Tải bản đầy đủ

THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC KHU CÔNG NGHIỆP TP.CẦN THƠ

-1-

-2-

2.2.3.2 Đóng góp của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài............... 27

MỤC LỤC
Trang

MỞ ĐẦU ................................................................................................................ 1

2.2.3.3 Tình hình nộp ngân sách của các doanh nghiệp KCN Cần Thơ .. 28
2.2.3.4 Vấn đề thu hút và tạo việc làm cho người lao động ..................... 29

CHƯƠNG I: TẦM QUAN TRỌNG CỦA KHU CÔNG NGHIỆP, KHU CHẾ XUẤT

2.3 NHẬN XÉT VỀ QUÁ TRÌNH HOẠT ĐỘNG CÁC KCN TP.CẦN THƠ

ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI CỦA MỘT NƯỚC

THỜI GIAN QUA................................................................................................... 32


1.1. Khái niệm về khu công nghiệp, khu chế xuất ................................................... 3

2.3.1 Mặt mạnh.................................................................................................. 33

1.2. Lịch sử hình thành KCN trên thế giới............................................................... 4

2.3.2 Điểm yếu................................................................................................... 34

1.3. Quá trình hình thành và phát triển KCN - KCX ở Việt Nam ........................... 6

2.3.3 Cơ hội ....................................................................................................... 36

1.4. Đặc điểm các loại hình khu công nghiệp .......................................................... 7

2.3.4 Đe doạ....................................................................................................... 37

1.5. Vai trò của KCN - KCX đối với sự phát triển kinh tế xã hội ........................... 9
1.6. Tình hình hoạt động của các KCN, KCX Việt Nam thời gian qua................... 9
1.6.1. Về đầu tư nước ngoài. ............................................................................. 10
1.6.2. Về đầu tư trong nước. .............................................................................. 10
1.6.3. Về vấn đề đất trong KCN ........................................................................ 10
1.6.4. Về tình hình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trong KCN ..... 11
1.6.5. Về thu hút lao động ................................................................................ 12
1.6.6. Về quản lý Nhà nước đối với KCN ......................................................... 12
1.7. Một số định hướng phát triển các KCN ở Việt Nam ........................................ 13
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC
KHU CÔNG NGHIỆP TP.CẦN THƠ

CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CÁC KHU CÔNG NGHIỆP
TP.CẦN THƠ ĐẾN NĂM 2010
3.1. PHƯƠNG HƯỚNG, MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI
TP.CẦN THƠ ĐẾN NĂM 2010.........................................................................................38
3.1.1. Phương hướng phát triển ......................................................................... 38
3.1.2. Mục tiêu phát triển:.................................................................................. 38
3.1.2.1. Về kinh tế ..................................................................................... 38
3.1.2.2. Về xã hội ...................................................................................... 38
3.2 ĐỊNH HƯỚNG TỔNG QUÁT ĐỂ ĐẨY MẠNH PHÁT TRIỂN CÁC
KCN TP. CẦN THƠ ĐẾN NĂM 2010 ................................................................... 39
3.3 GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CÁC KCN TP.CẦN THƠ ĐẾN NĂM 2010 ...............40


2.1 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CÁC KCN CẦN THƠ ....... 16

3.3.1 Về quy hoạch ............................................................................................ 40

2.1.1. Sơ lược về tình hình kinh tế xã hội TP.Cần Thơ..................................... 16

3.3.2 Về đầu tư xây dựng Khu công nghiệp...................................................... 42

2.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển các KCN Cần Thơ: .............................. 17

3.3.3 Về cải thiện môi trường đầu tư................................................................. 44

2.1.2.1. Lịch sử hình thành ....................................................................... 17

3.3.4 Về quản lý các KCN................................................................................. 52

2.1.2.2. Đặc điểm các KCN ở TP.Cần Thơ: ............................................. 19

3.4 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ ...................................................................................... 56

2.2 KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG CÁC KCN CẦN THƠ THỜI GIAN QUA............. 21

! Đối với Chính phủ ......................................................................................... 56

2.2.1 Về vốn đầu tư và cơ sở hạ tầng. ............................................................... 21

! Đối với UBND Thành phố Cần Thơ ............................................................. 57

2.2.2 Kết quả thu hút đầu tư .............................................................................. 23

KẾT LUẬN ..................................................................................................................... 58

2.2.3 Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh.................................................... 25

TÀI LIỆU THAM KHẢO

2.2.3.1 Doanh thu và giá trị sản xuất công nghiệp hàng năm.................. 25

PHỤ LỤC


-3-

PHẦN MỞ ĐẦU
.....W—X.....

1. Sự cần thiết của đề tài

-4-

những cơ hội để khu công nghiệp Cần Thơ nói riêng và Thành phố Cần Thơ nói
chung ngày càng phát triển.
3. Nội dung nghiên cứu: được thể hiện qua các chương mục như sau:

hát triển khu công nghiệp, khu chế xuất có vai trò quan trọng trong

Chương I: Tầm quan trọng của khu công nghiệp, khu chế xuất đối với sự phát

quá trình phát triển công nghiệp cả nước, góp phần thực hiện chiến

triển kinh tế xã hội của một nước, là tiền đề lý luận để người đọc hiểu được thế

lược phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia. Văn kiện Đại hội Đảng lần IX đã chỉ

nào là Khu Công nghiệp, khu chế xuất; lịch sử hình thành và phát triển của các

P

rõ: “Quy hoạch phân bố hợp lý công nghiệp trên cả nước. Phát triển có hiệu quả khu

khu công nghiêp trên thế giới và ở Việt Nam; vai trò của nó đối với sự phát triển

công nghiệp, khu chế xuất, xây dựng một số khu công nghệ cao, hình thành các cụm

kinh tế xã hội của một quốc gia.

công nghiệp lớn và khu kinh tế mở”. Chúng ta đều biết vai trò của khu công nghiệp

Chương II: Thực trạng hoạt động của các khu công nghiệp tại TP Cần Thơ, phân

trong tiến trình công nghiệp hóa là rất quan trọng. Sự hình thành và phát triển khu

tích đánh giá quá trình hoạt động của các khu công nghiệp TP Cần Thơ từ đó

công nghiệp, khu chế xuất là một tất yếu khách quan nhằm thúc đẩy kinh tế xã hội

thấy được những những mặt mạnh, mặt yếu, những cơ hội và đe dọa làm cơ sở

phát triển. Khu công nghiệp Cần Thơ được thành lập từ năm 1995, đã có những

đề ra các giải pháp để phát triển các khu công nghiệp của Thành phố.

đóng góp đáng kể trong việc phát triển kinh tế xã hội của thành phố Cần Thơ nói

Chương III: Giải pháp phát triển các khu công nghiệp TP Cần Thơ đến năm

riêng và cả nước nói chung. Tuy nhiên, với vị trí và vai trò trung tâm của vùng

2010, trình bày các giải pháp nhằm tăng cường hơn nữa các dự án cũng như vốn

Đồng Bằng Sông Cửu Long, đặc biệt kể từ ngày 1/1/2004 thành phố Cần Thơ đã
chính thức trở thành thành phố trực thuộc Trung ương, khu công nghiệp Cần Thơ
vẫn chưa làm được nhiệm vụ chính của mình, thể hiện qua tỷ lệ lấp đầy diện tích
các khu công nghiệp chưa cao, chưa thu hút được các dự án có vốn đầu tư lớn cũng
như tổng vốn thu hút được đến cuối năm 2004 chỉ đạt khoảng 348 triệu USD, bằng
một số dự án ở các khu công nghiệp Miền Đông.
Tôi rất mong muốn đưa ra những đề xuất nhằm góp phần nhỏ bé của mình

đầu tư vào các khu công nghiệp TP.Cần Thơ trong thời gian tới
4. Phương pháp nghiên cứu:
Luận văn hình thành chủ yếu từ các dữ liệu thứ cấp được thu thập từ sách, báo,
tạp chí, mạng internet, các số liệu, báo cáo của BQL khu công nghiệp TP Cần Thơ...
Từ những dữ liệu thu thập được tác giả đã tiến hành phân tích, tổng hợp,
đánh giá và rút ra những vấn đề cần nghiên cứu.
5. Phạm vi nghiên cứu:

vào việc cải thiện tình hình thu hút đầu tư vào các khu công nghiệp TP.Cần Thơ nên

Là các khu công nghiệp của TP Cần Thơ, đánh giá những thành tựu và tồn

tôi đã chọn: “Giải pháp phát triển các khu công nghiệp TP. Cần Thơ đến năm 2010”

tại, từ đó đưa ra những nguyên nhân và giải pháp nhằm tăng cường thu hút đầu tư,

làm tên luận văn nghiên cứu của mình, góp phần đưa TP. Cần Thơ sớm trở thành

góp phần phát triển các khu công nghiệp TP.Cần Thơ.

trung tâm kinh tế - văn hóa - khoa học kỹ thuật của vùng Đồng Bằng Sông Cửu
Long.

Luận văn không đề cập đến các khu tiểu thủ công nghiệp ở TP.Cần Thơ và
các doanh nghiệp nằm ngoài các khu công nghiệp TP.Cần Thơ.

2. Mục tiêu nghiên cứu:
Luận văn đã phân tích thực trạng các khu công nghiệp của TP Cần Thơ, trên
cơ sở đó đề ra giải pháp cho tương lai. Xác định những mặt đạt được và chưa được
để từ đó có định hướng và giải pháp hợp lý, phát huy thế mạnh sẵn có, vận dụng

Do những hạn chế nhất định, luận văn không thể tránh khỏi thiếu sót. Mong
các thầy, cô, bạn đọc thông cảm và có những đóng góp để luận văn hoàn thiện hơn.
Xin chân thành cảm ơn!


-5-

CHƯƠNG I:

TẦM QUAN TRỌNG CỦA KHU CÔNG NGHIỆP,
KHU CHẾ XUẤT ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN
KINH TẾ XÃ HỘI CỦA MỘT NƯỚC
.....W—X.....

1.1. Khái niệm về khu công nghiệp, khu chế xuất

♦ Khu công nghiệp (KCN): là khu tập trung các doanh nghiệp khu công
nghiệp chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất
công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống; do Chính phủ
quyết định thành lập. Trong KCN có thể có doanh nghiệp chế xuất .

♦ Khu chế xuất (KCX): là khu công nghiệp tập trung các doanh nghiệp chế
xuất chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện các dịch vụ cho sản xuất hàng xuất

-6-

ương hoặc Ban quản lý KCN trên địa bàn liên tỉnh hoặc Ban quản lý một KCN
(trường hợp cá biệt) do Thủ tướng chính phủ quyết định thành lập.
Từ đó, tôi căn cứ vào thực tế hoạt động và sự hình thành các khu công
nghiệp, khu chế xuất đưa ra một khái niệm về khu công nghiệp, khu chế xuất như
sau: Khu công nghiệp là khu được quy hoạch và đầu tư xây dựng cơ sở vật chất để
phát triển một cách có hệ thống theo kế hoạch tổng thể của nhà nước, nhằm cung
cấp hạ tầng cơ sở cho các doanh nghiệp chuyên sản xuất hàng công nghiệp, thực
hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp và bảo đảm tiện ích cho cộng đồng, do
cơ quan có thẩm quyền quyết định thành lập hoặc giải tán khi cần thiết. Khái niệm
này khác với nhận định của các khái niệm trên là khu công nghiệp, khu chế xuất
phải gắn liền với khu dân cư, nhưng không phải các khu dân cư nằm trong phạm vi
khu công nghiệp, khu chế xuất mà là các khu dân cư vệ tinh, gồm có nhà ở, khu
công viên và khu dịch vụ công ích đính kèm.

khẩu và hoạt động xuất khẩu, có ranh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh
sống; do Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập.

1.2. Lịch sử hình thành KCN trên thế giới

♦ Khu công nghệ cao (KCNC): là khu tập trung các doanh nghiệp công

Từ lâu trong lịch sử phát triển kinh tế, người ta đã phát triển loại hình KCN

nghiệp kỹ thuật cao và các đơn vị hoạt động phục vụ cho phát triển công nghệ cao

để tập trung các nhà máy sản xuất công nghiệp vào trong một khu vực. KCN đầu

gồm nghiên cứu triển khai khoa học công nghệ, đào tạo và các dịch vụ liên quan, có

tiên trên thế giới được thành lập vào năm 1896 ở Trafford Park thành phố

ranh giới địa lý xác định; do Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập. Trong

Manchester (Anh) với tư cách là một doanh nghiệp tư nhân. Sau đó vào năm 1899

KCNC có thể có doanh nghiệp chế xuất hoạt động.

vùng công nghiệp Clearing ở thành phố Chicago, bang Illinois bắt đầu hoạt động và

♦ Doanh nghiệp khu công nghiệp (DN KCN): là doanh nghiệp được thành

được coi là khu công nghiệp đầu tiên của Mỹ. Tuy nhiên trong giai đoạn này, điều

lập và hoạt động trong khu công nghiệp, bao gồm các doanh nghiệp sản xuất và

kiện địa lý, môi trường và công nghiệp lợi thế giữa KCN tập trung và công nghiệp

doanh nghiệp dịch vụ, đủ mọi thành phần kinh tế.

♦ Doanh nghiệp chế xuất (DN CX): là doanh nghiệp chuyên sản xuất hàng
xuất khẩu, thực hiện các dịch vụ chuyên cho sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động
xuất khẩu được thành lập và hoạt động trong KCN, KCX.

♦ Công ty kinh doanh cơ sở hạ tầng: là doanh nghiệp được thành lập có
chức năng kinh doanh cơ sở hạ tầng KCN và được Thủ tướng Chính phủ quyết định
cho phép đầu tư xây dựng và kinh doanh cơ sở hạ tầng KCN, KCX, KCNC.

♦ Ban quản lý các KCN cấp tỉnh: là cơ quan quản lý trực tiếp các KCN,
KCX, KCNC trong phạm vi địa lý hành chính một tỉnh, thành phố trực thuộc trung

riêng lẻ chưa có sự chênh lệch đáng kể trong lợi thế kinh tế các mặt nên số lượng
KCN tập trung chưa được các doanh nghiệp công nghiệp chú trọng cho đến những
năm 1950 - 1960. Do điều kiện công nghiệp phát triển mạnh nên ngoài điều kiện
môi trường sinh thái và các điều kiện xã hội đã có sự bùng nổ về phát triển các vùng
công nghiệp và KCN tập trung.
Đến năm 1959, ở Mỹ đã có 452 vùng công nghiệp và 1.000 khu công nghiệp
tập trung, cho đến năm 1970 đã tăng khoảng 1.400 KCN, cũng trong thời kỳ này ở
Anh có 55 KCN (1959), Pháp có 230 vùng công nghiệp và Canada có 21 vùng công
nghiệp (1965).


-7-

Đối với những nước đang phát triển đầu tiên đã sử dụng hệ thống KCN là
Pucto Rico. Trong những năm từ 1947 - 1963 Chính phủ Pucto Rico đã xây dựng
480 nhà máy để cho các doanh nghiêp thuê với cơ sở hạ tầng phù hợp nhằm thu hút
các công ty chế biến của Mỹ, hầu hết các nhà máy tập trung trong hơn 30 KCN.

-8-

tạo đội ngũ công nhân lành nghề, nhanh chóng hòa nhập và tăng cường sức cạnh
tranh của sản phẩm công nghiệp trên thị trường khu vực và thế giới.
Các KCN hình thành sẽ thu hút các nhà đầu tư xây dựng các nhà máy, xí
nghiệp sản xuất, cơ sở kinh doanh dịch vụ,... cùng vốn đầu tư trực tiếp, các nhà đầu

KCN đầu tiên ở các nước châu Á được khai sinh ở Singapore vào năm 1951, đến

tư trang bị cho các KCN những công nghệ, dây chuyền sản xuất cũng như phương

năm 1954 Malaysia cũng bắt đầu thành lập KCN cho đến giữa thập kỷ 90 đã có 139

pháp quản lý mới. Trực tiếp tác động đóng góp đẩy nhanh tiến trình công nghiệp

KCN, Ấn Độ bắt đầu thành lập KCN từ 1955 đến năm 1979 đã có 705 khu công nghiệp.

hóa, hiện đại hóa và góp phần giữ vững tốc độ tăng trưởng kinh tế của quốc gia.

Đặc biệt một số nước trong khu vực châu Á đã thành công rất lớn trong việc
sử dụng các hình thức KCN - KCX - KCNC để phát triển kinh tế của quốc gia điển
hình như khu công nghệ cao của Tân Trúc - Đài Loan được xây dựng năm 1980 với
diện tích xây dựng 650 ha trên tổng diện tích quy hoạch 2100 ha với tổng số vốn
đầu năm 1995 lên tới 7 tỷ USD, sau 15 năm hoạt động tổng doanh số hàng hóa và
dịch vụ của khu đạt 10,94 tỷ USD chiếm 3,6% GDP Đài Loan. Đài Loan cũng là
nước đầu tiên sử dụng thể chế KCX được sáng lập từ năm 1966, KCN Cao Hùng là
KCX đầu tiên của Đài Loan. Cho đến năm 1992, thế giới đã có tới 280 KCX được
xây dựng ở 40 nước trong đó có khoảng 60 khu đã hoạt động mang lại hiệu quả cao.
Về giải quyết việc làm: năm 1990 tổng số người làm việc trong các KCX từ
các nước đang phát triển đạt tới 530.000 người.
Về xuất khẩu: Tổng giá trị xuất khẩu các sản phẩm chế biến của các nước
đang phát triển là 258 tỷ USD năm 1988 chiếm khoảng 80% xuất khẩu của khu chế
xuất là từ các nước Malaysia, Hàn Quốc, Đài Loan. Giá trị xuất khẩu được tính trên
người công nhân là hơn 30.000 USD ở Malaysia, 50.500 USD ở Đài Loan và
67.800 USD ở Hàn Quốc, 72.000 USD ở khu Baguio City Philippines.
Các KCX đã thu hút nhiều nhà đầu tư nước ngoài phần lớn từ các ngành điện
tử như ở Hàn Quốc, Malaysia, Đài Loan.
Rõ ràng việc phát triển khu KCN - KCX - KCNC ở các nước đang phát triển
đóng vai trò rất lớn trong việc hình thành và phát triển ngành công nghiệp công
nghệ cao và tăng thu nhập kinh tế quốc dân. Qua việc phát triển của các KCN KCX - KCNC cao đã đẩy mạnh việc xuất khẩu của các quốc gia thu nhiều ngoại tệ,
tạo thêm nhiều công ăn việc làm, thu hút nhiều nguồn vốn đầu tư trực tiếp của nước
ngoài, tiếp nhận được kỹ thuật, công nghệ hiện đại và trình độ quản lý tiên tiến, đào

1.3. Quá trình hình thành và phát triển KCN - KCX ở Việt Nam
Tiền thân phát triển các KCN-KCX-KCNC là khu kỹ nghệ Biên Hòa (nay là
KCN Biên Hòa I) được thành lập năm 1963 nơi này có vị trí địa lý thuận lợi cho phát
triển công nghiệp, đây cũng là KCN lớn nhất và phát triển nhất sau ngày miền Nam
giải phóng 1975. Song song đó, tại miền Bắc cũng đã bắt đầu xây dựng nhiều khu
liên hợp, cụm công nghiệp lớn nhằm phát triển công nghiệp tạo cơ sở phát triển các
KCN-KCX-KCNC sau này, điển hình là khu công nghiệp gang thép Thái Nguyên.
Nhằm mở rộng và nâng cao hiệu quả hoạt động của việc hình thành xây
dựng, phát triển và quản lý KCN-KCX, ngày 18/10/1991 Chính phủ Việt Nam đã
ban hành quy chế KCX kèm theo Nghị định 322/HĐBT và năm 1994 Chính phủ
ban hành quy chế KCN kèm theo Nghị định 192/CP. Đánh dấu cho bước mở đầu
của việc phát triển KCN, KCX của nước ta cho đến ngày 24/4/1997 Chính phủ ban
hành Nghị định 36/CP thống nhất các quy chế KCN-KCX nhằm kiện toàn và đẩy
nhanh tốc độ đầu tư xây dựng và phát triển các KCN-KCX. Tạo một hành lang pháp
lý đặc biệt cho loại hình kinh tế còn khá mới mẻ lại có điểm xuất phát thấp, chúng
ta chưa có kinh nghiệm lại thiếu tiềm lực về nguồn vốn đầu tư các cơ sở vật chất hạ
tầng trong cũng như ngoài địa bàn KCN. Hơn nữa lại chịu sự cạnh tranh rất gay gắt
về thu hút đầu tư nước ngoài của các nước trong khu vực như: Trung Quốc, Thái
Lan, Indonesia. Tuy nhiên với đường lối chính trị đúng, Đảng ta đã lãnh đạo công
cuộc đổi mới và thu được những thành công, đã khẳng định được vị trí của đất nước
trên trường quốc tế. Với các chính sách kinh tế mở, thông thoáng đã hấp dẫn được
các nhà đầu tư và các quốc gia trên thế giới.
Chúng ta là nước đi sau trong lĩnh vực xây dựng phát triển KCN nên có điều
kiện tiếp thu những kinh nghiệm của nhiều nước trên cơ sở đó phân tích những nguyên


-9-

-10-

nhân về thành công, thất bại để rút ra những phương thức, điều kiện để hoạch định

- Khu kinh tế mở

những bước đi thích hợp cho việc xây dựng và phát triển các KCN ở nước ta.

Đặc điểm chung của các loại hình khu công nghiệp này là: Xuất phát từ khái

Từ khi có quy chế KCX đầu tiên từ năm 1991, đến năm 1992 KCX Tân

niệm KCN là khu tập trung các doanh nghiệp, do đó KCN có đặc điểm là tập trung

Thuận (TP. Hồ Chí Minh) đi vào hoạt động. Theo Vụ Quản lý KCN, KCX, Bộ Kế

vốn và các nguồn lực khác để tạo nên cơ sở hạ tầng thật tốt thu hút các nhà doanh

hoạch và Đầu tư, tính đến hết tháng 6/2004, nước ta đã có 154 KCN, KCX được

nghiệp vào sản xuất, trong một phạm vi địa lý xác định trên một phạm vi lãnh thổ

duyệt quy hoạch phát triển: trong đó 151 KCN, KCX đã thành lập, với tổng diện

nhất định, được Chính phủ áp dụng một cơ chế quản lý ưu đãi để động viên khuyến

tích 25.400 ha (không kể khu kinh tế Dung Quất 14.000 ha là khu kinh tế tổng hợp

khích các nhà đầu tư sản xuất trong KCN. Mục đích để tập trung các điều kiện

và KCNC Hòa Lạc, KCNC TP.HCM). Các KCN đã được thành lập ở Việt Nam

thuận lợi về mọi mặt (cơ sở hạ tầng, cơ chế quản lý,…) nhằm bảo vệ môi trường

phần lớn được tập trung tại các vùng kinh tế trọng điểm: Vùng kinh tế trọng điểm

sinh thái, nâng cao hiệu quả hoạt động công nghiệp và thương mại, đảm bảo an toàn

phía Bắc có 23 khu, diện tích 3.345 ha, Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam có 50

cho nhà đầu tư an tâm sản xuất.

khu, diện tích 11.579 ha, Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung có 17 khu, diện tích

Với đặc điểm và mục đích việc thành lập các KCN như trên, trong thời gian

2.466 ha và khu kinh tế Dung Quất (Quảng Ngãi), khu kinh tế mở Chu Lai (Quảng

qua từ năm 1991 đến nay đã thành lập các loại hình KCN có những đặc điểm mà có

Nam). Ngoài ra, các khu khác có 16 khu, diện tích 2.837ha. Hệ thống KCN ở nước

thể khái quát thành các loại hình như sau:

ta gồm nhiều loại hình, đa dạng về quy mô, tính chất và trình độ hiện đại. Trước hết

- Các KCN được thành lập trên một phạm vi khuôn viên có sẵn một số doanh

phải nói rằng sự ra đời của KCX Tân Thuận một hình thức tổ chức sản xuất công

nghiệp công nghiệp đang hoạt động. Nghĩa là KCN hình thành từ các cụm công

nghiệp tập trung sản xuất theo lãnh thổ đầu tiên ở nước ta, đã tạo được một mô hình

nghiệp có sẵn, do đó đòi hỏi các công ty phát triển cơ sở hạ tầng phải nhanh chóng

tổ chức sản xuất mới có hiệu quả, một hình mẫu tiên tiến về cơ chế quản lý một cửa

nâng cấp cơ sở hạ tầng và phải xây dựng các công trình xử lý chất thải công nghiệp,

tại chỗ về xu thế thời đại, từ đó có sức hấp dẫn thu hút các nhà đầu tư và đạt tốc độ

trồng cây xanh để giảm thiểu ô nhiễm môi trường sinh thái.

nhanh thực hiện đầu tư, xứng đáng là đơn vị được quốc tế xếp hạng nhất các KCN ở

- Các KCN hình thành do yêu cầu di dời các nhà máy, các xí nghiệp đang

châu Á, với giá trị thành công của một KCX đi đầu trong công cuộc đổi mới, KCX

hoạt động trong nội thành, nội thị, vùng đông dân cư sinh sống gây ảnh hưởng đến

Tân Thuận đã tạo ra sức lan tỏa mạnh trong cả nước mở ra hướng phát triển mới,

hoạt động của đời sống xã hội, làm mất vẻ mỹ quan, ô nhiễm môi trường, hoặc do

tiền đề cho việc phát triển KCN, KCX, KCNC.

yêu cầu di dời, giải tỏa để xây dựng các công trình xã hội khác. Mặt khác, một số

Đến nay, các KCN, KCX, KCNC đã và đang làm thay đổi cơ bản đời sống
kinh tế xã hội của những khu vực trước đây còn là những vùng hoang hóa nay trở
thành những vùng công nghiệp, vùng sản xuất hàng hóa phát triển, những trung tâm
văn hóa ngang tầm với các nước trong khu vực.
1.4. Đặc điểm các loại hình khu công nghiệp
Đối với nước ta có các loại hình KCN sau:
- Khu công nghiệp
- Khu chế xuất
- Khu công nghệ cao

công ty, xí nghiệp do yêu cầu mở rộng sản xuất, đầu tư đổi mới công nghệ phải
chọn giải pháp di dời.
- KCN hiện đại có quy mô lớn được xây dựng mới, loại hình này có đặc
điểm được tập trung vốn ban đầu tương đối lớn nên tốc độ xây dựng nhanh, chất
lượng các công trình hạ tầng đạt tiêu chuẩn quốc tế, có các hệ thống hạ tầng đồng
bộ, hệ thống xử lý các chất thải tiên tiến, có một số khu có nhà máy điện riêng bảo
đảm tốt cho quá trình sản xuất của các doanh nghiệp KCN.


-11-

1.5. Vai trò của KCN - KCX đối với sự phát triển kinh tế xã hội
- Phát triển các KCN-KCX theo đúng chiến lược và quy hoạch tổng thể là sự
thực hiện tốt nhất quá trình phân công lại lao động xã hội trên phạm vi cả nước ở một

-12-

quốc doanh và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Đầu tư vào KCN bao gồm
các lĩnh vực như xây dựng cơ sở hạ tầng KCN, sản xuất công nghiệp như hóa chất,
dệt may, da giầy, điện tử, lắp ráp ô tô, xe máy... và dịch vụ sản xuất công nghiệp.

trình độ cao hơn, nhằm cơ cấu lại nền kinh tế quốc dân theo hướng tập trung khai

Ngoài các dự án đầu tư và kinh doanh cơ sở hạ tầng KCN. Tính đến thánh 6

thác, tận dụng có hiệu quả mọi nguồn lực trong và ngoài nước, những tiềm năng, lợi

năm 2004 đã có 2.864 dự án đầu tư còn hiệu lực trong các KCN, trong đó có 1.442

thế hiện có, nâng cao sức cạnh tranh, đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại

dự án có vốn đầu tư nước ngoài với tổng vốn đăng ký là 11.390 triệu USD và 1.422

hóa và phát triển chung của nền kinh tế theo hướng phát triển bền vững.

dự án trong nước với tổng vốn đầu tư là 72.612 tỷ đồng.

- Phát triển các KCN-KCX theo đúng chiến lược, quy hoạch và hoạt động có
hiệu quả là nhân tố góp phần to lớn trong việc tạo ra khối lượng sản phẩm hàng hóa
xuất khẩu và tiêu dùng có giá trị kinh tế cao, tăng thêm nhiều việc làm để thu hút
một số lượng không nhỏ những người lao động ở khắp mọi miền đất nước, nhất là
lao động ở nông thôn, góp phần tăng nhanh kim ngạch xuất khẩu, tăng thu nhập
quốc dân, ổn định kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống nhân dân, xóa hộ đói, giảm hộ
nghèo, ngày càng có nhiều hộ giàu và tiến tới tất cả cùng giàu.
- Phát triển các KCN-KCX theo đúng chiến lược và quy hoạch sẽ tạo ra địa
bàn thuận lợi cho quá trình tiếp thu những thành tựu tiến bộ khoa học và công nghệ,
thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa phù
hợp với xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, tạo ra thế và lực mới cho nền kinh tế phát
triển bền vững.

1.6.1. Về đầu tư nước ngoài.
Tính đến 6 tháng đầu năm 2004, các nhà đầu tư nước ngoài từ hơn 40 nước,
vùng lãnh thổ đã đầu tư vào các KCN, với 1.442 dự án, với tổng vốn đầu tư là
11.390 triệu USD (không kể 19 dự án xây dựng cơ sở hạ tầng KCN). So với vốn
đăng ký của tất cả các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã được cấp giấy
phép trong cả nước, tỷ trọng vốn đăng ký của các dự án trong các KCN chiếm 29%.
Nếu chỉ tính riêng cho các ngành công nghiệp sản xuất và dịch vụ công nghiệp (trừ
dầu khí, du lịch, khách sạn, khu đô thị, khu vui chơi giải trí, bệnh viện, trường học,
tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, trồng rừng), tỷ trọng này chiếm trên 40%
1.6.2. Về đầu tư trong nước.
Tính đến tháng 6 năm 2004, trong các KCN có 1.422 dự án đầu tư trong

- Phát triển các KCN-KCX theo đúng chiến lược và quy hoạch cũng đồng

nước với tổng vốn theo dự toán là 72.612 tỷ đồng. Ngoài các doanh nghiệp được

thời tạo ra một hệ thống kết cấu hạ tầng mới, đồng bộ cả về kết cấu hạ tầng kinh tế -

thành lập và hoạt động trước khi KCN được hình thành, trong 3 năm gần đây, các

kỹ thuật và kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, tạo điều kiện thuận lợi cho mọi thành

nhà đầu tư trong nước đã đầu tư nhiều vào KCN, điển hình là các địa phương như:

phần kinh tế, mọi thành viên của cộng đồng, tiếp cận được với các nguồn lực, cho

TP. Hồ Chí Minh, Bình Dương, Bình Định, Phú Yên...

phép thực hiện sự kết hợp hài hòa giữa phát triển kinh tế với phát triển xã hội và
bảo vệ môi trường, trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa vì sự
phát triển bền vững.

1.6.3. Về vấn đề đất trong KCN
Tính đến tháng 6 năm 2004, các KCN đã cho thuê được 5.772 ha, bằng
41,8% tổng diện tích đất công nghiệp có thể cho thuê (13.809 ha trong 106 KCN đã

1.6. Tình hình hoạt động của các KCN, KCX Việt Nam thời gian qua:
Sau hơn 12 năm xây dựng và phát triển, với những chính sách ưu đãi và cơ
sở hạ tầng quốc gia được cải thiện nâng cấp, các KCN ở Việt Nam đã thật sự hấp
dẫn các nhà đầu tư trong và ngoài nước. Các doanh nghiệp đầu tư vào KCN thuộc
đủ mọi thành phần kinh tế, bao gồm doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp ngoài

được thành lập) nếu không tính 38 KCN mới thành lập năm 2003, 6 tháng đầu năm
2004 và một số KCN đã thành lập từ năm 1997 nhưng chưa triển khai thì tỷ lệ lấp
đầy của các KCN trong cả nước đạt 59,8% diện tích đất công nghiệp.


-13-

-14-

Tình hình thuê đất tại các KCN đến tháng 6 năm 2004 được thể hiện ở bảng sau:

Bảng 1.2: Giá trị SX và XK hàng hóa ở các KCN và khối đầu tư nước ngoài.

Bảng 1.1: Tình hình thuê đất tại các KCN ở Việt Nam

Khu Công nghiệp
TT

TT

Tỷ lệ đất cho thuê/diện tính đất

Số khu

Đã cho thuê trên 80%

25

Đầu tư nước ngoài của cả nước

Giá trị sản lượng Giá trị xuất khẩu Giá trị sản lượng
hàng hóa

Tỷ lệ (%)

hàng hóa

hàng hóa

Giá trị xuất
khẩu hàng hóa

1

1999

1.950

100

1.500

100

4.800

100

2.590

100

23.5

2

2000

3.555

182

2.170

145

6.500

135

3.320

128

3

2001

4.500

128

3.000

138

7.400

114

3.600

108

4

2002

5.000

111

3.200

107

9.000

121

4.500

125

5

2003

7.300

146

3.210

100.3

11.47

130.5

6.225

138

6

6 tháng

4.535

149

1995

140

8.000

130

3.850

128.9

công nghiệp (%)
1

Năm

2

Đã cho thuê trên 50% đến 80%

25

23.5

3

Đã cho thuê trên 30% đến 50%

17

16.0

4

Đã cho thuê trên 10% đến 30%

14

13.5

5

Đã cho thuê trên 1% đến 10%

04

03.7

6

Chưa cho thuê được đất

21

19.8

2004

(Nguồn: Vụ Quản lý KCN và KCX, Bộ Kế hoạch và Đầu tư)

(Nguồn: Vụ Quản lý KCN và KCX, Bộ Kế hoạch và Đầu tư)
Từ bảng trên ta có thể rút ra một số nhận xét sau:
- Số KCN đã cho thuê từ trên 50% diện tích đất công nghiệp trở lên có 50
khu (chiếm 47,1% tổng số KCN), các KCN này đã đi vào hoạt động và đã phát huy
tốt hiệu quả của nó.
- Trong tổng số 21 khu chưa cho thuê đất chủ yếu là các khu mới có quyết
định thành lập (16 khu thành lập năm 2003 và 8 khu thành lập trong 6 tháng đầu
năm 2004)

1.6.5. Về thu hút lao động
Đến tháng 6 năm 2004, các KCN đã tạo việc làm cho gần 60 vạn lao động
trực tiếp và khoảng hơn 1 triệu lao động gián tiếp. Số lao động này chủ yếu tập
trung tại một số tỉnh, thành phố như:
-

Thành phố Hồ Chí Minh có hơn 13 vạn lao động trực tiếp tại các KCN

-

Tỉnh Bình Dương: có gần 10 vạn lao động

-

Tỉnh Đồng Nai: có gần 16 vạn lao động

-

Thành phố Hà Nội: có gần 1,3 vạn lao động

-

Thành phố Đà Nẵng: có trên 1,4 vạn lao động

Trong số các doanh nghiệp trong KCN đã được cấp giấy phép, có gần 1.541

-

KCN Điện Nam - Điện Ngọc (Quảng Nam): gần 2 vạn lao động

doanh nghiệp (trong đó 814 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, 727 doanh

-

KCN Phú Tài (Bình Định): có gần 1,2 vạn lao động

nghiệp trong nước) đã sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp còn lại đang trong

-

KCN Cần Thơ: có trên 1,5 vạn lao động

1.6.4. Về tình hình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trong KCN

quá trình xây dựng hoặc chuẩn bị xây dựng nhà xưởng để đi vào sản xuất. Trong
thời gian qua, giá trị sản lượng hàng hóa cũng như giá trị xuất khẩu hàng hóa ở các
KCN tăng trưởng ở mức cao.
Doanh thu và kim ngạch xuất khẩu của các KCN trong những năm gần đây
được thể hiện ở bảng 1.2:

1.6.6. Về quản lý Nhà nước đối với KCN
Tính đến tháng 6 năm 2004, cả nước có 42 Ban quản lý KCN cấp tỉnh được
thành lập. Theo quy định hiện hành, các bộ, ngành ủy quyền cho Ban quản lý KCN
cấp tỉnh thực hiện một số nhiệm vụ quản lý nhà nước như: Bộ Kế hoạch và Đầu tư
đã ủy quyền việc cấp, điều chỉnh, thu hồi giấy phép đầu tư đối với các dự án đầu tư
nước ngoài đến 40 triệu USD với những điều kiện nhất định; Bộ Thương mại đã ủy
quyền phê duyệt kế hoạch xuất nhập khẩu và quản lý hoạt động thương mại; Bộ Lao


-15-

-16-

động và Thương binh xã hội ủy quyền việc cấp phép cho người lao động nước

việc lấp đầy diện tích KCN hiện nay, tuy nhiên đó là định hướng tất yếu nhằm đảm

ngoài... Bên cạnh đó cùng với việc cải thiện các thủ tục hành chính chung của cả

bảo, xây dựng, phát triển KCN theo hướng phát triển bền vững.

nước, các bộ, ngành và UBND cấp tỉnh cũng đã ban hành những chính sách đơn

ª Hai là, kết hợp chặt chẽ việc phát triển KCN với việc chuyển dịch cơ cấu

giản hóa, giảm thiểu các thủ tục hành chính, chế độ công khai thủ tục để tạo điều

kinh tế và quá trình đô thị hóa, phát triển nông nghiệp, nông thôn, đồng bộ hóa việc

kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư. Đồng thời, các cơ quan quản lý chuyên ngành

phát triển hạ tầng kỹ thuật - xã hội trong và ngoài hàng rào KCN ngay từ khâu xem

như hải quan, ngân hàng, công an... cũng đã được thành lập tại các KCN.

xét thành lập để thống nhất quy hoạch phát triển kinh tế-xã hội, đảm bảo tính khả

Trên cơ sở cơ chế ủy quyền này đã hình thành và phát huy được cơ chế quản
lý “một cửa, tại chỗ”. Ban quản lý KCN cấp tỉnh đã được trao quyền quyết định

thi và nâng cao hiệu quả hoạt động của các KCN.
Việc kết hợp chặc chẽ giữa quy hoạch KCN với quy hoạch khu đô thị, khu

trong quản lý KCN, góp phần nâng cao hiệu quả và hiệu lực quản lý Nhà nước đối

dân cư và các dịch vụ phục vụ sẽ là nhân tố bảo đảm phát triển bền vững, cho phép

với KCN, rút ngắn được thủ tục hành chính, giải tỏa tâm lý cho các nhà đầu tư trong

chính quyền địa phương tăng thêm nguồn tài chính để có thể khai thác quỹ đất và

và ngoài nước về chính sách của nhà nước ta đối với việc đầu tư vào các KCN, góp

các lợi ích khác từ sự phát triển KCN. Khi xây dựng khu đô thị, khu dân cư, khu

phần không nhỏ thúc đẩy phát triển các KCN, được các doanh nghiệp KCN thừa

dịch vụ... tùy theo đặc điểm của từng địa phương, không nhất thiết đi liền với từng

nhận tính tích cực của công tác quản lý Nhà nước. Đây là cơ chế quản lý đúng và

KCN mà có thể liên kết phục vụ nhiều KCN trên địa bàn, hoặc mở rộng ra ngoài

phù hợp với xu thế hội nhập và phát triển hiện nay.

phạm vi huyện tỉnh trong một liên kết toàn khu vực.

Tóm lại, tình hình phát triển KCN hơn 12 năm qua đã đạt được những thành

ª Ba là, nâng cao hiệu quả công tác quy hoạch và điều hành thực hiện quy

tựu cơ bản. Đó là, các KCN đã thu hút được nhiều dự án đầu tư đặc biệt là đầu tư

hoạch với quan điểm “triển khai thông thoáng nhưng đảm bảo chặt chẽ”. Đối với

nước ngoài, tạo nguồn vốn quan trọng cho đầu tư phát triển kinh tế-xã hội của đất

các KCN gặp khó khăn trong việc triển khai , cần tập trung giải quyết các vướn mắc

nước. Góp phần đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, thúc đẩy quá trình chuyển

để tiếp tục triển khai. Nếu KCN không triển khai được do chủ đầu tư xây dựng cơ

dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động. Phát huy vai trò hạt nhân, phát triển kinh tế

sở hạ tầng thiếu năng lực hoặc có những khó khăn khác thì kiến nghị với Thủ tướng

vùng, lãnh thổ, đẩy nhanh tốc độ đô thị hóa đất nước. Sử dụng có hiệu quả quỹ đất

Chính phủ thay đổi chủ đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng KCN. Trường hợp những

công nghiệp, vốn đầu tư và tiết kiệm chi phí sản xuất, tạo thêm nhiều việc làm và

KCN không có triển vọng phát triển, cần kiên quyết xem xét rút Giấy phép đầu tư

tăng thu nhập cho người lao động.

(Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài) hay Quyết định phê duyệt dự án (doanh

1.7. Một số định hướng phát triển các KCN ở Việt Nam
Trong thời gian tới, song song với việc làm tốt công tác quy hoạch phát triển các
KCN, việc xây dựng và phát triển các KCN cần tiến hành theo các định hướng sau:
ª Một là, kết hợp giữa việc lấp đầy diện tích với việc nâng chất lượng dự án
đầu tư vào KCN.
Từng bước chọn lọc và khuyến khích thu hút các dự án có điều kiện phát huy
thế mạnh của từng địa phương cũng như các dự án có vốn lớn, công nghệ cao, nguy
cơ ô nhiễm môi trường thấp. Việc chọn lọc chắc chắn sẽ gây tác động mạnh mẽ đến

nghiệp trong nước) hoặc chuyển đổi mục đích sử dụng.
ª Bốn là, hoàn thiện cơ chế và phương thức quản lý KCN theo hướng tăng
cường cơ chế “một cửa, tại chỗ” nhằm tạo điều kiện thuận lợi hơn nữa cho các
doanh nghiệp trong KCN. Xử lý quan hệ giữa các cơ quan quản lý Nhà nước đối
với KCN ở Trung ương và địa phương nhằm tăng cường thống nhất quản lý KCN
theo quy hoạch, cơ chế, chính sách chung cho KCN. Tiếp tục hoàn thiện hệ thống
các văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt động của KCN.


-17-

-18-

ª Năm là, có biện pháp triệt để trong việc xử lý môi trường.
Trước hết phải nâng cao chất lượng quy hoạch KCN, thời gian tới tập trung

CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC

xây dựng các KCN chuyên ngành, tăng tỷ lệ diện tích cây xanh và các dịch vụ công.

KHU CÔNG NGHIỆP THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Yêu cầu mọi doanh nghiệp trong KCN phải có hệ thống xử lý chất thải cục bộ đạt

.....W—X.....

tiêu chuẩn trước khi thải ra hệ thống chung. Từng KCN phải có nhà máy xử lý nước
thải tập trung và được đầu tư xây dựng song song với việc xây dựng kết cấu hạ tầng
KCN. Tạo sự liên kết giữa các địa phương trong vùng trong việc quy hoạch KCN và
vận động đầu tư để bảo đảm cho việc bảo vệ môi trường trong toàn khu vực, đặc
biệt là các KCN có thể gây ô nhiễm nguồn nước mặt.
ª Sáu là, tăng cường việc đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực.
Đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực phải đáp ứng được các yêu cầu như: cân
đối giữa lao động địa phương và lao động nhập cư; từng bước tăng hàm lượng chất
xám trong lao động, có kế hoạch về tái đào tạo nguồn nhân lực.
Chính quyền các cấp cần có hỗ trợ về kinh phí cho các doanh nghiệp trong
KCN trong việc đào tạo nguồn lao động làm việc trong KCN.
ª Bảy là, tập trung xây dựng đồng bộ hạ tầng ngoài hàng rào KCN, trước
mắt khẩn trương giải quyết vấn đề nhà ở cho công nhân, xây dựng đời sống văn hóa
cho công nhân làm việc tại các KCN.
Song song với việc hoàn thiện cơ sở kết cấu hạ tầng KCN, trong thời gian tới
cần phải chú trọng đến việc xây dựng khu đô thị, khu dân cư, các dịch vụ phục vụ
KCN. Đây là yêu cầu tất yếu và cần thiết đảm bảo phát triển KCN có chất lượng và
phát triển bền vững.

2.1 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CÁC KCN CẦN THƠ
2.1.1. Sơ lược về tình hình kinh tế xã hội TP.Cần Thơ.
Đồng Bằng Sông Cửu Long gồm 13 tỉnh, thành phố có diện tích đất tự nhiên
gần 40.000 km2, dân số 17 triệu người; là vùng Châu Thổ phì nhiêu, màu mỡ do
chín nhánh sông Mekong bồi đắp tạo thành. Đây là vựa lúa lớn nhất nước, hàng
năm ĐBSCL sản xuất lương thực, thủy hải sản và trái cây chiếm trên 60% sản
lượng cả nước. Là nơi cung cấp chủ yếu lương thực cho xuất khẩu, nguyên liệu cho
công nghiệp chế biến và là thị trường tiềm năng lớn tiêu thụ hàng công nghiệp.
Thành phố Cần Thơ thuộc ĐBSCL, theo tinh thần Nghị quyết của Quốc hội
khóa XI, kỳ họp thứ 4 thì tỉnh Cần Thơ được chia làm 2 là thành phố Cần Thơ trực
thuộc trung ương và tỉnh Hậu Giang kể từ ngày 1 tháng 1 năm 2004.
Thành phố Cần Thơ có diện tích 139.000 ha nằm ở vị trí trung tâm Đồng
Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) về phía Tây sông Hậu nối với đường biển quốc tế
theo luồng Định An, cách biển 75km, có quốc lộ 1A thuận tiện giao thông bộ nối
liền với thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh ĐBSCL, mặt khác còn thuận lợi giao
thông thủy bộ đến Campuchia. Phía Đông Giáp tỉnh Đồng Tháp và Vĩnh Long; phía
Tây giáp tỉnh Kiên Giang; phía Nam giáp tỉnh Hậu Giang; phía Bắc giáp tỉnh An
Giang và Đồng Tháp.
TP. Cần Thơ có dân số 1.121.141 người, trong đó dân cư thành thị là
559.040 người chiếm 49,86% và dân cư nông thôn là 562.101 chiếm 50,14%. Lao
động nông nghiệp chiếm 53,67% và lao động phi nông nghiệp chiếm 46,33%. Mật
độ dân số 807 người/km2. Về tổ chức các đơn vị hành chính gồm có 4 quận là Ninh
Kiều, Cái Răng, Bình Thủy, Ô Môn; và 4 huyện là Phong Điền, Cờ Đỏ, Vĩnh
Thạnh, Thốt Nốt (trung tâm TP. Cần Thơ là quận Ninh Kiều).
Tốc độ tăng trưởng kinh tế của Cần Thơ luôn duy trì ở mức cao gắn với việc
giải quyết các vấn đề xã hội có hiệu quả. Trong đó, tốc độ tăng GDP giai đoạn 1976 1985 là 4,99%; giai đoạn 1986 - 2000 là 9,42% và giai đoạn 2001 - 2003 là 11,67%.


-19-

-20-

Đặc biệt, sau một năm Cần Thơ trở thành TP trực thuộc Trung ương, tốc độ tăng
trưởng kinh tế đạt 14,93%. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa,

TỪ 1998 ĐẾN NAY
KCN TRÀ NÓC 1(135HA)
KCN TRÀ NÓC 2 (165HA)
KCN HƯNG PHÚ I (350 HA)
KCN HƯNG PHÚ II (226 HA)

hiện đại hóa, phát huy được nhiều lợi thế của TP nói chung và từng ngành, từng địa
phương nói riêng. Về kinh tế, nếu như năm 1976, khu vực I chiếm 66,8%; khu vực II
chiếm 11,7% và khu vực 3 chiếm 22,13% thì đến năm 2003 khu vực I chiếm 29,40%;
khu vực II chiếm 34,69% và khu vực III chiếm 35,91%. Năm 2004, sau khi chia tách,
cơ cấu kinh tế của TP. Cần Thơ chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ trọng thương

TỪ 1995 ĐẾN 1998
1995: KCN TRÀ NÓC 1(135HA)
1998: KCN TRÀ NÓC 2 (165HA)

mại, dịch vụ, công nghiệp, giảm tỷ trọng nông nghiệp (khu vực I chiếm 21,23%, khu
vực II chiếm 35,05%; khu vực III chiếm 43,72%). Nếu như giá trị sản xuất công
nghiệp giai đoạn 1976 - 1985 tăng bình quân 9,12%/năm, giai đoạn 1986 - 2000 là
14,9%/năm, thì đến giai đoạn 2001 - 2003 tăng bình quân 19,4%/năm. Vốn đầu tư

TỪ 1975 ĐẾN 1995
GIẢI TÁN KCN

toàn xã hội năm 2004 đạt 4.089 tỉ đồng (năm 1993 là 384 tỉ đồng).
Các lĩnh vực văn hóa - xã hội cũng đạt được nhiều tiến bộ. Nếu như năm
1976 tỷ lệ hộ dân sử dụng điện là 10,59% thì đến năm 2003 là 90,26% và đến năm
2004 là 96,5%. Tỷ lệ hộ dân sử dụng nước sạch tăng từ 69% năm 2000 lên 85%
năm 2004. Tỷ lệ lao động được đào tạo nghề tăng từ 6,62% (năm 2000) lên 14,85%

TỪ 1960 ĐẾN 1975
KCN TÂY ĐÔ

(năm 2004). Tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh năm 1993 là 15,2% thì đến cuối năm 2004 chỉ
còn 2,52%. Thu nhập bình quân đầu người tăng từ 166 USD/người (năm 1993) lên
647 USD/người (năm 2004).
TP.Cần Thơ nằm ở đầu mối giao thông huyết mạch của vùng, có hệ thống hạ
tầng kỹ thuật như giao thông thủy, bộ, sân bay, bến cảng, trường Đại học, các khu
công nghiệp tập trung, các dịch vụ bưu chính viễn thông, bảo hiểm ngân hàng, điện,
nước....Với vị trí tiềm năng nêu trên TP.Cần Thơ được xác định là trung tâm kinh
tế, văn hoá, khoa học kỹ thuật, tài chính, thương mại và dịch vụ của ĐBSCL.
2.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển các KCN Cần Thơ:
2.1.2.1. Lịch sử hình thành
Trong những năm 1960 KCN ở Cần Thơ bắt đầu thành lập mang tên KCN
Tây Đô, hoạt động trong một thời gian khá dài từ năm 1960 đến năm 1975 trong
tình hình kinh tế, xã hội vô cùng phức tạp vì đất nước ta đang trong giai đoạn chiến
tranh, tuy nhiên KCN vẫn được thành lập và hoạt động.

Sơ đồ 1.1: Các mốc thời gian
Sau khi đất nước được giải phóng, KCN Tây Đô không hoạt động nữa. Thời
gian này, KCN Tây Đô bị giải tán, không còn hoạt động sản xuất của một KCN mà
nơi đây được chuyển đổi thành khu sản xuất khác. Chấm dứt thời kì hoạt động của
KCN Tây Đô.
Kéo dài 20 năm, đến năm 1995 chính phủ đã có quyết định thành lập lại
KCN ở Cần Thơ với tên gọi KCN Trà Nóc 1, diện tích 135 hecta. Từ đây, Ban quản
lý KCN cũng được ra đời để điều hành hoạt động của KCN này, KCN Trà Nóc 1 đã
có những bước phát triển tích cực trong thời gian này, thu hút một lượng lớn đáng
kể các doanh nghiệp trong và ngoài nước vào hoạt động. Bên cạnh đó, nước ta cũng
đã ban hành luật khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài và có chính sách ngoại
giao rất tốt đối với tất cả các nước trên thế giới đã tạo thuận lợi cho tình hình phát
triển của KCN.


-21-

-22-

Cùng với sự gia tăng của nguồn vốn đầu tư FDI, KCN Trà Nóc 1 cũng hoạt

Khuyến khích phát triển các ngành công nghiệp không gây ô nhiễm cho

động thịnh vượng hơn, nguồn vốn đầu tư vào KCN mạnh hơn. Do đó, đến năm

nguồn nước, không khí và đất đai như: chế biến lương thực, thực phẩm; Các ngành

1998 Chính phủ lại có quyết định thành lập KCN Trà Nóc 2 với diện tích là 165

công nghiệp cơ khí, điện, điện tử, sản xuất phụ tùng máy móc, phương tiện vận tải;

hecta. Đây cũng là một trong hai KCN hoạt động sôi nổi và có diện tích hầu như

Công nghiệp vật liệu xây dựng; Công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng...

được lắp đầy.
Từ năm 1998 đến nay, TP.Cần Thơ lại có thêm 2 KCN: KCN Hưng Phú 1,
KCN Hưng Phú 2.
2.1.2.2. Đặc điểm các KCN ở TP.Cần Thơ:
Theo quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của Cần Thơ giai đoạn 2000 –
2010, Chính phủ cho phép xây dựng tại Cần Thơ 2 KCN tập trung có tổng diện tích
876 hecta, bao gồm:
-

KCN Trà Nóc : 300 hecta.

-

KCN Hưng Phú: 576 hecta.

™ KCN Trà Nóc: có tổng diện tích là 300 hecta, nằm cạnh quốc lộ 91A đi
An Giang, Kiên Giang, cạnh bờ Sông Hậu đi Campuchia và ra biển Đông, cách sân
bay Trà Nóc 2 km, cách cảng Cần Thơ 3 km, cách Trung tâm TP.Cần Thơ 10 km về
phía Bắc, được cung cấp đầy đủ dịch vụ về Ngân hàng, Bưu chính viễn thông, Nhà
hàng, Khách sạn. Tp. Cần Thơ cũng là nơi cung cấp đội ngũ cán bộ kỹ thuật, công
nhân lành nghề phục vụ cho sản xuất công nghiệp. KCN Trà Nóc được chia thành 2
khu vực:
KCN Trà Nóc I: Có diện tích 135 hecta, tọa lạc tại Phường Trà Nóc, Quận
Bình Thủy, Tp.Cần Thơ. Khởi công từ năm 1995, đến nay, hạ tầng kỹ thuật đã được
xây dựng hoàn chỉnh như : giao thông nội bộ, cấp điện, cấp thoát nước và bưu chính
viễn thông. Tính đến tháng 9 năm 2004 đã cho thuê 100% diện tích đất công nghiệp.
KCN Trà Nóc II: Có diện tích 165 hecta, tọa lạc tại xã Phước Thới, Quận Ô
Môn, liền kề với KCN Trà Nóc 1. Khởi công từ năm 2000, đến nay, cơ sở hạ tầng đang
được xây dựng, đã có các nhà đầu tư trong và ngoài nước đến thuê đất để xây dựng nhà
máy. Diện tích đất công nghiệp đã cho thuê tính đến tháng 9 năm 2004 là trên 65%.
ªLợi thế về vị trí kinh tế: Nằm sát bờ sông Hậu, đường sông chính giao lưu
trong nước và quốc tế; ngược dòng phía Bắc đi Camphuchia, xuôi dòng qua cảng Cần Thơ
(cách 3km) đi ra biển Đông (cửa biển Định An)

™ KCN Hưng Phú: có diện tích 576 hecta nằm bên bờ Sông Hậu, cách Trung
tâm Tp.Cần Thơ 9 km về phía Nam. Ngược dòng lên phía Bắc đi Campuchia, xuôi
dòng về phía Nam ra biển Đông. Dọc theo bờ Sông Hậu 9 km, thuộc địa bàn
phường Tân Phú và Phú Thứ, Quận Cái Răng, Tp.Cần Thơ. KCN Hưng Phú được
chia làm 02 khu vực
KCN Hưng Phú I: Có diện tích 350 ha, tọa lạc tại phường Tân Phú, quận Cái
Răng, đã được Chính phủ cho phép thành lập trong năm 2004. Hạ tầng kỹ thuật nội
Khu chưa xây dựng, nhưng đã thu hút được 5 dự án lớn có số vốn đăng ký 51 triệu
USD, trong đó, có 1 dự án có vốn đầu tư nước ngoài với vốn đăng ký 7 triệu USD.
Đã cho thuê khoảng 38% diện tích đất công nghiệp.
KCN Hưng Phú II: Có diện tích 226 hecta, tọa lạc tại phường Phú Thứ, quận
Cái Răng. Quy hoạch chi tiết đang trình duyệt, cũng chưa xây dựng hạ tầng kỹ thuật
nội Khu, nhưng đã thu hút được 3 dự án có số vốn đăng ký 21 triệu USD, trong đó,
có 1 dự án có vốn đầu tư nước ngoài với số vốn đăng ký 4,8 triệu USD.
ªLợi thế về vị trí kinh tế:
Nằm gần trung tâm thành phố Cần Thơ và bên cạnh một khu đô thị mới với
các dịch vụ ngân hàng, bưu chính, viễn thông, nhà hàng, khách sạn, trường học,
bệnh viện... đã được quy hoạch phát triển.
Tại KCN Hưng Phú I, Cảng biển quốc tế Cái Cui đang được xây dựng với
quy mô lớn hơn cảng Cần Thơ, cho tàu có trọng tải trên 10.000 tấn cặp bến; có đủ
hệ thống kho tàng đáp ứng mức lưu chuyển hàng hóa 4 - 5 triệu tấn/năm. Quốc lộ
91C nối cầu Cần Thơ, Quốc lộ 1 và cầu Quang Trung, cảng Cái Cui đang được thi
công; các công trình điện nước, viễn thông cũng được UBND thành phố chỉ đạo
khẩn trương triển khai xây dựng từ năm 2002.
Khuyến khích phát triển các ngành công nghiệp chế biến lương thực, thực
phẩm, thủy hải sản, nước giải khát từ trái cây, rau quả xuất khẩu; Công nghiệp dệt,
may, da; Công nghiệp hóa chất và các sản phẩm từ hóa chất; Công nghiệp hàng tiêu


-23-

-24-

dùng; Công nghiệp khai thác cảng, đóng mới và sửa chữa tàu biển; Công nghiệp cơ

số vốn đầu tư cao nhất (122 tỷ đồng). Ban Quản lý KCN và CX Cần Thơ thực hiện

khí chế tạo và lắp ráp nông cơ, phục vụ cho cơ giới hóa nông nghiệp; Các ngành

đầu tư hạ tầng cơ sở theo hình thức “cuốn chiếu” doanh nghiệp thuê đến đâu giải

công nghiệp khác phù hợp với định hướng công nghiệp hóa hiện đại hóa của một

tỏa đền bù đến đó và dứt điểm theo thửa đất của từng hộ. Tổng vốn đầu tư hạ tầng

trung tâm ĐBSCL.

tăng dần qua các năm thể hiện sự quan tâm của Lãnh đạo KCN trong việc cố gắng
hoàn thiện cơ sở hạ tầng. Năm 2003 tăng 3% so với năm 2002 (về tuyệt đối tăng

2.2 KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG CÁC KCN CẦN THƠ THỜI GIAN QUA

6,645 tỷ đồng). Năm 2004 tăng gần 12% (khoảng 12 tỷ đồng) so với năm 2003. Sự

2.2.1 Về vốn đầu tư và cơ sở hạ tầng.
Cơ sở hạ tầng trong và ngoài hàng rào KCN là yếu tố rất quan trọng trong
việc hấp dẫn các nhà đầu tư. Cho đến nay việc đầu tư cơ sở hạ tầng trong hàng rào
các KCN Cần Thơ vẫn thực hiện theo hình thức “cuốn chiếu”, doanh nghiệp thuê
đến đâu giải tỏa đền bù đến đó. Kết quả đầu tư trong những năm qua như sau:
Bảng 2.1: Vốn đầu tư hạ tầng KCN
Doanh nghiệp

- Công ty phát triển KCN
- C.ty Cấp thoát nước Cần Thơ

ĐVT: tỷ đồng

Năm

Năm

Năm

2002

2003

2004

2003/2002
Ch.lệch

%

2004/2003
Ch.lệch

%

92.58

99.23

121.7

6.65 107.2

22.47 122.6

70.7

70.7

70.7

0 100.0

0 100.0

- Bưu điện

8.8

8.8

8.8

0 100.0

0 100.0

- Điện lực

22.23

22.23

23.72

0 100.0

1.49 106.7

194.31 200.96 224.92

6.65 103.4

23.96 111.9

Tổng cộng

(Nguồn: Báo cáo kết quả hoạt động năm 2004 của BQL các KCX & CN Cần Thơ)

gia tăng vốn đầu tư này chủ yếu do nguyên nhân sau:
Công ty Phát triển KCN Cần Thơ vừa thực hiện nhiệm vụ chỉnh trang tu bổ
hạ tầng KCN Trà Nóc I, vừa đẩy mạnh thi công các hạng mục công trình hạ tầng
KCN Trà Nóc II, KCN Hưng Phú I và KCN Hưng Phú II. Cụ thể: đối với KCN Trà
Nóc I, năm 2004 đã tiến hành xây dựng cầu cảng, với tổng trị giá 0,8 tỷ đồng, nâng
cấp hành lang quốc lộ 91A. Xây dựng xong trục lộ chính 1.400m tại KCN Trà Nóc
II. Giải tỏa được 200 hộ dân và tái định cư được 93 hộ, kết quả đất đã giải tỏa được
72,6 ha tại KCN Hưng Phú I, với tổng kinh phí bồi hoàn là 33 tỷ đồng. Đối với
KCN Hưng Phú II, đang tiếp tục hoàn chỉnh dự án và quy hoạch chi tiết theo định
hướng xây dựng thành phố Cần Thơ phát triển bền vững với KCN tập trung.
Tuy nhiên, tốc độ tăng vốn đầu tư hạ tầng như trên là rất chậm so với nhu
cầu phát triển KCN, ta thấy hầu như sự tăng trưởng của vốn đầu tư hạ tầng trong
các năm qua chủ yếu là do sự gia tăng vốn của công ty phát triển KCN. Các công ty
Cấp thoát nước, bưu điện, điện lực hầu như không gia tăng nguồn vốn kể từ năm
2002. Bởi vì từ năm 2002 ngành điện đã xây dựng và hoàn thành Trạm Biến áp
KCN Trà Nóc 110/22KV-25MVA, nâng cấp cải tạo đường dây trung thế, kéo các

250
Cty PT KCN

(tỷ đồng)

200

Cty CN CThơ

150

Bưu điện

100
50

đường dây dẫn cáp ngầm trong KCN Trà Nóc 1 & 2, với vốn đầu tư tổng cộng
khoảng 32 tỷ đồng; Ngành Bưu điện đã xây dựng mới trụ sở bưu điện KCN Trà

Điện lực

Nóc với vốn đầu tư 290.000 USD, Công ty cấp nước đã tiến hành nâng cấp tăng áp

Tổng vốn

lực cung cấp nước KCN. Và đến nay vẫn còn đáp ứng được nhu cầu sử dụng của

0
Năm 2002 Năm 2003 Năm 2004

các doanh nghiệp trong KCN. Nhìn chung tốc độ đầu tư hạ tầng cơ sở theo hình
thức “cuốn chiếu” như trên là rất chậm không đáp ứng được nhu cầu của nhà đầu tư

Đồ thị 2.1: Vốn đầu tư hạ tầng KCN

vì không có “đất sạch” sẵn sàng giao cho nhà đầu tư. Hậu quả là trong năm 2004

Tính đến cuối năm 2004, tổng vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng các KCN

các KCN Cần Thơ đã lỡ 15 dự án (có 5 dự án đầu tư nước ngoài), xin thuê khoảng

TP.Cần Thơ đạt khoảng 225 tỷ đồng. Trong đó Công ty phát triển KCN Cần Thơ có

62 ha đất, vốn đăng ký đầu tư khoảng 30 triệu USD, vì thiếu vốn để thực hiện giải


-25-

-26-

tỏa đền bù và san lắp mặt bằng nên không thể giao đất cho nhà đầu tư, họ đã phải đi
qua các KCN khác.

Số dự án còn hiệu lực và tổng vốn đầu tư tăng dần qua các năm. Cụ thể, năm
2002 có 76 dự án còn hiệu lực thì đến năm 2003 là 95 dự án và tính đến năm 2004 đã
có 111 dự án còn hiệu lực, thuê trên 282 ha đất, với tổng vốn đầu tư đăng ký là

2.2.2 Kết quả thu hút đầu tư
Với sự hoàn chỉnh về đầu tư cơ sở hạ tầng (năm 2002) nên trong năm 2003

348,29 triệu USD và đã thực hiện xin đầu tư đến nay là 153,82 triệu USD chiếm 44%

các KCN Cần Thơ đã thu hút được 21 dự án mới với vốn đầu tư 80,46 triệu USD tăng

vốn đăng ký của tất cả các KCN. Điều này cho thấy sự nổ lực rất lớn của Ban Quản

hơn so với năm 2002 và cao nhất trong ba năm qua. Tuy nhiên, nếu xét về tổng vốn

lý KCN Cần Thơ trong việc tăng cường thu hút đầu tư, nâng cao tỷ lệ lấp đầy KCN.

tiếp nhận (gồm vốn đầu tư của dự án mới và các dự án tăng vốn) thì năm 2004 đạt

Tuy nhiên, tỷ lệ (%) vốn thực hiện trên vốn đăng ký giảm dần qua các năm,

cao nhất (82.02 triệu USD) tăng ít so với năm 2003 và tăng 97,56% so với năm 2002.

đòi hỏi sự quan tâm hơn nữa của các cấp lãnh đạo KCN vì tỷ lệ này cho thấy tính
hiệu quả của việc triển khai dự án. Thực tế cho thấy, với vai trò và tiềm lực của

Bảng 2.2 : Kết quả thu hút đầu tư KCN Cần Thơ.
CHỈ TIÊU
- Dự án mới
- Vốn đầu tư (tr.USD)

Năm

Năm

Năm

2002

2003

2004

2003/2002
Ch.lệch

10

21

18

11

37.7

80.46

56.68

41.52

82

82.03

%
210.00

2004/2003

mình các KCN Cần Thơ chưa thể hiện được vai trò là trung tâm công nghiệp hóa

%

vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long, kết quả thu hút đầu tư còn thấp, các dự án thu hút

Ch.lệch

-3

85.71

được chủ yếu là dự án vừa và nhỏ, chưa có dự án tầm cỡ có tính chất chi phối cho

42.76

213.42 -23.78

70.44

thành phố và cho toàn vùng.

40.48

197.50

- Tổng vốn tiếp nhận
(tr.USD)
- Số Dự án còn hiệu lực
+ Số diện tích đất thuê (ha)

76

95

111

19

116 165.45

282

49.45

125.00

0.03
16

100.04
116.84

142.63 116.55 170.44

+ Tổng vốn đăng ký
(tr.USD)

+ % vốn thực hiện/đăng ký
- Số nước đầu tư vào KCN

216.92

295.4 348.29

78.48

136.18

52.89

117.90

123

132.3 153.82

9.3

107.56

21.52

116.27

+ Vốn đầu tư (tr.USD)

56.70
44.79

44.16

Năm 2003

Năm 2004

40
30

0

100.00

0

100.00

10
0
Năm 2002

56.70

44.79

44.16

9

9

9

+ Số dự án sản xuất
và dịch vụ

(%)

50

20

+ Tổng vốn thực hiện
(tr.USD)

60

Đồ thị 2.2 : Tỷ lệ vốn thực hiện/vốn đăng ký
Kết quả thu hút đầu tư đã thấp mà tỷ lệ thực hiện vốn dự án lại giảm qua

18

20

23

2

111.11

3

115.00

từng năm. Thật vậy, năm 2002 vốn thực hiện đạt 56,70% so với tổng lượng vốn

85.23

86.3

95.45

1.07

101.26

9.15

110.60

đăng ký, năm 2003 đạt 44,79% và đến năm 2004 vốn thực hiện chỉ đạt 44,16%. Đây

(Nguồn: Báo cáo kết quả hoạt động năm 2004 của BQL các KCX & CN Cần Thơ)
Nhìn vào tổng thể ta thấy có phần khả quan trong việc thu hút đầu tư nhưng

là kết quả thu hút đầu tư chưa tốt. Có thể nhìn nhận tình hình trên là do một số
nguyên nhân khách quan và chủ quan như sau:

nếu xét về số dự án và lượng vốn đầu tư mới thì trong năm 2004 đã bị chựng lại so

+ Về nguyên nhân chủ quan, các chính sách thu hút đầu tư của các KCN

với năm 2003. Tổng vốn tiếp nhận tăng cao là do có 15 dự án xin tăng vốn mở rộng

TP.Cần Thơ chưa tạo được sức hấp dẫn đối với các nhà đầu tư; thủ tục cấp phép cho

sản xuất ( 25,341 tr.USD) vì tình hình sản xuất và thị trường đã dần ổn định.

những dự án mới còn rờm rà khó khăn và mất nhiều thời gian.


-27-

+ Về nguyên nhân khách quan, do nền đất yếu nên các dự án lớn rất khó triển

-28-

Bảng 2.3: Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp KCN

khai vì chi phí gia công xử lý nền móng cao (cao gấp nhiều lần so với khu vực Miền
Đông), vì vậy mà các dự án công nghiệp nặng thường không khả thi khi có quyết
định đầu tư vào các KCN Cần Thơ; năm 2002 dự án xây dựng nhà máy sản xuất
ván ép từ rơm rạ với vốn đầu tư trên 40 triệu USD của Bỉ vào KCN Trà Nóc I sau
thời gian thiết kế, thẩm đinh đã đưa ra chi phí đầu tư nền móng quá cao nên đã rút
lui. Năm 2004 dự án Công ty Cổ phần Ôtô Hyundai-vinamoto làm lễ khởi công
ngày 19/6/2004, do nền đất yếu phải thay đổi thiết kế, tìm phương án khác để khắc
phục xây dựng nền móng, nên việc triển khai chậm lại; cơ sở hạ tầng chung của
Thành phố Cần Thơ còn thấp kém và chưa đồng bộ; và lượng vốn FDI thu hút vào
các KCN trong tình hình chung hiện nay gặp nhiều khó khăn...
Về số các nước đầu tư vào KCN Cần Thơ hầu như không thay đổi trong các
năm qua, chỉ có 9 quốc gia có thể kể: Trung Quốc, Hồng Kông, Đài Loan, Thái
Lan, Cu Ba, Singapore, Malaysia, Pháp, Mỹ. Đến năm 2004, có 20 dự án sản xuất
và 3 chi nhánh dịch vụ với tổng vốn đầu tư 95,45 triệu USD, tăng không đáng kể so
với 2 năm trước. Các nước đầu tư vào KCN Cần Thơ chủ yếu là các nước Châu Á,
chưa thu hút được các dự án từ các nước tiên tiến có công nghệ nguồn cao.
2.2.3 Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh
2.2.3.1 Doanh thu và giá trị sản xuất công nghiệp hàng năm

ĐVT: Triệu USD
Năm

Năm

Năm

2002

2003

2004 Ch.lệch

303.54

398.82

521.54 95.29 131.39 122.72 130.8

131.31

174.82

236.79 43.52 133.14 61.97 135.4

thương mại

91.229

138.92

164.97 47.69 152.28 26.05 118.8

- Giá trị sản xuất công nghiệp

212.31

259.89

356.57 47.58 122.41 96.68 137.2

42.5

46.28

58.45

17

17

CHỈ TIÊU
- Tổng doanh thu, trong đó:
+ Doanh thu các DN HT độc lập

+ %/toàn Thành phố
- Số doanh nghiệp hoạt động XK
- Giá trị sản phẩm hàng hóa XK

đơn vị); cộng với các doanh nghiệp đã đi vào hoạt động trước đây đến nay đã dần
ổn định thị trường xuất khẩu cũng như thị trường nội địa và hoạt động có hiệu quả.
Có thể kể như: Nhà máy Bia Cần Thơ, Xí nghiệp may XK Meko, Công ty Cổ phần
Thủy Sản Mekong, Nhà máy Sữa Cần Thơ, Công ty TNHH Nam Hải...

2004/2003
Ch.lệch

%

0

100

0 100.0

120.3 194.92 19.13 118.91 74.62 162.0

36.6

33.88

+ Thủy hải sản xuất khẩu

71.6

78.545

68.72
108.92 6.945 109.7 30.37 138.7

(Nguồn: Báo cáo kết quả hoạt động năm 2004 của BQL các KCX & CN Cần Thơ)
Giá trị sản xuất công nghiệp cũng tăng qua các năm và đặc biệt trong năm
2004 có sự tăng trưởng khá cao, tăng 37,2% so với năm 2003 (tăng 96,68 triệu USD
về tuyệt đối) đạt 356,566 triệu USD, chiếm 58.45% giá trị sản xuất công nghiệp
toàn thành phố. Điều này đã thể hiện rõ vai trò của các KCN là mũi nhọn, động lực
thúc đẩy phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa của thành phố.
356.566

400
(triệu USD)

xuất kinh doanh tăng chủ yếu là do có thêm một số doanh nghiệp đã hoàn thành

17
101.17

+ %/tổng giá trị XK toàn TP

năm. Cụ thể: năm 2003 đạt 389.82 triệu USD tăng 31,4% so với năm 2002, và năm

phần xây dựng nhà máy, đi vào hoạt động (năm 2003 có 7 đơn vị, năm 2004 có 5

%

+ Doanh thu DN dịch vụ

Doanh thu các doanh nghiệp KCN Cần Thơ không ngừng tăng lên qua các
2004 đạt 521.536 triệu USD tăng 30,8% so với cùng kỳ năm trước. Tình hình sản

2003/2002

300

259.89
212.306

200
100
0
Năm 2002

Năm 2003

Năm 2004

Đồ thị 2.3: Giá trị sản xuất công nghiệp các DN KCN Cần Thơ
Trước tình hình chính trị thế giới có nhiều biến động, diễn biến nền kinh tế
tài chính hàng hóa bất ổn, tình hình xuất khẩu của các doanh nghiệp KCN Cần Thơ
cũng gặp không ít khó khăn khi xuất khẩu hàng sang một số thị trường như Mỹ và


-29-

-30-

Châu Âu, đặc biệt đối với các doanh nghiệp có hàng thủy sản xuất khẩu. Vụ kiện cá
(triệu USD)

da trơn ở Mỹ bắt đầu năm 2002, nồng độ Chlo-ram-phê-ni-col trong con tôm... Tuy
nhiên, các doanh nghiệp KCN đã nỗ lực lớn, nhạy bén tự điều chỉnh để vượt qua,
trụ vững và ngày càng phát triển bằng cách mở rộng thị trường sang các nước EU,
Nhật, Trung Quốc, Australia, Tây Ban Nha, Mexico, Hàn Quốc... Cũng giống như

140
120
100
80
60
40
20
0

giá trị sản xuất công nghiệp, giá trị sản phẩm hàng hóa KCN tăng dần qua các năm
và có sự đột biến trong năm 2004. Cụ thể: năm 2003, giá trị hàng hóa xuất khẩu đạt
120,297 triệu USD, tăng 18% so với cùng kỳ, nhưng đến năm 2004 đã đạt 194,921
USD, tăng 62,03 % so với năm 2003, chiếm 68% giá trị xuất khẩu toàn thành phố.
2.2.3.2 Đóng góp của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

- Số doanh nghiệp có vốn đầu tư

Năm

Năm

Năm

2003

2004 Ch.lệch

10

10

2003/2002
%

-5 66.67

2004/2003
Ch.lệch

Năm
2003

Năm
2004

Đồ thị 2.4: Giá trị SXCN của các doanh nghiệp có vốn ĐTNN
Giá trị sản lượng công nghiệp của các đơn vị có vốn đầu tư nước ngoài

0

các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài suy giảm từ 15 doanh nghiệp năm 2002
còn 10 doanh nghiệp trong năm 2004 cho thấy sự bất cập trong việc thu hút nguồn

100

75 103.54 124.62 28.54 138.05 21.079 120.36

2.2.3.3 Tình hình nộp ngân sách của các doanh nghiệp KCN Cần Thơ
Bảng 2.5: Tình hình nộp ngân sách

28.4 34.568 37.273 6.168 121.72 2.705 107.83

(Nguồn: Báo cáo kết quả hoạt động năm 2004 của BQL các KCX & CN Cần Thơ)
Nhìn vào bảng các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ta nhận thấy, hiệu
quả hoạt động của các doanh nghiệp này ngày một tăng cao, mặt dù số lượng doanh
nghiệp đã giảm đi 33,33%, chỉ còn 10 doanh nghiệp trong năm 2003 nhưng giá trị
sản lượng công nghiệp đạt 103,54 triệu, tăng 38,05%, trong đó xuất khẩu đạt 34,568
triệu USD, tăng 21,7% so với năm 2002. Điều này là do các doanh nghiệp xuất
khẩu đã tìm được hướng đi của mình trong việc đa dạng hóa thị trường, thâm nhập
thêm các thị trường mới. Năm 2004, số doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại
các KCN Cần Thơ vẫn không thay đổi nhưng giá trị sản xuất công nghiệp tăng hơn
20% so với năm 2003 đạt giá trị 124,619 triệu USD, trong đó xuất khẩu đạt 37,273
triệu USD, tăng 7,82% so với cùng kỳ năm trước.

Năm
2002

vốn đầu tư nước ngoài của Lãnh đạo ban quản lý KCN.

(triệu USD)
+ Xuất khẩu (triệu USD)

10

%

nước ngoài
+ Giá trị sản xuất công nghiệp

10

cũng như tính hiệu quả khi hoạt động trong các KCN Cần Thơ, tuy nhiên số lượng

2002
15

Giá trị SXCN
15

không ngừng tăng lên qua các năm thể hiện sự ổn định dần về sản xuất, thị trường

Bảng 2.4:Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
CHỈ TIÊU

Số DN có vốn
ĐTNN

CHỈ TIÊU
- Thuế VAT

ĐVT: tỷ đồng

Năm

Năm

Năm

2002

2003

2004

147.5

171 267.61

2003/2002
Ch.lệch

%

2004/2003
Ch.lệch

%

23.5 115.93 96.61 156.5

- Thuế nhập khẩu

128

76

85.52

-52 59.38

9.52 112.5

- Thuế Thu nhập doanh nghiệp

2.5

1.2

1.76

-1.3 48.00

0.56 146.7

- Thuế Tiêu thụ đặc biệt

132.4

- Thuế khác

59.6

Tổng thuế

470

189.6 154.62

57.2 143.20 -34.98

81.6

118.2

58.6 198.32 -41.63

64.8

76.57

556 586.08

86 118.30 30.08 105.4

(Nguồn: Báo cáo kết quả hoạt động năm 2004 của BQL các KCX & CN Cần Thơ)


(tỷ đồng)

-31-

700
600
500
400
300
200
100
0

-32-

Bảng 2.6: Tình hình lao động tại KCN Cần Thơ
556

586.08

470

Năm 2002

CHỈ TIÊU
- Tổng số lao động

Năm 2003

Năm 2004

Đồ thị 2.5: Tình hình nộp ngân sách.

Tính đến cuối năm 2004, có 73 doanh nghiệp đang hoạt động sản xuất kinh
doanh tại các KCN Cần Thơ. Tình hình nộp ngân sách của các doanh nghiệp không
ngừng tăng lên qua các năm. Cụ thể năm 2002 là 470 tỷ đồng, trong đó các loại thuế
giá trị gia tăng, thuế nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt chiếm tỷ trọng cao. Do các
doanh nghiệp hầu hết được thành lập từ năm 1998 - 2001 nên việc nhập khẩu máy
móc thiết bị phục vụ sản xuất rất lớn làm cho lượng thuế nhập khẩu trong năm 2002
khá cao, sang năm 2003 tổng nộp ngân sách đạt 556 tỷ đồng tăng 18% so với năm
trước, chiếm 39,7% ngân sách tỉnh. Trong đó các đơn vị dịch vụ và kinh doanh
xăng dầu chiếm trên 81%. Năm 2004, tổng nộp ngân sách của các doanh nghiệp
KCN Cần Thơ tăng 5,4% so với cùng kỳ, đạt 586 tỷ đồng, chiếm 42,2% tổng thu
ngân sách toàn thành phố. Những số liệu trên đã phần nào cho thấy vai trò của các
doanh nghiệp KCN ngày càng được khẳng định, góp phần rất lớn trong sự tăng
trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của thành phố Cần Thơ.

ĐVT: người

Năm 2002

Năm 2003

13000

Năm 2004

13000

16450

- Thu hút mới trong năm

2000

2590

4400

- Lao động thời vụ

2257

1400

2480

- Lao động của TP. Cần Thơ

91%

91%

92%

- (%) Lao động nữ

65.4

57.27

56.9

- (%) Lao động nam

34.6

42.73

43.1

+ Đại học

7.7

7.98

8.5

+ Trung cấp

6.4

6.67

11

+ Phổ thông

85.9

85.35

80.5

40

57

54

- Trình độ (%):

- Lao động là người nước ngoài

(Nguồn: Báo cáo kết quả hoạt động năm 2004 của BQL các KCX & CN Cần Thơ)
Trong năm qua, các KCN Cần Thơ đã thu hút được trên 4.400 lao động, đưa
số lượng lao động có việc làm tăng hơn 1.810 người so với năm 2003. Tính đến
cuối tháng 12/2004, đã có 16.450 lao động làm việc tại các KCN Cần Thơ, tăng hơn
26,5% so với năm 2003, trong đó số lao động bốc vác, thời vụ tại các doanh nghiệp
và lao động xây dựng tại các công trình trong KCN khoảng 2.480 người), lao động
của thành phố Cần Thơ chiếm 92%. Cho thấy vai trò rất quan trọng trong việc giải
quyết việc làm cho lực lượng lao động tại địa phương và một số tỉnh lân cận trong
vùng như Vĩnh Long, An Giang, Đồng Tháp, Sóc Trăng, Bạc Liêu... khoảng 1.316

2.2.3.4 Vấn đề thu hút và tạo việc làm cho người lao động

người. Tuy nhiên do nhà xa, nên lực lượng lao động này thường thuê các nhà trọ ở

Các KCN Cần Thơ ngày càng phát triển đã thu hút ngày càng đông lực lượng

khu vực dân cư lân cận để sống gây khó khăn cho công tác quản lý về sinh hoạt

lao động.

ngoài giờ làm việc cũng như việc quản lý tạm trú của chính quyền địa phương. Một
nhu cầu bức thiết đang trở thành áp lực ngày càng tăng đối với KCN là vấn đề nhà ở
cho công nhân lao động mà đến nay chưa vận động được nhà đầu tư nào tham gia
đăng ký dự án, trong khi số lượng công nhân lao động KCN lại không ngừng tăng
lên. Điều này nói lên nhịp độ phát triển KCN không thể tách rời (hoặc nhất thiết
phải đồng bộ) với nhịp độ phát triển đô thị hoá, cơ sở hạ tầng nói chung và nhà ở
nói riêng tại vùng tiếp giáp KCN.


-33-

-34-

trình độ trung cấp cũng tăng dần qua các năm, năm 2004 là 11% trong cơ cấu lao

(người)

20000
Tổng số lao động

15000
10000

động. Trong khi đó, lực lượng lao động phổ thông chưa qua đào tạo giảm dần.

Số LĐ thu hút
trong năm

5000

8.5%
11.0%

0
Năm
2002

Năm
2003

Năm
2004

+ Đại học
+ Trung cấp
+ Phổ thông

80.5%

Đồ thị 2.6: Số lượng lao động tại các KCN qua các năm
Lực lượng lao động nữ chiếm tỷ lệ khá cao trong cơ cấu lao động tại các
doanh nghiệp KCN Cần Thơ, do bởi phần lớn doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh

Đồ thị 2.7: Trình độ nguồn lao động tại các KCN Cần Thơ năm 2004

vực may mặc, giày da, chế biến thủy hải sản thu hút nhiều lao động nữ. Có thể kể

Hiện nay tại Thành phố Cần Thơ chưa có trung tâm dạy nghề đào tạo lao

một số doanh nghiệp sử dụng lao động nhiều nhất gồm có Công ty TNHH TPXK

động lành nghề cung cấp cho KCN, đây cũng là hạn chế của Cần Thơ làm giảm sức

Nam Hải (1.459 người), Xí nghiệp May Mặc XK Meko (1.448 người), Xí nghiệp

hấp dẫn đối với các nhà đầu tư, lực lượng lao động thường được đào tạo lại bởi

CBTPXK CATACO (1.100 người), Công ty TNHH CNTP Pataya Việt Nam (512

chính các doanh nghiệp cho phù hợp với nhu cầu công việc, điều này làm mất nhiều

người)... Năm 2002 lực lượng lao động nữ chiếm 65,4%, năm 2003 chiếm 57,27%,

thời gian và chi phí cho các nhà đầu tư. Cần Thơ hiện có 06 trung tâm tư vấn và

sang năm 2004 giảm xuống còn 56,9% cho thấy tỷ trọng lao động nữ ngày càng

giới thiệu việc làm cho người lao động, nhưng chỉ có 02 trung tâm dạy nghề thuộc

giảm trong cơ cấu lao động mặc dù vẫn còn ở mức cao. Hiện nay tại các KCN Cần

Sở Lao động Thương Binh & Xã Hội thành phố, hội Liên Hiệp Phụ Nữ. Và việc

Thơ vấn đề quy hoạch nhà trẻ, trường mẫu giáo... chưa được trú trọng gây ảnh

đào tạo nghề này có quy mô chưa lớn, chưa thể đào tạo được công nhân lành nghề

hưởng không nhỏ đến tâm lý, hiệu quả làm việc của lực lượng lao động đã có con

mà chỉ có thể đào tạo công nhân ngành may mặc, da giày... là chủ yếu.

nhỏ, đặc biệt là lao động nữ. Mặc dù số lượng các chuyên gia làm việc tại các KCN

2.3 NHẬN XÉT VỀ QUÁ TRÌNH HOẠT ĐỘNG CÁC KCN TP.CẦN THƠ THỜI

Cần Thơ chưa nhiều, vì các dự án đầu tư nước ngoài ở các KCN Cần Thơ còn khá

GIAN QUA.

khiêm tốn, năm 2004 chỉ có 10 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài với 54 lao

Từ lúc thành lập đến nay, các KCN Cần Thơ ngày càng tỏ rõ vai trò, vị trí

động nước ngoài (là những nhà quản lý, kỹ sư...) làm việc tại các doanh nghiệp

quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa của địa phương; việc xây dựng phát

KCN Cần Thơ, tuy nhiên vấn đề nhà ở cho các chuyên gia không thể không trú

triển các KCN tập trung đã thể hiện vai trò chủ đạo trong thu hút đầu tư, tiếp nhận

trọng, đặc biệt trong bối cảnh hội nhập quốc tế như hiện nay và mục tiêu tăng cường

kỹ thuật công nghệ, kinh nghiệm quản lý phục vụ chuyển dịch cơ cấu kinh tế, giải

thu hút các dự án đầu tư nước ngoài ngày càng nhiều hơn.

quyết công ăn việc làm cho người lao động, tạo ra nguồn hàng có chất lượng cao để

Trình độ dân trí trong lực lượng lao động tại các KCN Cần Thơ nhìn chung

xuất khẩu, góp phần tăng trưởng GDP cho địa phương.

thấp nhưng đang có chuyển biến tích cực theo hướng tăng dần tỷ trọng lao động trí

¾ Về thu hút đầu tư: Thực tế các KCN Cần Thơ các năm qua đã thu hút đầu

óc, lao động có tay nghề, phù hợp với xu hướng hiện đại hóa trong quản lý và trong

tư có những kết quả khả quan: KCN Trà Nóc I đã lắp đầy 100% diện tích đất công

sản xuất. Cụ thể, lực lượng lao động có trình độ đại học năm 2002 chiếm 7,7%, năm

nghiệp; KCN Trà Nóc II đã cho thuê khoảng 65% diện tích đất công nghiệp, và

2003 chiếm 7,98%, sang năm 2004 tăng lên 8,5%. Tương tự, lực lượng lao động có

KCN Hưng Phú I và II tuy dự án chưa được phê duyệt, nhưng đã có 08 dự án đầu tư


-35-

-36-

thuê 104,5 ha đất để xây dựng nhà máy. Tính từ khi thành lập đến nay, các KCN

lân cận. Nếu nhìn trên bản đồ thì Cần Thơ như tâm điểm của các nước, khoảng cách

Cần Thơ đã cho thuê khoảng 282 ha đất, ngoài ra còn có nhiều nhà đầu tư lập dự án

bình quân khoảng 125.000km rất thuận lợi cho giao thương hàng hoá đến các nước

xin thuê đất; bên cạnh việc cho thuê lại đất là việc thu hút vốn đầu tư đã tăng đáng

trong khu vực, đặc biệt là hệ thống đường thủy.

kể, từ dưới 30 triệu USD của năm 1995 thì nay đã lên đến trên 348,291 triệu USD,
đây là nguồn vốn quan trọng góp phần cho sự nghiệp công nghiệp hóa địa phương.
¾ Góp phần tăng trưởng kinh tế: Các doanh nghiệp trong KCN hoạt động

− Là khu công nghiệp thành lập đầu tiên ở ĐBSCL nên có nhiều kinh nghiệm
hơn trong việc xây dựng cơ sở hạ tầng và vận động thu hút đầu tư. Cơ sở hạ tầng
luôn được chỉnh trang, tu bổ.

với giá trị sản xuất công nghiệp tăng dần hàng năm; kim ngạch xuất khẩu tăng dần;

− Tình hình an ninh trật tự KCN thường xuyên được củng cố, công tác tuần tra,

nộp thuế các loại chiếm từ 37 – 45% so với tổng thu nội địa và thuế xuất nhập khẩu

kiểm soát giao thông thuỷ, bộ được duy trì thường xuyên. Công tác PCCC trong

trên địa bàn, luôn tạo thêm năng lực mới, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng

KCN được chú trọng, UBND thành phố đã trang bị 3 xe cứu hỏa túc trực 24/24 tại

thêm nguồn thu cho Ngân sách địa phương và Trung ương. Thu hút các dự án đầu

KCN, công an các KCN cũng thường xuyên tổ chức tập huấn nghiệp vụ bảo vệ và

tư vào các KCN tập tung đã tạo điều kiện phát triển công nghiệp theo quy hoạch,

PCCC cho các lực lượng bảo vệ của doanh nghiệp, bảo vệ của KCN…

tránh tự phát, phân tán; tiết kiệm đất đai; sử dụng có hiệu quả vốn đầu tư, tiết kiệm
được chi phí sản xuất.

− Dịch vụ hỗ trợ cho các doanh nghiệp KCN hoạt động cũng rất được chú
trọng triển khai. Một số dự án như cung cấp xăng dầu, cung cấp bữa ăn và nước

¾ Tạo việc làm: các KCN đã tạo thêm việc làm và thu nhập cho người lao

uống tinh khiết cho công nhân lao động được triển khai hoạt động. Trạm y tế được

động, góp phần chuyển đổi cơ cấu lao động, tỷ lệ lao động nữ tham gia vào các

ngân sách tỉnh đầu tư thực hiện khám chữa bệnh cho cán bộ và công nhân lao động

doanh nghiệp KCN khá cao chủ yếu trong các doanh nghiệp may mặc, giày da, chế

trong KCN đem lại sự an tâm cho người lao động.

biến thủy sản... Ngoài số lao động trực tiếp trong các doanh nghiệp KCN, các KCN
còn tạo thêm việc làm cho hàng ngàn hộ nông dân sản xuất, nuôi trồng cung cấp
nguồn nguyên liệu cho các nhà máy chế biến nông sản, thủy hải sản.
¾ Tập trung xử lý chất thải, bảo vệ môi trường: Do tập trung các cơ sở sản

xuất nên các KCN có điều kiện thuận lợi trong việc kiểm soát, xử lý chất thải và

− KCN TP.Cần Thơ có website giới thiệu các điều kiện địa lí, thổ nhưỡng, các tiềm
năng kinh tế, các dự án kêu gọi đầu tư và các chính sách ưu đãi đầu tư của Tp.Cần Thơ.
− Có quan hệ tốt với các cơ quan chức năng của Trung ương và Địa phương,
phối hợp chặt chẽ với các ngành cung ứng dịch vụ khu công nghiệp như điện, nước,
bưu điện để giải quyết nhu cầu của nhà đầu tư.

bảo vệ môi trường. KCN còn là địa chỉ tốt để di dời các cơ sở sản xuất gây ô nhiễm
trong nội ô thành phố, phục vụ sự phát triển bền vững, đây là mục tiêu quan trọng
hàng đầu đặt ra đối với việc thành lập KCN.
¾ Thủ tục hành chính: Cơ chế quản lý “một cửa” đã được Ban quản lý thực

2.3.2 Điểm yếu:
− Chưa quán triệt đầy đủ trong toàn Đảng bộ, Chính quyền, các ngành, các cấp
và nhân dân về vị trí, vai trò, nhiệm vụ của các khu công nghiệp đối với sự nghiệp

hiện một cách có hiệu quả, cải thiện khá tốt môi trường đầu tư, bằng cơ chế ủy

công nghiệp hóa, hiện đại hóa thành phố. Việc định hướng phát triển và các giải

quyền, Ban quản lý KCN đã giải quyết các vướn mắc của doanh nghiệp trong thời

pháp cụ thể trong huy động và phân bổ các nguồn lực vật chất và tinh thần chưa

gian ngắn nhất, tiết kiệm thời gian và chi phí cho nhà đầu tư.

được quan tâm đúng mức. Khu công nghiệp chưa thực sự được coi là một trọng
điểm, mũi nhọn đột phá chiến lược của nền kinh tế thành phố, trung tâm ĐBSCL.

2.3.1 Điểm mạnh
− Vị trí địa lý của Cần Thơ nói chung và KCN Trà Nóc nói riêng rất thuận lợi
cho giao thương thủy bộ đến các tỉnh trong vùng cũng như xuất khẩu sang các nước

− Cơ sở hạ tầng chung của Thành phố Cần Thơ nói chung còn thấp kém và
chưa đồng bộ: Cảng Cần Thơ, cảng Cái Cui tuy có được quan tâm đầu tư nhưng


-37-

-38-

việc nạo vét luồng Định An hàng năm không kịp thời, nên cảng biển Cần Thơ chỉ

thải chung cho KCN là một nguyên nhân của tình trạng ô nhiễm môi trường KCN

có thể tiếp nhận tàu có tải trọng đến 5.000 tấn. Hàng container phải chuyển về TP.

chưa được khắc phục triệt để.

Hồ Chí Minh để xuất đi các nước, tốn nhiều chí phí trung gian. Sân bay Cần Thơ

− Hệ thống thông tin liên lạc chưa đồng bộ, tốc độ truyền dẫn không cao gây

vẫn chưa hoạt động, đang trong quá trình xây dựng đề án để nâng cấp. Cầu Cần Thơ

ảnh hưởng đến hoạt động của các doanh nghiệp. Hệ thống thông tin của Ban quản

đã khởi công từ 25/9/2004 nhưng đến đầu năm 2005 mới thi công... Do vậy khu

lý khu công nghiệp, Ủy ban nhân dân tỉnh, các Sở ngành chưa được nâng cấp, hoạt

công nghiệp tỉnh Cần Thơ trước đây, nay là TP. Cần Thơ trực thuộc trung ương vẫn

động hành chính chủ yếu vẫn dựa trên giấy mà chưa phổ biến trên mạng thông tin.

kém hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nước ngoài vì chi phí suất đầu tư, chi phí sản

− Hạ tầng, dịch vụ bên ngoài hàng rào KCN như nhà ở công nhân, nhà trẻ,

xuất cao; thời gian đi lại quá lâu (phải mất 4 đến 5 giờ để đi từ TP. Hồ Chí Minh

trường mẫu giáo, nhà ở cho chuyên gia chưa được quy hoạch và chưa có chủ đầu tư.

đến Cần Thơ) làm nản lòng các nhà đầu tư nước ngoài.
− Xây dựng cơ sở hạ tầng KCN luôn bị thiếu vốn, công tác giải tỏa đền bù theo
phương thức “cuốn chiếu” luôn bị động, chậm thời gian giao đất và không có “đất
sạch” sẵn sàng giao cho nhà đầu tư theo yêu cầu làm mất nhiều cơ hội tiếp nhận đầu tư.
− Giá cho thuê lại đất và chính sách ưu đãi đầu tư vào các KCN Cần Thơ còn
nhiều vấn đề chưa giải đáp được giữa khả năng hỗ trợ vốn của Ngân sách và yêu
cầu hạ giá cho thuê lại đất.
− Công tác giải tỏa đền bù thiệt hại, giải phóng mặt bằng để xây dựng KCN,
Khu tái định cư đang có xu thế giá cả bồi hoàn ngày càng tăng lên. Việc giải tỏa đền
bù theo phương thức doanh nghiệp thuê đến đâu giải tỏa đến đó làm cho mức bồi
hoàn sau luôn cao hơn mức bồi hoàn trước (chẳng hạn năm 2003 chi phí đền bù giải
tỏa 1m2 đất nông nghiệp là 47.000 - 50.000 đồng nhưng đến tháng 10 năm 2004 chi
phí đó đã lên đến 120.000 - 125.000 đồng/m2). Điều này đã tạo ra mâu thuẫn trong
nội bộ nông dân, gây áp lực nặng nề cho công tác xử lý hành chánh đối với chính
quyền địa phương.
− Cơ chế “một cửa, tại chỗ” chưa thật sự hiệu quả do nhận thức quan điểm và
trách nhiệm phối hợp tổ chức thực hiện cải cách hành chánh nói chung và quy trình
thực hiện cơ chế đặc thù này nói riêng chưa được tập trung thống nhất rõ ràng và đồng
đều trong các ngành, các cấp có liên quan. Việc sơ kết, tổng kết, điều chỉnh bổ sung
hoàn thiện và triển khai thực hiện đồng bộ cơ chế này chưa được quan tâm đúng mức.
− Công tác tuyên truyền, quảng cáo, xúc tiến đầu tư còn yếu, thụ động và rời rạc.
− Việc khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường tại một số doanh nghịêp chưa
tốt; đồng thời do chưa tìm được nguồn vốn đầu tư xây dựng nhà máy xử lý nước

− Nền đất yếu làm chi phí đầu tư cao, ảnh hưởng tiêu cực đến việc thu hút các
dự án công nghiệp lớn.
2.3.3 Cơ hội:
- Trong tương lai, thành phố Cần Thơ sẽ trở thành thành phố loại I, đây là môi
trường đầu tư tốt do cơ sở hạ tầng kỹ thuật phát triển khá so với các tỉnh trong khu
vực như hệ thống giao thông thủy bộ, sân bay, bến cảng, bưu chính viễn thông...
- Cần Thơ nằm ở vị trí trung tâm ĐBSCL với thế mạnh về nông nghiệp,
nguồn nguyên liệu và lao động dồi dào. Đến hết năm 2004 lao động TP.Cần Thơ
chiếm trên 91% lao động trong các doanh nghiệp KCN.
- Trung ương và địa phương có chủ trương phát triển khu công nghiệp, khu
chế xuất, cụ thể là:
+ Thường vụ tỉnh ủy chấp thuận dùng vốn ngân sách hỗ trợ đầu tư giải tỏa
đền bù, xây dựng khu tái định cư, đầu tư hạ tầng như điện, nước tới hàng rào
doanh nghiệp.
+ UBND tỉnh đã có chủ trương hỗ trợ bằng vốn ngân sách từ 25% - 30% đối
với dự án đầu tư cơ sở hạ tầng phục vụ các KCN tập trung.
- Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam được sửa đổi, theo đó các nghị định,
thông tư của chính phủ và các bộ cũng được sửa đổi cho phù hợp nên công tác vận
động đầu tư tiếp tục được đẩy mạnh có khí thế hơn.
- Nước ta đang trong quá trình hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới
(như đã gia nhập AFTA, đang đàm phán để vào WTO...), nền hành chính Việt Nam
ngày càng được cải thiện theo hướng có lợi nhất cho xã hội mà trong đó có các nhà


-39-

-40-

đầu tư, đồng thời cũng phải cải cách cho phù hợp với thông lệ quốc tế. Chính điều
này đã tác động tích cực các nhà đầu tư đến Việt Nam.
- Tình hình kinh tế, chính trị, xã hội nước ta ổn định.

CHƯƠNG III

GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CÁC KHU CÔNG NGHIỆP
THÀNH PHỐ CẦN THƠ ĐẾN NĂM 2010

2.3.4 Đe doạ:
- Công tác quy hoạch phát triển các KCN ở Việt Nam chưa thật sự thống
nhất. Việc phát triển các KCN rất dàn trải tại hầu hết các địa phương dẫn đến sự
cạnh tranh ngày càng gay gắt, đặc biệt là các KCN vùng ĐBSCL (tính đến cuối năm
2004, ĐBSCL đã quy hoạch và hình thành 68 khu, cụm công nghiệp với tổng diện
tích tự nhiên 15.154 ha; trong đó có 10 KCN tập trung với diện tích 3.547 ha)
- Cơ sở hạ tầng xã hội và các công trình phúc lợi xã hội của TP Cần Thơ hiện
nay còn yếu kém. Do đó, nếu phát triển với tốc độ như hiện nay và chưa được đầu
tư đúng mức thì khó có thể phục vụ tốt cho phát triển kinh tế xã hội của thành phố.
Hạ tầng dịch vụ bên ngoài KCN như nhà ở của công nhân, nhà trẻ, trường mẫu giáo,
nhà ở của chuyên gia chưa được quy hoạch và chưa có chủ đầu tư, đây cũng là
nhược điểm cải thiện môi trường đầu tư.
- Thủ tục hành chính nhà nước đối với việc xây dựng những dự án lớn còn
chậm và rườm rà, vì những dự án lớn phải thông qua bộ.
- Chưa thực hiện được cơ chế một giá, còn có sự chênh lệch về giá cả các
dịch vụ giữa doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp có vốn đầu tư
trong nước.
- Sự đẩy mạnh thu hút đầu tư của các nước trong khu vực, đặc biệt là Trung
Quốc đang là thách thức lớn cho Việt Nam nói chung và TP.Cần Thơ nói riêng
trong quá trình thu hút đầu tư nước ngoài. Bên cạnh đó, tình hình kinh tế, chính trị
thế giới hiện nay đang diễn biến rất phức tạp và đang theo chiều hướng xấu đi cũng
ảnh hưởng đến nguồn vốn đầu tư nước ngoài nói chung.
- Các quy định của pháp luật thiếu tính ổn định, thay đổi nhanh, chồng chéo.
Nhiều văn bản pháp luật không rõ ràng, mỗi địa phương có cách hiểu và vận dụng
khác nhau, nạn quan liêu tham nhũng trong phạm vi cả nước vẫn còn, làm nản lòng
nhà đầu tư.

.....W—X.....

3.1. PHƯƠNG HƯỚNG, MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI TP. CẦN
THƠ ĐẾN NĂM 2010
3.1.1. Phương hướng phát triển:
Theo quyết định số 62/2000/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về Phê duyệt
Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Cần Thơ thời kỳ từ nay đến năm
2010, theo đó, Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Cần Thơ phải hợp
với Quy hoạch tổng thể đồng bằng sông Cửu Long và Chiến lược phát triển kinh tế
- xã hội cả nước, bảo đảm mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội,
giữa phát triển sản xuất và mở rộng thị trường tiêu thụ, phát triển kinh tế bền vững
và an ninh quốc phòng.
3.1.2. Mục tiêu phát triển:
3.1.2.1. Về kinh tế:
- Tăng trưởng kinh tế bình quân giai đoạn 2001 – 2010 từ 8 – 9%/năm
- Kim ngạch xuất nhập khẩu tăng bình quân 13%/năm
- Thu nhập bình quân (đầu người/năm):năm 2005 đạt 550 USD, đến năm
2010 đạt 875 USD.
- Tăng tỷ lệ tích lũy/GDP từ 21,5% năm 2003 lên 23% năm 2005 lên 25%
năm 2010.
3.1.2.2. Về xã hội
Phấn đấu thực hiện tỷ lệ tăng dân số tự nhiên ở mức 1,5% vào năm 2000,
1,32% vào năm 2005 và 1,15% vào năm 2010; giảm tỷ lệ thất nghiệp từ 6,75% vào
năm 2000 xuống khoảng 3% vào năm 2010, phấn đấu xoá hẳn các hộ đói vào năm
2010, giảm các hộ nghèo xuống mức thấp nhất vào năm 2010; tăng tỷ lệ hộ dùng
điện từ 72% năm 2000 lên 90% vào năm 2010. Phấn đấu năm 2005 phổ cập giáo
dục trung học cơ sở trong toàn thành phố; thực hiện chiến lược đào tạo nguồn nhân
lực cho nền kinh tế của thành phố. Từng bước khống chế bệnh sốt rét, giảm tỷ lệ


-41-

-42-

mắc bệnh lao xuống dưới 5%, thực hiện toàn dân dùng muối iốt, làm tốt công tác

được duyệt hoặc được điều chỉnh bổ sung cho phù hợp với quy hoạch tổng thể mới

chăm sóc sức khỏe ban đầu, xoá bỏ các tệ nạn xã hội.

của thành phố loại 1 tương lai.

* Phát triển công nghiệp: tập trung phát triển công nghiệp trọng điểm, chú
trọng phát triển các cụm công nghiệp ở những nơi có điều kiện thuận lợi phục vụ
nông nghiệp, nông thôn nhằm từng bước công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông thôn.
Phấn đấu mức tăng trưởng công nghiệp thời kỳ 2001 – 2010 đạt từ 13 – 14%. Phát
triển công nghiệp để từng bước thực hiện mục tiêu tăng trưởng và chuyển dịch cơ
cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Đầu tư tập trung công nghiệp
chế biến, ứng dụng công nghiệp hiện đại để chế biến nông sản phẩm, trong đó chú
trọng công nghệ sau thu hoạch; chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng vừa ổn định
nhịp độ phát triển các ngành có tỷ trọng lớn, vừa tăng nhanh tỷ trọng các ngành mũi
nhọn như điện tử, tin học, hoá chất... Khuyến khích các thành phần kinh tế phát
triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp phục vụ nông nghiệp nông thôn, sử dụng
nguồn lao động và nguyên liệu tại chỗ. Gắn quá trình phát triển công nghiệp với
việc hình thành đô thị và đô thị hoá, xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội. Chú
trọng xây dựng cơ sở hạ tầng các khu công nghiệp, khu chế xuất để thu hút đầu tư.

3.3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CÁC KHU CÔNG NGHIỆP TP.CẦN THƠ
ĐẾN NĂM 2010.
3.3.1 Về quy hoạch
Công tác quy hoạch luôn được xem là khâu then chốt, đặt nền móng vững
chắc cho sự phát triển và đảm bảo sự thành công của KCN.
Trước khi bàn về công tác quy hoạch KCN ta hãy xem xét một điểm chưa
phù hợp của nghị định 36/CP ngày 24/04/1997 của Chính phủ ban hành về Qui chế
KCN, KCX, KCNC. Đó là việc chưa được thừa nhận KCN là một thực thể kinh tế
hoàn chỉnh.Thực vậy, theo định nghĩa tại Nghị định nói trên thì “Khu công nghiệp
là khu tập trung các doanh nghiệp chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện
các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, không có dân cư
sinh sống; do Chính phủ quyết định thành lập. Trong khu công nghiệp có thể có
doanh nghiệp chế xuất” Từ khái niệm này ta thấy KCN của chúng ta chỉ là nơi tập
hợp các doanh nghiệp công nghiệp, dịch vụ công nghiệp. Trong khi đó, hầu hết các

3.2 ĐỊNH HƯỚNG TỔNG QUÁT ĐỂ ĐẨY MẠNH PHÁT TRIỂN CÁC KCN

nước đều coi KCN là một thực thể kinh tế hoàn chỉnh, thậm chí còn coi KCN là một

TP.CẦN THƠ ĐẾN NĂM 2010

thành phố công nghiệp. Bên cạnh việc phát triển hạ tầng kỹ thuật trong KCN phục

Điều chỉnh bổ sung quy hoạch và định hướng xây dựng phát triển hệ thống
mạng lưới các KCN cho phù hợp với quy hoạch tổng thể, quy hoạch chi tiết của một
thành phố trực thuộc trung ương theo địa giới hành chính mới và trong tương lai
không xa sẽ trở thành Thành phố loại 1.
Sử dụng một cách có hiệu quả các loại nguồn vốn có thể huy động được để

vụ các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, người ta còn phát triển các khu dân cư,
cơ sở y tế, trường học... biến KCN thành một khu kinh tế xã hội hoàn chỉnh
Nhìn nhận sự chưa phù hợp đó, việc xây dựng quy hoạch và thực hiện quy
hoạch phải thể hiện nhất quán, có tính khoa học cao. Quy hoạch phải dựa trên cơ sở
nhận thức đầy đủ Cần Thơ là một thành phố trẻ, trung tâm của một vùng đồng bằng

đầu tư, xây dựng kết cấu hạ tầng đô thị nói chung và kết cấu hạ tầng trong và ngoài

lớn nhất Việt Nam, đây là một thành phố công nghiệp văn minh, hiện đại và phát

hàng rào KCN nói riêng; với nỗ lực luôn luôn sẵn sàng có trước mặt bằng, đường

triển bền vững của vùng sông nước, khi quy hoạch khu công nghiệp phải quan tâm

giao thông, điện nước... và có thể giao ngay cho nhà đầu tư khi có yêu cầu thuê.
Song song với chỉnh trang và hoàn thiện cơ sở hạ tầng các KCN hiện có,
ngay từ bây giờ, tiến hành rà soát và chỉ đạo chặt chẽ tiến độ thực hiện vốn đầu tư

bảo vệ và tô đậm nét đặc thù đó với yêu cầu nghiêm ngặt về xử lý chất thải và cải
thiện môi trường sinh thái... không nên vì nôn nóng thu hút đầu tư mà hấp tấp làm
phá vỡ quy hoạch.

của các dự án xây dựng khu dân cư đô thị mới do các doanh nghiệp làm chủ đầu tư,

- Quy hoạch phát triển KCN phải gắn với xu thế đô thị hoá tất yếu của các

nhất là đối với các khu dân cư đô thị liền kề với các KCN, đảm bảo đúng quy hoạch

vùng nông thôn ven thành phố. Đối với những nơi có tiềm năng phát triển cần quy
hoạch ưu tiên phát triển trước kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội, khu dân cư đô thị mới


-43-

-44-

liền kề ngoài hàng rào KCN nhằm tạo điều kiện và khuyến khích phát triển các loại

Thơ, khu công nghiệp Trà Nóc sẽ có các quan hệ chặc chẽ với thị trấn Ô Môn và các

hình dịch vụ hỗ trợ đời sống vật chất tinh thần của công nhân lao động và hoạt động

xã lân cận. Về quy hoạch phát triển Khu Công nghiệp Hưng Phú là phù hợp.

của các doanh nghiệp KCN, như nhà ở cho công nhân lao động và chuyên gia, cơ sở

Một điểm cần lưu ý nữa là cần xác định rõ trách nhiệm của các doanh nghiệp

dạy nghề, trạm y tế, nhà trẻ, trường mẫu giáo, cửa hàng thực phẩm, các công trình

kinh doanh cơ sở hạ tầng các khu công nghiệp. Các doanh nghiệp này khi tiến hành

phúc lợi, thể dục thể thao, khu vui chơi giải trí.... kể cả dịch vụ du lịch, đặc biệt là

kinh doanh, cho thuê hạ tầng phải chịu trách nhiệm về chất lượng các công trình

du lịch sinh thái.

trong suốt thời gian cho thuê. Nhằm tạo sự an tâm, tin tưởng của các chủ đầu tư khi

- Song song với việc đảm bảo thực hiện quy hoạch phải ngăn chặn có hiệu

quyết định đầu tư. Chẳng hạn, trong suốt thời gian thuê nếu có xãy ra hư hỏng hoặc

quả tình trạng phát triển cơ sở công nghiệp một cách tràn lan, tự phát, phải định

chất lượng công trình kém không thuộc lỗi của bên thuê thì bên cho thuê phải tiến

hướng phát triển vào địa bàn trọng điểm là các KCN. Chỉ cho phép cơ sở sản xuất

hành khắc phục sửa chữa và hoàn toàn chịu các khoản phí phát sinh. Nghĩa là, các

công nghiệp, dịch vụ công nghiệp nằm ngoài hàng rào KCN với điều kiện không

doanh nghiệp kinh doanh cơ sở hạ tầng phải có trách nhiệm bảo hành các hạ tầng cơ

gây ô nhiễm môi trường và với số lượng vừa phải, hợp lý.

sở mình cho thuê.

- Quy hoạch phải dựa trên quan điểm toàn vùng chứ không nên theo địa giới
hành chính nhằm tránh tình trạng đầu tư dàn trãi, trùng lắp. Thu hút đầu tư xây
dựng nhà máy cũng vậy tránh trùng lắp và tránh trường hợp sản phẩm của những
ngành sản xuất “đối nghịch” với nhau thì không nên cho xây dựng gần nhau tính
theo khoảng cách địa lý. Chẳng hạn, nhà máy chế biến lương thực thực phẩm không
nên gần kề với các nhà máy chế biến thuốc trừ sâu, thuốc sát trùng, thức ăn gia
súc...
Nhìn chung quy hoạch các Khu Công nghiệp Cần Thơ phù hợp nhu cầu và
tiềm năng phát triển tất yếu của Thành phố Cần Thơ. Tuy nhiên, theo thuyết minh
tổng hợp về Quy hoạch chi tiết Khu Công nghiệp và khu Chế xuất Cần Thơ của Bộ
Xây Dựng ta thấy công tác quy hoạch khu công nghiệp Trà Nóc chưa chú trọng đến
việc hình thành, xây dựng các khu dân cư vệ tinh nhằm cung cấp dịch vụ, hỗ trợ cho
khu công nghiệp phát triển bền vững. Kết quả là, mặc dù đã hình thành khá lâu nhưng
KCN Trà Nóc hiện vẫn chưa xây dựng được khu vực đô thị mới với nhà ở và công
trình công cộng cho công nhân và chuyên gia nước ngoài. Khu đô thị mới này nên
nằm chủ yếu về phía Nam của quốc lộ 91 từ phía Bắc sân bay Trà Nóc lên hết địa
phận xã Phước Thới - Ô Môn và một phần phía Bắc quốc lộ 91. Dự kiến khu đô thị
mới này sẽ cung cấp khoảng 60 - 70% chỗ ở cho các lao động làm trong khu công
nghiệp Trà Nóc I và II; 30 - 40% số lao động còn lại sẽ có chỗ ở tại TP. Cần Thơ, thị
trấn Ô Môn và các xã thuộc Ô Môn. Như vậy, ngoài quan hệ chặc chẽ với TP. Cần

3.3.2 Về đầu tư xây dựng Khu công nghiệp
Sử dụng có hiệu quả các loại nguồn vốn có thể huy động được để đầu tư, xây
dựng kết cấu hạ tầng đô thị nói chung và kết cấu hạ tầng trong và ngoài hàng rào
KCN nói riêng với nỗ lực luôn luôn sẵn sàng có trước mặt bằng, điện nước, đường
giao thông... và có thể giao ngay cho nhà đầu tư khi có nhu cầu thuê.
- Đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng đô thị nói chung phải đảm bảo đúng theo
quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất (quy hoạch chi tiết) đã được duyệt của từng dự án
với nhau thành một hệ thống tổng thể đồng bộ kết cấu hạ tầng với chất lượng kỹ
thuật đồng đều của một khu đô thị, nhất là tại khu đô thị Nam sông Cần Thơ liền kề
với KCN Hưng Phú và khu dân cư tại phường trà Nóc, quận Bình Thủy, khu dân cư
tại phường Phước Thới, quận Ô Môn liền kề với khu công nghiệp Trà Nóc.
- Trung ương cần hỗ trợ để hoàn thành sớm các công trình hạ tầng kỹ thuật
cấp quốc gia và quốc tế trên địa bàn thành phố Cần Thơ, cần có sự cân nhắc chọn
lọc thấu đáo trong xác định trọng tâm, trọng điểm trước sau của từng lĩnh vực kết
cấu hạ tầng để tập trung vốn đầu tư có tính đột phá, làm bật dậy tiềm năng tăng
trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của thành phố theo mục tiêu đã định: Cần Thơ
tương lai phải thật sự là trung tâm công nghiệp, thương mại, dịch vụ và nông nghiệp
công nghệ cao của ĐBSCL.


-45-

- Công ty phát triển KCN hoạt động chủ yếu từ vốn ngân sách nên hầu như
không đáp ứng nhu cầu sẵn sàng mặt bằng sạch cho các nhà đầu tư. Để có thể có đủ
vốn xây dựng các công trình then chốt, xin đề xuất thêm một số phương án sau:
+ Giám sát chặt chẽ thi công, thực hiện “đầu tư cuốn chiếu” một cách khoa
học nhất.
+ Đổi đất lấy hạ tầng: thành phố cần hỗ trợ công ty phát triển khu công

-46-

3.3.3 Về cải thiện môi trường đầu tư
Môi trường đầu tư có ý nghĩa rất quan trọng đến sự thành công và phát triển
của KCN. Nó là cả một không gian tổng hợp được hình thành bởi nhiều yếu tố:
chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa, an ninh trật tự... đảm bảo tạo được niềm tin đầu
tư có sinh lợi cao nơi những nhà đầu tư. Xin đề xuất một số giải pháp sau:
a/ Trước hết, về công tác tuyên truyền vận động thu hút đầu tư:

nghiệp kêu gọi các dự án đầu tư xây dựng hạ tầng dưới hình thức BOT, BT. Chấp

+ Phải tập trung mọi nổ lực làm sao để các cấp các ngành và nhân dân Cần

nhận cho nhà đầu tư dạng BT được quy đổi giá trị công trình của mình bằng tiền

Thơ cùng đồng tình nhất trí chăm lo công việc cải thiện môi trường đầu tư, mong

thuê một diện tích đất trong một thời gian nhất định. Trên phần đất này họ có thể

ước biến Cần Thơ thành một môi trường hấp dẫn đầu tư nhất ở ĐBSCL.

xây dựng nhà máy của chính họ hay cho người khác thuê lại đất.
+ Cho nhà đầu tư thuê đất với diện tích lớn để họ cho thuê lại: cần mạnh dạn

Muốn làm được điều đó, mọi người trước hết phải hiểu đúng, hiểu đủ về Cần
Thơ, thấy được sự ưu đãi “trời cho” về vị trí địa lý, thiên nhiên, con người..., các

cho các nhà đầu tư (nhất là nước ngoài) thuê đất với diện tích lớn với giá ưu đãi.

KCN TP.Cần Thơ thật sự là điểm đến lý tưởng để đầu tư sinh lợi của mọi doanh

Những nhà đầu tư này với lợi thế là có đầu mối giao dịch rộng, mạng lưới tiếp thị

nhân trong nước và quốc tế. Chỉ có hiểu biết đầy đủ và có lòng tự hào thì mới xúc

lớn nên họ dễ dàng tìm kiếm nhà đầu tư thật sự để cho thuê lại đất. Như vậy, trong

tiến đầu tư với cả lòng tâm huyết như một nghĩa vụ tự nguyện góp phần bảo vệ và

khuôn viên một khu công nghiệp có thể có nhiều công ty phát triển hạ tầng cùng

tô điểm cho Cần Thơ ngày càng hoành tráng hơn.

hoạt động. Trong trường hợp này công ty phát triển khu công nghiệp có thể giảm lợi

+ Cần xây dựng hệ thống thông tin đa dạng, phong phú về Cần Thơ và các

nhuận do cho thuê lô đất lớn với giá rẽ nhưng xã hội sẽ được lợi nhờ thu hút nhiều

KCN ở các ngành, các cấp (Ban Tuyên giáo, ngành Văn hóa Thông tin, Báo đài,

đầu tư, giảm áp lực vốn.

văn học nghệ thuật, các nhà nghiên cứu khoa học xã hội, kiến trúc mỹ quan, kể cả

+ Thành phố cần cho phép và bảo lãnh cho công ty phát triển hạ tầng KCN

ngành giáo dục phổ thông, đại học...) để phổ biến đến mọi đối tượng gần xa trong

phát hành trái phiếu xây dựng công trình hoặc vay vốn nước ngoài để xây dựng hạ

và ngoài nước (kể cả những sinh viên, học sinh) một cách đầy đủ, đúng sự thật về vị

tầng trên cơ sở xác định KCN là động lực quan trọng để công nghiệp hóa, hiện đại

thế tự nhiên, vai trò tất yếu, môi trường thuận lợi đầy tiềm năng đặc thù của các

hóa đất nước nên nó cần được ưu đãi tối đa.

KCN và của cả Cần Thơ.

+ Về đất đai dành cho các công trình dịch vụ cần:
Miễn tiền sử dụng đất hoặc tiền thuê lại đất (do nhà nước giải tỏa đền bù) đối
với chủ đầu tư xây nhà ở cho công nhân.
Miễn nộp thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập doanh nghiệp trong thời gian 05
năm đầu đối với chủ đầu tư vào việc xây dựng nhà ở cho công nhân trong các KCN.
Có chính sách cho vay vốn với lãi suất ưu đãi từ 5 – 7 năm đối với các chủ đầu
tư xây dựng công trình nhà ở, nhà trẻ, mẫu giáo phục vụ công nhân tại các KCN.

+ Ban quản lý các KCN&CX Cần Thơ, các ngành công nghiệp, thương mại,
dịch vụ, hội chợ, triển lãm, tài chính ngân hàng, kiến trúc xây dựng, các đơn vị xúc
tiến đầu tư... cần có những tờ bướm, tạp chí tiếp thị, quảng cáo... chuyên ngành.
Khai thác và cập nhật thông tin thường xuyên trên các website để kêu gọi đầu tư
vào các KCN Cần Thơ.
+ Tổ chức các hội thảo kêu gọi đầu tư theo hướng liên kết giữa các địa
phương nhằm tránh lãng phí và cung cấp cho các nhà đầu tư thông tin và cái nhìn
toàn diện về môi trường đầu tư của ĐBSCL nói chung và của Cần Thơ nói riêng.
Cần Thơ cần chủ động phối hợp với các tỉnh ĐBSCL trong việc tăng cường quảng


-47-

-48-

bá các tiềm năng, dự án để thu hút đầu tư. Hiện tại, có một thực tế không hay là các

Ban quản lý KCN có trách nhiệm cử cán bộ trực tiếp giúp các nhà đầu tư đến các cơ

tỉnh ĐBSCL đang cạnh tranh với nhau trong kêu gọi thu hút đầu tư, địa phương nào

quan có liên quan nộp hồ sơ xin giấy phép. Bởi vì theo quy định của pháp luật hiện

cũng cố tranh thủ dự án về mình, dẫn đến tình trạng có nhiều lĩnh vực đầu tư trùng

hành khi nhà đầu tư vào các KCN để thực hiện mục đích của mình thì họ làm thủ

lắp không phát huy hiệu quả.

tục không chỉ tại “một cửa” cơ quan Ban quản lý các KCX & CN Cần Thơ, mà còn

+ Một hình thức quảng bá cũng không kém phần quan trọng là thông qua

phải đến gõ cửa các cơ quan có thẩm quyền, xin phê duyệt hoặc xin các loại giấy

việc tiếp cận, lấy ý kiến, nắm thông tin, hỗ trợ thường xuyên cho các doanh nghiệp

phép trong suốt quá trình trước, sau khi có giấy phép đầu tư và hoạt động của dự án.

đến Cần Thơ làm ăn. Nếu các doanh nghiệp đầu tư hiệu quả nhờ môi trường thông

+ Không ngừng giáo dục rèn luyện phẩm chất đạo đức, nâng cao trình độ kiến

thoáng, được các ngành các cấp Thành phố thường xuyên quan tâm thì chính họ

thức, năng lực tổng hợp của đội ngũ cán bộ công chức. Đánh giá năng lực cán bộ

cũng sẽ là người quảng bá tốt về TP.Cần Thơ cho những nhà đầu tư khác. Tuy

công chức phải dựa vào hiệu quả cao thấp được mang lại vì lợi ích chung qua hành

nhiên, vấn đề này thời gian qua chưa thật sự được Thành phố chú trọng.

xử công việc hàng ngày của mỗi người. Xử lý thích đáng những hành vi quan liêu

b/ Khắc họa rõ nét môi trường kinh tế xã hội hấp dẫn của Cần Thơ bằng cách

cửa quyền, tham nhũng, hối lộ... đồng thời biểu dương khen thưởng kịp thời tinh thần

công khai hóa một các rộng rãi và minh bạch quy hoạch tổng thể, quy hoạch chi tiết

làm việc tận tâm, tận lực, liêm khiết, vô tư vì lợi ích chung, xem khó khăn của nhà

thành phố Cần Thơ theo định hướng đô thị loại I, trực thuộc Trung ương, quy hoạch

đầu tư như của chính mình (xem hiệu quả kinh doanh của họ chính là đóng góp tích

phát triển các KCN và một số ngành then chốt khác như Thương mại, dịch vụ, Tài

cực vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa Thành phố).

chính, Ngân hàng, Du lịch, “khu nông nghiệp công nghệ cao” và quy hoạch phát

+ Cuối cùng, Thành phố cần tăng cường phân cấp quản lý quy định cụ thể rõ

triển nông nghiệp rộng rãi theo mô hình “khu đô thị ruộng lúa chất lượng cao”,

ràng quyền hạn và trách nhiệm của cấp cơ sở, đồng thời thường xuyên kiểm tra cấp

“khu đô thị vườn đặc sản”, “trang trại đô thị”... ở vùng nông thôn ven thành phố...
c/ Chú trọng hơn nữa cải cách hành chính, mặc dù đã được cải thiện nhưng

này để kịp thời chấn chỉnh khi có biểu hiện tiêu cực, trì trệ, nhũng nhiễu doanh
nghiệp. Khắc phục tình trạng như hiện nay, hầu như cấp nào cũng có quyền đối với

thủ tục hành chính đầu tư vào KCN vẫn còn quá nhiều việc phải làm (Báo Tuổi trẻ

doanh nghiệp nên các doanh nghiệp vẫn còn phải chịu nhiều phiền phức khi cần đến

17/1/2004), vẫn còn phức tạp, chồng chéo làm nản lòng không ít nhà đầu tư. Cải

các cơ quan công quyền.

cách hành chính không nên dừng lại ở khâu cấp phép đầu tư, thuế mà cần phải triển

d/ Chú trọng đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng trong và ngoài hàng rào KCN.

khai đồng bộ trên nhiều lĩnh vực có liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh

Đã được đề cập ở phần trước nhưng ở đây nói để thấy sự rất quan trọng của nó. Dù

cũng như các thủ tục về đất đai, tài chính, ngân hàng, xuất nhập khẩu....Để cải thiện:

có chính sách ưu đãi khuyến khích đầu tư đến mức nào đi nữa mà kết cấu hạ tầng

+ Trước hết, phải đổi mới triệt để cách nghĩ, cách làm “tiền kiểm hậu đăng”
đối với nhà đầu tư trước đây sang “tiền đăng hậu kiểm”, mạnh dạn đơn giản hóa thủ
tục hành chính đăng ký đầu tư (thủ tục đầu vào) theo cơ chế một cửa, đồng thời

trong và ngoài hàng rào KCN chưa hoàn chỉnh, sẵn sàng thì chỉ làm xấu thêm môi
trường đầu tư mà thôi.
“Gần đây, nhiều nhà đầu tư nước ngoài cho biết họ ít quan tâm về giá thuê đất

hướng dẫn, phục vụ đến nơi đến chốn các nhà đầu tư thực hiện giấy phép, gắn liền

mà chủ yếu quan tâm đến cơ sở hạ tầng phục vụ quá trình sản xuất kinh doanh” (báo

với nắm chặt tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của họ.

Cần Thơ ngày 10/11/2004). Do vậy, kết cấu hạ tầng kỹ thuật trong và ngoài hàng rào

+ Thực hiện cơ chế quản lý đặc thù “một cửa, tại chỗ” tại Ban quản lý các
KCN TP.Cần Thơ (nhà đầu tư làm hồ sơ, thủ tục chỉ nộp vào “một cửa” và nhận kết
quả giải quyết cũng “tại chỗ” Ban quản lý KCN) bằng cách khi nhận được hồ sơ

khu công nghiệp đồng bộ, hoàn chỉnh, giá cả hợp lý, càng đáp ứng yêu cầu trước mắt
và lâu dài để thực hiện dự án thì có sức hấp dẫn càng cao đối với nhà đầu tư.


-49-

Tiện ích trước mắt về kết cấu hạ tầng kỹ thuật trong hàng rào khu công
nghiệp, nhất là đường giao thông nội bộ khu công nghiệp và diện tích mặt bằng đã

-50-

mới đến cầu Cần Thơ, hệ thống quốc lộ 1, hệ thống Quốc lộ 91 hệ thống đường cao
tốc thành phố HCM – Cần Thơ...

được thuê, phải được chuẩn bị trước, có sẵn, để sau khi được cấp giấy phép đầu tư,

Đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng trong hàng rào và ngoài hàng rào KCN càng

nhà đầu tư triển khai ngay thực hiện dự án, xây dựng nhà xưởng và đưa dự án đi

chậm và thiếu đồng bộ là thu hút đầu tư càng bị hạn chế. Các doanh nghiệp trong

vào hoạt động sớm nhất. Khó có nhà đầu tư nào dễ dàng chấp nhận trường hợp đã

nước và nước ngoài có dự định đầu tư vào các KCN Cần Thơ, trong thời kỳ hội

thuê đất rồi mà không có đường vào tiếp cận được đất đã thuê hoặc đất được thuê

nhập, cạnh tranh quyết liệt hiện nay, không thể có đủ thời gian chờ đợi Cần Thơ tự

vẫn còn sở hữu của người dân vì chưa được bồi thường giải tỏa hoặc phải chờ đến 6

hoàn thiện mình “quá chậm chạp”. Nếu cứ tiếp tục kéo dài tình trạng này thì hình

– 8 tháng sau mới có mặt bằng và còn chưa kể đến điện, nước, bưu điện, nhà máy

ảnh Cần Thơ xinh đẹp, hấp dẫn xưa nay sẽ có nguy cơ bị lu mờ dần trong ký ức của

xử lý nước thải... cũng chưa sẵn sàng. Có thể nói đó là nhược điểm lớn nhất của

mọi người, mà quan trọng nhất là các nhà đầu tư trong và ngoài nước.

Cần Thơ về đầu tư xây dựng kinh doanh cơ sở hạ tầng KCN trong thời gian qua cần
được khắc phục sớm.

e/ Sau bước có mặt bằng xây dựng nhà xưởng, lắp đặt máy móc thiết bị,
đường, điện, nước... tương đối đầy đủ thì đến lượt tuyển dụng lao động, đào tạo tay

- Tiện ích về kết cấu hạ tầng kỹ thuật ngoài hàng rào KCN, đặc biệt là giao

nghề để đưa nhà máy vào hoạt động, đối với các nhà đầu tư hiện nay quả thật không

thông đường bộ, đường thủy, hàng hải, hàng không, PCCC chuyên nghiệp... là điều

đơn giản, mặc dù vùng ĐBSCL nói chung, Cần Thơ nói riêng, được chú ý là nơi

kiện cơ bản đảm bảo cho các dự án đầu tư sau khi hoàn thành công việc xây dựng

đang thừa lao động và lao động rẻ. Mâu thuẫn phổ biến trong có cấu lao động hiện

lắp đặt nhà máy được an toàn và hoạt động thông suốt, lâu dài và được sinh lợi. Sau

nay là “ thừa thầy, thiếu thợ”. Nhiều doanh nghiệp thông báo tuyển dụng rất lâu

khi nhà máy cho ra hàng loạt sản phẩm thì khâu phân phối lưu thông đóng vai trò

những vẫn không có người đến đăng ký, hoặc vẫn thiếu theo yêu cầu, nhất là ở

quyết định. Việc vận chuyển hàng hóa đi tiêu thụ khắp nơi, quan hệ xuất nhập khẩu

ngành may mặc, chế biến thủy sản, nông sản, cơ khí, điện...

vật tư, nguyên liệu, hàng hóa với nước ngoài, việc đi lại, giao dịch của chuyên gia

- Nhược điểm chung dễ thấy trong cố gắng giải quyết việc làm cho người lao

và nhà đầu tư... với thời gian và chi phí thấp nhất, trở thành những đắn đo cân nhắc

động hiện nay là rời rạc, mạnh ai nấy làm theo kiểu xã hội hóa dịch vụ chung

có tính chất sống còn của những dự án đầu tư, và còn chưa kể đến những nhu cầu

chung, không có hệ thống tổ chức và mục tiêu định hướng rõ ràng, trong khi đó thì

chính đáng về ăn ở, sinh hoạt... của đông đảo công nhân lao động và chuyên gia

lực lượng lao động đi tứ tán khắp nơi, “lùng sục” tìm việc làm, “may nhờ rủi

đang làm việc tại các KCN cần được bảo đảm những điều kiện tối thiểu về vật chất

chịu”... Thiết nghĩ tổ chức chỉ đạo một cách có nề nếp cung ứng lao động đủ, kịp

và tinh thần... để tái sản xuất sức lao động một cách bền vững.
- Vì vậy, ngoài cố gắng của địa phương huy động vốn đầu tư xây dựng nhà

thời và đúng yêu cầu cho các dự án cũng là một đóng góp quan trọng cho cải thiện
môi trường thu hút đầu tư.

ở, các công trình phúc lợi, dịch vụ..., và xây dựng mới, nâng cấp, mở rộng các

Nên có sự phối hợp chủ trì của ngành Lao động Thương binh Xã hội, các

đường giao thông tại các khu đô thị liền kề ngoài hàng rào các KCN, thì cần tập

Đoàn thể và Ban Quản lý các KCN & CX Cần Thơ, tiến hành gắn kết lại một cách

trung mọi nỗ lực tác động sự hỗ trợ của các ngành trung ương có liên quan, đẩy

thường xuyên và chặt chẽ trên cùng một Chương trình hành động thống nhất của

nhanh đầu tư xây dựng hoàn thành sớm nhất các công trình giao thông then chốt cấp

bốn nhóm tổ chức có liên quan đến giải quyết việc làm cho người lao động, gồm

quốc gia và quốc tế đã được thẩm duyệt trên địa bàn TP.Cần Thơ, trong đó khẩn cấp

các Đoàn thể, Trung tâm dịch vụ việc làm, Cơ sở dạy nghề, và doanh nghiệp, theo

nhất là nạo vét luồng Định An và đưa sân bay Cần Thơ vào hoạt động, rồi sau đó

sự phân công của từng nhóm như sau:


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×