Tải bản đầy đủ

Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ phòng ngừa rủi ro tín dụng tại ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt nam

Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ phòng ngừa rủi ro
tín dụng tại ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt

am :

Luận văn ThS. Kinh doanh và quản lý: 60.34.05 / guyễn
Tiền Phong ; ghd. : TS. guyễn Thị Thư

1/Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Trong tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đưa nền kinh tế từng bước hội nhập vào nền kinh
tế thế giới trong bối cảnh tốc độ toàn cầu hoá diễn ra nhanh chóng, các lĩnh vực hoạt động dịch vụ như
bảo hiểm, ngân hàng đứng trước yêu cầu phải thích nghi, hội nhập toàn diện, nâng cao năng lực cạnh
tranh. Bởi vậy, việc nâng cao hiệu quả kinh doanh, phát triển bền vững của các ngân hàng thương mại
Việt Nam là yêu cầu tất yếu.
Thực hiện hiện đại hoá mà điểm cốt lõi là việc ứng dụng công nghệ thông tin vào toàn bộ quá trình
xử lý nghiệp vụ ngân hàng. Kết quả của việc ứng dụng công nghệ thông tin vào xử lý nghiệp vụ là các
ngân hàng thương mại có thể thực hiện được tập trung được cơ sở dữ liệu tại Hội sở chính nhưng hạch
toán phân tán tại các chi nhánh và đơn vị thành viên. Điều này cũng đồng nghĩa với việc quản trị điều
hành của các ngân hàng thương mại về bản chất là tiếp nhận và xử lý thông tin đã có sự thay đổi mang
tính hệ thống. Chính vì vậy, hệ thống kiểm soát nội bộ của các ngân hàng thương mại sẽ phải được
thay đổi một cách căn bản để có thể đáp ứng được sự thay đổi của công nghệ nhằm mục đích phòng

ngừa rủi ro và an toàn hệ thống.
Mặt khác, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật các tổ chức tín dụng (được Quốc hội
thông qua ngày 15/06/2004) đã quy định các tổ chức tín dụng phải thiết lập một hệ thống kiểm soát nội
bộ chặt chẽ, hiệu quả. Hệ thống kiểm soát nội bộ của các ngân hàng thương mại hiện nay chưa tiến kịp
tiến trình hiện đại hoá ngân hàng, chưa phù hợp với thông lệ và chuNn mực quốc tế. Việc kiểm tra,
kiểm soát chủ yếu là kiểm tra sau và kiểm tra tại chỗ, thực chất là hậu kiểm, do đó không đáp ứng được
yêu cầu ngăn ngừa, phát hiện và xử lý kịp thời các rủi ro phát sinh trong quá trình hoạt động của các
ngân hàng thương mại.
N goài ra, các ngân hàng thương mại Việt N am hiện nay công nghệ còn tương đối lạc hậu, khả năng
đáp ứng các dịch vụ ngân hàng hiện đại còn thấp, chưa đưa ra được nhiều sản phNm dịch vụ phong
1


phú ra thị trường nên tín dụng đang là hoạt động kinh doanh và nguồn thu chủ yếu của các N gân hàng
thương mại. Bên cạnh đó, do yêu cầu về vốn của nền kinh tế trong giai đoạn phát triển nên đã đNy tốc
độ tăng trưởng tín dụng trong thời gian qua của hệ thống ngân hàng thương mại Việt N am quá nhanh
trong điều kiện quy mô vốn tự có và năng lực quản lý rủi ro chậm được cải thiện đã đưa hoạt động tín
dụng trở thành một trong những lĩnh vực tạo nhiều rủi ro nhất cho các ngân hàng thương mại. Chính
vì vậy, thiết lập một hệ thống kiểm soát nội bộ hiệu quả trong đó nhấn mạnh đến kiểm soát nội bộ đối
với hoạt động tín dụng nhằm phòng ngừa, hạn chế rủi ro trong hoạt động ngân hàng là nhu cầu bức
thiết.
Xuất phát từ thực tế nói trên và với những kiến thức đã được học đề tài “Hoàn thiện hệ thống
kiểm soát nội bộ phòng ngừa rủi ro tín dụng tại ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt

am” sẽ

mang tính thiết thực đối với công tác quản trị, điều hành của N gân hàng Đầu tư và Phát triển Việt N am
nói riêng và các ngân hàng thương mại Việt N am nói chung trong giai đoạn hiện nay.
2/ Tình hình nghiên cứu
Cho đến nay, việc nghiên cức các lĩnh vực liên quan đến công tác kiểm soát nội bộ của ngân hàng
thương mại của các học giả Việt N am và nước ngoài liên quan đến luận văn dưới nhiều góc độ khác
nhau. Có thể phân thành 2 vấn đề được nghiên cứu chủ yếu là : a) N ghiên cứu những vấn đề có liên
quan đến kiểm soát nội bộ; b) N ghiên cứu việc nhận diện và phòng ngừa rủi ro tín dụng.
Trong nhóm công trình thứ nhất đề cập đến hệ thống kiểm soát nội bộ của các ngân hàng thương
mại Việt N am nhưng cũng chỉ ở mức độ giới thiệu chứ không đi sâu vào phân tích, nghiên cứu.
Trong nhóm công trình thứ 2 tập trung vào phân tích rủi ro tín dụng trong hoạt động của các N gân
hàng thương mại nói chung và rủi ro tín dụng của các ngân hàng thương mại Việt N am nói riêng
nhưng vẫn tách rời rủi ro tín dụng trong công tác kiểm soát nội bộ của các ngân hàng thương mại.
N hư vậy, tình hình nghiên cứu từ trước đến nay chỉ đơn thuần tập trung vào công tác kiểm soát nội
bộ hoặc rủi ro tín dụng, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện những khía cạnh của

công tác kiểm soát nội bộ đối với việc ngăn ngừa rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại. Đặc
biệt chưa có công trình nào nghiên cứu tác dụng của hệ thống kiểm soát nội bộ nhằm hạn chế và ngăn
ngừa rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại có trình độ công nghệ tương đối hiện đại.với việc
ứng dụng công nghệ thông tin vào tất cả các mặt nghiệp vụ. Vì vậy, lấy việc hoàn thiện Hệ thống kiểm
soát nội bộ phằm phòng ngừa rủi ro tín dụng sau khi đã hiện đại hoá của ngân hàng Đầu tư và Phát
triển Việt N am là đối tượng nghiên cứu chính, luận văn sẽ là một công trình nghiên cứu hệ thống, toàn
diện và cập nhật về vấn đề này.
3/Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2


Luận văn sẽ tập trung nghiên cứu hệ thống kiểm soát nội bộ của N gân hàng Đầu tư và Phát triển
Việt N am từ trước khi hiện đại hoá đến khi đã thực hiện hiện đại hoá đối với rủi ro tín dụng. Đề tài sẽ
xem xét nghiên cứu một cách có hệ thống những luận cứ, cơ sở khoa học về hệ thống kiểm soát nội bộ
ngân hàng thương mại nói chung và ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt N am nói riêng trong hoạt
động phòng ngừa rủi ro tín dụng. N hững đề xuất, giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiêụ quả và khắc
phục những khiếm khuyết trong hoạt động kiểm soát nội bộ tại ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt
N am sẽ được trình bày trong luận văn để có thể áp dụng vào thực tiễn hoạt động hoạt động kinh doanh
của đơn vị.
Với mục đích nghiên cứu trên, luận văn sẽ tập trung vào việc thực hiện các nhiệm vụ cụ thể sau:
- Phân tích lý thuyết, quy định và chuNn mực liên quan đến hệ thống kiểm soát nội bộ của ngân
hàng thương mại.
- N ghiên cứu thực trạng tổ chức và hoạt động của hệ thống kiểm soát nội bộ tại ngân hàng Đầu
tư và Phát triển Việt N am trước và sau khi thực hiện hiện đại hoá cũng như kinh nghiệm xây dựng hệ
thống kiểm soát nội bộ của một số ngân hàng thương mại các nước trên thế giới đối với phòng ngừa
rủi ro tín dụng.
- Qua nhận thức lý luận và tổng kết thực tiễn, đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của
công tác kiểm soát nội bộ đối với việc ngăn ngừa rủi ro tín dụng của ngân hàng Đầu tư và Phát triển
Việt N am
4/Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là về tổ chức và hoạt động của hệ thống kiểm soát nội bộ của
các ngân hàng thương mại đối với việc phòng ngừa rủi ro tín dụng, trong đó đi sâu vào nghiên cứu mô
hình và tổ chức hoạt động của hệ thống kiểm soát nội bộ của N gân hàngĐầu tư và Phát triển Việt N am
sau khi đã thực hiện hiện đại hoá.
N goài ra luận văn cũng nghiên cứu một số vấn đề nhằm nhận diện rủi ro tín dụng đối với các ngân
hàng thương mại và N gân hàng Đầu tư và Phát triển Việt N am.
Về không gian luận văn sẽ tập trung nghiên cứu những cơ sở pháp lý để hình thành hệ thống kiểm
soát nội bộ của các ngân hàng thương mại nói chung cũng như của ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt
N am nói riêng cũng nghiên cứu các chuNn mực, thông lệ quốc tế áp dụng cho hệ thống kiểm soát nội
bộ các ngân hàng thương mại. Luận văn cũng nghiên cứu ảnh hưởng của công nghệ ngân hàng hiện đại
đối với công tác kiểm soát nội bộ và hệ thống phương pháp kỹ thuật chuyên môn, nghiệp vụ nhằm
phòng ngừa rủi ro trong hoạt động tín dụng ngân hàng.
5/ Phương pháp nghiên cứu

3


Trong luận văn, ngoài các phương pháp cơ bản được sử dụng trong việc nghiên cứu khoa học xã
hội cũng như kinh tế học, các tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp chung là phương pháp phân tích, so sánh nhằm tìm ra những căn cứ, số liệu minh
hoạ cho luận điểm được nêu ra.
- Phương pháp bổ trợ như phương pháp phân kỳ, thống kê, tổng hợp và toán học nhằm nêu rõ đặc
thù từng giai đoạn khác nhau của hệ thống kiểm soát nội bộ ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt N am .
Đồng thời, các bảng, biểu, đồ thị…. có thể được sử dụng trong luận văn để minh hoạ cho vấn đề được
nghiên cứu.
6/ hững đóng góp mới của luận văn
Tác giả hy vọng luận văn có những đóng góp cơ bản như sau:
Thứ nhất, tổng hợp các cơ sở pháp lý, các chuNn mực và thông lệ liên quan đến hệ thống kiểm
soát nội bộ và vai trò của hệ thống kiểm soát nội bộ đối với hoạt động của các ngân hàng thương mại
Thứ hai, hệ thống hoá một cách có chọn lọc các công trình nghiên cứu của các học giả Việt N am
và nước ngoài về hệ thống kiểm soát nội bộ ngân hàng thương mại trên thế giới và của Việt N am đối
với phòng ngừa rủi ro tín dụng.
Thứ ba, phân tích tác động và sự thay đổi của hệ thống kiểm soát nội bộ đối với hoạt động tín
dụng sau khi thực hiện hiện đại hoá ngân hàngđể đánh giá những vấn đề còn tồn tại cần khắc phục đối
với ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt N am.
Thứ tư, cung cấp cho độc giả một cái nhìn tổng quan về hệ thống kiểm soát nội bộ của ngân hàng
thương mại hiện đại và danh mục tài liệu tham khảo phong phú liên quan đến đề tài.
7/ Kết cấu của luận văn
N goài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về hệ thống kiểm soát nội bộ nhằm phòng ngừa rủi ro tín dụng tại các
ngân hàng thương mại
Chương 2: Thực trạng hệ thống kiểm soát nội bộ của ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt N am
Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ nhằm phòng ngừa rủi ro tín
dụng tại ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt N am

4


Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬ

VỀ HỆ THỐ G KIỂM SOÁT ỘI BỘ HẰM PHÒ G GỪA RỦI RO TÍ DỤ G
TẠI GÂ HÀ G THƯƠ G MẠI

1.1 HỆ THỐ G KIỂM SOÁT ỘI BỘ VÀ Ả H HƯỞ G CỦA Ó ĐẾ PHÒ G GỪA RỦI RO TÍ
DỤ G TẠI CAC GÂ HÀ G THƯƠ G MẠI

1.1.1 KHÁI IỆM, CHỨC Ă G VÀ HIỆM VỤ CỦA HỆ THỐ G KIỂM SOÁT ỘI BỘ
1.1.1.1 Khái niệm hệ thống kiểm soát nội bộ
“ Kiểm soát nội bộ là một quá trình do Hội đồng quản trị, người điều hành và các nhân viên khác
chi phối, nó được thiết lập để cung cấp một sự đảm bảo hợp lý nhằm thực hiện được các mục tiêu sau
đây: (a) Báo cáo tài chính đáng tín cậy, (b) hoạt động hữu hiệu và hiệu quả, (c) các luật lệ và các quy
định được tuân thủ.”
Từ các định nghĩa trên, hệ thống kiểm soát nội bộ được hiểu như sau:
-

Kiểm soát nội bộ là một chuỗi hoạt động kiểm soát hiện diện ở mọi bộ phận, mọi hoạt động của

tổ chức.
-

Hệ thống kiểm soát nội bộ là một quá trình giám sát thường xuyên, liên tục, là phương tiện để

các cấp quản lý trong tổ chức kiểm soát hoạt động của tổ chức mình đồng thời nó đảm bảo hiệu quả, an
toàn cho hoạt động, tuân thủ các quy định của luật pháp và đảm bảo sự tin cậy của những thông tin tài
chính.
-

Hệ thống kiểm soát nội bộ được thiết kế và vận hành bởi con người. Hệ thống kiểm soát nội bộ

không chỉ đơn thuần chỉ là những chính sách, thủ tục, biểu mẫu, các quy định mà phải bao gồm cả
những con người trong tổ chức như Hội đồng quản trị, Ban giám đốc, các thành viên trong tổ chức.
-

Kiểm soát nội bộ đảm bảo một sự hợp lý, chứ không phải là tuyệt đối là các mục tiêu sẽ được

thực hiện. Hơn nữa, nguyên tắc cơ bản trong việc đưa ra quyết định quản lý là chi phí cho quá trình
kiểm soát không thể vượt quá lợi ích được đem lại bởi quá trình kiểm soát đó. Do đó, tuy người quản

5


lý có thể nhận thức được rủi ro nhưng chi phí kiểm soát quá cao thì họ vẫn không áp dụng các biện
pháp để kiểm soát rủi ro tương ứng.
Có một khái niệm dễ nhầm lẫn với kiểm soát nội bộ là kiểm toán nội bộ. Trong khi kiểm toán nội
bộ chỉ tập trung vào đánh giá việc quản trị rủi ro sau khi các hoạt động đã diễn ra thì kiểm soát nội bộ
lại thực hiện cả việc kiểm soát rủi ro trước và sau các hoạt động. N ói cách khác, kiểm toán nội bộ chỉ
là một phần của quá trình kiểm soát nội bộ. N goài ra, trong quá trình quản trị và điều hành tổ chức thì
hệ thống kiểm soát nội bộ không độc lập khỏi quy trình nghiệp vụ mà nó được bố trí, xây dựng trong
mọi quy trình tác nghiệp của tổ chức còn kiểm toán nội bộ độc lập khỏi quy trình tác nghiệp để bảo
đảm tính khách quan, hiệu quả.
1.1.1. 2 Các bộ phận cấu thành hệ thống kiểm soát nội bộ
Mặc dù có sự khác biệt đáng kể về tổ chức hệ thống kiểm soát nội bộ giữa các đơn vị vì phụ thuộc
vào nhiều yếu tố như quy mô, tính chất hoạt động, mục tiêu của tổ chức nhưng hệ thống kiểm soát nội
bộ muốn vận hành hiệu quả phải có những bộ phận cấu thành cơ bản. Theo mô hình do tổ chức COSO
đưa ra và cũng được coi là quan điểm cơ bản, phổ biến hiện nay thì hệ thống kiểm soát nội bộ phải
gồm những bộ phận chủ yếu sau:
-

Môi trường kiểm soát

-

Đánh giá rủi ro

-

Hoạt động kiểm soát

-

Thông tin và trao đổi thông tin

-

Giám sát

a) Môi trường kiểm soát
Môi trường kiểm soát bao gồm phương châm quản lý và phong cách kinh doanh (hoạt động)
của Ban lãnh đạo, sự tham gia của những người chịu trách nhiệm quản trị doanh nghiệp hoặc điều hành
tổ chức, hiệu quả của cơ cấu tổ chức, tính hợp lý của các kế hoạch và mức độ tin cậy của các ước tính
của ban lãnh đạo
Môi trường kiểm soát là nền móng cho toàn bộ các yếu tố còn lại của hệ thống kiểm soát nội bộ,
quy định nguyên tắc và cơ cấu.
Môi trường kiểm soát phản ánh sắc thái chung của một đơn vị, nó chi phối ý thức kiểm soát của
mọi thành viên trong đơn vị và là nền tảng đối với các bộ phận khác của kiểm soát nội bộ. Các nhân tố
chính thuộc về môi trường kiểm soát là:
- Tính trung thực và giá trị đạo đức.
- Đảm bảo về năng lực.
6


- Hội đồng quản trị và uỷ ban kiểm toán ( ban kiểm soát).
-

Triết lý quản lý và phong cách điều hành của nhà quản lý
- Cơ cấu tổ chức
- Cách thức phân định quyền hạn và trách nhiệm.
- Chính sách nhân sự
b)Đánh giá rủi ro
Để giới hạn rủi ro ở mức chấp nhận được, người quản lý phải xác định mục tiêu của đơn vị, nhận

dạng và phân tích rủi ro từ đó mới có thể kiểm soát được rủi ro.
- Xác định mục tiêu của đơn vị: mục tiêu tuy không phải là bộ phận của kiểm soát nội bộ nhưng
việc xác định nó là điều kiện tiên quyết để đánh giá rủi ro.
- N hận dạng rủi ro: để nhận dạng rủi ro, người quản lý có thể sử dụng nhiều phương pháp khác
nhau, từ việc sử dụng phương tiện dự báo, phân tích dữ liệu quá khứ, cho đến việc rà soát thường
xuyên các hoạt động.
- Phân tích và đánh giá rủi ro: một quy trình phân tích và đánh giá rủi ro thường bao gồm các
bước sau đây : Ước lượng tầm cỡ của rủi ro qua ảnh hưởng có thể có của nó đến mục tiêu của đơn vị,
xem xét khả năng xảy ra rủi ro và những biện pháp có thể sử dụng để đối phó với rủi ro.
c) Hoạt động kiểm soát
Hoạt động kiểm soát là những chính sách và thủ tục để đảm bảo cho các chỉ thị, các yêu cầu của
Ban lãnh đạo được thực hiện đúng và đầy đủ. Các chính sách và thủ tục này giúp thực thi những hành
động với mục đích chính là giúp kiểm soát các rủi ro mà đơn vị đang hoặc có thể gặp phải. Có nhiều
loại hoạt động kiểm soát khác nhau có thể thực hiện, dưới đây là một số hoạt động kiểm soát chủ yếu
của đơn vị:
-

Phân chia trách nhiệm đầy đủ: Phân chia trách nhiệm là không cho phép một thành viên nào

được giải quyết mọi mặt nghiệp vụ từ khi hình thành cho đến khi kết thúc.
-

Kiểm soát quá trình xử lý thông tin và các nghiệp vụ: để thông tin đáng tin cậy cần phải thực

hiện nhiều hoạt động kiểm soát nhằm kiểm tra tính xác thực, đầy đủ và việc phê chuNn các nghiệp vụ.
Cần đảm bảo rằng tất cả các nghiệp vụ hoặc hoạt động phải được phê chuNn bởi một nhân viên
quản lý trong phạm vi quyền hạn cho phép. Sự phê chuNn được chia làm hai loại là phê chuNn chung và
phê chuNn cụ thể.
Các cá nhân hoặc bộ phận được uỷ quyền để thực hiện phê chuNn phải có chức vụ tương xứng
với tính chất và tầm quan trọng của nghiệp vụ. Trong môi trường xử lý dữ liệu bằng phương pháp điện

7


tử, việc kiểm soát quá trình xử lý thông tin cũng thường được chia thành kiểm soát chung và kiểm soát
ứng dụng với những đặc thù riêng.
-

Kiểm soát vật chất: hoạt động này được thực hiện cho các loại sổ sách và tài sản, cũng như

các chương trình phần mềm tin học và những hồ sơ, dữ liệu nhằm đảm bảo rằng tài sản không bị mất
mát, đánh cắp hoặc sử dụng trái với thNm quyền.
-

Kiểm soát độc lập việc thực hiện: là việc kiểm tra được tiến hành bởi các cá nhân (hoặc bộ

phận) khác với cá nhân ( hoặc bộ phận) đang thực hiện nghiệp vụ, thực chất đây là yêu cầu kiểm tra
chéo giữa các bộ phận, cá nhân trong tổ chức.
-

Yêu cầu quan trọng đối với những thành viên thực hiện kiểm tra là họ phải độc lập với đối

tượng bị kiểm tra. Sự hữu hiệu của hoạt động này sẽ mất đi nếu người thực hiện thNm tra lại là nhân
viên cấp dưới hoặc là người có quyền lợi liên quan đến người bị kiểm tra.
d) Thông tin và truyền thông
Thông tin và truyền thông chính là điều kiện không thể thiếu cho việc thiết lập, duy trì và nâng cao
năng lực kiểm soát trong đơn vị thông qua việc hình thành các báo cáo cung cấp thông tin về hoạt
động, tài chính và sự tuân thủ, bao gồm cả cho nội bộ và bên ngoài.
e) Giám sát
Đây là bộ phận cuối cùng của hệ thống kiểm soát nội bộ. Giám sát là một quá trình mà người quản
lý đánh giá chất lượng của hệ thống kiểm soát. Điều quan trọng trong giám sát là phải xác định được
hệ thống kiểm soát nội bộ có vận hành đúng như thiết kế hay không và có cần thiết phải sửa đổi chúng
cho phù hợp với tùng giai đoạn phát triển của tổ chức hay không. Thông thường các nhà quản lý thực
hiện giám sát thường xuyên hay định kỳ.
-

Giám sát thường xuyên đạt được thông qua hệ thống báo cáo hoạt động nội bộ; các ý kiến,

thông tin từ bên ngoài như ý kiến khách hàng, đánh giá của cơ quan quản lý N hà nước... để đánh giá
hoạt động của tổ chức và phát hiện những bất thường.
-

Giám sát định kỳ được thực hiện thông qua các cuộc kiểm toán định kỳ do kiểm toán viên nội

bộ hoặc kiểm toán độc lập thực hiện.
1.1 .2 Hệ thống kiểm soát nội bộ của các ngân hàngthương mại
1.1.2.1Một số đặc trưng của các ngân hàngthương mại
a) Khái niệm ngân hàng thương mại
Tại khoản 2, điều 20 luật các tổ chức tín dụng được Quốc hội thông qua ngày 15/4/2004 sửa đổi,
bổ sung một số điều của luật các tổ chức tín dụng được Quốc hội thông qua ngày 12/12/1997, phần
giải thích từ ngữ định nghĩa “

gân hàng là tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ các nghiệp vụ
8


ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan” tại khoản 7 cũng tại điều này xác định “
hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên
là nhận tiền gửi, sử dụng tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán”
N gân hàng thương mại có các hoạt động cơ bản sau:
hận tiền gửi là hoạt động cơ bản, truyền thống, được coi là điển hình của ngân hàng thương
mại. Tiền gửi là khoản tiền mà khách hàng gửi trong tài khoản của họ mở tại ngân hàng. Các tài khoản
này bao gồm các tài khoản vãng lai và các tài khoản tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm.
Tín dụng là một trong những hoạt động cơ bản nhất của ngân hàngthương mại, là việc ngân
hàngcung cấp cho khách hàng một khoản tiền, khách hàng có trách nhiệm phải trả lãi và hoàn trả gốc
theo đúng thời hạn đã thoả thuận trong hợp đồng.
Trung gian thanh toán là hoạt động truyền thống của ngân hàng, tạo điều kiện cho khách hàng
thực hiện các khoản thanh toán bằng phương thức giấy tờ hoặc điện tử mà không phải mang đi mang
lại một lượng lớn tiền mặt.
Hoạt động khác của ngân hàng thương mại:
Hoạt động đầu tư của ngân hàng thương mại thường gồm ba hoạt động chính là đầu tư ngân
quỹ, đầu tư hưởng lợi và đầu tư nắm quyền kiểm soát.
Bảo lãnh là cam kết của ngân hàng về việc sẽ thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho bên thứ ba nếu
người được bảo lãnh không thực hiện được hoặc thực hiện không đầy đủ thoả thuận ban đầu với bên
thứ ba đó.
Bảo hiểm là các ngân hàng thương mại cung cấp dịch vụ bảo hiểm cho các khách hàng thông
qua các công ty con hoặc thông qua các nhà môi giới bảo hiểm trên cả hai lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ
và phi nhân thọ.
Cho thuê tài sản (Leasing) là việc ngân hàng sẽ mua tài sản theo nhu cầu sử dụng của doanh
nghiệp. Doanh nghiệp phải trả tiền thuê hàng năm và hết thời hạn thuê thì được quyền mua lại tài sản
đó.
Hoạt động môi giới và kinh doanh chứng khoán ngân hàng thương mại thực hiện việc kinh
doanh, môi giới, tư vấn, … chứng khoán thông qua việc lập các công ty chứng khoán.
b) Hoạt động tín dụng và rủi ro tín dụng đối với các ngân hàng thương mại
- Khái niệm tín dụng
“tín dụng là một giao dịch về tài sản ( tiền hoặc hàng hoá) giữa bên cho vay ( ngân hàngvà các
định chế tài chính khác), trong đó bên vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời

9


gian nhất định theo thoả thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên
cho vay khi đến hạn thanh toán”
- Phân loại hoạt động tín dụng
Tín dụng được phân chia theo nhiều tiêu thức khác nhau, tuỳ thuộc mục đích quản trị.
- Theo thời gian:
- Theo mục đích sử dụng:
N goài ra, người ta còn sử dụng các phương pháp phân loại khác để phục vụ cho việc quản trị
tốt hoạt động tín dụng: theo tài sản đảm bảo (tín dụng có / không có tài sản đảm bảo), theo khả năng
hoàn trả,…
- Chất lượng tín dụng
Chất lượng tín dụng được xem xét dưới nhiều góc độ từ phía ngân hàng, phía khách hàng và từ
sự phát triền nền kinh tế - xã hội. N ếu một ngân hàng có chất lượng tín dụng cao, thể hiện qua việc thu
nợ gốc và lãi đúng hạn, bảo toàn được vốn cho vay, tỷ lệ nợ quá hạn thấp, vòng quay vốn tín dụng
nhanh, thì ngân hàng đó được đánh giá về cơ bản là hoạt động an toàn và hiệu quả.
- Rủi ro trong hoạt động tín dụng
“ Rủi ro tín dụng là rủi ro về sự tổn thất tài chính ( trực tiếp hoặc gián tiếp) xuất phát từ người
đi vay không thực hiện nghĩa vụ trả nợ đúng hạn theo cam kết hoặc mất khả năng thanh toán”[12]. Rủi
ro lớn nhất trong hoạt động tín dụng mà các ngân hàng thương mại phải đối mặt là rủi ro tín dụng. Đối
với ngân hàng, rủi ro tín dụng vừa mang tính chất khách quan vừa mang tính chất chủ quan. Sự khách
quan trong rủi ro tín dụng làm cho nó trở nên không thể loại trừ. Mặt khác, bởi lợi nhuận phần nào cũng
là một phần thưởng của rủi ro nên người ta chỉ tìm cách hạn chế rủi ro tới mức có thể chấp nhận được mà
thôi.
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng:
Thứ nhất, những yếu tố bất khả kháng tác động tới người vay khiến họ không trả nợ được hoặc
trả không đầy đủ cho ngân hàng.
Thứ hai, trình độ yếu kém của người vay trong việc quản lý các dự án đầu tư, phương án sản
xuất kinh doanh dẫn tới sử dụng vốn vay không hiệu quả.
Thứ ba, người vay có chủ ý lừa đảo cung cấp thông tin sai lệch hoặc cố ý không trả nợ cho
ngân hàng mặc dù họ kinh doanh có lãi.
Thứ tư, ngân hàng đánh giá sai do thiếu am hiểu về người vay và lĩnh vực kinh doanh của họ.
Thứ năm, ngân hàng có chính sách tín dụng không hợp lý, chất lượng cán bộ ngân hàng kém.

10


Thứ sáu, ngân hàng chưa thiết lập được hệ thống kiểm soát nội bộ có hiệu quả trong hoạt động
tín dụng, trong đó có việc xây dựng mô hình tổ chức, quy trình tín dụng thiếu chặt chẽ và không phù
hợp.
N goài rủi ro tín dụng, ngân hàng thương mại còn phải đối mặt với những rủi ro bắt nguồn từ
thao tác nghiệp vụ cho vay khách hàng. Rủi ro tác nghiệp là khả năng xảy ra những tổn thất khi các
nhân viên ngân hàng thực hiện sai quy trình, không tuân thủ chính sách và các quy định của ngân hàng;
khi các chính sách, quy trình nghiệp vụ không phù hợp với thực tiễn. Rủi ro tác nghiệp cũng có thể
phát sinh do chính sách và quy trình cho vay lỏng lẻo, phương pháp xem xét, phân tích còn hạn chế.
1.1.2.2 Hệ thống kiểm soát nội bộ của các ngân hàng thương mại đối với việc phòng ngừa
rủi ro tín dụng
a)Hệ thống kiểm soát nội bộ của các ngân hàng thương mại
Theo điều 2, phần giải thích từ ngữ tại quy chế kiểm tra, kiểm soát nội bộ của tổ chức tín dụng ban
hành kèm theo quyết định số 36/2006/QĐ-N HN N ngày 01/8/2006 đã định nghĩa hệ thống kiểm tra,
kiểm soát nội bộ như sau “Hệ thống kiểm tra, kiểm soát nội bộ là tập hợp các cơ chế, chính sách, quy
trình, quy định nội bộ, cơ cấu tổ chức của tổ chức tín dụng được thiết lập trên cơ sở phù hợp với quy
định của pháp luật hiện hành và được tổ chức thực hiện nhằm bảo đảm phòng ngừa, phát hiện, xử lý
kịp thời các rủi ro và đạt được các mục tiêu và tổ chức tín dụng đã đề ra”. Cũng theo quy chế này, tại
điều 3 quy định mục tiêu của hệ thống kiểm tra, kiểm soát nội bộ đã xác định các mục tiêu cụ thể, chủ
yếu của hệ thống kiểm tra, kiểm soat của tổ chức tín dụng như sau:
1. Hiệu quả và an toàn trong hoạt động; bảo vệ, quản lý, sử dụng tài sản và các nguồn lực kinh tế,
an toàn, có hiệu quả (mục tiêu hoạt động)
2. Bảo đảm hệ thống thông tin tài chính và thông tin quản lý trung thực, hợp lý, đầy đủ và kịp thời
( Mục tiêu thông tin)
3. Bảo đảm tuân thủ pháp luật và và các quy chế, quy trình, quy định nội bộ ( Mục tiêu tuân thủ)
Một hệ thống kiểm soát nội bộ tốt có khả năng đánh giá được khả năng đạt được mục tiêu đồng
thời vẫn đảm bảo khả năng vững mạnh về tài chính của ngân hàng.
Quá trình kiểm soát nội bộ tại các ngân hàng thương mại gồm các yếu tố có sự tác động qua lại:
1. Sự giám sát của điều hành và văn hoá kiểm soát
2. N hận định và đánh giá rủi ro
3. Hoạt động kiểm soát và phân định trách nhiệm
4. Thông tin và giao tiếp
5. Giám sát các hoạt động và khắc phục các khiếm khuyết
11


b)Hệ thống kiểm soát nội bộ phòng ngừa rủi ro tín dụng
Hệ thống kiểm soát nội bộ để phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng phải đảm bảo các yêu cầu sau:
1. Tạo dựng các điều kiện khung ổn định đối với rủi ro tín dụng
2. Thiết lập cơ chế ra quyết định trong hoạt động tín dụng
3. Duy trì một quy trình ổn định về quản lý tín dụng, tính toán và giám sát rủi ro tín dụng
4. Đảm bảo sự kiểm soát phù hợp đối với rủi ro tín dụng
- Tạo dựng các điều kiện khung ổn định đối với rủi ro tín dụng:Việc tạo dựng các điều kiện
khung ổn định đối với tủi ro tín dụng chính là chiến lược, quy trình, thủ tục đối với việc kiểm soát rủi
ro tín dụng và các nguyên tắc nhận dạng, phát hiện, phân tích rủi ro tín dụng.
Thiết lập cơ chế ra quyết định trong hoạt động tín dụng: các ngân hàng thương mại phải thiết
lập một cơ chế ra quyết định trong hoạt động tín dụng tuân thủ các nguyên tắc dưới đây:
- Các ngân hàng thương mại phải thực hiện nghiệp vụ tín dụng dựa theo các tiêu chí đã được quy
định rõ ràng và hiệu quả về cấp tín dụng.
- Các ngân hàng thương mại phải có cơ cấu nhân sự phù hợp, có nghĩa vụ và trách nhiệm được xác
định rõ ràng.
- Đối với các khách hàng vay riêng lẻ và các khách hàng cũng như nhóm khách hàng có liên quan
với nhau, ngân hàng cần áp dụng hạn mức tín dụng chung. Khoản hạn mức tín dụng chung này tập hợp
tất cả các loại rủi ro khác nhau một cách hợp lý và có thể so sánh được trong lĩnh vực ngân hàng.
- Các ngân hàng phải có một quy trình cố định đối với việc chấp thuận các khoản tín dụng mới
cũng như đối với việc thay đổi, gia hạn và tái cơ cấu các khoản tín dụng hiện có. Quy trình cố định này
bao gồm cả hệ thống đánh giá tin dụng nội bộ.
Duy trì một quy trình ổn định về quản lý tín dụng, tính toán và giám sát rủi ro tín dụng:
- Các ngân hàng phải có hệ thống quản lý thường xuyên các danh mục khác nhau có hàm chứa rủi
ro tín dụng. Cần phải có một hệ thống để giám sát hiện trạng các khoản tín dụng đơn lẻ, hệ thống đó
cũng bao gồm cả việc xác định tính phù hợp của các khoản trích lập dự phòng rủi ro tín dụng.
- Các ngân hàng thương mại nên xây dựng và thiết lập một hệ thống đánh giá rủi ro tín dụng nội bộ
nhằm khắc phục rủi ro tín dụng. Hệ thống đánh giá này phù hợp với thể thức, quy mô và sự đa dạng
trong các nghiệp vụ của từng ngân hàng.
- Các ngân hàng phải có các hệ thống thông tin và các phương pháp phân tích để tạo điều kiện cho
cấp quản lý lượng hoá được các rủi ro tín dụng.
Đảm bảo sự kiểm soát phù hợp đối với rủi ro tín dụng: Để đảm bảo sự kiểm soát phù hợp với
rủi ro tín dụng ngân hàng phải thiết lập một hệ thống để đánh giá một cách độc lập và thường xuyên
12


các quá trình quản lý rủi ro của mình và các kết quả của việc rà soát này phải được thông báo trực tiếp
cho cơ quan quản lý cao nhất và ban giám đốc ngân hàng. Các ngân hàng phải có một hệ thống các
phương pháp phục hồi kịp thời đối với các khoản nợ xấu để giải quyết các khoản nợ xấu và các tình
huống có thể xảy ra tương tự.

Chương 2
THỰC TRẠ G HỆ THỐ G KIỂM SOÁT ỘI BỘ
CỦA

GÂ HÀ G ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂ VIỆT AM

2.1 ĐẶC ĐIỂM CHU G CỦA GÂ HÀ G ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂ VIỆT AM

2.1.1Khái quát về quá trình hình thành và phát triển của ngân hàng Đầu tư và Phát triển
Việt am
N gân hàng Đầu tư và Phát triển Việt N am được thành lập theo quyết định số 177/TTg ngày
26/4/1957 của Thủ tướng chính phủ với tên gọi ban đầu là ngân hàng Kiến thiết.
Thời kỳ trước năm 1995
Giai đoạn này, ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt N am là ngân hàng chuyên doanh phục vụ
trong lĩnh vực cấp phát vốn đầu tư và xây dựng cơ bản. Hoạt động chủ yếu là cấp phát các nguồn vốn
có nguồn gốc từ ngân sách cho các dự án đầu tư và phát triển của nền kinh tế quốc dân và các hoạt
động cho vay vốn lưu động để thi công xây lắp, sản xuất.
Thời kỳ từ năm 1995 đến nay
Từ năm 1995 đến nay, ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt N am chuyển hẳn sang kinh doanh như
một ngân hàng thương mại thực sự. Theo quyết định số 2919/KTTH ngày 29/5/1995, Thủ tướng chính
phủ đã giao cho ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt N am 1500 tỷ đồng vốn điều lệ để hoạt động. Đây
cũng là năm đầu tiên ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt N am được Thống đốc ngân hàng N hà nước
Việt N am cho phép thực hiện chức năng kinh doanh đa năng tổng hợp.
2.1.2 Mô hình tổ chức và hoạt động của ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt am
N gân hàng Đầu tư và Phát triển Việt N am là ngân hàng thương mại N hà nước được thành lập theo
quyết định số 177/TTg ngày 26/4/1957 của Thủ tướng Chính phủ và được Thống đốc N HN N Việt
N am ký quyết định số 287/QĐ-N H5 ngày 21/9/1996 thành lập lại theo mô hình Tổng công ty N hà
nước theo quy định tại quyết định số 90/TTg ngày 07/3/1994 theo uỷ quyền của Thủ tướng Chính phủ.

13


Mô hình tổ chức và hoạt động theo điều lệ tổ chức và hoạt động của ngân hàng Đầu tư và Phát triển
Việt N am ban hành kèm theo quyết định số 54/QĐ-HĐQT của Chủ tịch HĐQT và đã được Thống đốc
N HN N Việt N am chuNn y tại quyết định số 936/2002/QĐ-N HN N ngày 03/9/2002.
2.1.3 Quy chế quản lý tài chính của ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt am
Quy chế quản lý tài chính của ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt N am được ban hành kèm theo
quyết định số 42/QĐ-HĐQT ngày 17/4/2003 của Chủ tịch HĐQT.
2.2 THỰC TRẠ G VỀ HOẠT ĐỘ G HỆ THỐ G KIỂM SOÁT ỘI BỘ CỦA GÂ

HÀ G ĐẦU TƯ VÀ

PHÁT TRIÊ VIỆT AM

2.2.1. Các văn bản quy phạm pháp luật về Hệ thống kiểm soát nội bộ tại các ngân hàng
thương mại
Hệ thống kiểm soát nội bộ của các tổ chức tín dụng ( bao gồm cả các ngân hàngthương mại) xây
dựng trên cơ sở vận hành của luật các tổ chức tín dụng số 10/1997/QH10 ban hành ngày 12/12/1997 và
luật số 20/2004/QH11 ngày 15/6/2004 về sửa đổi, bổ sung một số điều của luật tín dụng;
Hiện nay, để hướng dẫn thực hiện các quy định trong Luật sử đổi, bổ sung một số điều của luật
tín dụng, Thống đốc ngân hàng N hà nước đã ban hành quy chế kiểm tra, kiểm soát nội bộ của tổ chức
tín dụng ban hành kèm theo quyết định số 36/2006/QĐ-N HN N ngày 01/8/2006 và quy chế kiểm toán
nội bộ ban hành kèm theo quyết định số 37/2006/QĐ-N HN N ngày 01/8/2006.
2..2.2 Quá trình hình thành và phát triển hệ thống kiểm soát nội bộ trong hoạt động tín dụng
tại ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt am
2.2.2.1 Bộ phận kiểm tra, kiểm soát nội bộ chuyên trách
Để hoàn thiện về cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của hệ thống kiểm tra, kiểm soát nội bộ
chuyên trách thì ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt N am đã ban hành quy chế tổ chức và hoạt động
của hệ thống kiểm tra nội bộ của N gân hàngĐầu tư và Phát triển Việt N am kèm theo quyết định số
7046/QĐ-KTN B4 ngày 06/12/2004 của Tổng giám đốc.
Hệ thống kiểm tra nội bộ của ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt N am được tổ chức, chỉ đạo
theo ngành dọc. Các chức danh từ kiểm tra viên đến phó, trưởng phòng và phó đốc, giám đốc ban kiểm
tra nội bộ do Tổng giám đốc bổ nhiệm. Cán bộ làm công tác kiểm tra nội bộ không kiêm nhiệm các
công tác khác của ngân hàng.
Hệ thống kiểm tra nội bộ ( kiểm soát nội bộ chuyên trách) thực hiện kiểm tra, kiểm soát toàn bộ
hoạt động nghiệp vụ của ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt N am trong đó có nghiệp vụ tín dụng.
Hiện nay, việc kiểm tra, kiểm soát nội bộ chuyên trách khi thực hiện kiểm tra nghiệp vụ tín dụng chủ
yếu là kiểm tra tại chỗ, hậu kiểm.
2.2.2.2 Kiểm soát nội bộ trong quy trình nghiệp vụ tín dụng
14


Hệ thống kiểm soát nội bộ trong hoạt động tín dụng do Tổng giám đốc chịu trách nhiệm chỉ đạo
triển khai trên cơ sở các quy định nội bộ và quy trình nghiệp vụ được ngân hàng Đầu tư và Phát triển
Việt N am ban hành. N hững quy định về kiểm soát nội bộ được được thiết lập, cài đặt vào các quy định,
quy trình nghiệp vụ bao gồm:
-

Sổ tay tín dụng

-

Quy trình cho vay ngắn, trung, dài hạn; quy trình bảo lãnh; quy trình thanh toán quốc tế; quy
trình thNm định theo tiêu chuNn ISO

-

Các văn bản về phân cấp uỷ quyền phán quyết tín dụng trong từng thời kỳ

-

Ban hành chính sách khách hàng

-

Ban hành về quy định xếp hạng tín dụng nội bộ

Theo các văn bản quy định nội bộ đề cập ở trên, ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt N am đã thiết
lập một số quy định trong hoạt động tín dụng. Cụ thể:
- Việc thực hiện nghiệp vụ tín dụng bắt buộc thực hiện theo sổ tay tín dụng và các quy trình ISO
liên quan đến nghiệp vụ tín dụng.
- Việc ra phán quyết tín dụng phải phù hợp với mức uỷ quyền phán quyết tín dụng Tổng giám
đốc giao cho từng đối tượng cụ thể.
Về cơ cấu tổ chức, trong nghiệp vụ tín dụng ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt N am đã thực hiện
mô hình cơ cấu tổ chức theo các khuyến nghị của hợp đồng tư vấn kỹ thuật giai đoạn 1 (gọi tắt là TA1)
của ngân hàng Thế giới (WB) theo đó đã tách riêng ra 02 bộ phận: gồm có bộ phận tín dụng và bộ
phận quản lý tín dụng . Trong đó:
- Bộ phận tín dụng: trực tiếp thực hiện cho vay
- Bộ phận quản lý tín dụng: quản lý về các phát sinh đến nghiệp vụ tín dụng, xử lý nợ xấu và các
vấn đề khác liên quan đến công tác tín dụng.
2.2.3 Một số nhận xét, đánh giá về hệ thống kiểm soát nội bộ trong hoạt động tín dụng của
gân hàngĐầu tư và Phát triển Việt am trong giai đoạn hiện nay
2.2.3.1 hững kết quả đạt được
Việc hình thành và hoạt động hệ thống kiểm tra, kiểm soát nội bộ chuyên trách trước đây của
ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt N am là phù hợp với mô hình quản lý phân tán của ngân hàng
thương mại quốc doanh trong điều kiện Việt N am khi mà hoạt động của các ngân hàng thương mại
quốc doanh chỉ mới được thành lập, chuyển sang hoạt động kinh doanh từ mô hình ngân hàng một cấp
(chỉ có ngân hàng N hà nước), đặc biệt với ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt N am chỉ được thực sự

15


chuyển sang kinh doanh như ngân hàng thương mại quốc doanh khác từ 1995. (Khác hẳn với sự ra đời
và hoạt động của các N HTM các nước có nền kinh tế thị trường trên Thế giới).
2.2.3.2 Một số hạn chế của hệ thống kiểm soát nội bộ trong hoạt động tín dụng của

gân

hàng Đầu tư và Phát triển Việt am hiện nay
a) Hạn chế của mô hình kiểm soát nội bộ chuyên trách
Hệ thống kiểm soát nội bộ, kiểm toán nội bộ của ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt N am hiện
nay bị đồng nhất, chưa tách bạch rõ giữa kiểm tra và kiểm toán nội bộ. Thực chất, hệ thống kiểm tra,
kiểm soát nội bộ chuyên trách hiện nay của ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt N am thực hiện một
phần chức năng kiểm toán tuân thủ của kiểm toán nội bộ. Tuy nhiên, hệ thống kiểm tra, kiểm soát nội
bộ chuyên trách trực thuộc Tổng giám đốc (đối với Hội sở chính) và Giám đốc các đơn vị thành viên
(đối với các chi nhánh và công ty trực thuộc) nên hoạt động chưa thể đảm bảo được tính độc lập, khách
quan (độc lập với hệ điều hành và các bộ phận nghiệp vụ) nhất là bộ phận kiểm tra, kiểm soát nội bộ
chuyên trách tại các đơn vị thành viên.
Hoạt động kiểm tra, kiểm soát nội bộ hiện nay chưa được cài đặt một cách có hệ thống trong các
quy định, quy trình, quy chế và chưa được coi là nhiệm vụ của từng nhân viên, các cấp quản lý trong
quy trình giải quyết nghiệp vụ.
N goài ra, hệ thống kiểm soát nội bộ chưa xây dựng và áp dụng được phương pháp nghiệp vụ giám
sát, kiểm tra, kiểm soát tiên tiến nào để phục vụ cho công tác mà chủ yếu vẫn sử dụng các phương
pháp cũ dẫn đến hiệu quả kiểm soát thấp.
b)Hạn chế của của hoạt động kiểm soát nội bộ trong quy trình tín dụng
Hiện nay, tại ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt N am quá trình xử lý nghiệp vụ tín dụng chưa có
sự tách bạch giữa khởi tạo tín dụng, quản lý rủi ro tín dụng và tác nghiệp trong suốt quá trình thực
hiện.
Việc xác lập và quản lý danh mục rủi ro tín dụng chưa được xây dựng đầy đủ và hiệu quả. N gân
hàng chưa có hệ thống thông tin và kỹ thuật cho phép Ban lãnh đạo đo lường được mọi rủi ro tín dụng
trong và ngoại bảng cân đối kế toán. Tại thời điểm hiện tại ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt N am
đã có kho dữ liệu tập trung (datawarehouse) được cập nhật liên tục (online) nhưng đang có khó khăn
trong việc khai thác do đó không có khả năng tạo ra các báo cáo quản lý rủi ro tín dụng từ kho dữ liệu
này.
Bên cạnh đó, ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt N am đã xây dựng mô hình xếp hạng rủi ro tín
dụng và đã sử dụng được 2 năm vừa qua. Tuy nhiên, ngân hàng chưa tiến hành phân tích hay kiểm tra
khả năng dự đoán chính xác về xác suất mất vốn của mô hình này. Các khái niệm và các chỉ tiêu tiên
tiến theo thông lệ quốc tế áp dụng để đo lường, xếp hạng rủi ro tín dụng như xác suất mất vốn (
16


Probability of default, PD), tổn thất do không trả nợ sau khi điều chỉnh cho giá trị tài sản bảo đảm
(LGD),… chưa được sử dụng phổ biến nên việc xây dựng mô hình xếp hạng rủi ro tín dụng còn mang
tính chất cảm tính.
2.2.4Thông lệ quốc tế và một số mô hình kiểm soát nội trong lĩnh vực tín dụng tiêu biểu trên
Thế giới và Việt am, khả năng vận dụng vào gân hàngĐầu tư và Phát triển Việt am
2.2.4.1 Thông lệ quốc tế và một số mô hình kiểm soát nội bộ trong hoạt động tín dụng trên
Thế giới.
- a)Thông lệ quốc tế và mô hình kiểm soát nội bộ của các ngân hàng
Trên cơ sở định nghĩa và các tiêu chuNn của uỷ ban COSO về hệ thống kiểm soát nội bộ, tháng
11/1998 uỷ ban Basel về kiểm soát ngân hàngđã xây dựng và công bố các chuNn mực của hệ thống
kiểm soát nội bộ qua bộ tài liệu “khuôn khổ cho hệ thống kiểm soát nội bộ trong các ngân hàng”. Hiện
nay các chuNn mực do uỷ ban Basel đưa ra về hệ thống kiểm soát nội bộ ngân hàng đang được hầu hết
các ngân hàng thương mại trên Thế giới áp dụng bởi thực tiễn đã chứng minh tính hiệu quả và cần thiết
của nó. Đây được cho là thông lệ tốt nhất và phổ biến nhất đã được hầu hết các ngân hàng thương mại
của các nước trên thế giới áp dụng. N ội dung cụ thể của thông lệ đã được tác giả trình bầy ở phần
1.1.2.2 chương 1 của luận văn này.
Mô hình kiểm soát nội bộ trong hoạt động tín dụng của Trung Quốc
Căn cứ theo hướng dẫn ngày 18/9/2002 của ngân hàng TW Trung Quốc ban hành bắt buộc các
N gân hàng thương mại phải tuân theo thì những điểm quan trọng của hệ thống kiểm soát nội bộ trong
hoạt động tín dụng là:
- Thực hiện quản lý các nghiệp vụ tín dụng một cách tập trung, thống nhất
- Mở rộng việc nhận dạng và kiểm soát hệ thống giám sát rủi ro tín dụng của khách hàng
- Hoàn thiện việc ra quyết định và cải thiện hệ thống phát triển tín dụng
- N găn ngừa việc tập trung những rủi ro đáng chú ý vào một khách hàng đơn lẻ, các khách hàng
doanh nghiệp liên kết và/hoặc rủi ro của một nhóm khách hàng.
- N găn ngừa việc cho vay đối với các cá nhân liên kết hoặc các món vay có liên quan với nhau,
ngăn chặn việc vi phạm nguyên tắc tín dụng.
- N găn ngừa việc vốn đầu tư cho hoạt động tín dụng đổ vào lĩnh vực rủi ro cao và/hoặc sử dụng
cho các hoạt động bất hợp pháp.
Để thực hiện các điểm quan trọng trên, các ngân hàngthương mại phải thực hiện:
- Thiết lập một bộ phận quản trị rủi ro độc lập với hoạt động tín dụng để quản lý tập trung đối với
các hoạt động kinh doanh tín dụng.
17


- Xây dựng bộ phận nghiệp vụ tín dụng các ngân hàng thương mại phải có nhân sự phù hợp, có
nghĩa vụ và trách nhiệm rõ ràng.
- Các ngân hàng thương mại phải phòng ngừa tránh việc tập trung quá mức dẫn đến việc rủi ro vốn
cho vay.
- Các ngân hàng thương mại sẽ thực hiện tập trung, thống nhất đối với các quy định, tiêu chuNn
công việc và quy trình làm việc đối với kiểm tra trước, kiểm tra trong quy trình và kiểm tra bất thường,
cũng như việc kiểm tra các trình tự hoạt động.
- Các ngân hàng thương mại sẽ thực hiện các biện pháp quản trị tập trung đối với tất cả các trường
hợp uỷ quyền phán quyết tín dụng, công bố công khai các điều kiện của việc cung cấp tín dụng, bao
gồm tất cả những điều kiện cụ thể như tiêu chuNn chọn dự án, thời hạn vay, lãi xuất và phí, điều kiện
bảo đảm, quyền xét duyệt, thông tin công bố, quản trị và quá trình giải quyết công việc nội bộ.
2.2.4.2 Mô hình hoạt động kiểm soát nội bộ trong hoạt động tín dụng của các ngân hàng
thương mại nhà nước tại Việt am
Qua nghiên cứu tổ chức và hoạt động của hệ thống kiểm soát nội bộ của các ngân hàng thương mại
N hà nước (trừ ngân hàng công thương Việt N am tác giả không tham khảo) cho thấy hệ thống kiểm
soát nội bộ, trong đó có việc kiểm soát trong nghiệp vụ tín dụng có những có những đặc điểm chung
là:
+ Mô hình hệ thống kiểm soát nội bộ được thiết lập dưới hình tức bộ phận chuyên trách, chịu sự
quản lý, điều hành của Tổng giám đốc theo hệ thống ngành dọc tại Hội sở chính (phòng, Ban) và tới
các Chi nhánh (phòng, tổ kiểm tra, kiểm soát hoặc bố trí 01 cán bộ chuyên trách làm công tác kiểm tra,
kiểm soát nội bộ)
+ Kiểm toán nội bộ bị đồng nhất, không có sự tách biệt với hoạt động kiểm tra, kiểm soát nội bộ.
Bộ phận kiểm toán nội bộ trực thuộc Tổng giám đốc do vậy hoạt động kiểm toán nội bộ của các N gân
hàng thương mại N hà nước không thể đảm bảo được tính khách quan, độc lập ( độc lập với hệ điều
hành và các bộ phận nghiệp vụ)
+ Hoạt động kiểm tra, kiểm soát nội bộ của các ngân hàng thương mại N hà nước trong hoạt động
tín dụng chủ yếu thực hiện các hoạt động kiểm tra nội bộ trên một số nội dung hoạt động tín dụng tại
các đơn vị bộ phận. Công tác kiểm tra nội bộ như vậy về bản chất là hậu kiểm (kiểm tra sau) và dưới
hình thức tổ chức từng đợt kiểm tra. Vì vậy, những vấn đề phát hiện thường là những sai phạm đã phát
sinh, đã xảy ra. Do đó, hạn chế tác dụng của hệ thống kiểm tra, kiểm soát nội bộ trong việc phát hiện,
ngăn ngừa, quản lý rủi ro tín dụng. Hoạt động kiểm tra, kiểm soát nội bộ chưa được coi là nhiệm vụ
của từng cán bộ, nhân viên trong quá trình thực hiện nghiệp vụ tín dụng phát sinh hàng ngày mà là
hoạt động mang tính chuyên trách.
18


+ Mô hình tổ chức và chu trình nghiệp vụ tín dụng chưa đảm bảo khả năng kiểm soát lẫn nhau
trong quá trình giải quyết nghiệp vụ. Vẫn để xảy ra các bộ phận có xung đột quyền lợi lẫn nhau dẫn
đến giảm thiểu khả năng phát hiện, quản lý rủi ro trong hoạt động tín dụng.
Xuất phát từ những đặc điểm chung về hệ thống kiểm soát nội bộ trong hoạt động tín dụng ở các
nước trên Thế giới và tại các ngân hàng thương mại N hà nước ở Việt N am, có thể rút ra một số kinh
nghiệm có thể vận dụng vào BIDV để hoàn thiện hệ thống kiểm tra nội bộ trong hoạt động tín dụng có
hiệu quả, đó là:
- Hệ thống kiểm tra, kiểm soát nội bộ trong hoạt động tín dụng phải bao gồm hệ thống kiểm tra,
kiểm soát nội bộ chuyên trách, các hệ thống các quy chế, quy trình nghiệp vụ cần được từng cá nhân,
bộ phận có liên quan của quy trình nghiệp vụ cần tuân thủ.
- Mô hình tổ chức của các ngân hàng thương mại phải được cơ cấu lại bảo đảm có sự tách bạch
giữa bộ phận khởi tạo tín dụng và quản lý rủi ro tín dụng. Phải có bộ phận và quy trình đo lường, định
dạng rủi ro tín dụng hiệu quả phù hợp với các thông lệ tiên tiến trên Thế giới. Xây dựng được hệ thống
thông tin quản lý trong hoạt động tín dụng tin cậy, chính xác và hiệu quả. Hệ thống kiểm tra, kiểm soát
nội bộ chuyên trách phải được tổ chức lại với mô hình tổ chức phù hợp, có các phương pháp kiểm tra,
giám sát hiện đại, hiệu quả.
- Hệ thống kiểm soát nội bộ trong hoạt động tín dụng của ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt
N am phải tuân thủ pháp luật, chuNn mực và thông lệ quốc tế được thừa nhận và đáp ứng được yêu cầu
quản lý của N hà nước và bản thân N gân hàng đầu tư và Phát triển Việt nam.

19


Chương 3
MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀ THIỆ HỆ THỐ G KIỂM SOÁT ỘI BỘ PHÒ G GỪA RỦI
RO TÍ DỤ G TẠI GÂ HÀ G ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂ VIỆT AM

3.1 SỰ CẦ

THIẾT PHẢI HOÀ

THIỆ

HỆ THỐ G KIỂM SOÁT

ỘI BỘ TRO G HOẠT ĐỘ G TÍ

DỤ G CỦA GÂ HÀ G ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂ VIỆT AM

Hệ thống kiểm soát nội bộ trong hoạt động tín dụng của ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt
N am đã từng bước được hình thành và phát huy tác dụng. Tuy nhiên việc tiếp tục hoàn thiện hệ thống
kiểm tra, kiểm soát nội bộ trong hoạt động tín dụng là rất cần thiết bởi các lý do sau:
Thứ nhất, xuất phát từ yêu cầu khách quan của đời sống kinh tế, xã hội và sự đòi hỏi của cơ chế,
chính sách của hà nước
Thứ hai, do yêu cầu phải nâng cao năng lực quản lý và điều hành để tồn tại và đứng vững trong
cơ chế thị trường với điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế.
Thứ ba, do đặc điểm hoạt động kinh doanh đa dạng và phức tạp của ngân hàng Đầu tư và Phát
triển Việt am
Thứ tư,

gân hàngĐầu tư và Phát triển Việt

am phát triển theo hướng tập đoàn kinh tế đa

năng, chiến lược này đòi hỏi sự tăng cường tối đa khả năng phòng ngừa và hạn chế rủi ro
Thứ năm, giai đoạn hiện nay tín dụng vẫn là hoạt động kinh doanh chủ yếu nhưng rủi ro lớn có
thể tạo ra nguy cơ đe doạ an toàn hoạt động của ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt

am đòi hỏi

phải có hệ thống kiểm tra, kiểm soát nội bộ trong hoạt động tín dụng một cách có hiệu quả
3.2 CÁC

GUYÊ

TẮC VÀ ĐN H HƯỚ G HOÀ

THIỆ

HỆ THỐ G KIỂM TRA, KIỂM SOÁT

ỘI

BỘ TRO G HOẠT ĐỘ G TÍ DỤ G CỦA GÂ HÀ G ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂ VIỆT AM

3.2.1 guyên tắc hoàn thiện
Để hoàn thiện hệ thống kiểm tra, kiểm soát nội bộ trong hoạt động tín dụng của N gân hàngĐầu
tư và Phát triển Việt N am cần quán triệt các nguyên tắc cơ bản sau:
guyên tắc 1, tuân thủ pháp luật và đáp ứng yêu cầu quản lý của hà nước
20


guyên tắc 2, hệ thống kiểm tra, kiểm soát trong nghiệp vụ tín dụng phải kiểm soát kiểm soát
được toàn bộ thành phần và chất lượng của danh mục tín dụng.
guyên tắc 3, đảm bảo được tình độc lập của hệ thống kiểm soát nội bộ chuyên trách với các bộ
phận khác trong hệ thống ngân hàngĐầu tư và Phát triển Việt am
guyên tắc 4, Hệ thống kiểm tra, kiểm soát nội bộ trong nghiệp vụ tín dụng phải phù hợp với
đặc điểm tổ chức, hoạt động kinh doanh, yêu cầu, khả năng trình độ quản lý ngân hàng hiện nay cũng
như trong xu thế hội nhập, tận dụng được những lợi thế do việc hiện đại hoá công nghệ ngân hàng
mang lại.
guyên tắc 5, phải đảm bảo tính hiệu quả, tính kinh tế của hệ thống kiểm tra, kiểm soát nội bộ
trong hoạt động tín dụng
3.2.2 Định hướng hoàn thiện
Căn cứ vào yêu cầu của quy chế kiểm tra, kiểm soát nội bộ do ngân hàng N hà nước ban hành
và thông lệ quốc tế tốt nhất, sau khi tham khảo các khuyến nghị của nhóm tư vấn quốc tế TA2-WB
(Dự án tái cơ cấu ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt N am giai đoạn II) theo chúng tôi, định hướng
mô hình hoạt động hệ thống kiểm tra, kiểm soát nội bộ trong hoạt động tín dụng mà Ban lãnh đạo ngân
hàng Đầu tư và Phát triển Việt N am cần sớm xem xét là:
- Thay đổi cơ cấu tổ chức, cải tiến quy trình tín dụng theo thông lệ tiên tiến nhất là có sự phân
tách giữa các chức năng khởi tạo tín dụng, quản trị rủi ro tín dụng và tác nghiệp trong suốt quá trình
thực hiện.
- Xây dựng một môi trường quản trị rủi ro tín dụng thích hợp, trong đó Hội đồng quản trị chịu
trách nhiệm phê duyệt và rà soát các chính sách và các chiến lược liên quan đến quản lý rủi ro tín dụng
còn Ban Tổng giám đốc chịu trách nhiệm triển khai các chiến lược và chính sách rủi ro mà Hội đồng
quản trị phê duyệt. Chức năng tác nghiệp thực hiện theo các thủ tục và quy trình thích hợp sao cho có
thể phát hiện và xác định rõ rang các rủi ro tín dụng đi liền với các sản phNm và các hoạt động trên cơ
sở riêng rẽ và tổng hợp.
- Bộ phận kiểm tra, kiểm soát nội bộ chuyên trách trong hoạt động tín dụng nói riêng và hệ thống
kiểm tra, kiểm soát nội bộ chuyên trách nói chung cần được tổ chức lại theo mô hình phòng kiểm tra,
kiểm soát nội bộ khu vực phân chia theo địa lý, xóa bỏ bộ phận kiểm tra, kiểm soát nội bộ chuyên
trách tại các chi nhánh, đơn vị thành viên nhằm tăng tính độc lập và hiệu quả của Bộ phận kiểm soát
nội bộ.
3.3 CÁC GIẢI PHÁP HOÀ

THIỆ

HỆ THỐ G KIỂM TRA, KIỂM SOÁT

ỘI BỘ TRO G HOẠT

ĐỘ G TÍ DỤ G CỦA GÂ HÀ G ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂ VIỆT AM

3.3.1 Hoàn thiện quy trình tín dụng và mô hình quản trị rủi ro tín dụng
21


3.3.1.1Hoàn thiện quy trình tín dụng
Theo thông lệ tiên tiến nhất thường được các ngân hàng thương mại các nước phát triển áp dụng
thì quá trình tín dụng được đặc trưng bởi sự phân tách giữa các chức năng khởi tạo tín dụng, quản lý
rủi ro tín dụng và tác nghiệp trong toán bộ quá trình nhằm đảm bảo tính độc lập và kiểm soát lẫn nhau
trong các khâu trong quá trình tín dụng. Quá trình này được chia thành một số giai đoạn, mỗi giai đoạn
tiến hành một hoặc một vài chức năng như sau:
- Chức năng quản lý quan hệ khách hàng (phòng quản lý khách hàng doanh nghiệp, phòng quản
lý khách hàng cá nhân) chịu trách nhiệm khởi tạo và lập đề xuất tín dụng, bao gồm cả việc thNm định
ban đầu.
- Phòng quản lý rủi ro tín dụng chỉ chịu trách nhiệm rà soát kết quả thNm định và quá trình phê
duyệt tín dụng sau đó.
- Phòng quản trị cho vay chịu trách nhiệm lập và vào sổ đăng ký các dữ liệu về hạn mức và lưu
giữ an toàn các hợp đồng, hồ sơ tín dụng, đồng thời thực hiện giải ngân và độc lập chuNn bị báo cáo
các trường hợp ngoại lệ để các phòng quản lý khách hàng giải quyết và phòng quản lý rủi ro tín dụng
giám sát.
3.3.1.2 Hoàn thiện quy trình quản trị rủi ro tín dụng
N goài các quy định của ngân hàng N hà nước, các ngân hàng thương mại phải phụ thuộc vào
chiến lược hoạt động, mảng kinh doanh tập trung, quy mô hoạt động, mức độ phức tạp và các yếu tố
khách của ngân hàng đó. Trên cơ sở thông lệ tốt nhất của ủy ban Basel về giám sát ngân hàng, chúng
tôi đề xuất mô hình quản trị rủi ro tín dụng để ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt N am áp dụng như
sau:
a)Trưởng khối rủi ro .
b)Trưởng phòng quản lý rủi ro tín dụng
c)Cán bộ quản lý rủi ro tín dụng
3.3.2 Các giải pháp hoàn thiện mô hình tổ chức và hoạt động của bộ phận kiểm tra, kiểm
soát nội bộ chuyên trách.
3.3.2.1 Các giải pháp hoàn thiện mô hình tổ chức và hoạt động của bộ phận kiểm tra, kiểm
soát nội bộ chuyên trách
Căn cứ vào điều 8, quy chế kiểm tra, kiểm soát nội bộ ban hành kèm theo quyết định số
36/2006/QĐ-N HN N của Thống đốc ngân hàngN hà nước Việt N am thì tùy theo mức độ, phạm vi, đặc
thù hoạt động của mình mà các ngân hàng thương mại xây dựng bộ phận kiểm tra, kiểm soát nội bộ
chuyên trách chịu sự điều hành của Tổng giám đốc. Theo thông lệ tốt nhất của các ngân hàng thương
22


mại trên Thế giới thì không nhất thiết và không nên lập bộ phận kiểm tra, kiểm soát nội bộ chuyên
trách mà nên xây dựng cơ chế kiểm tra, kiểm soát nội bộ trong quy trình nghiệp vụ. Tuy nhiên chúng
tôi vẫn thấy cần thiết và đề xuất duy trì và hoàn thiện bộ phận kiểm tra, kiểm soát nội bộ chuyên trách
do ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt N am hiện nay có mấy đặc điểm sau :
Một là, ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt N am là một trong những ngân hàng thương mại lớn
nhất Việt N am, là doanh nghiệp nhà nước hạng đặc biệt có tổng tài sản lớn giữ vai trò quan trọng đối
với tình hình kinh tế xã hội nên việc cải cách, hoàn thiện phải có những bước đi cNn trọng tránh những
xáo trộn lớn.
Hai là, hiện nay ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt N am đã có bộ phận kiểm tra, kiểm soát nội
bộ chuyên trách tuy nhiên mô hình chưa phù hợp, có thể hoàn thiện mô hình tổ chức bộ phận kiểm tra,
kiểm soát nội bộ chuyên trách với chi phí thấp và hiệu quả để đáp ứng cho yêu cầu công việc trong giai
đoạn trước mắt.
Ba là, hiện nay ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt N am đang trong quá trình cơ cấu lại ngân
hàng, việc xây dựng các quy trình nghiệp vụ nói chung và nghiệp vụ tín dụng nói riêng vẫn chưa hoàn
thành nên yêu cầu kiểm tra, kiểm soát trong quy trình nghiệp vụ vẫn đạt hiệu quả thấp.
Bốn là, kiểm toán nội bộ thuộc Hội đồng quản trị đã được thành lập và hoạt động nhưng đạt hiệu
quả thấp, chưa đáp ứng được yêu cầu kiểm toán, đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ nên vẫn cần thiết
duy trì bộ phận kiểm tra, kiểm soát nội bộ chuyên trách để thực hiện một số chức năng của kiểm toán
nội bộ như kiểm toán tuân thủ, kiểm toán hoạt động,…
Mô hình bộ phận kiểm tra, kiểm soát nội bộ chuyên trách trong nghiệp vụ tín dụng nên vận dụng
theo mô hình hỗn hợp (tập trung về tổ chức hoạt động, phân tán về bố trí địa lý).
3.3.2.2 Xây dựng tiêu chu n, trách nhiệm và quyền hạn của bộ phận kiểm tra nội bộ chuyên
trách gân hàngĐầu tư và Phát triển Việt am
- Về trách nhiệm của bộ phận kiểm tra, kiểm soát nội bộ chuyên trách trong nghiệp vụ tín dụng
- Về quyền hạn của bộ phận kiểm tra, kiểm soát nội bộ chuyên trách
- Về công tác đào tạo cán bộ kiểm tra, kiểm soát nội bộ chuyên trách
3.3.2.3 Áp dụng chu n mực, quy trình và phương pháp kiểm tra, kiểm soát nội bộ phù
hợp với yêu cầu tổ chức và đặc điểm của ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt am
a)Kiểm tra, kiểm soát nội bộ trong hoạt động tín dụng dựa trên phương pháp kiểm tra, kiểm soát
căn cứ vào rủi ro (phương pháp ORCA)
Phương pháp kiểm tra, kiểm soát nội bộ dựa trên rủi ro (phương pháp ORCA) là phương pháp áp
dụng cho công tác kiểm toán nội bộ; kiểm tra, kiểm soát nội bộ do hãng kiểm toán quốc tế
23


Pricewaterhouse Cooper giới thiệu. N guyên tắc áp dụng của phương pháp này là sẽ thực hiện tăng tần
suất kiểm tra, kiểm soát những đơn vị, những sản phNm tín dụng hoặc khách hàng có khả năng xảy ra
rủi ro cao nhất.
b)Áp dụng các thành tựu của công nghệ thông tin, khai thác có hiệu quả kho dữ liệu tập trung
(Datawarehouse) vào việc kiểm tra, kiểm soát.
Bộ phận kiểm tra, kiểm soát chuyên trách trong hoạt động tín dụng phải xây dựng được phần
mềm chuyên biệt thường xuyên khai thác kho dữ liệu phục vụ công tác giám sát bảo đảm tính chính
xác, kịp thời.
3.3.3 Kiến nghị các điều kiện để thực hiện giải pháp hoàn thiện
3.3.3.1 Đối với Chính phủ và ngân hàng hà nước Việt am
- Đối với Chính phủ
- Đối với ngân hàng hà ước
3.3.3.2 Đối với ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt am

KẾT LUẬ
Luận văn đã tổng hợp, phân tích quá trình hình thành và phát triển của hệ thống kiểm tra, kiểm
soát nội bộ, trình bày một cách có hệ thống những lý luận cơ bản về kiểm tra, kiểm soát nội bộ như:
khái niệm, chức năng, nhiệm vụ của hệ thống kiểm tra, kiểm soát nội bộ; đối tượng và mục đích, nội
dung và hình thức của hệ thống kiểm tra, kiểm soát nội bộ; mô hình tổ chức và các thông lệ kiểm tra,
kiểm soát nội bộ.
Luận văn đã phân tích đúng thực trạng về mô hình tổ chức và hoạt động kiểm tra, kiểm soát nội
bộ của ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt N am, từ đó nhận xét, đánh giá về những kết quả đã đạt
được và những tồn tại, hạn chế cần phải tiếp tục hoàn thiện.
Luận văn cũng đã trình bày các chuNn mực, thông lệ quốc tế tiên tiến về kiểm soát nội bộ trong
các ngân hàng thương mại, tham khảo mô hình kiểm tra, kiểm soát nội bộ trong hoạt động tín dụng của
Trung Quốc và một số ngân hàng thương mại quốc doanh tại Việt N am từ đó nghiên cứu vận dụng vào
hệ thống kiểm tra, kiểm soát nội bộ của ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt N am.
Từ những phân tích, đánh giá cả về lý luận và thực tiễn tổ chức và hoạt động của hệ thống kiểm
tra, kiểm soát nội bộ tại ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt N am, luận văn đã chỉ ra sự cần thiết phải
hoàn thiện, các nguyên tắc và định hướng hoàn thiện đồng thời đưa ra các giải pháp hoàn thiện mô
hình và hoạt động của hệ thống kiểm tra, kiểm soát trong nghiệp vụ tín dụng của ngân hàng Đầu tư và

24


Phát triển Việt N am; Đề xuất, kiến nghị với các cấp có thNm quyền về các điều kiện để thực hiện giải
pháp hoàn thiện.

25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×