Tải bản đầy đủ

Dịch vụ công tác xã hội đối với phụ nữ nuôi con nhỏ bị sang chấn tâm lý từ thực tiễn 3 quận sơn trà, hải châu, thanh khê, thành phố đà nẵng

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRƢƠNG THỊ NHƢ HOA

DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI PHỤ NỮ
NUÔI CON NHỎ BỊ SANG CHẤN TÂM LÝ
TỪ THỰC TIỄN 3 QUẬN SƠN TRÀ, HẢI CHÂU,
THANH KHÊ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

HÀ NỘI, 2016


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRƢƠNG THỊ NHƢ HOA


DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI PHỤ NỮ
NUÔI CON NHỎ BỊ SANG CHẤN TÂM LÝ
TỪ THỰC TIỄN 3 QUẬN SƠN TRÀ, HẢI CHÂU,
THANH KHÊ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Chuyên ngành : Công tác xã hội
Mã số

: 60 90 01 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS TS. NGUYỄN THỊ MAI LAN

HÀ NỘI, 2016


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn Thạc sĩ
Công tác xã hội về “Dịch vụ công tác xã hội đối với phụ nữ nuôi con nhỏ bị sang
chấn tâm lý từ thực tiễn 3 quận Sơn Trà, Hải Châu, Thanh Khê, thành phố Đà
Nẵng” là hoàn toàn trung thực và không trùng lặp với các đề tài khác trong cùng
lĩnh vực.
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này.
Tác giả luận văn

Trƣơng Thị Nhƣ Hoa


LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian thực hiện đề tài nghiên cứu luận văn tốt nghiệp, bản thân tôi
cũng gặp một số khó khăn nhất định về thời gian, xử lý số liệu mẫu thống kê, kỹ
thuật phân tích số liệu, chọn mẫu nghiên cứu,... Tuy nhiên, tôi đã được sự hướng
dẫn, giúp đỡ tận tình, cũng như sự khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi của thầy
cô, gia đình và bạn bè trong suốt quá trình nghiên cứu.
Với tấm lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin bày tỏ lòng cám ơn chân thành đến thầy
cô, gia đình và bạn bè đã hỗ trợ tôi hoàn thành luận văn này. Đặc biệt, tôi xin trân
trọng gửi lời cảm ơn PGS TS. Nguyễn Thị Mai Lan đã hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong

quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn.
Xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo, các chuyên gia trên lĩnh vực công
tác xã hội, các bệnh viện trung tâm y tế và mạng lưới cán bộ xã hội tại các địa bàn
nghiên cứu đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu.
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình và bạn bè đã động viên, nhiệt
tình hỗ trợ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu.
Dù đã có nhiều cố gắng, song chắc chắn không thể tránh khỏi thiếu sót. Tôi
rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của quý thầy giáo, cô giáo, các nhà khoa
học để luận văn của tôi được hoàn chỉnh.
Đà Nẵng, tháng 6 năm 2016
Tác giả

Trƣơng Thị Nhƣ Hoa


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ................................................................................................................ 1
Chƣơng 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ
HỘIĐỐI VỚI PHỤ NỮ NUÔI CON NHỎ BỊ SANG CHẤN TÂM LÝ ............ 15
1.1. Lý luận về phụ nữ nuôi con nhỏ bị sang chấn tâm lý ........................................ 15
1.2. Lý luận về dịch vụ công tác xã hội đối với phụ nữ nuôi con nhỏ bị sang chấn
tâm lý ......................................................................................................................... 22
1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến dịch vụ công tác xã hội đối với phụ nữ nuôi con nhỏ
bị sang chấn tâm lý .................................................................................................... 33
1.4. Cơ sở pháp lý về dịch vụ công tác xã hội trong chăm sóc sức khỏe tâm thần... 36
Chƣơng 2: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI
VỚI PHỤ NỮ NUÔI CON NHỎ BỊ SANG CHẤN TÂM LÝ TỪ THỰC TIỄN 3
QUẬN SƠN TRÀ, HẢI CHÂU, THANH KHÊ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG. ..... 40
2.1. Vài nét về địa bàn nghiên cứu ............................................................................ 40
2.2. Thực trạng về khách thể nghiên cứu của đề tài .................................................. 42
2.3. Thực trạng dịch vụ công tác xã hội đối với phụ nữ nuôi con nhỏ bị sang chấn
tâm lý tại 3 quận Hải Châu, Thanh Khê, Sơn Trà ..................................................... 46
2.4. Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến dịch vụ công tác xã hội đối với phụ nữ
nuôi con nhỏ bị sang chấn tâm lý .............................................................................. 55
Chƣơng 3: CÁC BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI
ĐỐI VỚI PHỤ NỮ NUÔI CON NHỎ BỊ SANG CHẤN TÂM LÝ .................. 58
3.1. Biện pháp 1: Truyền thông nâng cao nhận thức cộng đồng .............................. 58
3.2. Biện pháp 2: Nghiên cứu đề xuất mô hình ......................................................... 59
3.3. Biện pháp 3: Đào tạo nâng cao năng lực............................................................ 64
3.4. Biện pháp 4: Cơ chế chính sách ......................................................................... 66
3.5. Biện pháp 5: Tăng cường công tác Bình đẳng giới và phòng chống BLGĐ ..... 69
KẾT LUẬN .......................................................................................................... 71


DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1. Số phụ nữ nuôi con nhỏ bị sang chấn chia theo độ tuổi .................... 43
Bảng 2.2. Trình độ chuyên môn của phụ nữ nuôi con nhỏ bị sang chấn tâm lý . 43
Bảng 2.3. Tỷ lệ việc làm của phụ nữ nuôi con nhỏ bị sang chấn tâm lý (%) .... 44
Bảng 2.4. Số lần sinh con của phụ nữ nuôi con nhỏ bị sang chân tâm lý.......... 44
Bảng 2.5. Hoàn cảnh kinh tế của phụ nữ nuôi con nhỏ bị sang chấn tâm lý ..... 45
Bảng 2.6. Nguyên nhân gây sang chấn tâm lý ở phụ nữ nuôi con nhỏ ............. 46
Bảng 2.7. Các hoạt động tư vấn, giáo dục xã hội đã được nhận và nhu cầu sử
dụng ...................................................................................................................... 47
Bảng 2.8. Đánh giá kết quả các dịch vụ tư vấn, giáo dục xã hội đã được nhận 48
Bảng 2.9. Các hoạt động hỗ trợ tham vấn, trị liệu tâm lý đã được nhận và nhu
cầu sử dụng .......................................................................................................... 49
Bảng 2.10. Đánh giá kết quả các hỗ trợ tham vấn, trị liệu rối nhiễu tâm trí đã
được nhận............................................................................................................. 51
Bảng 2.11. Các hoạt động quản lý trường hợp đã nhận được và nhu cầu sử
dụng ..................................................................................................................... 52
Bảng 2.12. Đánh giá kết quả các hỗ trợ quản lý trường hợp đã được nhận ...... 53
Bảng 2.13. Đánh giá về các yếu tố ảnh hưởng đến dịch vụ công tác xã hội đối
với phụ nữ nuôi con nhỏ bị sang chấn tâm lý trên địa bàn khảo sát .................. 56


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cùng với sự phát triển nhanh chóng của xã hội loài người, dịch vụ công tác
xã hội đã ngày càng trở nên cần thiết, góp phần tạo ra môi trường sống tốt hơn và an
toàn hơn trong bối cảnh con người luôn phải đối mặt với nhiều sự thay đổi, các mối
quan hệ xã hội, sự tác động của môi trường sống và thiên nhiên. Điều đó đòi hỏi
phải có những dịch vụ tốt và hiệu quả để đáp ứng được những nhu cầu của thực tiễn
hiện nay.
Dịch vụ công tác xã hội là hoạt động chuyên nghiệp cung cấp các hoạt động
hỗ trợ về tinh thần hay vật chất cho những người gặp hoàn cảnh khó khăn như
người nghèo, người khuyết tật, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, người già, người là
nạn nhân của bạo lực..., hoặc những người có nhu cầu hỗ trợ về mặt tâm lý xã hội,
trợ giúp pháp lý nhằm giảm thiểu những rào cản, những bất công và bất bình đẳng
trong xã hội.
Đối với phụ nữ nuôi con nhỏ, nhóm đối tượng dễ bị những sang chấn về mặt
tâm lý, đang rất cần sự hỗ trợ của các dịch vụ công tác xã hội. Sức khỏe tinh thần
của họ có ảnh hưởng đặc biệt đến sự phát triển về thể chất và tâm sinh lý trẻ em.
Sang chấn tâm lý sau sinh cũng là một trong những nguyên nhân của các rối loạn
tâm thần, trong đó có bệnh trầm cảm. Một căn bệnh khá phổ biến hiện nay và cũng
là nguyên nhân của những căn bệnh thực thể khác, làm ảnh hưởng đến chất lượng
sống của chính phụ nữ, trẻ em và những người thân trong gia đình, cộng đồng.
Ở Việt Nam, mặc dù Đề án 32 của Chính phủ ra đời năm 2010, với những
giải pháp đột phá nhằm thúc đẩy nghề Công tác xã hội phát triển. Theo sau đó là Đề
án 1215 về trợ giúp xã hội cho người bị rối nhiễu tâm trí, người bệnh tâm thần hòa
nhập cộng đồng cũng đã triển khai ở một số tỉnh thành. Song có thể nói những dịch
vụ Công tác xã hội hiện nay còn rất sơ khai. Các Trung tâm Công tác xã hội ra đời,
bước đầu cũng chỉ dừng lại ở những hoạt động truyền thông nâng cao nhận thức
cộng đồng về nghề Công tác xã hội. Những dịch vụ Công tác xã hội cũng chỉ mới
đáp ứng được một phần nhỏ nhu cầu của nhóm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, hay
rộng hơn là đến với những người khuyết tật khó khăn cần trợ giúp việc làm ...
1


Dịch vụ công tác xã hội cũng chỉ được phát triển ở các cơ sở cung cấp dịch
vụ xã hội của ngành lao động – thương binh và xã hội, chưa được triển khai sâu
rộng, đồng bộ ở các ngành liên quan khác như y tế, giáo dục, tư pháp ... dẫn đến
nhóm đối tượng gần gũi nhất với các dịch vụ của ngành y tế là phụ nữ mang thai,
nuôi con nhỏ ... chưa có cơ hội để tiếp cận và thụ hưởng các dịch vụ công tác xã hội
trong chăm sóc sức khỏe tâm thần. Sự thiếu vắng một hệ thống dịch vụ xã hội
chuyên nghiệp, liên tục, hiệu quả, có khả năng đáp ứng đầy đủ nhu cầu của các
nhóm dễ bị tổn thương càng khiến cho phụ nữ mang thai, nuôi con nhỏ và kể cả trẻ
em dễ rơi vào hoàn cảnh khó khăn hơn.
Với một số vai trò của Công tác xã hội là: thúc đẩy thay đổi xã hội, giải
quyết vấn đề, con người và môi trường, nâng cao năng lực, dịch vụ công tác xã hội
sẽ tác động, can thiệp tới nhóm phụ nữ nuôi con nhỏ bị sang chấn tâm lý một cách
khoa học và chuyên nghiệp sẽ đóng góp nhiều cho việc cải thiện chất lượng công
tác chăm sóc bảo vệ phụ nữ và trẻ em.
Quận Sơn Trà, Hải Châu và Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng là 3 quận thời
gian qua được sự quan tâm của Unicef đầu tư xây dựng mô hình “Phường làm tốt
công tác xã hội với trẻ em” từ năm 2013 đến nay. Các ngành, địa phương trên địa
bàn đã từng bước tiếp cận với các dịch vụ công tác xã hội cho trẻ em. Cán bộ các
ngành liên quan như phụ nữ, y tế, giáo dục … được bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng
về nghề công tác xã hội. Đây là nguồn nhân lực có thể hỗ trợ trong việc nghiên cứu
khảo sát về số liệu phụ nữ nuôi con nhỏ bị sang chấn tâm lý tại 3 địa phương và
nắm bắt được nhu cầu sử dụng dịch vụ công tác xã hội của họ. Qua đó cũng sẽ giúp
cho Trung tâm Cung cấp Dịch vụ Công tác xã hội Đà Nẵng có cơ hội tuyên truyền
và cung cấp các Dịch vụ công tác xã hội đến các nhóm đối tượng yếu thế, trong đó
có phụ nữ nuôi con nhỏ bị sang chấn tâm lý.
Xuất phát từ những lý do trên, tác giả chọn đề tài: “Dịch vụ công tác xã hội
đối với phụ nữ nuôi con nhỏ bị sang chấn tâm lý từ thực tiễn 3 quận Sơn Trà,
Hải Châu, Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng” làm luận văn tốt nghiệp.

2


2. Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
Kể từ khi đề án 32 và đề án 1215 của chính phủ ra đời, các loại hình dịch vụ
công tác xã hội và các nhóm đối tượng yếu thế, nguy cơ cao bị rối nhiễu tâm trí như
phụ nữ sau sinh và các vấn đề của họ nhận được sự quan tâm đặc biệt của các nhà
khoa học, nhà nghiên cứu và các chuyên gia trong và ngoài nước. Tuy nhiên, các đề
tài nghiên cứu về sang chấn tâm lý vẫn còn ở mức độ hạn chế.
2.1. Các nghiên cứu về sang chấn tâm lý ở trong nước và quốc tế
Sang chấn tâm lý là một chủ đề khá phổ biến ở nước ngoài, có rất nhiều tài
liệu nghiên cứu và hướng dẫn trị liệu sang chấn tâm lý. Điển hình như:
Sách hướng dẫn Trị liệu sang chấn tập trung vào trẻ em, tác giả Atle
Dyregrow và Magne Raundalen – Trung tâm Tâm lý học khủng hoảng Nauy cho
chúng thấy một bức tranh khá tổng quát về các sự kiện dễ gây ra sang chấn, hậu quả
của nó và các kỹ thuật giúp trẻ em vượt qua sang chấn tâm lý. Tác giả đã nêu:
“Nhiều người bị tổn thương (sang chấn tâm lý) sẽ gặp các triệu chứng tâm thần
hoặc rối loạn khác thay vì các vấn đề sau sang chấn như là stess (căng thẳng). Một
số trở nên trầm cảm, rối loạn lo âu, hoảng loạn, lạm dụng thuốc, rối loạn ăn uống
v.v. Bởi vì các sự kiện sang chấn thường mang tính chất cực đoan, những hậu quả
về tinh thần có thể rất sâu sắc, và các vấn đề có thể nhiều và rất phức tạp” …[6, tr.7]
Hay tác giả Amie Alley Pollack -Đại học Vanderbil đã soạn thảo Chương trình
tập huấn cho nhân viên công tác xã hội trong chăm sóc sức khỏe tâm thần cho trẻ em
và thanh niên, cũng đã đưa ra một bằng chứng một nghiên cứu khoa học ở Mỹ về mối
liên quan giữa sự kiện sang chấn tâm lý thời thơ ấu với những rối loạn về mặt sức
khỏe tâm thần khi trưởng thành, như là trầm cảm, lạm dụng chất, bệnh tim, bạo lực
với bạn tình, có thai ở tuổi vị thành niên hay liên quan đến tự sát... [22, tr.84]
Ở Việt Nam, thì đây vẫn còn là một đề tài chưa được nhiều công trình nghiên
cứu. Chỉ có một số bài dịch từ tài liệu nước ngoài. Tuy nhiên, tại hội thảo quốc tế
“Chia sẻ kinh nghiệm quốc tế về công tác xã hội và an sinh xã hội” năm 2012, hai
tác giả cùng tên Trần Thu Hương cũng đưa ra một cái nhìn lý thuyết về khái niệm
“Tổn thương tâm lý”. Qua đó tác giả cũng khuyến nghị rằng “khái niệm tổn thương

3


tâm lý nên được xem là một khái niệm bao trùm, cần được đi sâu nghiên cứu trong
công tác xã hội nói chung … và công tác xã hội với sức khỏe tâm thần”. [11, tr.621]
2.2. Các nghiên cứu về sang chấn tâm lý sau sinh và hậu quả của nó
2.2.1. Trên thế giới
Từ những năm 1997, tác giả J. Laurence Reynolds, MD, MSc đã có công
trình nghiên cứu về sang chấn tâm lý sau sinh của phụ nữ Post – traumatic stress
discorder after childbirth: the phenomenon of traumatic birth. Ông chỉ ra rằng
“Sang chấn tâm lý là hậu quả của sự mang thai và quá trình sinh nở”. Đồng thời
trong nghiên cứu cũng có nêu “những phụ nữ có kiểu thần kinh ưu tư, cuộc sống
khá phức tạp khi mang thai, giao tiếp kém hoặc bị cô lập sau sinh … dễ bị sang
chấn hay tổn thương tâm lý”. [34, tr.831]
Và đến năm 2004, tác giả Beck, Cheryl Tatano cũng có công trình nghiên
cứu Post-Traumatic Stress Disorder Due to Childbirth: The Aftermathvà có kết
luận tương tự “Sinh đẻ là một tác nhân bậc nhất gây sang chấn tâm lý cho phụ nữ”.
Cụ thể các tác nhân gây sang chấn như là gặp sự cố khi sinh, tâm lý sợ sinh hoặc ám
ảnh quá trình chuyển dạ, sinh nở, nuôi con vất vả vượt quá sự mong đợi, hoặc ít có
sự hỗ trợ xã hội sau sinh. [35, tr.216]
2.2.2. Tại Việt Nam
Hiện nay chưa có nhiều công trình nghiên cứu về sang chấn tâm lý của phụ
nữ sau sinh. Chỉ có các công trình nghiên cứu khác liên quan như : công trình
nghiên cứu về “Một số biến đổi tâm lý của phụ nữ sau sinh con” của tác giả
Nguyễn Linh Trang – Trung tâm Nghiên cứu về Phụ nữ thuộc Đại học Quốc gia Hà
Nội. Trong bài viết, tác giả đã chia sẻ “sau khi sinh đời sống tinh thần của phụ nữ
thường có nhiều thay đổi và xáo trộn. Tuy nhiên nhiều phụ nữ chưa chuẩn bị tâm lý
cho vấn đề này, do đó thường dễ rơi vào các “sang chấn tâm lý”, thậm chí một số
rối loạn tâm thần. [31, tr.8]
Sang chấn tâm lý sau sinh nếu không được hỗ trợ kịp thời một số người sẽ
phát triển thành các rối loạn tâm thần như trầm cảm, stress sau sang chấn hoặc các
vấn đề liên quan đến rượu, ma túy. [24] Hiện tượng rối nhiễu tâm trí ở phụ nữ sau

4


sinh được nhận biết ngay từ thời Hy Lạp cổ, được cho là một trong những quan sát
y tế sớm nhất về bệnh hậu sản cho đến nay. [7, tr.253]
Liên quan đến thực trạng rối nhiễu tâm lý sau sinh, thì lại có rất nhiều công
trình nghiên cứu. Cụ thể như:
- Tháng 11 năm 2009, tác giả Trần Tuấn, Trung tâm Nghiên cứu và đào tạo
phát triển cộng đồng (RTCCD), đã đưa ra khung kết quả khảo sát về tỷ lệ rối nhiễu
tâm trí ở phụ nữ mang thai và sau sinh thuộc các tỉnh, thành tại hội thảo quốc tế về
phát triển nghề công tác xã hội tại Đà Nẵng, như sau: [29]
Địa điểm nghiên cứu

Nhóm

đối

tƣợng



cỡ mẫu nghiên cứu

Tỷ lệ

31 xã thuộc 5 tỉnh Lao Cai, Hưng 1000 bà mẹ đang nuôi con nhỏ 6
Yên, Đà Nẵng, Phú Yên, Bến Tre tháng đến 17 tháng tuổi

20%

(chương trình nghiên cứu Young
Lives, 2001-2005)
Hà Nam: 234 phụ nữ có thai 3
tháng cuối hoặc mới sinh con 33%
Hà Nam và Hà Nội (mẫu ngẫu nhiên trong vòng 2 tháng
6 xã ở Hà Nam và 4 phường ở Hà Hà Nội: 364 phụ nữ có thai 3
Nội; Đại học Melbourne-RTCCD, tháng cuối hoặc mới sinh con 22%
2008)

trong vòng 2 tháng

- Năm 2014, tác giả Trần Thị Minh Đức và đồng nghiệp khảo sát 1.134 phụ nữ
sinh con trong vòng 12 tháng, cho kết quả 15,5% phụ nữ sau sinh mắc trầm cảm,
7,6% phụ nữ có rối loạn lo âu. [5, tr.254]
2.2.3. Ở Đà Nẵng
Gần như ở Đà Nẵng đến nay chưa có một công trình nào nghiên cứu về vấn đề
sang chấn tâm lý sau sinh của phụ nữ.
Tác giả chỉ biết một nghiên cứu duy nhất được thực hiện tại 10 phường chọn
mẫu ngẫu nhiên ở quận Hải Châu, Đà Nẵng vào năm 2014 của nhóm tác giả Kim
5


Hoa, Thắng, Dunne và Linda về thực trạng rối loạn tâm thần sau sinh của phụ nữ.
Phỏng vấn trực tiếp 600 bà mẹ có chồng sau sinh từ 4 tuần đến 6 tháng theo bộ câu
hỏi sàng lọc bằng thang điểm EPDS với điểm cắt 13, cho kết quả tỷ lệ trầm cảm sau
sinh là 19,3%. [8]
Thực trạng sang chấn tâm lý và rối nhiễu tâm trí ở phụ nữ sau sinh tại Việt
Nam đang báo động, nhưng thực tế công tác chăm sóc sức khỏe tâm thần cho đối
tượng này đã và đang được quan tâm như thế nào ?
2.3. Nghiên cứu về thực trạng công tác chăm sóc sức khỏe tâm thần cho
phụ nữ sau sinh ở các bệnh viện của Việt Nam
Tác giả Trần Thị Minh Đức, báo cáo tại Hội thảo khoa học quốc tế tổ chức ở
thành phố Hồ Chí Minh tháng 2 năm 2016: {hiện nay, tại các bệnh viện sản, phòng
hộ sinh đều luôn trong tình trạng chật ứ sản phụ. Việc thăm khám, hỗ trợ can thiệp
cho sản phụ chu sinh có vấn đề rối nhiễu tâm lý hầu như đều không được quan tâm.
Các bác sĩ tại bệnh viện không có đủ thời gian và kiến thức để trò chuyện, lắng
nghe và tham vấn tâm lý cho sản phụ…}.Tác giả chia sẻ “có thể nói, tại các bệnh
viện, phòng khám hầu như không có ai chăm sóc tâm lý cho phụ nữ sau sinh nói
riêng và người có rối nhiễu tâm trí nói chung”. [7,tr.255]
Qua các ý kiến trên, có thể thấy nhu cầu chăm sóc sức khỏe tâm thần cho phụ nữ
bị rối nhiễu tâm trí sau sinh trong các bệnh viện của Việt Nam chưa được đáp ứng.
2.4. Các nghiên cứu về mô hình chăm sóc sức khỏe tâm thần cho phụ nữ
mang thai, nuôi con nhỏ dựa vào cộng đồng của các tổ chức phi chính phủ ở
Việt Nam
Hai tác giả Nguyễn Văn Hồi và Trần Tuấn đã sàng lọc 80 tổ chức và chọn
nghiên cứu 6 tổ chức đạt tiêu chuẩn có mô hình cung cấp dịch vụ chăm sóc sức
khỏe tâm thần ở Việt Nam với sự đầu tư của các tổ chức phi chính phủ trong nước
(VNGO). Nghiên cứu rút ra nhiều kết luận và khuyến cáo như sau “mặc dù còn ở
quy mô rất nhỏ, sự năng động và sáng tạo của các tổ chức VNGO trong chăm sóc
sức khỏe tâm thần đã có ảnh hưởng đến sự phát triển hệ thống chăm sóc sức khỏe
tâm thần ở Việt Nam trong những năm qua, đáp ứng trực tiếp các nhu cầu phổ biến

6


và căn bản về chăm sóc sức khỏe tâm thần của người dân, đặc biệt là mảng mà hệ
thống y tế công chưa với tới được. Các VNGO cung cấp mô hình can thiệp phù hợp
với chiến lược dự phòng, điều trị sớm bệnh tâm thần theo mô hình chăm sóc sức
khỏe tâm thần dựa vào cộng đồng qua việc tập trung vào tư vấn, sàng lọc phát hiện
sớm và điều trị rối nhiếu tâm trí, đặc biệt với các đối tượng phụ nữ mang thai, phụ
nữ mới sinh con, trẻ em…[10,tr.9]
Tuy nhiên, nghiên cứu cũng cho rằng “Phòng khám Tuna thuộc trung tâm
RTCCD cũng là một mô hình sáng tạo khi đi vào tư vấn dự phòng, điều trị rối nhiễu
tâm trí bà mẹ và trẻ em. Phòng khám có một chiến lược thiết kế rõ ràng, tập trung
vào dự phòng, phát hiện sớm, điều trị sớm…sau 6 năm hoạt động số nhân viên tăng
gấp đôi…nhưng mảng chăm sóc sức khỏe tâm thần cho bà mẹ chưa được triển
khai”.[9, tr.26] Nguyên nhân của việc hạn chế đó là “…cần kinh phí để hoàn thiện,
đánh giá khoa học và đưa vào vận động chính sách phát triển nhân rộng”[9, tr.35].
Từ đây, chúng ta nhận thấy rằng đã có nhiều mô hình cung cấp dịch vụ chăm
sóc sức khỏe tâm thần cho bà mẹ và trẻ em tại cộng đồng, bước đầu mang lại hiệu
quả và đáp ứng được nhu cầu của người dân nhưng mang tính nhỏ lẻ, chưa thể nhân
rộng nếu chưa có sự thay đổi lớn từ môi trường chính sách chăm sóc sức khỏe tâm
thần tại Việt Nam.
2.5. Các nghiên cứu về dịch vụ xã hội, nhu cầu sử dụng dịch vụ và mạng
lưới các cơ sở cung cấp dịch vụ công tác xã hội ở Việt Nam hiện nay
Nghiên cứu về vấn đề này, tác giả Bùi Thị Xuân Mai trong công trình nghiên
cứu về “Thực trạng mạng lưới dịch vụ xã hội ởViệt Nam – Những khuyến nghị giải
pháp” [18, tr.131] cho rằng ước tính ở Việt Nam hiện nay có khoảng 28% dân số có
nhu cầu sử dụng dịch vụ công tác xã hội. Nhóm đối tượng tiếp cận dịch vụ do trung
tâm công tác xã hội cung cấp bao gồm những người dân có nhu cầu tại cộng đồng.
Tính chất các dịch vụ công tác xã hội cần phong phú hơn, không chỉ là chế độ chính
sách mà bao gồm quản lý ca, tham vấn, tư vấn, can thiệp trị liệu nhóm, vãng gia,
truyền thông cộng đồng …[18, tr.133]. Tác giả khuyến nghị cần phát triển các loại
hình dịch vụ chăm sóc y tế, sức khỏe, chăm sóc tâm lý, tinh thần và hòa nhập cộng
đồng; phát triển dịch vụ ở quy mô toàn quốc, tập trung nơi đông dân

7


cư…[18,tr.135]. Đồng thời, tiếp tục đổi mới cơ chế chính sách nhằm phát triển
dịch vụ công tác xã hội, khuyến khích thành lập các cơ sở cung cấp dịch vụ
ngoài công lập [18,tr.137].
Tương tự, tác giả Nguyễn Thị Thái Lan cùng cộng sự trong bài viết “Chuyên
nghiệp hóa các dịch vụ công tác xã hội ở Việt Nam: Thực trạng và nhu cầu” [14,
tr.186] đã đưa ra 3 thách thức ảnh hưởng đến việc phát triển các dịch vụ công tác xã
hội chuyên nghiệp ở Việt Nam: (1) thể chế hóa các dịch vụ công tác xã hội trong
các cơ sở cung cấp các dịch vụ chăm sóc xã hội; (2) tự phát triển các dịch vụ
chuyên nghiệp phù hợp với bối cảnh văn hóa, kinh tế, chính trị và môi trường của
Việt Nam dựa trên bài học của các nước khác; (3) hoàn thiện khung pháp lý và quy
điều đạo đức nghề nghiệp. Đây là khung chiến lược giúp cho các dịch vụ công tác
xã hội phát triển theo hướng chuyên nghiệp và phù hợp với xu hướng của thế
giới.[14,tr.190]
Tác giả Hà Thị Thư có một cách tiếp cận khác khi nghiên cứu về dịch vụ công
tác xã hội. Trong báo cáo tham luận “Sự chuyên nghiệp trong dịch vụ Công tác xã
hội đối với các nhóm đối tượng yếu thế”tác giả đã chỉ ra rằng “thực hiện dịch vụ
công tác xã hội cần có sự nối kết chặt chẽ với các dịch vụ xã khác như cácdịch vụ y
tế, dịch vụ giáo dục, dịch vụ truyền thông khác”. [28, tr.195]
Các nghiên cứu trên cho thấy tính liên ngành trong công tác xã hội cần phải
phát triển mạnh mẽ hơn, cũng như sự liên tục và đồng bộ trong cung cấp dịch vụ
công tác xã hội.
2.6. Các nghiên cứu về thực trạng dịch vụ công tác xã hội trong các bệnh
viện hiện nay ở Việt Nam
Tác giả Lê Quang Sơn và Nguyễn Thị Hằng Phương – Đại học Sư phạm Đà
Nẵng đã có một nghiên cứu về công tác xã hội trong bệnh viện, tổng hợp những
mong muốn của người bệnh như sau: muốn được tư vấn tâm lý 66,7%, muốn được
giải tỏa cảm xúc 55,6%, muốn được chia sẻ về mặt tinh thần 66,6%, được đối xử
công bằng, tôn trọng 89,5%, có đội ngũ cán bộ chuyên trách hỗ trợ bệnh nhân về
mặt tinh thần 83,3%. Hai tác giả kết luận nênsớm đưa nhân viên công tác xã hội vào
trong bệnh viện vì bệnh viện là nơi cần nhân viên công tác xã hội hơn bất cứ nơi
nào khác,”. [25, tr.355]
8


Nghiên cứu các mô hình công tác xã hội bệnh viện tại Mỹ làm kinh nghiệm
cho phát triển ở Việt Nam, tác giả Nguyễn Thị Thanh Tùng cho rằng “Đề án phát
triển nghề công tác xã hội trong lĩnh vực y tế giai đoạn 2011-2020 của Bộ Y tế với
mục tiêu đến hết năm 2015 có 80% cơ sở y tế xây dựng kế hoạch triển khai hoạt
động công tác xã hội. Tuy nhiên thực tế, hầu hết các bệnh viện ở Việt Nam không có
phòng tham vấn tâm lý cho y bác sĩ, bệnh nhân và người nhà bệnh nhân… Một số
bệnh viện như Bệnh viện Nhi trung ương, Bệnh viện Chợ Rẫy, Bệnh viện nhân dân
115 có phòng tham vấn tâm lý nhưng chất lượng và hiệu quả công việc chuyên về
công tác xã hội thấp, còn thiếu nhân viên chuyên môn”. [30, tr.358]
Tác giả Trần Thị Minh Đức trong tham luận “Hỗ trợ cho phụ nữ sau sinh có
rối nhiễu tâm trí” cũng kết luận rằng “sự phối hợp của các chuyên gia tâm lý, nhân
viên công tác xã hội tại bệnh viện và các bác sĩ tâm thần, bác sĩ sản, bác sĩ gia đình
trong hỗ trợ, can thiệp cho phụ nữ sau sinh bị rối nhiễu tâm trí sẽ làm thuyên giảm
bệnh tật, ngăn ngừa lạm dụng thuốc và nâng ý thức cộng đồng trong việc bảo vệ và
chăm sóc sức khỏe tâm thần”. [7, tr.260]
Như vậy chúng ta có thể thấy rõ rằng cần phải có các phòng công tác xã hội
trong bệnh viện để đáp ứng nhu cầu hỗ trợ tâm lý xã hội cho bệnh nhân hiện nay.
2.7. Các nghiên cứu về vai trò của nhân viên công tác xã hội trong chăm
sóc sức khỏe tâm thần tại cộng đồng
Thời gian gần đây nổi trội các mô hình thử nghiệm dịch vụ công tác xã hội cho
bệnh nhân trầm cảm ở Thanh Hóa, Bến Tre, Hà Nội của Viện Dân số Sức khỏe và Phát
triển và thực hiện tương tự tại Quảng Ninh và Thái Nguyên với sự hỗ trợ của tổ chức phi
chính phủ hoạt động tại Việt Nam. Những thành công bước đầu đã cho thấy vai trò của
nhân viên công tác xã hội tại cộng đồng cùng sự phối hợp hỗ trợ của Trung tâm công tác
xã hội và các bệnh viện tâm thần trong chăm sóc sức khỏe tâm thần mang lại hiệu quả
cao và có thể sử dụng đội ngũ không chuyên ngành y để hỗ trợ người rối nhiễu tâm trí,
người bệnh tâm thần dựa vào cộng đồng. [7, tr.258]
Qua quá trình tổng quan một số công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài, có
thể thấy rằng phụ nữ và những vấn đề liên quan đến phụ nữ luôn là mối quan tâm của
cộng đồng quốc tế và của Đảng, Nhà nước Việt Nam. Tuy vậy, vấn đề sang chấn tâm
9


lý của phụ nữ sau sinh là khá phổ biến, song chưa có nhiều công trình nghiên cứu về
vấn đề này, kể cả ở trong nước và ngoài nước. Việc tiếp cận từ góc nhìn dịch vụ công
tác xã hội đối với chăm sóc sức khỏe tâm thần cho phụ nữ còn rất nhiều hạn chế, khó
khăn và thách thức, không chỉ ở Đà Nẵng mà trên phạm vi cả nước. Do vậy mà
những ý kiến trên đây là những gợi ý quý báu cho chúng tôi trong quá trình thực hiện
đề tài của mình.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về dịch vụ công tác xã hội
đối với phụ nữ nuôi con nhỏ bị sang chấn tâm lý từ thực tiễn 3 quận Sơn Trà, Hải
Châu, Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng. Từ đó, đề xuất các biện pháp nhằm phát
triển các loại hình dịch vụ công tác xã hội đối với phụ nữ nuôi con nhỏ bị sang chấn
tâm lý trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện được những mục tiêu nghiên cứu đã đề ra, luận văn tập trung giải
quyết những nhiệm vụ sau:
Nghiên cứu những vấn đề lý luận về dịch vụ công tác xã hội, sang chấn tâm lý,
những đặc điểm tâm lý của phụ nữ nuôi con nhỏ bị sang chấn tâm lý, dịch vụ công
tác xã hội đối với nhóm đối tượng yếu thế và các yếu tố ảnh hưởng đến việc cung
cấp dịch vụ công tác xã hội cho phụ nữ nuôi con nhỏ bị sang chấn tâm lý.
Tìm hiểu, đánh giá thực trạng phụ nữ nuôi con nhỏ bị sang chấn tâm lý tại 3
quận, cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến việc cung cấp và sử dụng dịch vụ công
tác xã hội đối với phụ nữ nuôi con nhỏ bị sang chấn tâm lý.
Đề xuất các biện pháp nhằm phát triển các loại hình dịch vụ công tác xã hội
đối với phụ nữ nuôi con nhỏ bị sang chấn tâm lý trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu dịch vụ công tác xã hội đối với phụ nữ nuôi con nhỏ bị sang chấn
tâm lý từ thực tiễn 3 quận Sơn Trà, Hải Châu, Thanh Khê.

10


4.2. Khách thể nghiên cứu
Nghiên cứu trên hai nhóm khách thể:
Thứ nhất, phụ nữ nuôi con nhỏ dưới 12 tháng tuổi có dấu hiệu sang chấn tâm
lý tại 3 quận Sơn Trà, Hải Châu, Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.
Thứ hai, nhân viên y tế ở các trung tâm y tế quận huyện và trạm y tế phường,
các nhân viên công tác xã hội ở các cơ sở cung cấp dịch vụ, các chuyên gia tâm lý,
công tác xã hội tại Việt Nam đang nghiên cứu về vấn đề sang chấn tâm lý của phụ
nữ sau sinh và thực trạng dịch vụ công tác xã hội ở Việt Nam.
4.3. Phạm vi nghiên cứu
* Phạm vi nghiên cứu về đối tượng
Đề tài tập trung nghiên cứu các dịch vụ công tác xã hội đối với phụ nữ nuôi
con nhỏ bị sang chấn tâm lý, cụ thể là: tư vấn, giáo dục xã hội phòng ngừa sang
chấn tâm lý; tham vấn/ trị liệu tâm lý; quản lý trường hợp đối với phụ nữ nuôi con
nhỏ bị sang chấn tâm lý.
* Phạm vi nghiên cứu về khách thể
- 90 phụ nữ nuôi con nhỏ dưới 12 tháng tuổi tại 3 quận Sơn Trà, Hải Châu,
Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng có dấu hiệu của sang chấn tâm lý sau sinh.
- Một số nhân viên các trung tâm y tế quận, trạm y tế phường và chuyên gia
tâm lý, công tác xã hội đầu ngành của cả nước.
* Phạm vi nghiên cứu về không gian: khảo sát tại 3 quận Sơn Trà, Hải Châu,
Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.
* Phạm vi nghiên cứu về thời gian: tiến hành nghiên cứu từ 01/2016 –
06/2016.
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Nghiên cứu trên cơ sở duy vật biện chứng: từ những đánh giá thực trạng về
sức khỏe tâm thần của phụ nữ nuôi con nhỏ, thực trạng của dịch vụ công tác xã hội
đối với phụ nữ nuôi con nhỏ bị sang chấn tâm lý từ thực tiễn 3 quận, rút ra được

11


những vấn đề lý luận và đưa ra được những đề xuất về các biện pháp nhằm phát
triển các loại hình dịch vụ công tác xã hội đối với phụ nữ nuôi con nhỏ bị sang chấn
tâm lý trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.
Nghiên cứu trên cơ sở duy vật lịch sử: đối tượng được nghiên cứu đánh giá
theo một trục thời gian nhất định và mang tính lịch sử rõ nét. Như vậy những vấn đề
liên quan trong đề tài nghiên cứu có sự so sánh đối chiếu theo lịch sử, đảm bảo tính
sát thực và toàn vẹn trong trình bày kết quả nghiên cứu.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
5.2.1. Phương pháp phân tích tài liệu
Sử dụng phương pháp phân tích tài liệu nhằm phân tích những công trình
nghiên cứu liên quan đến thực trạng phụ nữ bị sang chấn tâm lý sau sinh, các dịch
vụ hỗ trợ/chăm sóc sức khỏe tâm thần phụ nữ sau sinh tại cộng đồng, thực trạng
dịch vụ công tác xã hội ở Việt Nam hiện nay …
Phân tích các tài liệu, báo cáo của các cấp quản lý như báo cáo tổng kết năm
2015 của Cục Bảo trợ xã hội.
Tìm hiểu, đánh giá nhận xét tài liệu có liên quan đến các mô hình hỗ trợ đối với
phụ nữ bị sang chấn tâm lý sau sinh và các biện pháp can thiệp, hỗ trợ giúp đỡ họ.
5.2.2. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Với phương pháp điều tra bằng bảng hỏi, đề tài sẽ phát bảng hỏi dành cho 300
phụ nữ nuôi con nhỏ dưới 12 tháng tuổi có dấu hiệu trầm cảm tại 3 quận Sơn Trà,
Hải Châu, Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng để phát hiện số phụ nữ có nguyên nhân
trầm cảm từ những sang chấn tâm lý sau sinh; tìm hiểu về thực trạng đời sống tinh
thần và nhu cầu sử dụng dịch vụ xã hội của 90 phụ nữ nuôi con nhỏ bị sang chấn
tâm lý; tìm hiểu về thực trạng dịch vụ công tác xã hội tại các cơ sở cung cấp dịch vụ
liên quan … cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động cung cấp dịch vụ công
tác xã hội đối với phụ nữ nuôi con nhỏ trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.
5.2.3. Phương pháp phỏng vấn sâu
Tác giả sử dụng phương pháp này với mục đích nhằm tìm hiểu, thu thập thông
tin chuyên sâu về thực trạng dịch vụ công tác xã hội trong chăm sóc sức khỏe tâm

12


thần nói chung và dịch vụ công tác xã hội đối với phụ nữ nuôi con nhỏ bị sang chấn
tâm lý nói riêng trên địa bàn thành phố Đà Nẵng và những nhận định của các
chuyên gia trên các lĩnh vực chăm sóc sức khỏe tâm thần, công tác xã hội về sự cần
thiết cần thúc đẩy phát triển các dịch vụ công tác xã hội cho nhóm phụ nữ nuôi con
nhỏ bị sang chấn tâm lý.
5.2.4. Phương pháp nghiên cứu trường hợp
Tác giả sử dụng phương pháp này để làm bằng chứng minh họa cho tính hiệu
quả của các dịch vụ công tác xã hội sẽ được đề xuất trong nghiên cứu ứng dụng của
đề tài. Cụ thể sẽ thực hành một trường hợp cụ thể, được sử dụng các dịch vụ như
quản lý trường hợp đối với phụ nữ nghèo bị sang chấn tâm lý sau sinh, trong đó bao
gồm các dịch vụ tham vấn trị liệu tâm lý, hỗ trợ xã hội để phục hồi cho phụ nữ nuôi
con nhỏ bị sang chấn tâm lý. Và một trường hợp cụ thể khác được trích dẫn từ một
công trình nghiên cứu được tham khảo.
5.2.5. Phương pháp xử lý số liệu
Đề tài sử dụng phần mềm SPSS 16.0 xử lý số liệu, đưa ra những số liệu chính
xác nhất cho nghiên cứu.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Luận văn nghiên cứu và làm sáng tỏ lý luận về dịch vụ công tác xã hội đối với
phụ nữ nuôi con nhỏ bị sang chấn tâm lý từ thực tiễn 3 quận Sơn Trà, Hải Châu,
Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng, qua đó bổ sung và làm phong phú thêm về cách
nhìn nhận, đánh giá về các loại hình dịch vụ công tác xã hội trong chăm sóc sức
khỏe tâm thần cho phụ nữ nuôi con nhỏ bị sang chấn tâm lý nói riêng và cho phụ nữ
và trẻ em nói chung.
Là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích đối với các học giả, nhà khoa học, nhà
nghiên cứu, chuyên gia quan tâm đến lĩnh vực chăm sóc sức khỏe tâm thần nói
chung và dịch vụ công tác xã hội đối với người yếu thế nói riêng.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Nghiên cứu cung cấp lăng kính tương đối đầy đủ về thực trạng phụ nữ nuôi
con nhỏ bị sang chấn tâm lý và các dịch vụ công tác xã hội đối với người yếu thế ở
13


thành phố Đà Nẵng nói riêng và trên cả nước nói chung. Trên cơ sở đó, gợi ý một số
biện pháp hỗ trợ nhằm tạo điều kiện tốt hơn cho phụ nữ nuôi con nhỏ bị sang chấn
tâm lý tiếp cận với các chính sách, dịch vụ dành cho người yếu thế, để có thể phục
hồi và nâng cao chất lượng cuộc sống. Đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm phát
triển các loại hình dịch vụ công tác xã hội đối với phụ nữ nuôi con nhỏ bị sang chấn
tâm lý nói riêng và đối với người yếu thế nói chung.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phần nội
dung của luận văn được chia làm ba chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về dịch vụ công tác xã hội đối với phụ nữ nuôi con
nhỏ bị sang chấn tâm lý.
Chương 2: Kết quả nghiên cứu dịch vụ công tác xã hội đối với phụ nữ nuôi
con nhỏ bị sang chấn tâm lý từ thực tiễn 3 quận Sơn Trà, Hải Châu, Thanh Khê,
thành phố Đà Nẵng.
Chương 3: Các biện pháp phát triển dịch vụ công tác xã hội đối với phụ nữ
nuôi con nhỏ bị sang chấn tâm lý.

14


Chƣơng 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI
ĐỐI VỚI PHỤ NỮ NUÔI CON NHỎ BỊ SANG CHẤN TÂM LÝ
1.1. Lý luận về phụ nữ nuôi con nhỏ bị sang chấn tâm lý
1.1.1. Khái niệm về phụ nữ nuôi con nhỏ
* Khái niệm phụ nữ
Theo từ điển Việt Nam “phụ nữ” là một danh từ chỉ người lớn thuộc giới
tính nữ. [37]
* Khái niệm phụ nữ nuôi con nhỏ
“Phụ nữ nuôi con nhỏ” trong phạm vi của đề tài tác giả muốn giới hạn đó là
nhóm nữ giới đã sinh con và đang chăm sóc con nhỏ dưới 12 tháng tuổi.
Đây là giai đoạn có ý nghĩa quan trọng đối với phụ nữ. Đồng thời, cũng là
giai đoạn phát triển có ý nghĩa quyết định trong việc hình thành và hoàn thiện nhân
cách của trẻ. Sức khỏe tinh thần của người mẹ giai đoạn này sẽ có những ảnh hưởng
nhất định đến “tâm lý” của trẻ.
* Đặc điểm tâm lý của phụ nữ nuôi con nhỏ
Sinh nở là một thời kỳ xảy ra nhiều thay đổi về sinh lý và tâm lý trong đời
sống của người phụ nữ. Theo y học, việc sinh nở khiến lượng hoocmon có trong cơ
thể người phụ nữ thay đổi mạnh mẽ làm cho họ rơi vào trạng thái mất cân bằng sinh
lý, tạo nên những biến đổi về tâm lý ở các mức độ khác nhau từ một vài ngày đến
nhiều ngày hoặc nhiều tuần. [31, tr.48]
Những biến đổi tâm lý của phụ nữ sau sinh đã được khảo sát tại rất nhiều
quốc gia trên thế giới và những cuộc khảo cứu này chỉ ra rằng sau khi sinh, ở một
số phụ nữ thường xuất hiện tình trạng thay đổi về cảm xúc như chợt vui, chợt buồn
hoặc tự nhiên khóc không lý do, có biểu hiện lo âu, dễ bị kích thích, khó tập trung
chú ý . [31, tr.48]
Trong suốt thời kỳ thai nghén, các hormone progesterone và estrogen tăng cao
khiến tâm sinh lý, tình cảm của phụ nữ có nhiều thay đổi. Đây gọi là những thay đổi
tâm lý thời kỳ mang thai. Sau khi sinh em bé, sự thay đổi nội tiết đột ngột trong cơ

15


thể lại xuất hiện trở lại. Tuy nhiên lúc này các nội tiết tố không tăng lên nữa mà đột
ngột hạ xuống sau 72 giờ. Sự thay đổi đột ngột này khiến cơ thể khó thích nghi kịp
thời. Nó có thể gây ra những ảnh hưởng nặng nề tới hệ thần kinh, cảm xúc và tâm lý
của người phụ nữ và gây ra hội chứng thay đổi hậu sản. Song song với các nhân tố
này còn có các yếu tố khác như vấn đề cá nhân hay quan hệ, cũng gây ra các ảnh
hưởng nặng nề tới tinh thần, tình cảm của người phụ nữ sau khi sinh. Đặc biệt
những ảnh hưởng này còn có khả năng dẫn tới các sang chấn tâm thần nghiêm trọng
như chứng trầm cảm sau khi sinh.[36]
Có thể nói, sau khi sinh đời sống tinh thần của phụ nữ thường có nhiều thay đổi
và xáo trộn. Tuy nhiên nhiều phụ nữ chưa chuẩn bị tâm lý cho vấn đề này, do đó
thường dễ rơi vào các “sang chấn tâm lý”, thậm chí một số rối loạn tâm thần. [31, tr.8]
1.1.2. Khái niệm về sang chấn tâm lý
* Khái niệm về sức khỏe tâm thần
Để có thể hiểu sâu sắc hơn về “sang chấn tâm lý”, ta cần tìm hiểu một chút về
“sức khỏe tâm thần” là gì?
Theo tổ chức Y tế thế giới sức khỏe tâm thần là một phần không thể thiếu của
sức khỏe, được xem là “trạng thái lành mạnh mà trong đó, cá nhân nhận ra những
năng lực của chính mình, có thể đương đầu với các stress (căng thẳng) thông
thường của cuộc sống, có thể làm việc năng suất và hiệu quả, và có thể tạo ra những
đóng góp cho chính cộng đồng của mình”. Trạng thái trái ngược với sức khỏe tâm
thần chính là có các vấn đề về sức khỏe tâm thần hay rối loạn tâm thần, rối loạn tâm
lý, bệnh tâm thần. Rối loạn tâm thần như là sự đau khổ mà cá nhân trải qua, cá nhân
cảm thấy đau đớn, buồn khổ, mệt mỏi, cạn kiệt, mất hứng thú về các hoạt động và
cuộc sống. [12, tr.14]
* Khái niệm về sang chấn tâm lý
Có nhiều khái niệm khác nhau về “sang chấn tâm lý”.
+Theo từ điển Tâm lý học: Sang chấn là trạng thái căng thẳng tâm lý, nảy
sinh ở con người trong quá trình hoạt động với những điều kiện phức tạp khó khăn
của cuộc sống đời thường cũng như các tình huống đặc biệt. [15, tr.432]

16


Khái niệm “sang chấn” được nhà sinh lý học Canada G.Sele (1936) nói đến khi
mô tả hội chứng thích nghi. Sang chấn có thể gây ảnh hưởng âm tính hoặc dương
tính đến hoạt động, đến mức làm cho nó hoàn toàn tê liệt, vì thế vấn đề đặt ra cho
các nhà nghiên cứu là phải tìm hiểu sự thích nghi của con người với các điều kiện
phức tạp cũng như dự báo được hành vi của anh ta trong những điều kiện tương tự.
[15, tr.423]
Những tác nhân khó chịu từ bên ngoài hoặc bên trong cơ thể mạnh về cường độ
và trường độ đều làm nảy sinh trạng thái sang chấn. Các tác nhân gây sang chấn :
các chấn thương vật lý và tâm lý mạnh, mất máu, tải cơ bắp quá lớn, nhiễm
trùng, sự ion hóa các tia, thay đổi nhiệt độ đột ngột, sự tác động của các loại
dược lý .v.v. [15, tr.482]
+ Theo quan điểm của 2 tác giả Trần Thu Hương - Đại học Khoa học xã hội
nhân văn Hà Nội.
Thuật ngữ “sang chấn tâm lý” hay “tổn thương tâm lý” chỉ ra điều kiện mà trong
đó cá nhân gặp phải một biến cố gây ảnh hưởng tới tâm trí của bản thân; cho thấy
tác động của một sự kiện xảy ra đột ngột lên một cá nhân, làm nhấn chìm khả năng
đối phó với các tình huống biến đổi và hình thành nên cảm giác lo sợ hoặc cảm giác
đau đớn mãnh liệt ở cá nhân đó.
Ở một góc độ nào đó, tổn thương tâm lý là những di chứng thể hiện qua các triệu
chứng tinh thần (lo sợ, hoảng hốt, ác mộng, mâu thuẫn, bất ổn, không tập trung …)
hay các triệu chứng cơ thể không có nguyên nhân thực thể (co giật, đau đầu, đau dạ
dày…). Nó xuất hiện bởi một sự kiện hay chuỗi sự kiện gây sốc, đau đớn hoặc đau
buồn, vượt quá sức chịu đựng của con người, phá vỡ cách nhìn, quan điểm vốn có
của người đó về thế giới xung quanh và vi phạm quyền con người.[11, tr.617]
+ Khái niệm sang chấn tâm lý dưới góc nhìn của ngành công tác xã hội
Trong ngành công tác xã hội có một định nghĩa được dùng: sang chấn hay sang
chấn tâm lý (trauma) là một trải nghiệm tiêu cực, kéo dài khi tâm trí hồi tưởng hoặc
có ý định xử lý nỗi nhớ về bản thân sự cố hoặc các hệ quả của nó.[24]
Như vậy sang chấn tâm lý chỉ có thể xẩy ra sau khi có một sự cố đau buồn
(painful incident) hoặc tổn thất đau buồn (painful loss).
17


Sang chấn có nhiều mức độ nghiêm trọng. Có những sang chấn nhẹ chỉ diễn
ra vài phút, nhưng cũng có những sang chấn, nhất là khi tác động tới các nhóm dễ bị
tổn thương, có thể gây ra những hệ quả nghiêm trọng lâu dài, có khi kéo dài hàng
chục năm. Mức độ đau đớn trong mỗi sang chấn là một trải nghiệm cá nhân và có
thể rất khác nhau tuy có thể là cùng một mất mát hay tổn thất.
Khi gặp sang chấn (trauma), những người mạnh mẽ có nhiều cách thức (chiến
lược) để làm giảm nỗi đau và vượt qua được sang chấn và tiếp tục cuộc sống của
mình. Ngược lại với những người dễ bị tổn thương, việc vượt qua sang chấn không
phải lúc nào cũng thành công. Việc giải quyết sang chấn thành công có ý nghĩa
quan trọng với người làm công tác xã hội. Một khi sang chấn không được giải quyết
hiệu quả, những nạn nhân của sang chấn có thể đi tới những cách thức ứng phó tiêu
cực như đi tới ma túy, rượu bia, hoặc tự mình gây đau đớn cho mình về thể xác để
quên nỗi đau hoặc tệ hơn có thể đi vào trạng thái tự kỷ hay tự vẫn.[24]
* Những đặc điểm của người bị sang chấn tâm lý [24]
Về mặt tâm sinh lý, khi trải nghiệm sang chấn, hệ thống hóc môn trong cơ thể nạn
nhân được huy động để tiết ra nội tiết tố andrenalin với một liều lượng nhiều đột
biến. Nội tiết tố này có vai trò trung tâm với trải nghiệm và xử lý giải quyết cá nhân
với các sang chấn. Về mặt sinh học, andrenalin làm hệ thống vận động của cơ thể
hoạt động mạnh do làm co thắt mạch máu ở những nơi không cần nhiều máu, ví dụ
ở khuôn mặt, để tăng lượng máu tới các cơ quan vận động, làm cho người ta có
phản ứng bỏ chạy hoặc tấn công. Người trải nghiệm nỗi đau nhiều khi có những
phản xạ dữ tợn, hung tợn hoặc nhìn nhận người xung quanh một cách khác thường
coi họ như những kẻ hung tợn đang sẵn sàng tiến công mình.
Lượng andrenalin cũng làm người ta không kiểm soát được cảm xúc. Khi nội
tiết tố này dâng cao, người ta có thể khóc, cười dữ dội vô cớ, đau thắt cơ bắp, không
cử động được. Nhiều người ở trạng thái này không nói hay trả lời được bình thường
các câu hỏi hay đề nghị, hoặc có những phản ứng không có ý nghĩa với đề nghị của
những người khác. Những cảm xúc hồi hộp, tim đập nhanh, đổ mồ hôi, mất ngủ
triền miên, ác mộng cũng thường gặp ở những người trải nghiệm những sự cố hay
hay mất mát đau thương.

18


Thường trong phạm vi khoảng 30 ngày đầu, nhưng cũng có người trải
nghiệm tận 3 năm, nạn nhân thường có những cử chỉ hành vi bất thường, bối rối
nóng giận, bùng phát. Giai đoạn này gọi là cấp tính (acute phase). Trong giai đoạn
này, nạn nhân thường không hình dung được câu chuyện của mình một cách mạch
lạc, mà có một câu chuyện mờ ảo mờ sương. Nạn nhân không kiểm soát được cảm
xúc của mình. Phụ nữ thường có những cơn khóc dữ dội khi có người nhắc tới
thương tổn hoặc mất mát. Có những người bị căng cứng cơ thể, nói không nên lời,
không phản xạ được với các đề nghị của người khác. Ở giai đoạn này, nạn nhân của
sang chấn thường có xu hướng đổ lỗi, nhận lỗi về bản thân mình và dằn vặt đến
mức có những trường hợp thực hiện các biện pháp bạo lực với bản thân như tự
trừng phạt, thậm chí tự vẫn. Hầu như mọi người bình thường đều trải qua những
diễn tiến như vậy nếu họ không được chuẩn bị và được hỗ trợ kịp thời để ứng phó.
Sau giai đoạn cấp tính, thân chủ chuyển sang giai đoạn có những cải thiện về
kiểm soát cảm xúc. Người bị sang chấn tâm lý thường tìm đến những nguồn lực bên
trong và nguồn lực bên ngoài để vượt qua nỗi đau. Họ có thể tự kể lại câu chuyện
mà mình trải qua một cách mạch lạc mà chính họ hiểu được, diễn giải được một
cách phù hợp với triết lý của họ. Họ giải thích được trải nghiệm của họ, trước hết là
cho mình. Sau này, họ có thể kể hay chia sẻ câu chuyện của mình cho những người
khác. Khi đó sang chấn về cơ bản đã được xử lý xong. Nếu tình huống không được
cải thiện, thân chủ có thể vẫn đang ở trong sang chấn và khi đó cần có sự chăm sóc
hay hỗ trợ của người công tác xã hội.
* Sang chấn và ảnh hưởng của sang chấn đến tâm lý con người [19, tr.278]
Sang chấn ảnh hưởng nghiêm trọng đến cảm xúc (vô cảm, trầm cảm, cảm
xúc quá tải, sợ hãi, tức giận, lo lắng, hoảng loạng, cảm thấy bất lực, vô vọng, mất
giá trị, .v.v.), cơ thể (ác mộng, mất ngủ, đau cơ thể mà không có nguyên nhân thực
thể, kiệt sức, dội kí ức), suy nghĩ (giảm chú ý, tập trung, mơ hồ, suy nghĩ tiêu cực,
cưỡng bức), hành vi (tự làm tổn thương mình, tham gia vào các hành vi nguy hiểm,
tránh né, dễ bị lạm dụng), quan hệ xã hội (không tin tưởng người khác, khó thân
thiết với mọi người, sợ tiếp xúc, tự cô lập/ thu mình, không tự nhận ra tình huống
nguy hiểm cho bản thân, phụ thuộc vào người khác (Bank, 2012).

19


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×