủy lợi
phục vụ cho sản xuất; phát triển các điền trang bên cạnh ruộng tịch điền, ruộng
quốc khố…
c. Thời kỳ nhà Hồ
Nhà Hồ tồn tại trong thời gian ngắn xong đã có chính sách đất đai riêng biệt
khác với thời kỳ lịch sử trước đó. Biểu hiện rõ nét là quy định về hạn điền, theo đó
chỉ Đại Vương và Trưởng Công chúa không bị hạn điền còn thứ dân có mức hạn
điền là không quá 10 mẫu ruộng, nếu vượt quá thì phải nộp quan; người phạm tội
có thể chuộc tội bằng đất đai. Quy định này đã hạn chế sự phát triển của sở hữu tư
nhân đối với đất đai, ngược lại đã tạo điều kiện cho sự phát triển của sở hữu Nhà
nước đối với đất đai.
d. Thời kỳ nhà Hậu Lê
Thời kỳ này, chính sách đất đai được gắn với chính sách kinh tế. Nhà nước
xóa bỏ điền trang, thái ấp, hạn chế chế độ tư hữu đối với đất đai. Nhà nước thay
chế độ phong cấp thái ấp bằng chế độ lộc điền, chế độ này được cấp tạm thời để
quan lại hưởng hoa lợi. Bên cạnh đó là chế độ quân điền mà Luật Hồng Đức đã
quy định cụ thể cách phân phối, sử dụng đất của công xã nông thôn. Theo đó tất cả
mọi nông dân tự do từ vợ con của những người bị tội đồ, lưu đến quan tam phẩm
đều được hưởng khẩu phần ruộng của làng xã. Làng nào quản lý ruộng đất của
làng đó, Nhà nước không cắt ruộng đất của làng này cho làng khác. Ruộng đất của
làng xã được chia theo đẳng hạng là: nhất đẳng, nhị đẳng, tam đẳng, chỗ tốt bù chỗ
xấu và cứ 3 năm chia lại một lần. Người có quyền chức không được chiếm ruộng,
trong khi binh lính được ưu đãi chia ruộng đất do không được nhận lương của Nhà
nước. Người sử dụng đất của công xã phải nộp tô, thuế, quân dịch, phu phen nên
công xã trở thành cơ sở bóc lột của Nhà nước trung ương.
Tuy nhiên, cuối triều đại nhà Hậu Lê pháp luật thừa nhận việc mua bán, cầm
cố và thừa kế ruộng đất. Việc mua bán ruộng đất được thực hiện khi hai bên ký kết
vào hợp đồng. Ruộng đất bán đứt thì không được đòi lại. Về cầm cố ruộng, pháp
luật có quy định thời hạn tối đa, quá thời hạn đó không được chuộc lại. Với các
quy định này, pháp luật đã tạo điều kiện cho sự phát triển của sở hữu tư nhân đối
với đất đai.
Trong triều đại nhà Hậu Lê, việc sử dụng đất phát triển sản xuất nông nghiệp
tiếp tục được coi trọng thông qua công tác khai hoang mở rộng diện tích sản xuất,
làm công tác thủy lợi, đắp đê trị thủy… Cùng với đó là quá trình mở mang bờ cõi
về phương Nam. Để phục vụ công tác quản lý Nhà nước đối với đất đai trong điều
kiện diện tích lãnh thổ ngày càng được mở rộng, nhà Hậu Lê đã lập được bản đồ
hành chính. Như vậy sau nhà Lý với việc lập sổ điền bạ, việc nhà Hậu Lê lập bản
đồ hành chính cho thấy công tác quản lý Nhà nước đối với đất đai được các triều
đại phong kiến Việt Nam coi trọng, không ngừng tìm tòi để thực hiện và hoàn


thiện các công cụ, phương tiện, giải pháp… nhằm quản lý đất đai tốt hơn, góp phần
tạo điều kiện cho các quan hệ pháp luật đất đai vận động, phát triển.
Cuối triều đại, nhà Hậu Lê suy yếu cũng là giai đoạn Trịnh – Nguyễn phân
tranh. Ở đàng ngoài, họ Trịnh thi hành chế độ lộc điền, quan lại được miễn thuế
ruộng tư, nạn địa chủ cướp đoạt ruộng đất của nông dân diễn ra dữ dội. Trong khi đó
ở miền trong, họ Nguyễn tiếp tục thực thi công tác khai khẩn đất đai và ưu đãi cho
binh sĩ khi chia cấp đất đai. Đất đai mà quan lại có được do chiêu tập binh lính và nô
tỳ khai khẩn thuộc sở hữu của họ nhưng phải nộp thuế cho Nhà nước.
Như vậy, khác với các thời kỳ lịch sử trước đây là quan hệ pháp luật đất đai
tương đối ổn định, từ thời kỳ nhà Hồ, quan hệ pháp luật đất đai đã có chuyển biến
nhanh chóng, thậm chí trong thời kỳ nhà Hậu Lê, chính sách đất đai đã không
thống nhất.
đ. Thời kỳ nhà Nguyễn
Nhà Nguyễn gồm 2 triều đại là Nguyễn Tây sơn và Nguyễn Phú xuân (tên
gọi theo nơi phát tích của triều đại). Triều đại nhà Nguyễn Tây sơn tồn tại ngắn
ngủi nhưng đã thực thi được một số chính sách đối với đất đai như chiếu khuyến
nông, giảm nhẹ tô, thuế cho nông dân, chiêu hồi dân sơ tán và khai khẩn ruộng đất
bỏ hoang…
Nhà Nguyễn Phú xuân ban đầu đã thực hiện việc tịch thu ruộng đất của
những người theo nhà Nguyễn Tây sơn, người dân phải trả lại đất cho chủ cũ, mất
dần đất và chịu tô thuế nặng nề. Cùng với nó, quá trình tập trung ruộng đất vào địa
chủ diễn ra nhanh chóng. Để khắc phục tình trạng bần cùng hóa của người nông
dân, nhà Nguyễn Phú xuân khuyến khích công tác khai khẩn đất đai cùng với quá
trình mở rộng bờ cõi quốc gia về phương Nam. Thậm chí, nếu mới đầu Nhà nước
nghiêm cấm thì giai đoạn về sau đã cho phép chuyển đất công thành đất tư và chấp
nhận quyền cầm cố đất công có thời hạn của các làng xã. Cùng với quyền thu thuế
của Nhà nước, càng về cuối triều đại nhà Nguyễn thì quyền tư hữu về ruộng đất
của địa chủ càng được củng cố.
Như vậy, cũng như thời kỳ nhà Hậu Lê, quan hệ pháp luật đất đai của thời
kỳ nhà Nguyễn không ổn định bởi quan hệ sở hữu đối với đất đai của cả hai triều
đại này đều thay đổi giữa thời kỳ cuối so với thời kỳ đầu của mỗi triều đại. Theo
đó, ở thời kỳ đầu cả hai triều đại, sở hữu Nhà nước đối với đất đai được củng cố,
phát triển nhưng ở cuối hai triều đại này sở hữu tư nhân đối với đất đai được khôi
phục, phát triển mạnh mẽ.
Tuy nhiên nghiên cứu của các sử gia Việt Nam cho thấy, trải suốt từ thời kỳ
Lập quốc qua thời kỳ Phong kiến ở VN, Nhà nước luôn giữ quyền sở hữu tối cao
đối với toàn bộ đất đai của quốc gia, còn quyền tư hữu đối với đất đai là một thứ
quyền hạn chế và không hoàn chỉnh, luôn chịu sự chi phối của quyền sử hữu tối
cao của Nhà nước.
e. Thời kỳ thuộc Pháp


Thời kỳ này chính quyền phong kiến Việt Nam vẫn tồn tại (thời kỳ nhà
Nguyễn), nội dung phần trên cho thấy ruộng đất tập trung ngày càng nhiều vào tay
cường hào, phong kiến. Theo thống kê thì đến năm 1930 đã có 6530 địa chủ có
trên 50 ha ruộng đất; với 2% dân số, địa chủ đã nắm giữ 52% diện tích ruộng đất;
trong khi 97% nông dân chỉ sử dụng 36% diện tích ruộng đất cả nước; trong số đó,
gần 60% người nông dân không có ruộng đất canh tác. Riêng Nam bộ có 6300 địa
chủ, chiếm 45% diện tích ruộng đất của vùng, tại vùng đất này có tới gần 70%
nông dân không có đất sản xuất.
Cùng với giai cấp địa chủ phong kiến, bọn thực dân, tư bản cũng ngày càng
chiếm được nhiều ruộng đất. Các võ quan người Pháp được Chính phủ bảo hộ cấp
đất đền công chinh phục miền đất thuộc địa mới; lực lượng thực dân có quyền thế
cũng được quyền khai khẩn đất đai lập đồn điền, trại ấp, công xưởng. Theo số liệu
thống kê, nếu năm 1890 tại Đông Dương chỉ có hơn 115 đồn điền với tổng diện
tích chưa tới 12.000 ha thì sau đó 40 năm – năm 1930 tổng diện tích các đồn điền
đã tăng gấp hơn trăm lần – khoảng 1.2500.000 ha.
Như vậy, thời kỳ thuộc Pháp, chính sách đất đai của chính quyền bảo bộ và
triều đình phong kiến đều tạo điều kiện thuận lợi cho sở hữu tư nhân đối với đất
đai phát triển. Bên cạnh đó, hình thức sở hữu Nhà nước đối với đất đai và sở hữu
công xã nông thôn (làng xã) đối với đất đai vẫn tồn tại. Riêng hình thức sở hữu
Nhà nước đối với đất đai thời kỳ này khác với thời kỳ thuộc Bắc ở chỗ, chủ sở hữu
gồm cả Nhà nước phong kiến bản địa và Nhà nước bảo hộ.
f. Thời kỳ Mỹ - Ngụy tạm chiếm miền Nam
Dưới sự bảo trợ của Hoa Kỳ, đi theo con đường tư bản, hình thức sử hữu tư
nhân nói chung, sở hữu tư nhân đối với đất đai nói riêng phát triển mạnh trong thời
kỳ Nhà nước Miền nam Cộng hòa.
Để xóa bỏ thành quả của cách mạng Tháng Tám mang lại cho nông dân
Nam bộ, giảm ảnh hưởng của cuộc cải cách ruộng đất ở miền Bắc, khôi phục và
duy trì chế độ sở hữu ruộng đất của địa chủ, thực dân… chính quyền Miền nam
Cộng hòa đã thực hiện một số chính sách đất đai như sau:
* Quốc sách cải cách điền địa: Với nội dung cơ bản là:
+ Truất hữu ruộng đất của địa chủ, thu hồi ruộng đất của thực dân, tư sản.
+ Lập khế ước tá điền; tiểu điền chủ hóa tá điền.
* Luật Người cày có ruộng: Có nội dung cơ bản là:
+ Quy định mức hạn điền đối với địa chủ tại miền Trung là không vượt quá
5ha và đối với địa chủ tại miền Nam là không vượt quá 15 ha.
+ Việc chuất hữu ruộng đất của địa chủ được thực hiện theo cách Nhà nước
mua ruộng đất của họ và bán lại ruộng đất đó cho nông dân, tá điền.
Việc thực hiện các chính sách nêu trên của Chính quyền Miền nam Cộng
hòa dù mang những cái tên có tính chất cách mạng nhưng thực chất lại có nội dung
phản động, không làm thay đổi bản chất chế độ, không thay đổi quan hệ pháp luật


t ai m ú ngi nụng dõn, tỏ in khụng cú t phi i lm thuờ cho a ch,
t bn.
g. Thi k cú ng n nay
Do c im lch s, phự hp vi tỡnh hỡnh cỏch mng trong mi thi k,
chớnh sỏch t ai ca ng v Nh nc Vit Nam khụng n nh.
* Thời kỳ từ khi Đảng ra đời đến hoàn thành cải cách ruộng đất
Tại Cơng lĩnh đầu tiên của Đảng đã xác định mục tiêu của cuộc cách mạng là
đánh đổ đế quốc, phong kiến, dành ruộng đất cho dân cày với khẩu hiệu: Tịch ký hết
thảy ruộng đất của bọn địa chủ ngoại quốc, bổn xứ và giáo hội, giao ruộng đất ấy
cho trung và bần nông. Lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam, vấn đề ruộng đất đợc
coi là vấn đề cách mạng và cách mạng ruộng đất đợc đặt thành một trong những
nhiệm vụ giải phóng dân tộc. Nh trong bn 134Tuyờn ngụn ca ng Cng sn,
Karl Marx ó tuyờn b: "cỏch mng rung t l iu kin gii phúng dõn tc".
Trong xã hội phong kiến, ớc mơ của ngời nông dân là có ruộng đất, cách
mạng thắng lợi đem lại ruộng đất cho dân cày chính là động lực thúc đẩy ngời nông
dân tham gia kháng chiến để bảo vệ chính quyền cách mạng. Muốn đem lại ruộng
đất cho dân cày thì không thể không tiến hành cải cách ruộng đất. Song sau khi
cách mạng dân tộc dân chủ cơ bản hoàn thành vào tháng 8 năm 1945, do chính
quyền cách mạng còn non trẻ, phải đối phó với thù trong, giặc ngoài; với giặc đói,
giặc dốt... nên Đảng và Nhà nớc Việt Nam cha tiến hành đợc cách mạng cải cách
ruộng đất.
Tuy nhiên, công tác chuẩn bị đợc Đảng và Nhà nớc tiến hành thông qua việc
ban hành một số chính sách liên quan đến ruộng đất nh Thông tri của Bộ nội vụ
tháng 11 năm 1945 sau đó đợc thay thế bằng Sắc lệnh số 78/SL ngày 14/7/1949 của
Chính Phủ; Hệ thống chính sách ruộng đất của Hội nghị Trung ơng Đảng mở rộng
lần thứ hai tháng 1 năm 1948; Sắc lệnh số 88/SL về Thể lệ lĩnh canh của tá điền
ngày 22/5/1950 của Chính phủ; Điều lệ tạm thời về việc sử dụng công điền, công
thổ ngày 5/3/1952 của Chính phủ;...
Tháng 11 năm 1953, Hội nghị lần thứ năm của Ban chấp hành Trung ơng Đảng
thông qua Cơng lĩnh ruộng đất và Quyết định cải cách ruộng đất nhằm xoá bỏ quyền
chiếm hữu ruộng đất của giai cấp địa chủ, thực hiện chế độ sở hữu ruộng đất của nông
dân, thực hiện ngời cày có ruộng.
Ngày 4/12/1953, Quốc hội thông qua Luật Cải cách ruộng đất; Ngày
19/12/1953 Chủ tịch nớc Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ký sắc lệnh số 197/SL ban
bố Luật Cải cách ruộng đất. Luật này gồm 5 chơng, 38 điều, tại Điều 1 đã ghi rõ
mục đích và ý nghĩa của cải cách ruộng đất là thủ tiêu quyền chiếm hữu ruộng đất
của thực dân Pháp và của đế quốc xâm lợc khác của Việt Nam; xoá bỏ chế độ
phong kiến chiếm hữu ruộng đất của giai cấp địa chủ; thực hiện chế độ sở hữu
ruộng đất của nông dân... Phù hợp với nội dung đó, Luật Cải cách ruộng đất quy
định về tịch thu, trng thu, trng mua ruộng đất, về cách chia ruộng đất; về cơ quan
chấp hành, phơng pháp cải cách ruộng đất và về điều khoản thi hành.
Luật Cải cách ruộng đất đợc ban hành là cơ sở pháp lý để thực hiện triệt để
khẩu hiệu ngời cày có ruộng. Nhng do sự thay đổi của tình hình đất nớc sau khi
chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc và Hiệp định Giơ-ne-vơ đợc ký kết năm 1954,
Quốc hội Việt Nam thông qua Nghị quyết bổ sung về cải cách ruộng đất nhằm đặt
cơ sở pháp lý cho việc triển khai cải cách ruộng đất trên quy mô lớn ở miền Bắc.
Những điểm bổ sung và sửa đổi đó là dùng hình thức Toà án thay cho những cuộc
đại hội đấu tranh của nông dân; thu hẹp diện trng thu, mở rộng diện trng mua và


quy định việc hiến ruộng; chia đất chiếu cố những địa chủ kháng chiến và gia đình
địa chủ có con đi bộ đội, cán bộ, viên chức cách mạng, chiếu cố các nhà công thơng kiêm địa chủ và những nhà tu hành.
Quá trình thực hiện Luật Cải cách ruộng đất đến năm 1956 đã thu đợc những
kết quả đáng khích lệ, song cũng mắc phải nhiều sai lầm. Ngày 2/1/1957, Quốc hội
Việt Nam kiểm điểm về công tác cải cách ruộng đất, trong đó nêu rõ, cải cách
ruộng đất ở miền Bắc đã căn bản hoàn thành, giai cấp địa chủ đã căn bản bị đánh
đổ, chế độ phong kiến chiếm hữu ruộng đất bị xoá bỏ, nông dân đã làm chủ nông
thôn, nguyện vọng lâu đời của ngời nông dân là ngời cày có ruộng đã đợc thực
hiện... Tuy nhiên, trong báo cáo của Chính phủ có ghi rằng những sai lầm nghiêm
trọng đã gây thiệt hại cho chúng ta, đau thơng cho đồng bào về tính mệnh, tài sản,
tinh thần, tình cảm, gây tình hình căng thẳng ở nông thôn, ảnh hởng đến tinh thần
đoàn kết, tinh thần phấn khởi và lòng tin tởng của nhân dân...
* Thời kỳ từ sau cải cách ruộng đất đến năm 1980
Sau khi hoàn thành cuộc cải cách ruộng đất, ở miền Bắc ngời nông dân đã có
ruộng cày. Nhng sau một thời gian ngắn, thực tế xuất hiện hiện tợng ngời nông dân
bán ruộng đất của mình, khụng cũn t sn xut, i lm thuờ trờn t ca ngi
khỏc dẫn tới sự phân hoá xã hội do tái diễn cảnh ngời bóc lột ngời. Theo điều tra
của Ban công tác nông thôn Trung ơng năm 1958 ở 12 xã thuộc Hồng Quảng, Nam
Định, Thanh Hoá, Ninh Bình đã có gần 120 gia đình bán ruộng. Để tiếp tục thực hiện
đờng lối cách mạng đã vạch ra ngay từ Cơng lĩnh đầu tiên và khắc phục tình trạng
trên, Đảng và Nhà nớc Việt Nam một mặt cho thành lập các nông trờng quốc doanh,
trạm, trại nông nghiệp, mặt khác vận động nông dân vào làm ăn tập thể trong các hợp
tác xã.
Vấn đề hợp tác hoá nông nghiệp đợc ghi nhận trong Nghị quyết của Hội nghị
Trung ơng lần thứ XVI, tháng 4 năm 1959. Theo đó ruộng đất của xã viên, về
nguyên tắc phải đa toàn bộ vào hợp tác xã và thống nhất sử dụng... Cũng vào năm
1959, Nhà nớc ban hành Điều lệ mẫu HTX nông nghiệp. Năm 1960 mở đầu cao
trào hợp tác hoá nông nghiệp trong thực tiễn xã hội. Cùng với sự xuất hiện của hợp
tác xã, hình thức sở hữu tập thể đối với đất đai hình thành. Đây là lần đầu tiên trong
lịch sử quan hệ pháp luật đất đai một hình thức sở hữu đối với đất đai phi truyền
thống hình thành.
Nh vậy, theo Hiến pháp năm 1959 và các văn bản quy phạm pháp luật liên
quan, thời kỳ này tại Việt Nam tồn tại ba hình thức sở hữu đối với đất đai là sở hữu
nhà nớc, sở hữu tập thể và sở hữu t nhân về ruộng đất. Trong đó, luật pháp quy định
rõ mỗi chủ thể là chủ sở hữu đối với loại đất đai, nguồn đất đai cụ thể.
* Thời kỳ từ khi có Hiến pháp 1980 đến nay
Phù hợp với đờng lối xây dựng Chủ nghĩa Xã hội tại Việt Nam, Điều 19 Hiến
pháp năm 1980 quy định: Đất đai, rừng núi, sông hồ, hầm mỏ, tài nguyên thiên
nhiên trong lòng đất... đều thuộc sở hữu toàn dân. Quy định này, đã xoá bỏ các hình
thức sở hữu đất đai truyền thống và phi truyền thống khác đã, đang tồn tại trong
lịch sử quan hệ pháp luật đất đai của Việt Nam.
Nh vậy, từ năm 1980 trở lại đây, toàn bộ diện tích đất đai của Việt Nam chỉ
thuộc chế độ sở hữu duy nhất là sở hữu toàn dân. Tuy nhiên, sau quy định này của
Hiếp pháp, nhà nớc Việt Nam không thực hiện đầy đủ các biện pháp pháp lý, biện
pháp vt cht kỹ thuật cụ thể để khẳng định và đa chế độ sở hữu toàn dân đối với
đất đai vào thực tiễn cuộc sống xã hội. Các chủ thể sử dụng đất từ trớc nh thế nào
thì vẫn tiếp tục chiếm hữu và sử dụng nên quyền sở hữu toàn dân đối với đất đai về
thực chất chỉ đợc quy định trên văn bản. Các văn bản quy phạm pháp luật quy định
về thẩm quyền, thủ tục có liên quan đến quản lý, sử dụng đất trong thời kỳ này quá


ít, không đủ để điều chỉnh các quan hệ xã hội liên quan tới đất đai nảy sinh trong
thực tế. Do vậy, quan hệ pháp luật đất đai trở nên lộn xộn, phức tạp, nảy sinh nhiều
xung đột xã hội.
Sau Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ VI, nhà nớc Việt Nam đã quan
tâm tới việc thực thi các giải pháp pháp lý nhằm cụ thể hoá các quy định của Hiến
pháp năm 1980 về quyền sở hữu toàn dân đối với đất đai. Cụ thể là ngày 29 thỏng 7
nm 1987 Quốc hội thông qua Luật đất đai, ngày 8 thỏng 1 nm 1988 văn bản luật
này có hiệu lực. Luật Đất đai năm 1987 gồm 6 chơng, 57 điều quy định các
nguyên tắc về sử dụng đất, xác định đối tợng giao đất ổn định, lâu dài, các quyền
và nghĩa vụ của chủ thể đợc Nhà nuớc giao quyền sử dụng đất...
Do thực tiễn xã hội Việt Nam chuyển biến nhanh chóng trong thời kỳ đổi
mới và việc ban hành Hiến pháp năm 1992, ngày 14 thỏng 7 nm 1993 Quốc hội
thông qua Luật Đất đai thay thế cho Luật Đất đai năm 1987. Luật này gồm 7 chơng, 89 điều quy định nhiều nội dung mới trên cơ sở kế thừa một cách có chọn lọc
những nội dung của Luật Đất đai năm 1987. Hệ thống các văn bản quy phạm pháp
luật hớng dẫn thi hành Luật Đất đai năm 1993 cũng đợc quan tâm ban hành. Tuy
nhiên, sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế, của kinh tế trang trại và sự hình
thành của thị trờng bất động sản đã dẫn đến Luật sửa đổi, bổ sung Luật đất đai
năm 1993 lần thứ nhất (đợc Quốc hội thông qua ngày 02 thỏng 12 nm 1998) và
lần thứ hai (đợc Quốc hội thông qua ngày 29 thỏng 6 nm 2001).
Nhằm đáp ứng đòi hỏi của sự ổn định và phát triển của quan hệ pháp luật đất
đai, ngày 26 thỏng 11 nm 2003 Quốc hội Việt Nam thông qua Luật Đất đai thay
thế cho Luật Đất đai năm 1993 và các Luật sửa đổi, bổ sung Luật này. Luật đất đai
năm 2003 gồm 7 chơng, 146 điều, có bớc phát triển đáng kể về quy mô so với các
Luật Đất đai trớc đó. Điều này cho thấy, nội dung của Luật Đất đai năm 2003 đã
phát triển đáng kể nhằm tiến tới hình thành Bộ luật Đất đai trong tơng lai. Luật Đất
đai năm 2003 có hiệu lực kể từ ngày 1 thỏng 7 nm 2004.
Ngoài các giải pháp pháp lý, nhà nớc Việt Nam quan tâm tới việc thực thi
các giải pháp vt cht kỹ thuật để khẳng định chế độ sở hữu toàn dân đối với đất
đai trong đời sống xã hội nh cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, điều tra, đo
đạc, khảo sát đất đai, thống kê, kiểm kê đất đai, lập bản đồ, hồ sơ về đất đai... Phù
hợp với quy định của Luật Đất đai năm 2003, hệ thống tổ chức dịch vụ, t vấn về đất
đai đợc thiết lập và hoàn thiện để thực hiện tốt hơn các hoạt động vt cht kỹ thuật
đối với đất đai.
2.2. Quan hệ pháp luật đất đai theo quy định của pháp luật hiện hành
2.2.1. Khái niệm quan hệ pháp luật đất đai
Quan hệ pháp luật đất đai là quan hệ giữa ngời với ngời trong việc sở hữu,
quản lý đất đai. Dới các chế độ xã hội khác nhau, quan hệ về pháp luật đất đai đợc
nhìn nhận khác nhau. Dới chế độ Chiếm hữu nô lệ, Phong kiến và T bản chủ nghĩa,
đất đai là phơng tiện bóc lột của giai cấp thống trị đối với các tầng lớp nhân dân
trong xã hội. Đất đai đợc quan niệm thuần tuý nh một bất động sản mà chủ sở hữu
đợc thực hiện đầy đủ các quyền năng của mình nh mọi tài sản thông thờng khác. Dới chế độ Xã hội chủ nghĩa, mặc dù có nhiều hình thức sở hữu đất đai khác nhau,
nhng đất đai không còn là phơng tiện để bóc lột và các quan hệ về đất đai đợc điều
chỉnh bằng một ngành luật độc lập - Luật Đất đai.
Đối với Việt Nam, do điều kiện lịch sử mà mỗi giai đoạn quan hệ pháp luật
đất đai, hình thức sở hữu đối với đất đai đợc pháp luật ghi nhận khác nhau, nhng kể
từ năm 1980 đến nay, quan hệ đất đai đợc quyết định bởi một chế độ sở hữu đối với


đất đai là sở hữu toàn dân. Và nh mọi quan hệ xã hội, mọi quan hệ pháp luật, quan
hệ pháp luật đất đai nảy sinh giữa những chủ thể nhất định, đó là chủ thể quản lý
đối với đất đai và chủ thể sử dụng đất, nội dung của quan hệ này chịu sự chi phối
của chế độ quyền sở hữu.
Tóm lại: Quan hệ pháp luật đất đai là những quan hệ xã hội phát sinh giữa
đại diện chủ sở hữu đất đai với các chủ thể sử dụng đất và giữa các chủ thể sử
dụng đất với nhau trong quá trình thực hiện quyền sở hữu toàn dân đối với đất đai,
quản lý và sử dụng đất đai đợc các quy phạm pháp luật điều chỉnh.
2.2.2 Các yếu tố cấu thành quan hệ pháp luật đất đai
a. Chủ thể quan hệ pháp luật đất đai
Chủ thể quan hệ pháp luật đất đai là các cá nhân, tổ chức, trong đó gồm cả
nhà nớc.
* Các loại chủ thể quan hệ pháp luật đất đai
Dựa vào các tiêu chí khác nhau sẽ có các loại chủ thể khác nhau. Về cơ bản,
tham gia vo quan h phỏp lut t ai có hai nhúm chủ thể sau:
- Chủ thể quản lý đất đai:
Phù hợp với chế độ sở hữu toàn dân đối với đất đai mà nhà nớc là đại diện
chủ sở hữu; phù hợp với chức năng của mình, nhà nớc Việt Nam thống nhất quản lý
toàn bộ diện tích đất đai trên toàn quốc. Nh vậy, ngời quản lý đối với đất đai tại
Việt Nam là nhà nớc Việt Nam.
Nhà nớc Việt Nam cú b mỏy Nh nc gồm hệ thống các cơ quan nhà nớc
đợc lập từ trung ơng đến địa phơng. Đáp ứng yêu cầu quản đối với đất đai, nhà nớc
Việt Nam lập hệ thống cơ quan quản lý nhà nớc đối với đất đai gồm cơ quan quản
lý nhà nớc có thẩm quyền chung và cơ quan quản lý nhà nớc có thẩm quyền chuyên
môn. Phù hợp với thẩm quyền đó và tính chất của cấp quản lý, nhà nớc trao quyền
và trách nhiệm cụ thể trong công tác quản lý nhà nớc đối với đất đai cho từng cơ
quan nhà nớc.
Do vậy, có thể nói chủ thể quản lý nhà nớc đối với đất đai là cơ quan nhà nớc. Trong đó, mỗi cơ quan nhà nớc có thẩm quyền, trách nhiệm cụ thể trong quản
lý nhà nớc đối với đất đai. Cơ quan nhà nớc (cơ quan quản lý nhà nớc đối với đất
đai) tham gia quan hệ pháp luật đất đai phù hợp với thẩm quyền, trách nhiệm của
mình và nhằm thực hiện thẩm quyền và trách nhiệm đó. Ni dung ny c gii
thiu c th trong chng 2 ca ti liu ny.
Cơ quan nhà nớc tham gia quan hệ pháp luật đất đai với t cách là ngời quản
lý, có quyền uy, sử dụng quyền uy của mình ban hành và bảo đảm thực hiện các
quyết định, mệnh lệnh hành chính đối với ngời sử dụng đất. Pháp luật đất đai sử
dụng phơng pháp hành chính để điều chỉnh quan hệ này.
- Chủ thể sử dụng đất:
Chủ thể sử dụng đất rất đa dạng. Dựa vào các tiêu chí khác nhau sẽ có những
loại chủ thể sử dụng đất khác nhau. Theo Điều 9 Luật Đất đai năm 2003 thì chủ thể
sử dụng đất ti Vit Nam gm cỏc t chc, cỏ nhõn trong nc, cỏc t chc cỏ nhõn
nc ngoi, ngi Vit Nam nh c nc ngoi.
Ngi s dng t tham gia quan h phỏp lut t ai bng nhng cỏch thc
nht nh v cú th khỏc nhau theo quy nh ca phỏp lut. Khi tham gia quan h
phỏp lut ny, cỏc ch th s dng t cú cỏc quyn v ngha v nht nh v cú
im khỏc nhau ph thuc vo nhiu yu t, trong ú cú yu t c thự ca chớnh


ch th. Ni dung ny c gii thiu c th ti phn ni dung quan h phỏp lut
t ai sau õy v ti chng 4 ca ti liu ny.
* Điều kiện trở thành chủ thể quan hệ pháp luật đất đai
Nh nc vi t cỏch l t chc c bit ca quyn lc chớnh tr, i din
ch s hu ton dõn i vi t ai thỡ hin nhiờn l cú t cỏch ch th ng
nhiờn trong quan h phỏp lut t ai. Do vy iu kin tr thnh ch th quan h
phỏp lut t ai ch t ra i vi cỏc t chc, cỏ nhõn s dng t. Theo ú tổ
chức, cá nhân có các điều kiện sau đây là chủ thể của quan hệ pháp luật đất đai.
- Năng lực pháp luật đất đai: Năng lực pháp luật đất đai là khả năng của các
chủ thể đợc hởng những quyền và gỏnh chu các nghĩa vụ pháp lý nhất định do
phỏp lut quy nh khi tham gia vào quan hệ pháp luật đất đai. Đây là điều kiện
cần để tổ chức, cá nhân trở thành chủ th của quan hệ pháp luật đất đai. Phù hợp
với chế độ sở hữu toàn dân đối với đất đai; mục đích của hoạt động quản lý nhà nớc
đối với đất đai; mục tiêu sử dụng đất đai hiệu quả; tính chất, vị trí của chủ thể tham
gia quan hệ pháp luật đất đai và các điều kiện thực tiễn... các cá nhân, tổ chức,
trong đó gồm cả nhà nớc có năng lực pháp luật không giống nhau.
- Năng lực hành vi đất đai: Năng lực hành vi đất đai là khả năng của chủ thể
bằng chính hành vi của mình thực hiện các quyền và nghĩa vụ pháp lý khi tham gia
quan hệ pháp luật đất đai. Thông thờng chủ thể quan hệ pháp luật đất đai có năng
lực hành vi khi đáp ứng các điều kiện nhất định, phù hợp với tính chất của mỗi loại
chủ thể. Đối với tổ chức và các chủ thể cùng loại thỡ năng lực hành vi đất đai xuất
hiện khi đợc thành lập hợp pháp. Đối với cá nhân và chủ thể cùng loại thì năng lực
hành vi đất đai xuất hiện khi đạt độ tuổi và có khả năng nhận thức. Điều kiện cụ thể
phụ thuộc vào cách thức m ch th tham gia quan hệ pháp luật đất đai nhất định
và nhiều yếu tố khác.
- Tham gia trực tiếp vào quan hệ pháp luật đất đai
Đây là điều kiện để tổ chức, cá nhân trở thành chủ thể quan hệ pháp luật đất
đai trên thực tế. Bởi xét trên phơng diện lý luận, khi có năng lực pháp luật t ai
và năng lực hành vi t ai thì tổ chức, cá nhân tr thnh chủ thể quan hệ pháp luật
đất đai. Song tổ chức, cá nhân chỉ trở thành chủ thể quan hệ pháp luật đất đai thực
sự khi tham gia vào quan hệ pháp luật đất đai cụ thể trên thực tế.
b. Nội dung quan hệ pháp luật đất đai
Nội dung của quan hệ pháp luật nói chung, quan hệ pháp luật đất đai nói
riêng là toàn bộ các quyền, nghĩa vụ của chủ thể khi tham gia quan hệ pháp luật đất
đai có đợc theo quy định của pháp luật.
Tham gia vào quan hệ pháp luật đất đai tại Việt Nam là hai nhóm chủ thể là
chủ thể quản lý và chủ thể sử dụng đất. Theo nguyên tắc pháp lý thì các chủ thể
bình đẳng với nhau trớc pháp luật. Song do vị trí, vai trò, tính chất của mỗi chủ thể
khi tham gia quan hệ pháp luật đất đai khác nhau nên mỗi nhóm chủ thể vẫn có
quyền và nghĩa vụ riêng biệt.
* Quyền và nghĩa vụ của chủ thể quản lý đất đai
- Quyền của chủ thể quản lý đất đai


Với t cách là ngời đại diện chủ sở hữu duy nhất và t cách ngời quản lý chung
mọi mặt đời sống xã hội, trong đó có đất đai, khi tham gia quan hệ pháp luật đất
đai để thực hiện thống nhất quản lý đối với toàn bộ vốn đất đai của cả nớc, Nhà nớc
có hai nhóm quyền căn bản sau đây:
+ Quyền i din chủ sở hữu đối với đất đai gồm: Quyền chiếm hữu đất đai;
Quyền sử dụng đất đai; Quyền định đoạt đất đai. Nội dung các quyền năng này đợc
nghiên cứu đầy đủ tại phần 3 của chơng này.
+ Quyền quản lý đất đai: Quyền quản lý đất đai của nhà nớc Việt Nam vừa
xuất phát từ t cách là đại diện chủ sở hữu toàn dân đối với đất đai, vừa xuất phát từ
t cỏch là tổ chức quản lý mọi mặt đời sống xã hội của nhà nớc, với t cách này thì
đơng nhiên nhà nớc thực hiện quyền quản lý đối với đất đai.
- Nghĩa vụ của chủ thể quản lý đất đai
Điều 6 Luật Đất đai năm 2003 quy định cụ thể các nội dung quản lý nhà nớc
đối với đất đai. Đây cũng chính là nghĩa vụ của Nhà nớc khi tham gia quan hệ pháp
luật đất đai, các nghĩa vụ đó gồm:
+ Nắm chắc toàn bộ quỹ đất quốc gia thông qua các hoạt động kỹ thuật,
nghiệp vụ của cơ quan chức năng nh: điều tra, khảo sát, đánh giá, đăng ký sử dụng
đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất...
+ Xây dựng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất để phân chia một cách hợp lý
quỹ đất quốc gia nhằm phục vụ mục đích phát triển kinh tế, xã hội.
+ Kiểm tra, giám sát quá trình quản lý và sử dụng đất.
+ Bảo hộ quyền lợi hợp pháp của các chủ thể sử dụng đất.
+ Giải quyết các tranh chấp, khiếu kiện, x lý vi phm phỏp lut đất đai.
Các nội dung trên đợc xác định là nghĩa vụ của chủ thể quản lý đất đai (của
nhà nớc, cơ quan nhà nớc) bởi trên thực tế các nội dung này cha đợc các chủ thể
quản lý đất đai thực hiện tốt. Đây là sự giàng buộc về pháp lý để bảo đảm rằng các
nội dung đó đợc chủ thể quan lý đối với đất đai thực hiện tốt hơn góp phần để quan
hệ pháp luật đất đai ổn định và phát triển.
* Quyền và nghĩa vụ của chủ thể sử dụng đất
Khi tham gia vào quan hệ pháp luật đất đai, chủ thể sử dụng đất có những
quyền và nghĩa vụ pháp lý chung theo quy định tại Điều 105 và Điều 107 Luật Đất
đai năm 2003.
- Quyền của chủ thể sử dụng đất: Vi t cỏch ca mỡnh, ngi s dng t
cú ba nhúm quyn c bn l:
+ Cỏc quyn chung nh ợc cấp giấy chứng nhận; hởng thành quả lao động,
kết quả đầu t trên đất; hởng các lợi ích do công trình của Nhà nớc về bảo vệ, cải tạo
đất nông nghiệp; ợc Nhà nớc hớng dẫn và giúp đỡ trong việc cải tạo, bồi bổ đất
nông nghiệp v ợc bảo hộ khi bị ngời khác xâm phạm đến quyền sử dụng đất hợp
pháp của mình...
+ Các quyền nng c th nh chuyển đổi, chuyển nhợng, cho thuê, cho
thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất


+ Quyn la chn hỡnh thc giao t, cho thuờ t, quyền đợc bồi thờng khi
nhà nớc thu hồi đất
- Nghĩa vụ của chủ thể sử dụng đất: Vi t cỏch ca mỡnh, ngoi hng cỏc
quyn do Nh nc trao, khi tham gia quan h phỏp lut t ai, ch th s dng
t phi chu ging buc vi cỏc ngha v nht nh gm:
+ Cỏc ngha v chung nh sử dụng đất đúng mục đích, đúng ranh giới
thửa đất, đúng quy định về sử dụng độ sâu trong lòng đất và chiều cao trên không,
bảo vệ các công trình công cộng trong lòng đất; ăng ký quyền sử dụng đất, làm đầy
đủ thủ tục khi chuyển đổi, chuyển nhợng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho,
thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất; thực hiện nghĩa vụ tài chính;
thực hiện các biện pháp bảo vệ đất
+ Các nghĩa vụ cụ thể khác phụ thuộc vào chủ thể sử dụng đất, loại đất,
nguồn đất
Cỏc ni dung v quyn v ngha v ca ch th s dng t c gii thiu
y v c th ti chng 4 ca ti liu ny.
c. Khách thể quan hệ pháp luật đất đai
Khi tham gia quan hệ pháp luật, các chủ thể hớng tới lợi ích nhất định, theo
khoa học pháp lý thì lợi ích đó là khách thể của quan hệ pháp luật. Các chủ thể khi
tham gia quan hệ pháp luật đất đai cũng hớng tới các lợi ích nhất định, đó là các lợi
ích phát sinh từ đất.
Động lực thúc đẩy các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật đất đai chính là
việc họ tìm thấy những lợi ích đáp ứng nhu cầu của mình. Nếu không phải vì các
lợi ích đó, ngời sử dụng đất sẽ không tham gia quan hệ pháp luật đất đai. Trên thực
tế, các chủ thể chỉ tham gia quan hệ pháp luật đất đai trong những trờng hợp nhất
định, bằng các cách thức nhất định, đối với những diện tích đất nhất định, những
loại đất nhất định... Điều đó cho thấy bản thân đất đai không phải là lợi ích mà các
bên tham gia quan hệ pháp luật đất đai hớng tới, không phải là khách thể của quan
hệ pháp luật đất đai.
Khách thể cụ thể của mỗi quan hệ pháp luật đất đai là những lợi ích cụ thể
gắn với nhu cầu cụ thể của từng chủ thể, nhóm chủ thể tham gia quan hệ pháp luật
đất đai và phụ thuộc vào khả năng tạo ra các lợi ích nhất định của đất đai. Các chủ
thể cũng chỉ đạt đợc các lợi ích này thông qua quá trình sử dụng đất.
2.3. Cơ sở làm phát sinh, thay đổi và chấm dứt quan hệ pháp luật đất đai
Nh mọi quan hệ pháp luật, quan hệ pháp luật đất đai phát sinh, thay đổi hay
chấm dứt do các sự kiện pháp lý nhất định.
2.2.1 Cơ sở làm phát sinh quan hệ pháp luật đất đai
Cơ sở pháp lý của việc hình thành quan hệ pháp luật đất đai giữa nhà nớc với
các chủ thể sử dụng đất gồm:
- Quyết định giao đất, cho thuê đất, cụng nhn quyền sử dụng đất của cơ
quan nhà nớc có thẩm quyền.


- Quyết định (ni b) giao đất, cho thuê đất, cho khoán, nhận thầu đất của
Ban quản lý nông trờng, lâm trờng cho h gia ỡnh, cỏ nhõn thnh viờn; ca Ban
quản lý rừng đặc dụng, rừng phòng hộ cho hộ gia đình, cá nhân.
- Quyết định giao đất, cho thuê đất của Ban quản lý khu công nghệ cao, Ban
quản lý khu kinh tế cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân...
Chủ thể làm phát sinh quan hệ pháp luật đất đai là nhà nớc và đơn vị đợc nhà
nớc ủy quyền, mà phổ biến là các ban quản lý. Các đơn vị mà đại diện là các ban
quản lý này có tính chất là chủ thể quản lý đất đai chứ không có tính chất là chủ thể
sử dụng đất. Chủ thể quản lý thực hiện một trong năm hành vi cụ thể là căn cứ phát
làm sinh quan hệ pháp luật đất đai, trong đó phổ biến nhất là hành vi giao đất, cho
thuê đất. Về cơ bản, những căn cứ pháp lý dẫn đến xác định đợc ngời sử dụng đất
đầu tiên đối với đất sẽ dẫn đến làm phát sinh quan hệ pháp luật đất đai.
2.3.2 Cơ sở làm thay đổi quan hệ pháp luật đất đai
Sau khi có các căn cứ làm phát sinh, quan hệ pháp luật đất đai đợc thiết lập,
quan hệ pháp luật này thay đổi khi có các căn cứ nhất định nh hợp đồng, thỏa
thuận, di chúc của ngời sử dụng đất.
Thông thờng, khi các chủ thể thực hiện các quyền năng cụ thể đối với đất đai
theo quy định của pháp luật nh quyền chuyển nhợng, tặng cho, thừa kế, cho thuê
đất ngời sử dụng đất lập các hợp đồng, thỏa thuận, di chúc và nó trở thành căn
cứ làm thay đổi quan hệ pháp luật đất đai sau khi vic thc hin cỏc quyn nng
ca ngi s dng t c ng ký ti c quan nh nc cú thm quyn. Ngoài ra
trong mt s trng hp nht nh, phù hợp với quyền hạn và trách nhiệm của mình,
cơ quan có thẩm quyền có thể đa ra các quyết định, bản án và chúng có thể trở
thành các căn cứ pháp lý làm thay đổi quan hệ pháp luật đất đai.
Pháp luật quy định rõ quyền năng của chủ thể, điều kiện của đất... và các căn
cứ pháp lý nhất định dẫn đến sự thay đổi quan hệ pháp luật đất đai. Trong thc t,
t gúc ngi s dng t thỡ khi quan h phỏp lut t ai thay i thng dn
n phỏt sinh quan h phỏp lut t ai ca ch th s dng t nht nh v chm
dt quan h phỏp lut t ai ca ch th s dng t c th khỏc. V ú ch l s
thay i quan h phỏp lut t ai (thc t l thay i ch th s dng t), bi
quan h phỏp lut t ai vn tn ti t sau khi chỳng phỏt sinh.
2.3.3. Cơ sở làm chấm dứt quan hệ pháp luật đất đai
Chủ thể làm chấm dứt quan hệ pháp luật đất đai là nhà nớc và hành vi duy
nhất mà nhà nớc thực hiện ú là thu hồi đất. Theo quy định tại Điều 38 Luật Đất
đai năm 2003, nhà nớc thu hồi đất trong các trờng hợp sau:
+ Nhà nớc sử dụng đất vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia,
lợi ích công cộng, phát triển kinh tế;
+ Tổ chức bị giải thể, phá sản, chuyển đi nơi khác, giảm hoặc không còn nhu
cầu sử dụng đất;
+ Đất đợc giao không đúng đối tợng, không đúng thẩm quyền;
+ Sử dụng đất không đúng mục đích, không có hiệu quả;
+ Cá nhân sử dụng đất chết mà không có ngời thừa kế;


+ Ngời sử dụng đất cố ý không thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nớc;
+ Đất trồng cây hàng năm không đợc sử dụng trong thời hạn mời hai tháng
liền; đất trồng cây lâu năm không đợc sử dụng trong thời hạn mời tám tháng liền;
đất trồng rừng không đợc sử dụng trong thời hạn hai mơi bốn tháng liền; đất đợc
nhà nớc giao, cho thuê để thực hiện dự án đầu t mà không đợc sử dụng trong thời
hạn mời hai tháng liền hoặc tiến độ sử dụng đất chậm hơn hai mơi bốn tháng so với
tiến độ ghi trong dự án đầu t, kể từ khi nhận bàn giao đất trên thực địa mà không đợc cơ quan nhà nớc có thẩm quyền quyết định giao đất, cho thuê đất đó cho phép;
+ Đất đợc nhà nớc giao, cho thuê có thời hạn mà không đợc gia hạn khi hết
thời hạn;
+ Đất bị lấn, chiếm là đất cha sử dụng; đất không đợc chuyển quyền sử dụng
đất mà ngời sử dụng đất do thiếu trách nhiệm để bị lấn, chiếm;
+ Ngời sử dụng đất cố ý hủy hoại đất;
+ Ngời sử dụng đất tự nguyện trả lại đất.
Để thu hồi đất, nhà nớc ra quyết định thu hồi đất. Nh vậy, quyết định thu hồi
đất của nhà nớc là căn cứ pháp lý làm chấm dứt quan hệ pháp luật đất đai.
3. Chế độ sở hữu toàn dân đối với đất đai
3.1. Giới thiệu chung về chế độ sở hữu toàn dân đối với đất đai
3.1.1 Khái niệm về chế độ sở hữu toàn dân đối với đất đai
Trong lịch sử pháp luật đất đai, tại Việt Nam đã xuất hiện các hình thức sở
hữu nhà nớc đối với đất đai, sở hữu công xã nông thôn đối với đất đai, sở hữu tập
thể đối với đất đai và sở hữu t nhân đối với đất đai. Trong đó, tùy thuc điều kiện
lịch sử mà mỗi hình thức hữu đối với đất đai phát triển hay suy yếu, tồn tại lâu dài
hay tồn tại trong một thời gian ngắn ngủi khác nhau. Hiện nay, theo quy định ti
iu 200, B lut Dõn s nm 2005 thỡ t ai l ti sn thuc hỡnh thc s hu
Nh nc, cũn theo Hiến pháp năm 1992 và Luật Đất đai năm 2003 thì toàn bộ
diện tích đất đai ca quc gia thuộc chế độ sở hữu toàn dân. Ch s hu ton
dõn là nội dung trở thành nguyên tắc của ngành luật đất đai, nú chi phi ton b ni
dung ca Lut t ai v cỏc lý thuyt liờn quan.
Vy, ch sở hữu toàn dân đối với đất đai là tổng hợp các quy phạm
pháp luật quy định và bảo vệ quyền của nhà nớc với t cách là đại diện chủ sở hữu
trong quá trình chiếm hữu, sử dụng và định đoạt đất đai.
Khỏi nim trờn cho thy, chế độ sở hữu toàn dân đối với đất đai là một chế
độ pháp lý gồm tất cả các quy định của luật pháp về sở hữu toàn dân.
Trong chế độ phong kiến và t sản, vì đại đa số đất đai thuộc sở hữu t nhân,
nên pháp luật chủ yếu duy trì và bảo vệ quyền lợi của sở hữu chủ là t nhân đối với
đất đai. Mặt khác, do nhà nớc chỉ đại diện cho quyền lợi của thiểu số giai cấp thống
trị nên thực chất sở hữu nhà nớc chỉ là sở hữu của một nhóm ngời mà thôi. Tại Việt
Nam hin nay, nhà nớc là đại diện chủ sở hữu toàn dân đối với đất đai, pháp luật
quy ịnh và bảo vệ quyền của nhà nớc với t cách này. Đó là các quyền năng của
chủ sở hữu gm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt đối với đất
đai.
3.1.2 Cơ sở lý luận của chế độ sở hữu toàn dân đối với đất đai
Khi nghiên cứu về vai trò, tầm quan trọng của đất đai trong việc phát triển
kinh tế nông nghiệp, các học giả t sản đã chỉ ra rằng, sở hữu manh mún, riêng rẽ


từng diện tích đất nhất định sẽ cản trở quá trình quy hoạch tổng thể đất đai, quá
trình áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào trong sản xuất nông nghiệp, đất đai
không có điều kiện khai thác hết tiềm năng. Họ cho rằng, cần thiết phải có một
hình thức sở hữu chung đối với đất đai để khắc phục những hạn chế đó. Tuy nhiên,
việc xây dụng một hình thức sở hữu chung đối với đất đai ở các nớc t bản là không
thể thực hiện đợc vì sở hữu t nhân đối với t liệu sản xuất là vấn đề mang tính bản
chất của giai cấp t sản, của chế độ t bản, nên nó là thiêng liêng, bất khả xâm phạm.
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác, chỉ đến Chủ nghĩa Xã hội thỡ quốc hữu
hoá đất đai mới trở thành hiện thực, vì mục tiêu của cách mạng xã hội chủ nghĩa là
xoá bỏ tận gốc chế độ ngời bóc lột ngời mà nguyên nhân chính là sự tồn tại chế độ
sở hữu t nhân về t liệu sản xuất, trong đó đất đai là t liệu quan trọng nhất.
Phát triển quan điểm của Mác, Lênin chỉ ra rằng, quốc hữu hoá đất đai là
một quy luật tất yếu khách quan đối với bất kỳ nớc nào làm cách mạng vô sản nhng
không nhất thiết phải tiến hành ngay lập tức sau khi giai cấp vô sản giành chính
quyền mà có thể thc hin dần dần từng bớc từ thấp đến cao, từ tập thể hoá đến xã
hội hoá.
Đảng và nhà nớc Việt Nam xác định đất đai là thành quả cách mạng mà bao
thế hệ đã hy sinh xơng máu để giành giật và giữ gìn; nhân dân đã hao tốn bao công
sức để khai phá, bồi bổ và cải tạo, vì lẽ đó mà đất đai không thể chỉ của riêng ai,
của riêng tầng lớp nào, giai cấp nào mà cần trở thành tài sản của toàn dân. Mt
khỏc, trong lịch sử, để phát triển nền sản xuất nông nghiệp, nhà nớc Việt nam cũng
đã phải sử dụng nhiều diện tích đất phục vụ mục đích công nh đất xây dựng công
trình thủy lợi, trị thủy... Trong quá trình công nghệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng
chế độ xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam hiện nay và tơng lai thì các diện tích đất phục
vụ mục đích công cộng càng cần tăng lên. Nh vậy, việc hình thành một chế độ, hình
thức sở hữu có tính chất công đối với đất đai là cần thiết.
3.2. Nội dung của quyền sở hữu toàn dân đối với đất đai
3.2.1. Chủ thể quyền sở hữu toàn dân đối với đất đai
Tại mỗi thời điểm lịch sử, mỗi nớc trên thế gii, trong ú cú Vit Nam thừa
nhận sự tồn tại của nhiều hình thức sở hữu về đất đai. Việt Nam là nớc duy nhất
trên thế giới hiện nay chỉ thừa nhận s tn ti của chế độ sở hữu duy nhất đối với
đất đai là sở hữu toàn dân.
Sở hữu toàn dân không có nghĩa là mỗi ngời dân đều có quyền sở hữu đất đai
riêng lẻ mà có nghĩa là việc khai thác những lợi ích do đất đai mang lại đều nhằm
phục vụ lợi ích của toàn thể nhân dân. Đ đạt mục tiêu đó, tránh hiện tợng nhiều
chủ hóa vô chủ do cha chung không ai khóc, toàn dân Việt Nam xác định nhà nớc là đại diện chủ sở hữu đối với đất đai. Việc ngời dân Việt Nam lựa chọn Nh
nc l đại diện cho mình thực hiện quyền chủ sở hữu đối với đất đai l do nhà
nớc Việt Nam l nhà nớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân,
vì nhân dân, toàn bộ quyền lực nhà nớc thuộc về nhân dân và nhà nớc cú sức mạnh
quyền lực để m bo cho vic thực hiện t cách là đại diện chủ sở hữu đối với đất
đai.


Nh vậy, tại Việt Nam hiện nay chỉ có nhà nớc là ngời có đầy đủ các quyền
năng của chủ sở hữu i vi t ai. Để thực hiện quyền của đại diện chủ sở hữu
toàn dân đối với đất đai, nhà nớc có sự phân công, phân cấp về thẩm quyền cho các
cơ quan nhà nớc trong quản lý đất đai. Các cơ quan có thẩm quyền quản lý nhà nớc
về đất đai không phải là chủ sở hữu đất đai và cũng không phải là đại diện chủ sở
hữu toàn dân đối với đất đai mà chỉ đợc thực hiện một phần quyền của đại diện chủ
sở hữu trong phạm vi pháp luật quy định.
3.2.2 Khách thể của quyền sở hữu toàn dân đối với đất đai
Khách thể quyền sở hữu toàn dân đối với đất đai là toàn bộ vốn đất đai trong
lãnh thổ quốc gia bao gồm đất liền, hải đảo và thềm lục địa với tổng diện tích đất tự
nhiên trên 33 triệu ha. Theo quy định của pháp luật đất đai hiện hành, đất đai đợc
chia làm 3 nhóm t l nhúm đất nông nghiệp, nhúm đất phi nông nghiệp và nhúm
đất cha sử dụng.
Đất đai là khách thể đặc biệt của quyền sở hữu toàn dân vì i/Đất đai chỉ là
khách thể của quyền sở hữu toàn dân mà không là khách thể của quyền sở hữu
khác, điều này nói nên tính duy nhất; ii/Đất đai là tài sản đặc biệt mang tính tự
nhiên, sự tác động của con ngời với đất đai chỉ thể hiện ở việc cải tạo, bồi bổ, làm
tăng độ màu mỡ và tăng khả năng sinh lợi của đất.
3.2.3 Nội dung của quyền sở hữu toàn dân đối với đất đai
Nội dung của chế độ sở hữu toàn dân đối với đất đai là tổng hợp các quyền
mà nhà nớc có với t cách là đại diện chủ sở hữu duy nhất đối với toàn bộ đất đai có
đợc. Những quyền này thể hiện bản chất xã hội chủ nghĩa của chế độ sở hữu toàn
dân và hớng tới việc bảo vệ lợi ích trong việc khai thác và sử dụng đất đai của toàn
dân, bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt đất đai.
a. Quyền chiếm hữu đất đai
Theo Điều 182 Bộ Luật dân sự nm 2005 thỡ quyền chiếm hữu là quyền của
chủ sở hữu tự nắm giữ, quản lý vật sở hữu của mình. Ngời không phải là chủ sở hữu
cũng có quyền chiếm hữu tài sản trong các trờng hợp chiếm hữu có căn cứ pháp
luật. Nh vậy ngoài chủ sở hữu chiếm hữu vật sở hữu của mình thì các tổ chức, cá
nhân khác cũng có quyền chiếm hữu. Ngời chiếm hữu có thể chiếm hữu trực tiếp
hoặc chiếm hữu gián tiếp đối với vật.
Quyền chiếm hữu đất đai của nhà nớc là quyền nắm giữ toàn bộ vốn đất đai
trong phạm vi cả nớc, quyền kiểm soát, chi phối mọi hoạt động của ngời sử dụng
đất. Quyền này có ý nghĩa quan trọng vì nó là điều kiện pháp lý đầu tiên để có
quyền sử dụng và quyền định đoạt đối với đất.
Với t cách là đại diện chủ sở hữu, Nhà nớc thực hiện quyền chiếm hữu bằng
các biện pháp pháp lý cũng nh các biện pháp kỹ thuật nh thông qua các số liệu địa
chính, nhà nớc nắm đợc số lợng, chất lợng đất đai, sự kết cấu và phân bố đất đai, sự
biến động đất đai trong từng thời kỳ...
Với t cách là ngời trực tiếp sử dụng đất đai, trờn thc t ngời sử dụng đất
cũng chiếm hữu phần đất mà họ đang sử dụng. Sự khác nhau giữa quyền chiếm hữu
đất đai của nhà nớc với quyền chiếm hữu đất đai của ngời sử dụng l:
- Về xuất phát điểm của quyền chiếm hữu đất đai: Quyền chiếm hữu đất đai
của nhà nớc là việc hiển nhiên, đơng nhiên do nhà nớc là đại diện chủ sở hữu, còn
quyền chiếm hữu của ngời sử dụng đất xuất phát từ việc nhà nớc cho phép sử dụng
đất do yêu cầu của việc thực hiện quyền sử dụng.


- Về phạm vi chiếm hữu: Nhà nớc chiếm hữu toàn bộ vốn đất trong lãnh thổ
quốc gia, còn ngời sử dụng đất chỉ chiếm hữu trong giới hạn vốn đất mà nhà nớc
cho phép sử dụng. Vốn đất mà mỗi ngời sử dụng chiếm hữu nhỏ hơn so với vốn đất
mà nhà nớc chiếm hữu.
- Về thời gian chiếm hữu: Sự chiếm hữu của nhà nớc đối với đất đai là vĩnh
viễn, còn sự chiếm hữu của ngời sử dụng đối với đất đai bị giới hạn trong thi hn
mà nhà nớc quy định. Kể cả trờng hợp thời hạn sử dụng đất ổn định, lâu dài thì
cũng không có nghĩa thời hạn sử dụng đất của ngời sử dụng đất là vĩnh viễn.
- Về cách thức chiếm hữu: Vic chiếm hữu đất đai của nhà nớc đợc thực hiện
gián tiếp, còn việc chiếm hữu đất đai của ngời sử dụng đất đợc thực hiện trực tiếp.
b. Quyền sử dụng đất đai
Theo quy định tại Điều 192 Bộ luật Dân sự năm 2005 thì sử dụng là quyền
của chủ sở hữu khai thác các công dụng, hởng hoa lợi, lợi tức từ vật sử hữu.
Nh vậy, với t cách là đại diện chủ sở hữu toàn dân đối với đất đai, nhà nớc
thực hiện quyền khai thác những thuộc tính có ích từ đất để phục vụ cho các mục
đích phát triển kinh tế và đời sống xã hội. Tuy nhiên, nhà nớc không trực tiếp sử
dụng đất mà ngời sử dụng đất mới là chủ thể trực tiếp sử dụng một phần đất để khai
thác các lợi ích từ đất. Thc t nhà nớc thực hiện quyền sử dụng đất đai của mình
bằng việc điều tiết các nguồn lợi từ đất đai thông qua các chính sách tài chính về
đất đai nh thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất; thu thuế sử dụng đất, thuế thu nhập từ
chuyển quyền sử dụng đất; điều tiết phần giá trị tăng thêm từ đất mà không do đầu
t của ngời sử dụng đất mang lại...
Cũng nh quyền chiếm hữu đất đai, quyền sử dụng đất đai của nhà nớc là đơng nhiên, vĩnh viễn, trọn vẹn trên phạm vi cả nớc và cỏch thc s dng t l gián
tiếp; còn quyền sử dụng đất đai của ngời sử dụng là trực tiếp, không mang tính đơng nhiên, bị hạn chế bởi không gian, thời gian và mục đích sử dụng.
c. Quyền định đoạt đất đai
Theo quy định tại Điều 195 Bộ luật Dân sự năm 2005 thì định đoạt là quyền
của chủ sở hữu chuyển giao quyền sở hữu của mình cho ngời khác hoặc từ bỏ
quyền sở hữu đối với vật s hu. Nh vậy khi thực hiện quyền định đoạt luôn dẫn
đến việc chấm dứt quyền sở hữu của chủ sở hữu đối với vật sở hữu.
Quyền định đoạt đất đai của nhà nớc là một trình tự do pháp luật quy định
nhằm hình thành, thay đổi và chấm dứt quan hệ pháp luật đất đai. Trờn thc t nhà
nớc Việt Nam không thực hiện/khụng th thc hin quyền định đoạt đối với đất đai
theo lý thuyt thông thờng nh nêu trên, bởi đất đai là tài nguyên quý của quốc
gia, một loại tài sản đặc biệt nên nhà nớc cn thực hiện quyền định đoạt theo cách
thức c bit. Đó là quyền năng duy nhất do nhà nớc thực hiện, ngời sử dụng đất
không đợc thực hiện. Nhà nớc thể hiện quyền định đoạt của mình đối với toàn bộ
vốn đất đai thông qua các hot ng cơ bản sau:
- Quyết định mục đích sử dụng đất thông qua việc quyết định, xét duyệt quy
hoạch sử dụng đất, kế hoạch sử dụng đất và cho phép chuyển mục đích sử dụng đất;
- Quy định hạn mức giao đất và thời hạn sử dụng đất;
- Quyết định giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất;
- Định giá đất.
Cỏc hot ng nờu trờn ca Nh nc khi nh ot t ai chi phi hon
ton vic s dng t ai ca ngi s dng t. iu ú cho thy kh nng qun


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×