Tải bản đầy đủ

Quản lý trường hợp đối với người cai nghiện ma tuý từ thực tiễn trung tâm tư vấn và điều trị nghiện ma tuý tỉnh lâm đồng

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LÊ QUỐC CƯỜNG

QUẢN LÝ TRƯỜNG HỢP ĐỐI VỚI NGƯỜI CAI NGHIỆN
MA TUÝ TỪ THỰC TIỄN TRUNG TÂM TƯ VẤN VÀ ĐIỀU
TRỊ NGHIỆN MA TUÝ TỈNH LÂM ĐỒNG

Chuyên ngành: CÔNG TÁC XÃ HỘI
Mã số: 60.90.01.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC TS.HÀ THỊ THƯ

Hà Nội, 2016


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn Thạc sĩ
Công tác xã hội về “Quản lý trường hợp đối với người cai nghiện ma tuý từ thực

tiễn Trung tâm Tư vấn và Điều trị nghiện ma tuý tỉnh Lâm Đồng” là hoàn toàn trung
thực và không trùng lặp với các đề tài khác trong cùng lĩnh vực.
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này.
Tác giả luận văn

Lê Quốc Cường


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
Chương 1: Những vấn đề lý luận về quản lý trường hợp đối với người cai
nghiện ma tuý ............................................................................................... 13
1.1 Một số khái niệm và đặc điểm người cai nghiện ma tuý ........................ 13
1.2 Lý luận về quản lý trường hợp đối với người cai nghiện ma tuý .......... 21
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý trường hợp đối với người cai nghiện
ma tuý .......................................................................................................... 30
1.4 Cơ sở pháp lý về quản lý trường hợp đối với người cai nghiện ma tuý . 35
Chương 2: Thực trạng quản lý trường hợp đối với người cai nghiện ma
tuý tại Trung tâm Tư vấn và Điều trị nghiện ma tuý tỉnh Lâm Đồng .... 39
2.1 Vài nét về đặc điểm Trung tâm và khách thể nghiên cứu......................... 39
2.2 Thực trạng thực hiện nội dung quản lý trường hợp đối với người cai
nghiện ma tuý tại Trung tâm …… .................................................................. 41
2.3 Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý trường hợp đối với người
cai nghiện ma túy tại Trung tâm ................................................................... 52
Chương 3: Đề xuất biện pháp thúc đẩy hiệu quả quản lý trường hợp đối
với người cai nghiện ma tuý từ thực tiễn Trung tâm tư vấn và điều trị
nghiện ma tuý tỉnh Lâm Đồng .................................................................. 63
3.1 Biện pháp nâng cao nhận thức ................................................................ 63
3.2 Biện pháp giáo dục đào tạo ..................................................................... 67
3.3 Biện pháp tuyên truyền trong cộng đồng ................................................ 68
KẾT LUẬN… ............................................................................................... 70
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO… ................................................. 73


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
QLTH

Quản lý trường hợp

NVQLTH


Nhân viên quản lý trường hợp



Giám đốc

NNMT

Người nghiện ma tuý

CTXH

Công tác xã hội

NVCTXH

Nhân viên công tác xã hội

NVXH

Nhân viên xã hội

NCNMT

Người cai nghiện ma tuý

NCN

Người cai nghiện

HIV (Human Immuno-deficiency

Virus gây suy giảm miễm dịch ở

Virus)

người

AIDS (Acquired Immuno Deficiency

Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc

Syndrome)

phải.


DANH MỤC BẢNG KHẢO SÁT
Bảng

Nội dung khảo sát

2.1

Nội dung về hoạt động truyền thông giáo dục …………………. 42

2.2

2.3

2.4

2.5

2.6

Hình thức nội dung truyền thông giáo dục QLTH đối với người cai
nghiện ma tuý …………………………………………………. ..44
Đánh giá mức độ hài lòng của người cai nghiện ma tuý với các nội
dung tham vấn, tư vấn trước khi vào Trung tâm ………………. 45
Đánh giá mức độ hài lòng của người cai nghiện ma tuý với các nội
dung tham vấn, tư vấn trong thời gian cai nghiện tại Trung tâm . 46
Đánh giá mức độ hài lòng của người cai nghiện ma tuý với các
dịch vụ đã kết nối ………………………………………………. 49
Đánh giá nhu cầu và những khó khăn khi giải quyết các nhu
cầu. …………………………………………...………………… 51

2.7

Mức độ các yếu tố ảnh hưởng đến QLTH đối với NCNMT …… 53

2.8

Yếu tố thuộc về bảng thân nhân viên QLTH ………………….. 56

2.9

Năng lực đáp ứng của Trung tâm ………………………………. 59

2.10

Nhận thức của cộng đồng, chính quyền địa phương …………… 61


DANH MỤC BẢNG PHỎNG VẤN LÃNH ĐẠO, NHÂN VIÊN QUẢN
LÝ VÀ NGƯỜI CAI NGHIỆN MA TUÝ TẠI TRUNG TÂM

Nội dung được phỏng vấn

Người được
phỏng vấn

Chức vụ

Thực trạng hoạt động nội dung hỗ trợ
cho người cai nghiện ma tuý tại Trung

Ô. Dương Đức Thành

Giám đốc

tâm
Đánh giá về hoạt động thăm khám và
điều trị cho người cai nghiện ma tuý
Những khó khăn và thuận lợi của nhân
viên Trung tâm trong công tác
Những khó khăn , hạn chế trong công
tác QLTH đối với nhân viên

Bà: Lê Thị Hương

Y sĩ

Bà: Vũ Thị Mai

Nhân viên

Ô. Lê Ngọc Lâm

Nhân viên

Đánh giá về hoạt động tham vấn, tư Nguyễn Chính Hải Â

NCN

vấn của nhân viên Trung tâm

NCN

Trần Ngọc L

Những khó khăm của người cai nghiện
ma tuý khi cần sự hỗ trợ của kết nối Nguyễn Hoàng M
dịch vụ

NCN


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ma tuý được coi là hiểm hoạ của loài người và hiện đang là vấn đề nóng
bỏng của xã hội, vượt qua biên giới của mỗi quốc gia. Ma tuý làm ảnh hưởng
lớn đến nhiều mặt của đời sống xã hội. Ma tuý trực tiếp phá vỡ hạnh phúc gia
đình của những người nghiện, ảnh hưởng đến sức khoẻ, tâm trí và tiền của. Là
mối hiểm hoạ đến tương lai nòi giống của dân tộc. Đồng thời, nó có tác động
xấu đến an ninh, trật tự, sự ổn định và phát triển của xã hội.
Trong những năm vừa qua, Chính phủ đã quan tâm chỉ đạo, các ngành,
các cấp triển khai nhiều giải pháp phòng, chống, kiểm soát ma túy và đã mang
lại kết quả nhất định góp phần đảm bảo trật tự an toàn xã hội, nâng cao sức
khỏe nhân dân. Tuy nhiên, tình tình về tội phạm ma túy và người nghiện ma
túy vẫn diễn biến phức tạp, gia tăng về số lượng, tính chất, mức độ ngày càng
khó kiểm soát hơn.
Theo báo cáo điều tra của Cục hòng, chống tệ nạn xã hội Bộ Lao động
– Thương binh &Xã hội , cuối năm 2015 cả nước có 200.134 người nghiện
ma túy có hồ sơ quản lý tăng 20.134 người). Người nghiện ma túy đã xuất
hiện ở mọi thành phần xã hội, mọi lứa tuổi song chủ yếu ở lớp trẻ: 76% trong
số người nghiện có độ tuổi dưới 35 tuổi; 60% số người sử dụng ma túy lần
đầu ở độ tuổi dưới 25 tuổi, trong đó 8% sử dụng ma túy lần đầu ở độ tuổi
dưới 18 tuổi. Trước đây, số người nghiện ma túy chủ yếu là nam giới, nhưng
những năm gần đây tỷ lệ người nghiện ma túy là nữ đã gia tăng đáng kể.
Trong thời gian qua cục Bảo trợ xã hội đã tổ chức một vài hội thảo với sự
giúp đỡ của các chuyên gia quốc tế nhằm giới thiệu về quản lý trường hợp và
định hướng áp dụng cho các đối tượng có nhu cầu điều trị và cai nghiện ma
tuý tại cộng đồng hay tại các Trung tâm giáo dục lao động. Điều này tạo sự
thuận lợi về mặt hành chính cho các Trung tâm.

1


Trước thực trạng cai nghiện ma tuý còn gặp nhiều khó khăn với tỷ lệ
thành công không cao như hiện nay, nhất là trong xu thế hiện nay, người
nghiện ma tuý đến với Trung tâm Tư vấn và Điều trị nghiện ma tuý tỉnh Lâm
Đồng để được tư vấn và điều trị nghiện ma tuý thường sử dụng hoặc chuyển
sang sử dụng ma tuý tổng hợp. Loại ma tuý này rất nguy hại cho sức khoẻ và
làm cho người nghiện ma tuý không tự làm chủ được bản thân, gây ra những
nguy hại cho xã hội, đây là một hiện tượng xã hội diễn ra hết sức phức tạp.
Do vậy, việc quản lý trường hợp đối với người cai nghiện ma tuý từ thực tiễn
Trung tâm tư vấn và Điều trị nghiện ma tuý tỉnh Lâm Đồng là hết sức cần
thiết và cấp bách nhưng thực tế việc quản lý trường hợp đối với người cai
nghiện ma tuý chưa có chiều sâu từ lý luận đến thực tiễn.
Luận văn này nghiên cứu các nội dung “Quản lý trường hợp đối với
người cai nghiện ma túy từ thực tiễn Trung tâm Tư vấn và Điều trị nghiện
ma tuý tỉnh Lâm Đồng” nhằm đưa ra đánh giá về tính hiệu quả cách thức
triển khai các nội dung quản lý trường hợp cho người cai nghiện ma túy.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
* Tổng quan tình hình nghiên cứu về vấn đề nghiện ma tuý
Nghiên cứu vấn đề người nghiện ma tuý đã được nhiều nhà nghiên cứu
quan tâm và các kết quả nghiên cứu về vấn đề này đã được đề cập tới trong
một số công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước. Nhiều khía
cạnh, nhiều vấn đề đã được nghiên cứu đặc biệt là những vấn đề của công tác
xã hội trong việc trợ giúp người nghiện trong đó gồm các vấn đề như: việc
làm sau cai nghiện ma tuý, vấn đề chăm sóc sức khoẻ cho người cai nghiện
ma tuý, vấn đề tái hoà nhập cộng đồng cho người cai nghiện ma tuý sau cai và
đặc biệt là hướng nghiên cứu tiếp cận dưới góc độ nhân quyền đã mang lại
cách nhìn nhân văn về những vấn đề liên quan tới một nhóm xã hội yếu thế nhóm người nghiện ma tuý. Trong đó, vấn đề này được nghiên cứu ở các khía

2


cạnh như: trang bị các hiểu biết về luật pháp, chính sách và các quyền lợi hợp
pháp mà người cai nghiện ma tuý sẽ được hưởng từ các dịch vụ xã hội. Một
số nghiên cứu cụ thể được coi như cung cấp kiến thức trong việc nghiên cứu
về đối tượng nghiện ma tuý.
2.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Qua các nghiên cứu vấn đề của người nghiện ma túy nói chung, đặc biệt
là các nghiên cứu về quản lý trường hợp đối với người cai nghiện ma túy nói
riêng đã được nhiều nhà nghiên cứu nước ngoài quan tâm. Có thể nêu ra một
số nghiên cứu cụ thể về các vấn đề nêu trên.
1. Nghiên cứu “Hiệu quả của quản lý trường hợp trong việc hỗ trợ
người sử dụng ma túy” của Richard.C. Bowlt (2010) đã đưa ra các dẫn chứng
cụ thể về hiệu quả của việc sử dụng công cụ quản lý trường hợp ở các khía
cạnh tâm sinh lý cũng như quản lý tình trạng nghiện hút của các đối tượng.
[Richard.C (2010), University of Maryland Francis King Carey School of
Law]
Nghiên cứu “Hiệu quả của những mô hình quản lý trường hợp khác
nhau trong việc hỗ trợ người sử dụng ma túy” của Vanderplasschen.W (2007)
đã đưa ra phân tích các mô hình quản lý trường hợp với người sử dụng ma túy,
chỉ ra những điểm tích cực và hạn chế của từng mô hình để đưa ra những kết
luận cho việc vận dụng các mô hình phù hợp ở từng trường hợp khác nhau.
Nghiên cứu “Quản lý trường hợp đối với những đối tượng mới ra tù có
sử dụng ma túy” của Inciardi JA, Martin SS, Scarpitti FR đã chỉ ra tính phù
hợp trong việc áp dụng công cụ quản lý trường hợp đối với những đối tượng
này đăng trong tập san Quản lý trường hợp (1994). Ngoài việc chứng minh
tính hiệu quả của mô hình quản lý trường hợp, nghiên cứu cũng chỉ ra một số
đặc điểm riêng đặc thù với nhóm đối tượng nghiện ma túy mới ra tù từ đó có
những khuyến nghị trong việc vận dụng công cụ này để phù hợp với các đặc

3


điểm riêng của nhóm đối tượng nghiện ma túy mới ra tù [ Inciardi JA, Martin
SS (1994), Scarpitti FR [US National Library of Medicine National Institues
of Health]
2. Nghiên cứu “Hiệu quả trong việc kết nối, điều phối các dịch vụ dành
cho người sử dụng ma túy” của Martin SS, Scapitti FR (1993). Đây là nghiên
cứu dựa trên sự phối kết hợp của các ngành khác nhau với cách tiếp cận mô
hình quản lý trường hợp với người sử dụng ma túy để tìm hiểu về hiệu quả
trong việc kết nối, điều phối các dịch vụ dành cho người sử dụng ma túy
[Martin SS (1993), Scapitti FR. Adai Library, Drug Issues]
Như vậy, có thể thấy các công trình nghiên cứu về quản lý trường hợp ở
nước ngoài nghiên cứu nhiều về hiệu quả và tác động của quản lý trường hợp
đến các người đang nghiện ma túy.
2.2. Tổng quan tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Nghiên cứu vấn đề nghiện ma túy, trong đó có nghiên cứu về người cai
nghiện điều trị tại các Trung tâm được nhiều nhà nghiên cứu ở Việt Nam quan
tâm. Tuy nhiên, các nghiên cứu về quản lý trường hợp đối với người cai
nghiện ma túy ngoài cộng đồng và người nghiện đang được Tư vấn và điều trị
tại các Trung tâm cần chú ý nghiên cứu tập trung ở các hướng nghiên cứu sau:
- Hướng nghiên cứu nhu cầu việc làm của người cai nghiện ma túy, các
nguyên nhân nghiện ma túy và cơ chế trị liệu cho người cai nghiện ma túy.
Trong đề tài nghiên cứu “Quản lý dạy nghề và giáo dục phục hồi nhân
cách cho người sau cai nghiện: vấn đề và kinh nghiệm ở thành phố Hồ Chí
Minh” của Trần Nhu và Hồ Bá Thâm, Nghiên cứu tập trung vào giải quyết
việc làm, nhu cầu việc làm cho người cai nghiện ma túy của thành phố do Sở
Lao động – Thương binh và Xã hội cùng lực lượng thanh niên xung phong
thành phố quản lý. Mặc dù nghiên cứu trên bình diện xã hội học nhưng
nghiên cứu cũng đã cho thấy thách thức lớn nhất mà người cai nghiện ma túy

4


đang phải đối mặt là vấn đề việc làm cho người cai nghiện và đưa ra những
giải pháp cụ thể cho các doanh nghiệp khi sử dụng lao động là người cai
nghiện ma túy [Trần Nhu và Hồ Bá Thâm (2008), Quản lý dạy nghề và giáo
dục phục hồi nhân cách cho người sau cai nghiện: vấn đề và kinh nghiệm ở
thành phố Hồ Chí Minh, Nxb. Lao động xã hội, 2008]
Nghiên cứu của Cục Phòng, chống tệ nạn xã hội (Bộ Lao động – Thương
binh và Xã hội) phối hợp với tổ chức Chemonics 2012 , đã đưa ra các số liệu
liên quan đến các vấn đề hạn chế trong đào tạo nghề và giải quyết việc làm
thỏa mãn người cai nghiện ma túy cho người sau cai nghiện những khó khăn,
thách thức từ các mô hình trợ giúp hiện tại. Nghiên cứu đã đề xuất cho Chính
phủ Việt Nam trong việc hỗ trợ học nghề, thỏa mãn nhu cầu việc làm của
người cai nghiện ma túy. Tuy nhiên, nghiên cứu này chỉ đi theo hướng nghiên
cứu xã hội học chứ chưa đi sâu nghiên cứu nhu cầu việc làm của người cai
nghiện ma túy dựa trên lý luận khoa học tâm lý. Đặc biệt chưa xây dựng được
thang đo mức độ biểu hiện nhu cầu việc làm dưới góc độ tâm lý học [Tạp chí
phòng chống tệ nạn xã hội, tháng 8. 2012, Hà Nội].
Nhóm tác giả Nguyễn Thanh Hiệp và cộng sự với đề tài “ Khảo sát các
yếu tố ảnh hưởng đến nghiện ma tuý lần đầu ở người sau cai nghiện ma tuý”
(Tại Trung tâm Giáo dục dạy nghề và giải quyết việc làm Bình Đức và Đức
Hạnh đã phân tích đặc điểm và hoàn cảnh xã hội của người nghiện ma tuý
lần đầu.
3. Đề tài cấp Bộ của tác giả Nguyễn Văn Minh “ Các giải pháp tạo việc
làm cho người nghiện ma tuý, người mại dâm sau khi được chữa trị, phục
hồi” đã đưa ra nhiều giải pháp giải quyết việc làm thích hợp cho các đối
tượng trên [Nguyễn Văn Minh , Các giải pháp tạo việc làm cho người nghiện
ma tuý, người mại dâm sau khi được chữa trị, phục hồi, Hồ Chí Minh 2002]

5


- Hướng nghiên cứu đặc điểm nhân cách của người cai nghiện ma túy và
biện pháp trị liệu cho người cai nghiện ma túy.
4. Tác giả han Mai Hương 2005 , đã đề cập đến đặc điểm nhân cách,
hoàn cảnh xã hội của thanh thiếu niên nghiện ma túy. Theo cách tiếp cận này,
việc sử dụng ma túy có thể được quan niệm như hành vi giải quyết các vấn đề
tạm thời trong việc thiếu thích nghi trước các nhiệm vụ phát triển, tự lập hóa,
hòa nhập vào nhà trường và xã hội, giúp con người hòa nhập dễ dàng hơn vào
xã hội, sửa chữa ý nghĩ hèn kém và các rối nhiễu cảm xúc gây ra do thiếu
thích nghi hoặc do điều kiện sống không thuận lợi. Quan điểm nghiên cứu
đưa ra cần lưu ý là việc giáo dục và sửa đổi hành vi nghiện ma túy cần phải
bắt đầu đồng bộ từ việc nâng cao nhận thức và hình thành kỹ năng sống cho
người cai nghiện trong việc ứng phó với các vấn đề khác nhau từ cuộc sống
[ han Mai Hương 2005 , Đặc điểm nhân cách, hoàn cảnh xã hội của thanh
thiếu niên nghiện ma túy, Luận án tiến sỹ Tâm lý học, Viện Tâm lý học, Viện
Khoa học xã hội Việt Nam].
Nghiên cứu “Liệu pháp tâm lý xã hội cho người cai nghiện ma túy” của
Nguyễn Hữu Khánh Duy, Nguyễn Văn Khuê, Trist Summerfield 2002 đã đề
cập đến một số liệu pháp tâm lý xã hội nhằm can thiệp phục hồi cho thanh
niên nghiện ma túy. Đề tài đã coi vấn đề hướng nghiệp, dạy nghề là con
đường cơ bản giúp thanh niên nghiện ma túy tái hòa nhập xã hội hiệu quả.
Tuy nhiên, đề tài mới chỉ nêu ra một số liệu pháp tâm lý xã hội mà chưa đi
sâu nghiên cứu cơ chế hình thành các hiện tượng tâm lý của người cai nghiện
ma túy .
Nghiên cứu “Nguyên nhân tái sử dụng ma túy và phương pháp mới dự
phòng tái nghiện” của Viện Nghiên cứu Tâm lý người sử dụng ma túy

SD

(2015) đã tìm ra những nguyên nhân dẫn đến hành vi tái sử dụng ma túy ở
người cai nghiện ma túy, đó là: Nhóm nguyên nhân từ các hình ảnh trực quan

6


những người liên quan trong quá trình sử dụng ma túy; các đồ vật, dụng cụ
sử dụng ma túy; các địa điểm từng sử dụng ma túy… ; Nhóm các cảm xúc;
Nhóm tình huống và hành vi nguy cơ. Từ đó tìm ra phương pháp trị liệu tâm
lý nhằm giải quyết triệt để những nhóm nguyên nhân, giúp người cai nghiện
có thể phòng chống tái nghiện một cách hiệu quả.
- Hướng nghiên cứu thị trường lao động, tư vấn hướng nghiệp và tổ
chức việc làm cho người sau cai nghiện:
5. Tác giả Lê Hồng Minh (2007), trong nghiên cứu “Tổ chức chương
trình tư vấn hướng nghiệp cho thanh niên sau cai nghiện ở Quận 3, Thành
phố Hồ Chí Minh” đã đề cập tới vai trò quan trọng của tư vấn hướng nghiệp
cho thanh niên sau cai. Tác giả đã nêu lên được khía cạnh thực tế của việc đào
tạo việc làm cho người cai nghiện ma túy. Hoạt động tư vấn hướng nghiệp
phải là sự phối hợp của các ban ngành địa phương, cần một hệ thống những
người có chuyên môn nghiệp vụ, có kỹ năng, bên cạnh đó cần huy động sức
dân, thành lập các tổ cán sự an sinh xã hội mà tình nguyện viên là thành viên,
đại diện ban ngành, hội đoàn trong phường/xã tham gia thường xuyên thăm
viếng, tư vấn giáo dục cho người cai nghiện ma túy. Tuy nhiên, tác giả mới
chỉ dừng lại ở việc mô tả thực trạng đào tạo việc làm cho người cai nghiện ma
túy khi ở Trung tâm cai nghiện, mô tả về mặt tổ chức cũng như nội dung hoạt
động của chương trình mà chưa nói lên được những chính sách cụ thể trong
việc hỗ trợ người cai nghiện ma túy [Lê Hồng Minh (2007), trong nghiên cứu
“Tổ chức chương trình tư vấn hướng nghiệp cho thanh niên sau cai nghiện ở
Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh, Tạp chí khoa học giáo dục, Hà Nội.
Nghiên cứu của một số tác giả thuộc Trung tâm phòng chống HIV/AIDS
Hà Nội (2013) cho thấy những thay đổi trong các hành vi của đối tượng
nghiện chích ma túy: tần suất tiêm chích ma túy giảm dần, tỷ lệ đối tượng

7


không bao giờ sử dụng chung bơm kim tiêm đã tăng, hành vi sử dụng bao cao
su thường xuyên khi quan hệ tình dục có tỷ lệ tăng lên.
Liên quan đến nội dung nghiên cứu của luận văn này ở Việt Nam hiện
nay mới có một số tài liệu sau:
- Nguyễn Trung Hải (2013), Giáo trình quản lý trường hợp với người sử
dụng ma túy (dành cho hệ đại học), Nhà xuất bản Lao động - Xã hội, Hà Nội .
- Nguyễn Hồi Loan (2013), Tài liệu quản lý trường hợp với người sử
dụng ma túy (Tài liệu tập huấn cho cán bộ cơ sở), Nhà xuất bản Lao động Xã hội, Hà Nội
- Bùi Thị Xuân Mai (2013), Giáo trình Tham vấn điều trị nghiện, Nhà
xuất bản Lao động - Xã hội, Hà Nội.
- Lê Thị Mỹ Hiền (2013), Tài liệu hướng dẫn thực hành, thực tập, Nhà
xuất bản Lao động - Xã hội, Hà Nội.
Có thể thấy, cùng với sự phát triển lâu năm của nghề CTXH trên thế giới,
các nghiên cứu về vấn đề nghiện ma túy, trong đó có nghiên cứu về quản lý
trường hợp đã mang lại những kết quả tích cực và đáng ghi nhận trong lĩnh
vực can thiệp và hỗ trợ người cai nghiện ma túy ở nhiều khía cạnh khác nhau.
Điều này khẳng định, đây là vấn đề cần thiết nghiên cứu tại nước ta
trong giai đoạn hiện nay. Vì vậy, đề tài luận văn mà tôi lựa chọn đi sâu nghiên
cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn quản lý trường hợp đối với người cai
nghiện ma túy, góp phần đưa ra một số biện pháp nâng cao hiệu quả của các
nội dung hoạt động giúp người cai nghiện ma túy tại Trung tâm Tư vấn và
Điều trị nghiện ma tuý tỉnh Lâm Đồng ngày càng tốt hơn.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực trạng về quản lý trường hợp đối với
người cai nghiện ma túy tại Trung tân Tư vấn và Điều trị nghiện ma tuý tỉnh

8


Lâm Đồng; trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị giúp cho nội dung quản lý
trường hợp trong việc hỗ trợ người cai nghiện tại Trung tâm Tư vấn và Điều
trị nghiện ma tuý tỉnh Lâm Đồng đạt được hiệu quả cao hơn.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý trường hợp trong việc hỗ trợ người
cai nghiện ma túy.
- Phân tích thực trạng của các nội dung quản lý trường hợp trong việc hỗ
trợ người cai nghiện
- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý trường hợp đối với người
cai nghiện ma túy
- Đề xuất một số giải pháp giúp cho một số nội dung quản lý trường hợp
đối với người cai nghiện ma tuý tại Trung tâm Tư vấn và Điều trị nghiện ma
tuý tỉnh Lâm Đồng đạt được hiệu quả cao hơn.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Quản lý trường hợp đối với người cai nghiện ma túy từ thực tiễn Trung
tâm Tư vấn và Điều trị nghiện ma tuý tỉnh Lâm Đồng.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về đối tượng: Đề tài tập trung nghiên cứu lý luận và thực trạng
về việc thực hiện các nội dung quản lý trường hợp đối với người cai nghiện
ma túy tại Trung tâm, đó là: truyền thông, giáo dục nâng cao nhận thức; tham
vấn- tư vấn cho người cai nghiện; biện hộ chính sách và kết nối dịch vụ xã hội
- Phạm vi khách thể: Đề tài nghiên cứu 80 người cai nghiện ma túy, 10
nhân viên, 02 lãnh đạo của Trung tâm Tư vấn và Điều trị nghiện ma tuý tỉnh
Lâm Đồng.
- Phạm vi về thời gian: Từ tháng 01 /2015 đến 6/2016

9


5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1.

Phương pháp luận

Nghiên cứu trên cơ sở duy vật biện chứng: từ thực trạng quản lý trường
hợp đối với người cai nghiện ma túy tại Trung tâm Tư vấn và Điều trị nghiện
ma tuý tỉnh Lâm Đồng, rút ra được những lý luận và đưa ra được những đề
xuất về biện pháp để nâng cao hiệu quả quản lý trường hợp đối với người cai
nghiện ma túy tại Trung tâm Tư vấn và Điều trị nghiện ma tuý tỉnh Lâm Đồng.
Nghiên cứu vấn đề lý luận trong hệ thống: nghiên cứu hệ thống những
lý thuyết có liên quan trực tiếp đến đề tài, hệ thống các yếu tố có liên quan
như các nhiệm vụ quản lý trường hợp đối với người cai nghiện ma tại Trung
tâm Tư vấn và Điều trị nghiện ma tuý tỉnh Lâm Đồng; các yếu tố ảnh hưởng
cũng như hệ thống chính sách xã hội đối với khách thể này.
5.1 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp phân tích tài liệu: Thu thập thông tin, số liệu, tài liệu từ
các nguồn tài liệu đã được công bố hoặc rút ra từ các nguồn tài liệu những
nội dung liên quan đến đề tài nghiên cứu.
Phương pháp điều tra bảng hỏi: là phương pháp dựa trên hình thức hỏi
đáp gián tiếp của người cai nghiện tại Trung tâm, dựa trên bảng các câu hỏi
được soạn thảo trước, điều tra viên tiến hành phát bảng hỏi, hướng dẫn thống
nhất cách trả lời các câu hỏi cho người giám hộ người cai nghiện, người được
hỏi tự đọc các câu hỏi trong bảng hỏi rồi ghi cách trả lời của mình vào phiếu
hỏi rồi gửi lại cho các điều tra viên.
Phương pháp quan sát: Quan sát thực tế từ Trung tâm Tư vấn và Điều
trị nghiện ma tuý được gửi và điều trị tại Trung tâm nên có thể quan sát người
cai nghiện thông qua các tri giác như: nghe; nhìn và tiếp xúc trực tiếp với
người cai nghiện hàng ngày. Từ đây có thể nắm bắt được tình trạng chăm sóc,

10


điều trị phục hồi chức năng của người cai nghiện ma tuý cải thiện như thế nào,
kết quả đạt được ra sao.
Phương pháp phỏng vấn sâu: Thực hiện 3 cuộc phỏng vấn sâu của ba
nhóm làm việc trực tiếp với người cai nghiện ma tuý tại các phòng chức năng
của Trung tâm
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Trong phạm vi đề tài nghiên cứu này tôi chủ yếu sử dụng các phương
pháp nghiên cứu sau:
* Phương pháp phân tích tài liệu:
Đây là phương pháp được sử dụng trong suốt quá trình thực hiện đề tài.
Đề tài có sử dụng một số tài liệu như Nghị định, chính sách, sách, báo, thông
tin trên internet, các kết quả nghiên cứu có liên quan đến đề tài.
* Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi:
Sử dụng phương pháp này để tiến hành nghiên cứu và tìm hiểu 80 người
cai nghiện ma tại Trung tâm Tư vấn và Điều trị nghiện ma tuý tỉnh Lâm Đồng.
* Phương pháp phỏng vấn sâu:
Đề tài tiến hành phỏng vấn sâu đối với 10 nhân viên QLTH và 02 lãnh
đạo tại Trung tâm Tư vấn và Điều trị nghiện ma tuý tỉnh Lâm Đồng.
6. Ý nghĩa về lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Những thông tin thu thập được từ luận văn sẽ góp phần làm phong phú
thêm hệ thống cơ sở dữ liệu cho việc phân tích lý luận về quản lý trường hợp
đối với người cai nghiện ma tuý nói riêng và lý luận về quản lý trường hợp,
về chính sách xã hội đối với người cai nghiện ma tuý nói chung.
Là nguồn tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu sau này về lĩnh vực
quản lý trường hợp đối với người cai nghiện ma tuý.
Nghiên cứu sẽ xác định khung lý thuyết nghiên cứu quản lý trường hợp
trong trợ giúp người cai nghiện ma túy như: các khái niệm, nguyên tắc, đặc

11


điểm cơ bản của quản lý trường hợp đối với người cai nghiện ma túy. Kết quả
nghiên cứu lý luận của luận văn sẽ góp phần làm phong phú thêm lý luận cơ
bản của quản lý trường đối với người cai nghiện ma túy.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu sẽ giúp nâng cao nhận thức của xã hội, cộng đồng
về vai trò của nghề CTXH, các nhân viên CTXH (nhân viên Công tác xã hội),
cũng như vai trò của hệ thống cung cấp dịch vụ CTXH trong hoạt động hỗ trợ
người cai nghiện ma túy. Quản lý trường hợp đối với người cai nghiện ma tuý
là việc làm cần thiết để trợ giúp người cai nghiện ma tuý được sự trợ giúp từ
các nguồn lực khác nhau, giúp cho người cai nghiện ma tuý vượt qua được
những khó khăn, giúp nối kết các dịch vụ như: y tế; giáo dục; chăm sóc; hòa
nhập cộng đồng …
Giúp cho nhân viên Công tác xã hội nói riêng và các ngành khác nói
chung hiểu biết thêm về quản lý trường hợp đối với người cai nghiện ma tuý.
Bên cạnh đó, đề tài nghiên cứu có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo
dành cho người làm quản lý trường hợp, gia đình người cai nghiện ma túy,
người nghiện ma túy.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần Mục lục, Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo.
Luận văn gồm 3 chương sau đây:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về quản lý trường hợp đối với người
cai nghiện ma tuý
Chương 2: Thực trạng về quản lý trường hợp đối với người cai nghiện
ma tuý tại Trung tâm Tư vấn và Điều trị nghiện ma tuý tỉnh Lâm Đồng
Chương 3: Biện pháp nâng cao, hiệu quả quản lý trường hợp đối với
người cai nghiện ma tuý từ thực tiễn Trung tâm Tư vấn và Điều trị nghiện ma
tuý tỉnh Lâm Đồng

12


Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ TRƯỜNG HỢP
ĐỐI VỚI NGƯỜI CAI NGHIỆN MA TÚY
1.1. Một số khái niệm và đặc điểm người cai nghiện ma túy
1.1.1. Một số khái niệm
1.1.1. 1. Khái niệm ma túy
Hiện có nhiều loại định nghĩa khác nhau về ma tuý. Nhưng nhìn chung
khi nói tới ma tuý là nói tới các chất có nguồn gốc tự nhiên hay tổng hợp, khi
được đưa vào cơ thể ( bằng cách: tiêm, chích, hút, hít, nhai, nuốt...) nó sẽ làm
thay đổi trạng thái ý thức và tâm sinh lý người đó.
Nếu lạm dụng ma tuý, con người sẽ lệ thuộc vào nó, khi đó gây tổn
thương và nguy hại cho người sử dụng, cho gia đình và cộng đồng.
Luật phòng, chống ma tuý của Việt Nam tại điều 2 đã đưa ra một số
định nghĩa về ma tuý hoặc có liên quan đến khái niện ma tuý như sau:
Chất ma tuý là chất gây nghiện, chất hướng thần được quy định trong
danh sách các danh mục do Chính phủ ban hành.
Chất gây nghiện là chất kích thích hoặc ức chế thần kinh, dễ gây tình
trạng nghiện đối với người sử dụng.
Chất hướng thần là chất kích thích, ức chế thần kinh hoặc gây ảo giác,
nếu sử dụng nhiều lần có thể dẫn tới tình trạng nghiện với người sử dụng.
Tiền chất là các chất không thể thiếu được trong quá trình điều chế, sản
xuất ma tuý được quy định do chính phủ ban hành.
Thuốc gây nghiện, hướng thần là các loại thuốc chữa bệnh được quy
định trong danh mục do Bộ Y tế do chính phủ ban hành.
Theo Chương trình Kiểm soát Ma tuý Quốc tế Liên hợp quốc: Ma tuý là
chất có nguồn gốc tự nhiên hay tổng hợp khi thâm nhập vào cơ thể con người,

13


sẽ gây tác dụng làm thay đổi trạng thái, ý thức, trí tuệ, tâm trạng của người đó.
Nếu dùng lặp lại nhiều lần sẽ làm cho người đó bị lệ thuộc vào nó, lúc đó gây
tổn thương và nguy hại cho cá nhân và cộng đồng.
Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 được Quốc hội nước Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 27/11/2015,
đã quy định các tội phạm về ma tuý. Theo đó, ma tuý bao gồm nhựa thuốc
phiện, nhựa cần sa, cây côca, lá, hoa, quả cây cần sa, lá cô ca, quả thuốc phiện
khô, quả thuốc phiện tươi, hêrôin, côcain, Methamphetamine, Amphetamine,
MDMA, các chất ma tuý khác ở thể lỏng, thể rắn.
Từ quy định của Liên Hợp Quốc và pháp luật Việt Nam ta có thể hiểu:
ma tuý là các chất có nguồn gốc tự nhiên hoặc tổng hợp, khi được đưa vào cơ
thể con người, nó có tác dụng làm thay đổi trạng thái ý thức và sinh lý của
người đó. Nếu lạm dụng ma tuý, con người sẽ lệ thuộc vào nó, khi đó gây tổn
thương và nguy hại cho người sử dụng và cộng đồng.
1.1.1.2. Khái niệm nghiện ma túy
Theo Hiệp hội Tâm lý học Hoa kỳ (APA): Nghiện là các hội chứng gồm
tăng liều ma túy để có tác dụng mong muốn, sử dụng ma túy để giảm hội
chứng thiếu thuốc, không có khả năng giảm liều hoặc dừng ngừng sử dụng
ma túy, và tiếp tục sử dụng ma túy mặc dù biết nó có hại cho bản thân và
những người khác.[ APA Science Policy News, July 2008]
Viện nghiên cứu quốc gia Hoa kỳ về lạm dụng ma túy (NIDA): Nghiện
là một bệnh não mạn tính, tái phát làm cho người nghiện buộc phải tìm và sử
dụng ma túy, bất chấp các hậu quả đối với họ và những người xung quanh.
[Alcohol, Other drugs and Health: Current Evidence, May 2015]
Theo Quyết định số 2596/QĐ-TTg ngày 27/12/2013 của Thủ tướng
Chính phủ phê duyệt Đề án đổi mới công tác cai nghiện ma túy ở Việt Nam
đến năm 2020: Nghiện ma túy là bệnh mãn tính do rối loạn của não bộ, điều

14


trị nghiện ma túy là một quá trình lâu dài bao gồm tổng thể các can thiệp hỗ
trợ về y tế, tâm lý, xã hội làm thay đổi nhận thức, hành vi nhằm giảm tác hại
của nghiện ma túy và giảm tình trạng sử dụng ma túy trái phép.[QĐ
2596/QĐ-TTg, Hà Nội ngày 27/12/2013]
1.1.1.3. Khái niệm người nghiện ma túy
Theo quy định của Luật phòng, chống ma túy năm 2000, sửa đổi, bổ
sung năm 2008: Người nghiện ma túy là người sử dụng chất ma tuý, thuốc
gây nghiện, thuốc hướng thần và bị lệ thuộc vào các chất này.
- Chất ma túy là các chất gây nghiện được quy định trong các danh mục
do Chính phủ ban hành.
+ Chất gây nghiện là chất kích thích hoặc ức chế thần kinh, dễ gây tình
trạng nghiện đối với người sử dụng.
+ Chất hướng thần là chất kích thích, ức chế thần kinh hoặc gây ảo giác,
nếu sử dụng nhiều lần có thể dẫn tới tình trạng nghiện đối với người sử dụng.
- Thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần là các loại thuốc chữa bệnh được
quy định trong các danh mục do Bộ Y tế ban hành, có chứa các chất gây
nghiện, chất hướng thần.
Người nghiện ma tuý là người sử dụng chất ma tuý, thuốc gây nghiện,
thuốc hướng thần và bị lệ thuộc vào chất này.
Theo nghĩa rộng: người nghiện ma túy là người có thói quen dùng ma
túy, không dùng không chịu được, bằng mọi giá để có ma túy sử dụng, bất
chấp sự ngăn cấm của pháp luật, của người thân và xã hội. Theo nghĩa hẹp:
nghiện ma túy là sự lệ thuộc của con người cụ thể (lệ thuộc cả thể chất lẫn
tâm lý đối với các chất ma túy đó làm cho con người không thể quên và từ bỏ
được.
Như vậy, nghiện ma túy là sự phụ thuộc của con người vào các chất ma
túy, việc đưa một lượng ma túy nhất định vào cơ thể là một nhu cầu thường

15


xuyên, luôn có xu hướng tăng dần liều, khi ngừng sử dụng ma túy sẽ xuất
hiện hội chứng cai lên cơn nghiện) rất khó chịu, bao gồm các dấu hiệu: buồn
nôn, nổi da gà, bứt rứt, đau rút cơ khớp (có cảm giác dòi bò trong xương ,
chảy nước mắt, nước mũi, giãn đồng từ, tiêu chảy, mất ngủ, bồn chồn.
1.1.1.4. Khái niệm người cai nghiện ma túy
Người cai nghiện ma tuý là người đang sử dụng các biện pháp để chấm
dứt việc sử dụng ma tuý, không còn lệ thuốc vào các chất ma tuý gây nghiện.
1.1.2. Đặc điểm tâm lý – nhu cầu của người cai nghiện ma túy
1.1.2.1. Đặc điểm tâm lý của người cai nghiện ma túy
Ma túy làm tổn thương tế bào não, vì vậy người cai nghiện ma túy được
xem là bệnh não mãn tính, người cai nghiện có sự biển đổi, thoái hóa về nhân
cách do sự lệ thuộc vào ma túy về mặt tâm thần hoặc về mặt thể chất hoặc bị
lệ thuộc cả hai; rối loạn tâm lý, rối loạn hành vi, nội tâm phức tạp, mâu thuẫn,
thiếu ý chí, thiếu nội lực, lười biếng, ít chú ý đến thân thể, khó có thể vượt
qua hấp lực của ma túy.
Về mặt sinh lý: Nếu là người đang nghiện thì sức khỏe suy sụp dần,
không quan tâm chăm sóc đến sức khỏe bản thân. Có thể mắc phải một số
bệnh lây truyền qua đường máu và đường tình dục, các hoạt động thể lý suy
giảm, có vấn đề về răng miệng, v.v... Tuy nhiên nếu người cai nghiện ngừng
sử dụng và tham gia vào một mô hình điều trị phù hợp thì sức khỏe thể lý sẽ
dần dần được cải thiện, nhưng cũng mất rất nhiều thời gian. Sự cải thiện sức
khỏe của người cai nghiện còn tùy thuộc vào việc người cai nghiện có mắc
các bệnh đồng diễn nào khác ngoài nghiện không.
Về mặt sinh học: Trong các tế bào thần kinh não người luôn có sẵn
những thụ thể. Nếu lạm dụng chất ma túy sẽ tác động lên thụ thể gây ra trạng
thái quen thuốc (nghiện , đồng thời làm các tế bào thần kinh não bị tổn

16


thương một cách tạm thời hoặc vĩnh viễn, dẫn tới các hoạt động của não bị
lệch chuẩn như lệch chuẩn về đạo đức, hành vi, nếp sống…
Về mặt tâm lý: Tùy thuộc và từng chất gây nghiện khác nhau và thời
điểm thiếu thuốc (hội chứng cai) hoặc lúc phê thuốc mà người sử dụng có
những biểu hiện tâm lý khác nhau. Ví dụ một trong những biểu hiện tâm lý
của người phê heroin sẽ là khoan khoái, lâng lâng, thoải mái, v.v. nhưng đối
với ma túy tổng hợp thì phấn khích, hứng tình và có phần dễ gây hấn với
người khác, v.v... Thông thường đối với người sử dụng ma tuý thường có
những đặc điểm như bức xúc về mặt tâm lý muốn sử dụng lại chất gây nghiện,
khi lên cơn nghiện, người cai nghiện khó có thể kiểm soát được suy nghĩ và
hành vi của mình nên dễ dàng gây ra những tổn thương cho người khác hoặc
gây ra những hành động làm ảnh hưởng xấu đến gia đình và người xung
quanh. Tuy nhiên, khi tỉnh táo, người cai nghiện nhận thức được tác hại của
việc lạm dụng chất gây nghiện và đôi khi cũng có mong muốn cai nghiện và
thực hiện những hoạt động có ích cho bản thân, gia đình và xã hội. Để giúp
người cai nghiện chiến thắng được chính bản thân mình, vượt qua sự cám dỗ
của chất gây nghiện, gia đình, cộng đồng, xã hội và những nhà chuyên môn
như nhân viên quản lý trường hợp cần tích cực hỗ trợ, giúp đỡ.
Nếu mới nghiện: Cảm xúc cô đơn, trống vắng; mặc cảm tội lỗi, cảm giác
lo sợ, mặc cảm mình bị ghét bỏ.Từ đó có thể dẫn đến những hành vi như: tiếp
tục sử dụng ma túy để tìm quên; che giấu, sống tách biệt với thế giới riêng,
ngại giao tiếp; lừa dối; phản kháng, bỏ nhà đi. Đặc biệt do tính lệ thuộc ma
túy nên người cai nghiện tìm đủ mọi cách để đảm bảo có được liều quen dùng.
Nếu nghiện lâu: Mặc cảm thua sút anh em, bạn bè; mặc cảm mình bị
ghét bỏ, là thành phần xấu của xã hội; tự ái rằng mình có thừa khả năng, có
thể thành đạt nhưng chỉ tại vì nghiện, tại vì hoàn cảnh. Đối với những người
đã sử dụng trong thời gian dài có cảm giác chán chường, buông xuôi vì đã

17


từng nỗ lực từ bỏ nhiều lần nhưng không thành công. Họ muốn được làm
người bình thường, muốn có và sống với vợ con, muốn nói chuyện và giao
tiếp với người khác; có nhận thức về mình, đôi lúc có tính cách triết lý, nói
chuyện cố gắng có đầu có đuôi.
Về nhận thức: Do thiếu hiểu biết về ma túy, nghiện ma túy và tác hại
của nghiện ma túy. Nhiều thanh niên có tính tò mò sử dụng ma túy xem thế
nào đã dẫn tới nghiện, có những phụ nữ quá béo đã mua loại ma túy kích
thích thần kinh (Maxinton) uống để giảm béo, có học sinh cần thức đêm ôn
thi, đã dùng thuốc kích thích thần kinh để thức mà không biết dẫn tới nghiện
ma túy.
Do sang chấn tinh thần trong cuộc sống stress : Có người thất bại trong
sự nghiệp, do thất tình, thi trượt, bố mẹ bất hoà bỏ nhau... đã tìm tới ma túy.
Do buông lỏng quản lý, giáo dục của gia đình, nhà trường: gia đình quá
nuông chiều, nhiều bố mẹ không dành thời gian quan tâm theo dõi con cái, nhà
trường thiếu giám sát, phát hiện sớm các học sinh có nguy cơ lạm dụng ma túy
và chưa có nhiều các hoạt động lành mạnh để thu hút học sinh tham gia.
Môi trường còn nhiều ma túy: bọn tội phạm tàng trữ, buôn bán và tổ
chức sử dụng ma túy chưa được quét sạch, vì lợi ích kinh tế, chúng đã mù
quáng lừa gạt, lôi kéo nhiều thanh niên đến với ma túy.
Dùng ma túy để chữa bệnh: một số người đã lạm dụng ma túy để chữa
một số bệnh như đau đầu, chữa sốt rét, phụ nữ sau khi sinh đẻ...
1.1.2.2. Nhu cầu của người cai nghiện ma túy
Nhu cầu chi tiêu tăng bất thường: nhu cầu tiêu tiền ngày càng tăng và
không giải thích được lý do chi tiêu vào việc gì. Một số thanh thiếu niên, học
sinh thường hay nói dối cha mẹ xin tiền đóng học phí, mua sách vở hoặc lấy
trộm tiền, ăn cắp đồ đạc trong gia đình đem bán hoặc cầm đồ để có tiền sử
dụng ma túy.

18


Tính tình thay đổi bất thường và theo chiều hướng xấu: có lúc lầm lỳ, ít
nói khi đói ma túy , ngược lại có lúc nói năng hoạt bát, cười đùa vô cớ, đó là
khi cơ thể đủ chất ma túy. Hay nói dối, có biểu hiện xa lánh người thân. Tính
tình trở nên hung bạo, thích nhảy “lắc” theo nhạc mạnh, nhạc càng mạnh thì
“lắc” càng nhanh lại không thấy mệt mỏi đối với người cai nghiện ma túy
kích thích thần kinh gây ảo giác).
Nếp sống sinh hoạt thay đổi, lối sống buông thả: thay đổi giấc ngủ
“thức đêm, ngủ ngày” hoặc “thức thâu đêm, suốt sáng đối với người cai
nghiện ma túy kích thích thần kinh. Mọi hứng thú của cuộc sống không thích
như xem ti vi, đọc sách báo, văn nghệ, chơi thể thao. Sống luộm thuộm, quần
áo bẩn thỉu, ngại tắm giặt. Trước đây không hút thuốc lá, bây giờ nghiện
thuốc lá, trong túi luôn kèm bật lửa, giấy bạc.
Sức khoẻ giảm sút: người gầy, sút cân. Khi ngủ dậy có những dấu hiệu
chảy nước mắt, ngáp vặt, nổi da gà do cơ thể thiếu ma túy.
Khả năng lao động học tập giảm: hiệu quả lao động, kết quả học tập bị
giảm sút. Lười lao động, bỏ trễ công việc, vô ý thức kỷ luật trong lao động,
học tập. Học sinh ngồi học hay ngủ gật, hay bỏ ra ngoài trong giờ học, trốn
học…
Hay tụ tập đàn đúm với những bạn bè xấu, nghiện ma túy: tụ tập đàn
đúm với bạn bè xấu, với người đã nghiện ma túy ở phòng kín, nơi vắng người,
thường xuyên cùng đi đến địa bàn có tụ điểm tổ chức sử dụng, buôn bán ma
túy; hay đi với bạn bè xấu tới các vũ trường, quán karaoke thâu đêm.
Dấu hiệu khẳng định người thân đã nghiện ma túy: Xuất hiện hội chứng
cai (nếu nghiện thuốc phiện hoặc heroin), hoặc rối loạn tâm thần (nếu nghiện
ma túy kích thích thần kinh gây ảo giác); xét nghiệm tìm chất ma túy trong
nước tiểu hoặc trong máu cho kết quả dương tính.

19


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×