Tải bản đầy đủ

Thực trạng hệ thống thuế ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay

MỤC LỤC
Danh mục các chữ viết tắt .................................................................................................4
Lời mở đầu ........................................................................................................................5
Chương I : Những vấn đề lý luận về thuế và cải cách hệ thống thuế theo xu
hướng hội nhập kinh tế quốc tế .................................................................7
1.1- Những vấn đề lý luận về thuế ....................................................................................7
1.1.1- Khái niệm, bản chất và chức năng của thuế.........................................................7
1.1.1.1- Khái niệm .......................................................................................................7
1.1.1.2- Đặc điểm ........................................................................................................8
1.1.1.3- Bản chất........................................................................................................10
1.1.1.4- Chức năng.....................................................................................................11
1.1.2- Phân loại thuế.....................................................................................................12
1.1.3- Các tiêu thức xây dựng hệ thống thuế................................................................14
1.2- Thuế và tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế .............................................................18
1.2.1- Nội dung chính của hội nhập kinh tế quốc tế.....................................................18
1.2.2- Vai trò của thuế đối với tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế ..............................18
1.3- Kinh nghiệm cải cách thuế ở một số nước trên thế giới theo xu hướng
hội nhập kinh tế quốc tế ..........................................................................................19
1.3.1- Cải cách thuế ở Trung Quốc ..............................................................................20
1.3.2- Cải cách thuế ở Đài Loan...................................................................................23
1.3.3- Cải cách thuế ở các nước ASEAN.....................................................................24

Chương II : Thực trạng hệ thống thuế ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập
kinh tế quốc tế hiện nay..........................................................................29
2.1- Khái quát quá trình hình thành và phát triển hệ thống thuế ở Việt Nam.................29
2.1.1- Những mục tiêu, yêu cầu chủ yếu của cải cách hệ thống thuế
Việt Nam trong thời gian từ năm 1990 đến nay.................................................31

-1-

2.1.2- Nội dung cơ bản của cải cách thuế ở Việt Nam trong thời gian từ năm 1990
đến nay ..............................................................................................................34
2.1.2.1- Cải cách thuế bước I (thời kỳ từ năm 1990 đến năm 1999)........................35
2.1.2.2- Cải cách thuế bước II (thời kỳ từ năm 1999 đến nay ) ................................38
2.2- Thực trạng tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam .................................43
2.2.1- Các cam kết hội nhập của Việt Nam..................................................................45
2.2.2- Những kết quả đạt được và những tồn tại trong tiến trình hội nhập
kinh tế quốc tế khu vực và thế giới ...................................................................53
2.3- Thực trạng hệ thống thuế hiện hành của Việt Nam trong tiến trình
hội nhập kinh tế quốc tế ..........................................................................................57
2.3.1- Những cơ hội và thách thức của việc hội nhập kinh tế quốc tế
đối với lĩnh vực thuế...........................................................................................57
2.3.2- Nội dung cơ bản của hệ thống thuế Việt Nam trong tiến trình
hội nhập kinh tế quốc tế .....................................................................................61
2.3.3- Những kết quả đạt được của hệ thống thuế Việt Nam trong
tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế......................................................................66
2.3.4- Những tồn tại của hệ thống thuế Việt Nam trong tiến trình
hội nhập kinh tế quốc tế .....................................................................................71
2.3.4.1- Về kết cấu hệ thống các sắc thuế .................................................................71
2.3.4.2- Về nội dung của các sắc thuế .......................................................................75
2.3.4.3- Về tổ chức quản lý thu thuế .........................................................................86
Chương III : Các giải pháp hoàn thiện hệ thống thuế Việt Nam
theo xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế...............................................89
3.1- Bối cảnh quốc tế và trong nước tác động đến việc hoàn thiện
hệ thống thuế ở nước ta...........................................................................................89
3.1.1- Bối cảnh quốc tế.................................................................................................89
3.1.2- Bối cảnh trong nước...........................................................................................90
-2-


3.2- Một số vấn đề cần được quan tâm trong cải cách thuế theo xu hướng


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

hội nhập kinh tế quốc tế ...........................................................................................92
3.2.1- Mục tiêu, yêu cầu ...............................................................................................92
3.2.2- Những nguyên tắc cần phải tuân thủ trong việc hoàn thiện
hệ thống thuế theo xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế .....................................95
3.2.3- Những vấn đề cần tránh trong thực hiện cải cách thuế......................................97
3.3- Các giải pháp hoàn thiện hệ thống thuế Việt Nam theo xu hướng
hội nhập kinh tế quốc tế ..........................................................................................98

ADB : Ngân hàng Phát triển Châu Á
AFTA : Khu vực mậu dịch tự do ASEAN
APEC : Diễn đàn Hợp tác Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương
ASEAN : Hiệp hội các nước Đông Nam Á
ASEM : Diễn đàn hợp tác Á - Âu
BTA : Hiệp định thương mại Việt - Mỹ

3.3.1- Về kết cấu hệ thống thuế....................................................................................98

CEPT : Chương trình ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung của các nước ASEAN

3.3.2- Về nội dung các sắc thuế....................................................................................99

e- ASEAN : Hiệp định công nghệ thông tin của ASEAN

3.3.2.1- Thuế giá trị gia tăng .....................................................................................99

GTGT : Giá trị gia tăng

3.3.2.2- Thuế tiêu thụ đặc biệt .................................................................................103

HNKTQT : Hội nhập kinh tế quốc tế

3.3.2.3- Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu ................................................................105

IMF : Quỹ tiền tệ quốc tế

3.3.2.4- Thuế thu nhập doanh nghiệp ......................................................................106

MFN : Nguyên tắc tối huệ quốc

3.3.2.5- Thuế thu nhập cá nhân ...............................................................................107

NK : Nhập khẩu

3.3.2.6- Thuế nhà đất ...............................................................................................110

NSNN : Ngân sách Nhà nước

3.3.2.7- Thuế chuyển quyền sử dụng đất.................................................................111

SEV : Hội đồng tương trợ kinh tế

3.3.2.8- Thuế tài nguyên..........................................................................................111

SDĐNN : Sử dụng đất nông nghiệp

3.3.2.9- Thuế đăng ký tài sản...................................................................................112

XK : Xuất khẩu

3.3.2.10- Thuế bảo vệ môi trường ...........................................................................113

TNCN : Thu nhập cá nhân

3.3.2.11- Thuế cố định.............................................................................................113

TNDN : Thu nhập doanh nghiệp

3.3.2.12- Thuế môn bài............................................................................................114

TPHCM : Thành phố Hồ Chí Minh

3.3.2.13- Về phí, lệ phí ............................................................................................114

TTĐB : Tiêu thụ đặc biệt

3.3.3- Về tổ chức quản lý thu thuế .............................................................................114

WB : Ngân hàng thế giới

3.4- Các giải pháp hỗ trợ...............................................................................................121

WTO : Tổ chức Thương mại thế giới

Kết luận .........................................................................................................................123
Tài liệu tham khảo.........................................................................................................125
-3-

-4-


LỜI MỞ ĐẦU

Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu của Luận văn là vấn đề chung về
thuế và cải cách thuế của các nước trên thế giới cũng như của Việt Nam theo xu hướng

Trong thời đại ngày nay, toàn cầu hóa kinh tế đang trở thành xu thế khách quan,
lôi cuốn các nước, bao trùm hầu hết các khu vực, vừa thúc đẩy hợp tác, vừa tăng sức ép
cạnh tranh giữa các nền kinh tế. Trong điều kiện như vậy, một quốc gia có chính sách
thuế thích hợp sẽ nâng cao được hiệu quả sản xuất kinh doanh, đảm bảo nguồn thu cho
Ngân sách Nhà nước và đảm bảo độ an toàn trong quá trình hội nhập kinh tế.
Hội nhập kinh tế quốc tế tạo ra những cơ hội to lớn cho công cuộc công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước nhưng cũng mang đến những thách thức không nhỏ đối với
một nước đang phát triển ở trình độ thấp như nước ta hiện nay. Để tận dụng cơ hội và
để giảm thiểu những thách thức, Nhà nước phải sử dụng có hiệu quả những công cụ
quản lý kinh tế vĩ mô, trong đó thuế là một công cụ hết sức quan trọng.
Hệ thống thuế mới nước ta đã được ban hành từ năm 1990, qua một số lần sửa
đổi, bổ sung đã phát huy được nhiều tác dụng trong việc bảo đảm yêu cầu tăng thu cho
Ngân sách Nhà nước, góp phần quản lý và điều tiết vĩ mô nền kinh tế, thực hiện bình
đẳng, công bằng xã hội. Tuy nhiên, trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay,
hệ thống thuế nước ta bộc lộ nhiều bất cập, đặc biệt chưa phù hợp với thông lệ quốc tế,
nên cần được sửa đổi, bổ sung để chính sách thuế ngày càng hoàn thiện hơn, phù hợp
với tình hình kinh tế - xã hội đang có nhiều biến đổi đa dạng và phù hợp với xu thế hội
nhập kinh tế quốc tế hiện nay.
Vì vậy chọn đề tài “Các giải pháp hoàn thiện hệ thống thuế Việt Nam theo xu

hội nhập kinh tế quốc tế, trong đó đề tài chỉ đề cập sâu vào những kinh nghiệm cải
cách thuế ở một số quốc gia có bối cảnh kinh tế - xã hội giống Việt Nam và thực tiễn,
những ưu và nhược điểm của hệ thống thuế Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế
quốc tế và của một số sắc thuế quan trọng mang tính bức xúc và thời sự đang được
Đảng và nhà nước quan tâm cải tiến.
Luận văn sử dụng Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để nghiên
cứu và trình bày các nội dung lý luận và thực tiễn. Luận văn sử dụng một số phương
pháp đi từ cái chung đến cái riêng, kết hợp lịch sử với logic, tổng hợp và phân tích để
qua đó rút ra kết luận.
Nội dung của luận văn được trình bày thành 3 chương :
- Chương I : Những vấn đề lý luận về thuế và cải cách hệ thống thuế theo xu
hướng hội nhập kinh tế quốc tế.
- Chương II : Thực trạng hệ thống thuế ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh
tế quốc tế hiện nay.
- Chương III : Các giải pháp hoàn thiện hệ thống thuế Việt Nam theo xu hướng
hội nhập kinh tế quốc tế.
Tuy nhiên, do vốn kiến thức và khả năng nghiên cứu còn hạn chế nên không thể
tránh khỏi những sai sót, kính mong được sự góp ý, lượng thứ, thông cảm và chỉ dẫn từ
Quý Thầy Cô để luận văn được hoàn thiện hơn. Xin chân thành cảm ơn.

hướng hội nhập kinh tế quốc tế” làm đề tài luận văn có ý nghĩa thiết thực, thời sự, cả
về lý luận và về thực tiễn. Mục đích của luận văn là nghiên cứu những vấn đề lý luận
về thuế và cải cách thuế của các nước trên thế giới, nghiên cứu những thách thức trong
tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam đối với lĩnh vực Thuế - Ngân sách,
phân tích thực trạng chính sách thuế hiện hành trong bối cảnh hội nhập, từ đó đề xuất
các giải pháp hoàn thiện hệ thống thuế phù hợp với thông lệ quốc tế.
-5-

-6-


Ở góc độ nghiên cứu về Pháp luật thì thuế được quan niệm là khoản đóng góp

CHƯƠNG I :

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THUẾ VÀ
CẢI CÁCH HỆ THỐNG THUẾ THEO XU HƯỚNG
HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ

theo quy định của Pháp luật mà Nhà nước bắt buộc với tính chất và cá nhân phải nộp
vào Ngân sách Nhà nước.
Ở góc độ nghiên cứu về Kinh tế Chính trị học thì khái niệm về thuế là hình thức
phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân để hình thành nên các quỹ
tiền tệ tập trung nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu theo chức năng của Nhà nước.

1.1- NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THUẾ :

Ở góc độ người thu thuế thì thường hiểu thuế là khoản đóng góp bắt buộc theo

1.1.1- Khái niệm, bản chất và chức năng của thuế :

nghĩa vụ do Pháp luật quy định. Thuế là khoản thu không phải hoàn trả ngang giá và

1.1.1.1- Khái niệm :

trực tiếp.

Thuế ra đời và tồn tại cùng với sự xuất hiện và tồn tại của Nhà nước, vì Nhà nước
và do Nhà nước. Dưới bất kỳ một hình thái kinh tế - xã hội nào khi còn Nhà nước là
còn thuế. Thuế là một công cụ quan trọng mà bất kỳ Nhà nước nào cũng sử dụng để

Ở góc độ người nộp thuế thì hiểu thuế là khoản bắt buộc phải nộp cho Nhà nước
theo quy định.
Các quan niệm trên có thể đúng nhưng ở những góc độ khác nhau. Cách hiểu như

hoàn thành chức năng của mình. Tuy nhiên, cho đến nay có nhiều cách nhìn nhận khác

vậy chưa đầy đủ và chính xác. Nhưng hiện nay các nhà kinh tế đều nhất trí kết luận

nhau và người ta vẫn chưa có quan điểm thống nhất về khái niệm thuế cũng như nhìn

rằng :

chung chưa phản ánh đầy đủ bản chất chung của phạm trù thuế. Chẳng hạn theo các

Thuế là một khoản thu của Nhà Nước đối với các tổ chức và mọi thành viên trong

nhà kinh điển thì thuế được quan niệm rất đơn giản : “Để duy trì quyền lực công cộng,

xã hội. Khoản thu này mang tính bắt buộc, không hoàn trả trực tiếp do Pháp luật của

cần phải có những sự đóng góp của những người công dân của Nhà nước đó là thuế

Nhà nước quy định, nhằm sử dụng cho mục đích chung của toàn xã hội.
Từ khái niệm thuế trên, cho thấy rằng một khái niệm để phản ánh đầy đủ nội dung

khóa…” (Mác - Ăng ghen).
Càng về sau, khái niệm về thuế ngày càng được bổ sung và hoàn thiện hơn. Trong
cuốn sách “Economics” của hai nhà kinh tế Mỹ Makkhell và Bruy –M.1993 cho rằng
“Thuế là một khoản chuyển giao bắt buộc bằng tiền (hoặc chuyển giao bằng hàng hóa,

và bản chất của thuế cần phải nêu được các điểm sau :
- Nội dung kinh tế của thuế được đặc trưng bởi các quan hệ tiền tệ giữa Nhà nước
và các Pháp nhân và các thể nhân, không mang tính hoàn trả trực tiếp.
- Những mối quan hệ dưới dạng tiền tệ này được nảy sinh một cách khách quan

dịch vụ)”.
Ở Việt Nam, đến nay cũng chưa có một khái niệm thống nhất về thuế mà tùy theo
cách nhìn nhận ở các góc độ khác nhau, người ta có thể hiểu khác nhau về thuế :
Theo từ điển Tiếng Việt (Xuất bản năm 1977) thì thuế là phần tiền hoặc sản vật
mà người dân phải đóng góp để dùng vào việc chi tiêu của Nhà nước.

-7-

và có ý nghĩa xã hội đặc biệt - việc chuyển giao thu nhập có tính chất bắt buộc theo
mệnh lệnh của Nhà nước.
-

Các Pháp nhân và thể nhân chỉ phải nộp cho Nhà nước các khoản thuế đã

được pháp luật quy định.

-8-


phải nộp bao nhiêu trong thu nhập của mình cho Nhà nước. Thuế còn có một ưu điểm

1.1.1.2- Đặc điểm của thuế :
Từ khái niệm tổng quát về thuế nêu trên chúng ta có thể rút ra các đặc điểm chung
của thuế như sau :

lớn với Nhà nước là thu một cách thường xuyên, chỉ cần có hoạt động sản xuất kinh
doanh là phải nộp thuế cho Nhà nước. Do đó, Nhà nước có nguồn tài chính để chi trả

a) Thuế luôn luôn gắn liền với quyền lực của Nhà nước :

thường xuyên ổn định cho các nhu cầu của mình.

Thuế là nghĩa vụ cơ bản của công dân đã được quy định trong Hiến pháp. Việc

1.1.1.3- Bản chất của thuế :

ban hành, sửa đổi, bổ sung hay bãi bỏ bất kỳ một sắc thuế nào cũng chỉ do một cơ quan

Thuế gắn liền với sự ra đời, tồn tại và phát triển của Nhà nước và nền kinh tế hàng

quyền lực duy nhất của Nhà nước có thẩm quyền đó là Quốc hội. Mặt khác, tính quyền

hóa. Nhà nước là người đại diện quyền lực cao nhất cho một giai cấp nhất định. Do đó,

lực Nhà nước cũng thể hiện ở chỗ Nhà nước không thể hiện thu thuế một cách tùy tiện

thuế có bản chất kinh tế - chính trị - xã hội sâu sắc.

mà phải dựa trên những cơ sở pháp luật nhất định đã được xác định trong các văn bản

a) Bản chất kinh tế của thuế :
Bản chất kinh tế của thuế thể hiện trước hết là một phần thu nhập của xã hội được

pháp luật do Nhà nước ban hành.
b) Tính bắt buộc phải nộp thuế :
Nhà nước sử dụng quyền lực của mình buộc các thành phần kinh tế có sản xuất

tập trung để phục vụ nhu cầu chi tiêu của Nhà nước.
Kinh tế là cơ sở của thuế. Không có sản xuất và phát triển sản xuất và sản xuất

kinh doanh đều phải đóng góp một phần thu nhập của mình dưới hình thức nộp thuế

không có hiệu quả thì nguồn thu từ thuế của Nhà nước không thể tăng nhiều và nhanh

cho Ngân sách Nhà nước. Do vậy, Nhà nước đã ban hành các sắc thuế trực thu, gián

được. Vì thế, qua thu thuế phải tác động tới sản xuất kinh doanh, thúc đẩy sản xuất

thu, các khoản phí, lệ phí để buộc người sản xuất kinh doanh, người tiêu dùng dịch vụ,

kinh doanh phát triển, thúc đẩy thực hành tiết kiệm mọi mặt trong sản xuất và tiêu

người có thu nhập cao phải nộp thuế.

dùng một cách hợp lý để tạo nguồn thu ngày càng lớn cho Ngân sách. Mức động viên

c) Tính không hoàn trả trực tiếp :

về thuế không hợp lý, chỉ nhằm đáp ứng đơn thuần nhu cầu chi tiêu của Nhà nước mà

Tính không hoàn trả trực tiếp thể hiện trên các khía cạnh : người nộp thuế vào

bỏ qua đảm bảo tăng trưởng về kinh tế thì thường là gặp thất bại, dễ dẫn đến hậu quả

Ngân sách Nhà nước không có quyền đòi hỏi Nhà nước phải cung cấp hàng hóa, dịch

xấu nhiều mặt cả về kinh tế - chính trị. Ngược lại, mức động viên hợp lý sẽ có tác

vụ công cộng trực tiếp cho mình. Người nộp thuế sẽ được nhận một phần dịch vụ công

dụng tăng thu cho Ngân Sách và kích thích sản xuất phát triển.

cộng mà Nhà nước cung cấp chung cho cả cộng đồng, giá trị phần dịch vụ đó không

b) Về bản chất giai cấp của thuế :

nhất thiết phải trùng với khoản thuế mà họ phải nộp cho Nhà nước.

Bản chất giai cấp của Nhà nước quyết định bản chất của thuế. Cùng một hiện

d) Tính cố định của thuế :

tượng Ngân sách thu thuế của dân, nhưng với các Nhà nước khác nhau thì bản chất của

Các Nhà nước ban hành sắc thuế, luật thuế để làm căn cứ, bắt buộc các thanh

thuế khác nhau. Điều đó được thể hiện bên trong những nội dung chủ yếu của thuế là :

phần kinh tế trong xã hội phải đóng góp nghĩa vụ thuế. Luật thuế ban hành một mức

Thuế thu vào ai? Thu như thế nào? Và thu để làm gì? Có thể nói mục đích của thuế -

thu cố định cho các hàng hóa dịch vụ. Do đó, các mức cố định này mà Nhà nước có thể

Thu để làm gì đã thể hiện rõ ràng nhất mục đích của thuế. Trong xã hội người bóc lột

tính trước được nguồn thu của mình. Người nộp thuế cũng có thể tính toán được sẽ

người, nhân dân lao động đóng thuế cho Nhà nước để nuôi bộ máy áp bức, bóc lột lại

-9-

- 10 -


chính mình. Còn dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, nhân dân đóng thuế để chi tiêu cho
những công việc nhằm phục vụ trở lại nhân dân lao động. Đó là điều khác nhau cơ bản
về bản chất giai cấp, bản chất chính trị của thuế.

b) Chức năng điều tiết vĩ mô nền kinh tế của thuế :
Thuế thực hiện chức năng điều chỉnh thông qua việc quy định các hình thức thu
thuế khác nhau, xác định đúng đắn đối tượng chịu thuế và nộp thuế, xây dựng chính

c) Thuế còn thể hiện tính xã hội rộng rãi :

xác các mức thuế phải nộp có tính đến khả năng của người nộp thuế. Trên cơ sở đó

Trước hết, vì thuế thu vào toàn dân, thuế có liên quan đến mọi tổ chức, cá nhân

Nhà nước hướng dẫn các hoạt động kinh tế đi vào quỹ đạo chung của nền kinh tế quốc

trong xã hội. Thuế điều chỉnh các quan hệ phân phối, phân phối lại thu nhập xã hội

dân phù hợp với lợi ích của xã hội. Trong điều kiện chuyển sang cơ chế thị trường, vai

giữa các tổ chức kinh tế, giữa các tầng lớp dân cư.

trò kích thích kinh tế thông qua thuế ngày càng được nâng cao. Với cải cách thuế, sự

1.1.1.4- Chức năng của thuế :

can thiệp của Nhà nước không còn mang tính mệnh lệnh bắt buộc, các cơ sở sản xuất

a) Chức năng huy động nguồn lực tài chính :

kinh doanh lựa chọn hình thức sản xuất cho phù hợp với nền kinh tế và đẩy mạnh sản

Đây là chức năng cơ bản của thuế, đặc trưng cho thuế ở tất cả các dạng Nhà nước

xuất kinh doanh phát triển tăng thu nhập cho bản thân mình và tăng nguồn thu cho

trong tiến trình phát triển của xã hội. Về mặt lịch sử, chức năng huy động nguồn lực tài

Ngân sách Nhà nước.

chính là chức năng đầu tiên, phản ánh nguyên nhân sự ra đời của thuế.

1.1.2- Phân loại thuế :

Thông qua chức năng huy động nguồn lực tài chính của thuế mà các quỹ tiền tệ

Phân loại thuế là việc sắp xếp các sắc thuế trong hệ thống thuế thành những nhóm

tập trung của Nhà nước được hình thành để đảm bảo cơ sở vật chất cho sự tồn tại và

khác nhau theo những tiêu thức nhất định. Có các tiêu thức phân loại thuế như sau :

hoạt động của Nhà nước. Chính chức năng này đã tạo những tiền đề để Nhà nước tiến

1.1.2.1- Dựa vào phương thức đánh thuế :

hành tham gia phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân
(do đó chức năng này còn được gọi là chức năng phân phối của thuế).
Sự phát triển và mở rộng các chức năng của Nhà nước đòi hỏi phải tăng cường chi
tiêu tài chính, do đó vai trò của chức năng huy động tập trung nguồn lực của thuế ngày

Các hình thức thuế đều đánh vào thu nhập của người nộp thuế. Người ta chia hệ
thống thuế thành hai loại :
- Thuế trực thu : là loại thuế đánh trực tiếp vào thu nhập hoặc tài sản của người
nộp thuế.

càng được nâng cao. Thông qua thuế một phần đáng kể tổng sản phẩm quốc nội được

Thuế trực thu có đặc điểm là đối tượng nộp thuế theo Luật định đồng nhất với đối

tập trung vào Ngân sách Nhà nước. Thuế trở thành nguồn thu có tỷ trọng lớn nhất trong

tượng chịu thuế. Người nộp thuế theo luật cũng là người kinh doanh. Ở nước ta thuế

tổng thu Ngân sách Nhà nước của tất cả các nước có nền kinh tế thị trường. Hiện nay ở

trực thu bao gồm : Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao, Thuế thu nhập doanh

hầu hết các nước trên thế giới, sau khi thực hiện cải cách hệ thống thuế, số thu từ thuế

nghiệp, Thuế chuyển quyền sử dụng đất, Thuế tài nguyên…

và phí thường chiếm tới 90% tổng số thu Ngân sách Nhà nước.

Ưu điểm của thuế trực thu là động viên trực tiếp vào thu nhập của từng tổ chức,

Chức năng huy động nguồn lực tài chính tạo ra những tiền đề khách quan cho sự

cá nhân có thu nhập. Ngoài ra, thuế trực thu còn cho phép xem xét đến các yếu tố

can thiệp của Nhà nước vào nền kinh tế. Trong quá trình thực hiện chức năng này, thuế

tương đối độc lập đến thu nhập của người nộp thuế như hoàn cảnh bản thân, hoàn cảnh

đã tự động làm xuất hiện chức năng điều tiết vĩ mô nền kinh tế.

gia đình…Do đó, thuế trực thu có tác dụng rất lớn trong việc điều hòa thu nhập, giảm

- 11 -

- 12 -


bớt sự chênh lệch đáng kể về mức sống giữa các tầng lớp dân cư, do đó đã đảm bảo
được tính công bằng trong xã hội.

Nhược điểm của thuế gián thu là có tính chất lũy thoái nên không đảm bảo tính
công bằng trong nghĩa vụ nộp thuế. Nếu tính tỷ lệ động viên thuế gián thu so với thu

Nhược điểm của thuế trực thu là dễ gây ra phản ứng từ phía người nộp thuế khi
Nhà nước điều chỉnh tăng thuế. Đồng thời việc theo dõi, tính toán số thuế phải nộp và
thủ tục thu, nộp thuế hết sức phức tạp. Số thu động viên vào Ngân sách thường chậm
và chi phí quản lý thu thuế khá tốn kém.

nhập thì người giàu có tỷ lệ động viên thuế chịu thuế thấp hơn so với người nghèo.
1.1.2.2- Dựa vào cơ sở đánh thuế :
Cơ sở đánh thuế chỉ rõ thuế đánh trên cái gì. Căn cứ vào cơ sở đánh thuế có thể
chia thuế làm ba loại :

- Thuế gián thu : Là loại thuế không đánh trực tiếp vào thu nhập của người nộp

- Thuế thu nhập : bao gồm các sắc thuế có cơ sở đánh thuế là thu nhập kiếm

thuế mà đánh một cách gián tiếp thông qua giá cả hàng hóa, dịch vụ, người tiêu dùng

được. Thu nhập kiếm được từ nhiều nguồn : từ lao động dưới dạng tiền lương, tiền

các hàng hóa dịch vụ đó là người chịu thuế này.

công ; thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh dưới dạng lợi nhuận, lợi tức cổ

Đặc điểm của thuế gián thu là người chịu thuế theo Luật và người nộp thuế không
đồng nhất với nhau. Người nộp thuế là người sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ,

phần…do đó thuế thu nhập cũng có nhiều dạng : thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập
công ty, thuế chuyển thu nhập ra nước ngoài, thuế lợi tức cổ phần…

còn người chịu thuế là người tiêu dùng các hàng hóa đó với giá cả trong đó có thuế.

- Thuế tiêu dùng : Là các loại thuế có cơ sở đánh thuế là phần thu nhập của tổ

Thuế gián thu ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh thông qua cơ chế giá cả

chức, cá nhân được mang ra tiêu dùng trong hiện tại. Trong thực tế loại thuế tiêu dùng

thị trường. Tuy nhiên, sự ảnh hưởng đó của thuế gián thu không những chịu chi phối

được thể hiện dưới nhiều dạng như thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt…

của mối quan hệ cung cầu trên thị trường, mà còn phụ thuộc vào bản chất của thị
trường, trong đó có sự tác động của thuế. Về nguyên tắc thuế gián thu mang tính chất
lũy thoái vì nó không tính đến khả năng thu nhập của người chịu thuế. Loại thuế này

- Thuế tài sản : Là các loại thuế có cơ sở đánh thuế là giá trị tài sản. Tài sản có
nhiều hình thức biểu hiện :
+ Tài sản tài chính gồm tiền mặt, tiền gửi, chứng khoán, thương phiếu…

thường là các sắc thuế có cơ sở đánh thuế là các khoản thu nhập dùng để tiêu dùng. Ở

+ Tài sản cố định gồm nhà cửa, đất đai, máy móc, nhà xưởng…

Việt Nam các khoản thuế gián thu bao gồm : Thuế giá trị gia tăng, Thuế tiêu thụ đặc

+ Tài sản vô hình như quyền sử dụng đất, lợi thế thương mại, bằng phát minh

biệt, Thuế xuất khẩu, Thuế nhập khẩu…
Ưu điểm của thuế gián thu là đối tượng chịu thuế rất rộng. Thuế gián thu được
che đậy qua giá bán hàng hóa, dịch vụ nên người chịu thuế ít có cảm giác mình bị Nhà
nước đánh thuế. Thuế gián thu đem lại nguồn thu thường xuyên và ổn định cho Ngân

sáng chế…
1.1.3- Các tiêu thức xây dựng hệ thống thuế :
1.1.3.1- Khái niệm về hệ thống thuế :
Hệ thống thuế là tổng hợp các hình thức thuế khác nhau, giữa chúng có mối quan

sách Nhà nước. Đối tượng quản lý thu thuế cũng tập trung hơn, nghiệp vụ tính và thu

hệ mật thiết với nhau và việc xây dựng các loại thuế, phương pháp thu thuế được thực

thuế đơn giản, nên chi phí quản lý thuế cũng thấp hơn so với thuế trực thu.

hiện theo những nguyên tắc nhất định.
Tùy thuộc vào tình hình chính trị - kinh tế từng thời kỳ mà Nhà nước điều chỉnh
hệ thống thuế cho phù hợp. Điều đó có nghĩa là hệ thống thuế chịu sự chi phối của

- 13 -

- 14 -


chính sách thuế. Chính sách thuế là tổng hợp các phương hướng của Nhà nước trong

Tuy nhiên, nguyên tắc này khó áp dụng trong thực tiễn không thể chỉ rõ tiêu thức nào

lĩnh vực thu nộp thuế và các biện pháp hành thu để đạt mục tiêu đã đề ra. Chính sách

để xác định hai cá nhân có điều kiện mọi mặt như nhau, mặt khác cũng khó xác định

thuế thể hiện đường lối và phương hướng động viên thu nhập dưới hình thức thuế trong

cách đối xử như nhau trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế là như thế nào?

nền kinh tế quốc dân. Chính sách thuế được thực hiện bằng cách thiết lập các văn bản

- Hệ thống thuế được coi là công bằng theo chiều dọc, nếu người có khả năng nộp

pháp luật trong lĩnh vực nộp thuế, ban hành các loại thuế và ưu đãi về thuế trong từng

thuế nhiều hơn thì phải nộp thuế cao hơn những người khác có khả năng nộp thuế ít

giai đoạn phát triển nhất định.

hơn. Trong thực tế, để áp dụng nguyên tắc này cần xác định rõ hai vấn đề : tiêu thức

1.1.3.2- Các tiêu thức xây dựng hệ thống thuế :

xác định khả năng và mức độ nộp thuế cao hơn. Vấn đề tiêu thức xác định khả năng

Adam Smith (1723-1790) - Người sáng lập ra môn phái Kinh tế tự do cổ điển

nộp thuế cũng có nhiều ý kiến khác nhau. Hiện nay người ta hay dùng tiêu thức thu

trong tác phẩm “Nghiên cứu về bản chất và nguyên nhân giàu có của nhân loại” đã nêu

nhập hay tiêu dùng để đánh giá khả năng nộp thuế. Có ý kiến đề nghị rằng để đánh

ra bốn nguyên tắc cơ bản sau : Thuế phải công bằng ; Thuế phải rõ ràng ; Thu thuế phải

thuế công bằng nên dựa vào lợi ích mà người nộp thuế nhận được từ việc cung cấp

thuận tiện cho người đóng thuế ; Chi phí tiến hành thu thuế phải thấp nhất.

hàng hóa, dịch vụ công cộng của Nhà nước. Trong thực tế có nhiều hàng hóa công

Bên cạnh những nguyên tắc tương tự với nguyên tắc của A.Smith còn có một số

cộng do Nhà nước cung cấp không thể xác định được lợi ích cụ thể mà cá nhân nhận

tác giả đưa ra một số nguyên tắc như “Thuế khóa tập trung”, “Nguyên tắc bình đẳng

được để xác định mức thuế. Việc căn cứ vào lợi ích để đánh thuế chỉ xảy ra trong

toán học trong thuế khóa”.

trường hợp mà việc cung cấp hàng hóa công cộng đó xác định được một cách chính

Trên cơ sở các nguyên tắc của A.Smith nêu trên, các nhà kinh tế học hiện đại đã

xác lợi ích mà cá nhân nhận được.

hoàn chỉnh, bổ sung và khái quát thành những tiêu thức đánh giá hệ thống thuế tích

Tóm lại, công bằng trong thuế khóa là một đòi hỏi khách quan, nhưng việc đánh

cực, hiệu quả. Các tiêu thức này đã trở thành kim chỉ nam trong việc xây dựng hệ

giá một hệ thống thuế được coi là công bằng không phải là vấn đề đơn giản. Do đó,

thống chính sách thuế ở các nước kinh tế thị trường. Sau đây là các tiêu thức xây dựng

công bằng trong thuế khóa vẫn thuộc về nhận thức và quan điểm của mỗi quốc gia.

hệ thống thuế :

b) Tính hiệu quả :
Hệ thống thuế phải đảm bảo tính hiệu quả dựa trên các mặt sau :

a) Tính công bằng :
Tính công bằng là một đòi hỏi khách quan trong tiến trình phát triển của lịch sử.

- Hiệu quả đối với nền kinh tế : Một chính sách thuế đúng đắn sẽ thúc đẩy kinh tế

Trong một xã hội dân chủ, tính công bằng phải được thực hiện trong từng sắc thuế. Có

phát triển. Xây dựng chính sách thuế không sát với thực tế sẽ kìm hãm sự phát triển

công bằng trong nghĩa vụ nộp thuế mới tạo ra được mục tiêu bình đẳng trong sản xuất

của nền kinh tế dẫn đến đối tượng nộp thuế có hoạt động sản xuất kinh doanh nhưng

kinh doanh giữa các thành phần kinh tế. Các nhà kinh tế cho rằng tính công bằng của

trốn kê khai nộp thuế cho Nhà nước, giảm thu Ngân sách Nhà nước.

thuế phải dựa theo nguyên tắc công bằng theo chiều ngang và theo chiều dọc.

- Hiệu quả thu thuế là lớn nhất : Thể hiện tính hiệu quả là tổng số thuế thu được

- Hệ thống thuế được coi là công bằng theo chiều ngang, nếu các cá nhân có điều

là lớn nhất với chi phí tổ chức thu thuế là thấp nhất. Trong thực tế, khi thu thuế bao giờ

kiện về mọi mặt như nhau thì được đối xử như nhau trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế.

cũng phát sinh chi phí, đó là các khoản chi phí trực tiếp của cơ quan thuế và những chi

- 15 -

- 16 -


phí gián tiếp do người nộp thuế gánh chịu. Tính hiệu quả của thu thuế được thể hiện là

thì cơ quan lập pháp thường chỉ quy định khung thuế suất, còn việc quy định thuế suất

tổng số thuế thu được nhiều nhất trên cơ sở chi phí trực tiếp của cơ quan thuế và chi

cụ thể thường giao cho cơ quan hành pháp, có như vậy mới đảm bảo cho hệ thống thuế

phí gián tiếp của người nộp thuế là thấp nhất. Các khoản chi phí trên gọi là chi phí

thích ứng với những biến động của hoàn cảnh kinh tế.

hành chính. Nhằm giảm bớt chi phí hành chính đòi hỏi hệ thống thuế phải đơn giản
chứa đựng ít mục tiêu. Mặt khác, hệ thống thuế đơn giản, dễ hiểu thì việc quản lý, kiểm
tra, kiểm soát của Nhà nước đối với người nộp thuế mới dễ dàng, thuận tiện.
c) Tính chính xác :
Một hệ thống thuế chính xác thể hiện sự rõ ràng và minh bạch. Trước hết phải chỉ
rõ ai chịu thuế, mức thuế phải nộp và thời hạn nộp thuế, quy định rõ ràng mức phạt đối
với đối tượng nộp thuế, vi phạm Luật thuế, cơ quan thuế hướng dẫn cơ sở kinh doanh
thực hiện sai quy định của Luật thuế. Hệ thống thuế không rõ ràng, minh bạch sẽ gây
khó khăn cho các nhà đầu tư trong nước, hạn chế thu hút vốn đầu tư trong nước và
nước ngoài để phát triển kinh tế.

1.2- THUẾ VÀ TIẾN TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ :
1.2.1- Nội dung chính của hội nhập kinh tế quốc tế :
- Về thương mại và thuế quan : Các nước cam kết bãi bỏ hàng rào phi thuế quan
bao gồm các hạn chế định lượng như quota, giấy phép xuất nhập khẩu (trừ những lĩnh
vực liên quan đến an ninh, môi trường, trật tự an toàn xã hội, đạo đức và truyền thống
dân tộc). Toàn bộ biểu thuế xuất nhập khẩu được ràng buộc ở mức hiện hành nhưng
giảm dần theo lịch trình thỏa thuận, các nước công nhận quyền kinh doanh xuất nhập
khẩu của các chủ thể và cá nhân trong và ngoài nước trên lãnh thổ của mình một cách
bình đẳng trước pháp luật.
- Về đầu tư : Các cam kết không áp dụng đối với đầu tư nước ngoài những yêu

d) Tính thuận lợi :
Tính thuận lợi thể hiện sự dễ hiểu, dễ thực hiện, dễ quản lý và khả năng thích ứng
của hệ thống thuế đối với những hoàn cảnh kinh tế thay đổi.
Yêu cầu về tính dễ hiểu, dễ thực hiện thường thuộc về kỹ thuật xây dựng các văn
bản pháp luật quy định về thuế sao cho logic, mạnh dạn, rõ ràng, các từ dùng trong văn
bản phải mang tính phổ thông để dễ hiểu và hiểu đúng thì thực hiện mới đúng và dễ
kiểm tra, kiểm soát việc thực hiện luật thuế trong thực tế.
Hệ thống thuế phải đảm bảo có khả năng dễ thích ứng với sự thay đổi của hoàn
cảnh kinh tế thì mới phát huy được vai trò điều tiết vĩ mô nền kinh tế của thuế, nhưng
người thực hiện chính sách thuế ấy là tầng lớp dân cư trong xã hội. Cho nên chính sách
thuế càng đơn giản, dễ hiểu thì người dân mới có điều kiện hiểu rõ và làm đúng theo
quy định của các luật thuế. Có như vậy, thuế mới phát huy được vai trò là công cụ chủ

cầu về tỷ lệ nội địa hóa, cân bằng xuất nhập khẩu và hạn chế tiếp cận nguồn ngoại tệ.
Nhiều hiệp định đầu tư đa phương đều có cam kết toàn diện nhằm bảo đảm, khuyến
khích tự do hóa đầu tư.
Hội nhập kinh tế quốc tế nhìn chung tạo ra rất nhiều thuận lợi cho các quốc gia.
Hội nhập giúp cho việc mở rộng cơ hội kinh doanh, đầu tư sang thị trường nước ngoài,
tiếp nhận đầu tư từ nước ngoài, tìm kiếm và tạo lập thị trường ổn định, từ đó có điều
kiện thuận lợi để xây dựng kế hoạch và cơ cấu đầu tư, sản xuất kinh doanh, giải quyết
việc làm, phát triển kinh tế trong nước.
1.2.2- Vai trò của thuế đối với tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế :
Trong tiến trình hội nhập này, hệ thống chính sách thuế có vai trò đặc biệt quan
trọng thể hiện trên những khía cạnh sau :

yếu tạo nguồn thu cho NSNN và thực hiện điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Để đảm bảo
được yêu cầu này mà không vi phạm nguyên tắc đã định ra, khi xây dựng hệ thống thuế
- 17 -

- 18 -


1.2.2.1- Khuyến khích phát triển sản xuất kinh doanh, thu hút vốn đầu tư nước

1.3- Kinh nghiệm về cải cách thuế ở một số nước trên thế giới theo xu hướng hội

ngoài :

nhập kinh tế quốc tế :

Bất kỳ một chính sách thuế nào cũng hướng tới mục tiêu là điều tiết sản xuất và

Trong những năm gần đây, hòa mình với tiến trình HNKTQT, các quốc gia trên

tiêu dùng, tạo nguồn thu cho NSNN. Trong điều kiện HNKTQT, chính sách thuế phải

thế giới đang có xu hướng cải cách hệ thống thuế của mình cho phù hợp với thông lệ

thay đổi để phù hợp với hoàn cảnh, để thực hiện tốt vai trò khuyến khích đầu tư trong

quốc tế nhằm thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế cao hơn nữa và vươn mình mở cửa

nước cũng như thu hút vốn đầu tư nước ngoài, thúc đẩy chuyển giao công nghệ, học

thu hút đầu tư nước ngoài. Tuy nhiên, ở mỗi nước cũng có những nội dung cải cách

hỏi những kinh nghiệm quản lý tiên tiến từ các nước trên thế giới, tạo điều kiện thúc

theo xu hướng khác nhau tùy đặc điểm chính trị - kinh tế - xã hội ở mỗi nước.

đẩy phát triển kinh tế, xã hội. Cụ thể là thay đổi các mức thuế suất và chính sách miễn

Thập kỷ vừa qua được coi là thập kỷ năng động của cải cách thuế trong đó chính

giảm thuế, đối tượng chịu thuế đối với các sắc thuế trực thu như thuế TNDN, thuế

sách thuế đã có những bước thay đổi đáng kể điển hình là : Thuế GTGT đã được thay

TNCN. Đồng thời chú trọng cải tiến, đổi mới công tác quản lý thuế.

cho thuế doanh thu để hạn chế tính trùng lắp, không khuyến khích đầu tư (trong thập

1.2.2.2- Thúc đẩy mạnh mẽ hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ :
Hội nhập kinh tế tạo ra các cơ hội lớn cho việc di chuyển một cách thông thoáng

kỷ 1980 chỉ có 8 nước thì thập kỷ 1990 đã có 116 nước có thuế GTGT) ; Cắt giảm
mạnh thuế NK tại các nước đang phát triển. Số thu từ thuế XK, thuế NK của các nước

của các nguồn lực tài chính cũng như việc lưu thông không hạn chế của các loại hàng

đang phát triển giảm từ 4,2% GDP giai đoạn những năm 1985-1988 xuống còn 3,5%

hóa, dịch vụ thông qua hoạt động XK, NK hàng hóa, dịch vụ từ các nước. Trong việc

GDP giai đoạn những năm 1995-1997 (số thu này của các nước đã phát triển ổn định ở

thúc đẩy hoạt động XK, NK, ngoài các biện pháp về hàng rào phi thuế quan thì hệ

mức 1% GDP).

thống chính sách thuế giữ vai trò quan trọng trong đó đặc biệt là Luật thuế XK, thuế

Dù cải cách thuế có diễn ra một cách triệt để hay được tiến hành theo từng bước

NK (thông qua các mức thuế suất, các chính sách ưu đãi về thuế và lộ trình cắt giảm

thì nội dung chính của cải cách thuế chủ yếu là nhằm mục đích tăng số thu để hạn chế

thuế quan thông qua việc tham gia vào các hiệp định thương mại khu vực và thế giới).

thâm hụt NSNN, khuyến khích đầu tư và lao động để từ đó kích thích tiêu dùng. Tuy

1.2.2.3- Thúc đẩy tăng nguồn thu cho Ngân sách Nhà nước :
Quá trình tham gia hội nhập kinh tế khu vực và thế giới tất yếu phải cắt giảm thuế

nhiên tiến độ và kết quả cải cách chính sách thuế ở các nước cũng có nhiều điểm khác
nhau do hoàn cảnh kinh tế - chính trị - xã hội ở mỗi nước khác nhau. Ở các nước phát

(cả thuế trực thu và thuế gián thu) cho phù hợp với thông lệ quốc tế nhằm nhiều mục

triển, cải cách chính sách thuế chú trọng vào việc hoàn thiện các chi tiết trong các Luật

đích như thu hút vốn đầu tư, thúc đẩy hoạt động XK, NK. Tuy nhiên, do tác động tích

thuế sẵn có. Còn ở các nước đang phát triển, cải cách thuế phải phù hợp với chuẩn

cực của hội nhập làm cho sản xuất kinh doanh, lưu thông hàng hóa phát triển, số lượng

mực và thông lệ quốc tế.

cơ sở sản xuất kinh doanh tăng lên, đối tượng chịu thuế và đối tượng nộp thuế được mở

Sau đây là nội dung và kinh nghiệm cải cách thuế ở một số nước có điều kiện và

rộng, quy mô của doanh nghiệp ngày càng tăng và theo đó quy mô của toàn bộ nền

hoàn cảnh tương tự Việt Nam mà qua đó Việt Nam có thể tham khảo để vận dụng vào

kinh tế cũng không ngừng gia tăng ; điều đó đồng nghĩa với việc nguồn thu của NSNN

phương hướng hoàn thiện hệ thống thuế của mình :

sẽ tăng trưởng và không ngừng lớn mạnh.
- 19 -

- 20 -


Đối với những hàng hóa được gia công ở các cơ sở sản xuất ngoài “khu bão thuế”,

1.3.1- Cải cách thuế ở Trung Quốc :
Cải cách thuế ở Trung Quốc được thực hiện cơ bản vào những năm 1993-1994

“khu chế xuất”, nếu phù hợp với các điều kiện quy định thì thực hiện chế độ quản lý

với kết quả chính là mở rộng diện áp dụng thuế GTGT, thống nhất giữa thuế TNDN và

đối với “nhà máy bão thuế”, “kho hàng bão thuế” ; nếu không phù hợp với điều kiện

thuế TNCN giữa trong nước và nước ngoài. Cơ cấu số thu của Trung Quốc chủ yếu

quy định thì phải có sự bảo đảm về mặt kinh tế hoặc áp dụng biện pháp thu thuế trước,

vẫn là thuế gián thu (thuế GTGT chiếm 36%, thuế TNDN chiếm 9,6%, thuế TTĐB

hoàn thuế sau.

chiếm 7,7% và thuế TNCN chiếm 3,9%). Ngày 12/11/2001, WTO đã quyết định kết

- Xây dựng và hoàn thiện quy định về thuế chống khuynh tiêu, thuế chống trợ giá.

nạp Trung Quốc làm thành viên, điều đó đã mở cho Trung Quốc một không gian rộng

- Xây dựng “Luật thuế quan khẩn cấp”, nhằm tạo căn cứ pháp luật cho việc bảo

lớn và những điều kiện thuận lợi để tham gia hoạt động thương mại quốc tế, đồng thời

hộ các ngành kinh tế trong nước trong trường hợp cần thiết, phù hợp với quy định của

cũng đặt Trung Quốc trước những thách thức mới. Do vậy, đây được coi là động lực

WTO. Đồng thời căn cứ vào quy định của WTO về nguyên tắc phân biệt đối xử và

đẩy mạnh cải cách thuế của Trung Quốc vào thời điểm cuối năm 2001 này. Bước cải

thông qua đàm phán yêu cầu những nước đang thi hành chính sách thuế quan hoặc phi

cách thuế mới của Trung Quốc bao gồm :

thuế quan mang tính chất phân biệt đối xử nhằm vào Trung Quốc xóa bỏ những chính

- Từng bước hạ thấp mức thuế tổng thể và tiến hành điều chỉnh một cách hợp lý

sách đó.

cơ cấu thuế suất. Mức thuế nhập khẩu của Trung Quốc đã giảm từ 17% (năm 2001)

- Tăng cường công tác thu thuế và công tác quản lý của hệ thống hải quan.

xuống còn 17% (năm 2005). Giảm thuế kinh doanh đối với doanh nghiệp bảo hiểm và

- Tận dụng điều khoản của WTO về việc cho phép hoàn thuế xuất khẩu, hoàn

tài chính từ 8% xuống còn 7% năm 2001, 6% năm 2002 và 5% năm 2003 ; thuế kinh
doanh đối với dịch vụ giải trí cao cấp (hộp đêm, sàn nhảy, săn bắn…) là 20% ;
- Tiếp tục thanh lý và quy phạm chính sách miễn, giảm thuế. Ngoài việc bảo lưu

thiện chính sách hoàn thuế giá trị gia tăng, thuế xuất khẩu.
- Mở rộng phạm vi các loại thuế liên quan đến xuất khẩu được hưởng chính sách
hoàn thuế. Ngoài thuế giá trị gia tăng và thuế tiêu dùng, đã đưa thuế kinh doanh vào

những chính sách miễn, giảm thuế phù hợp với quy phạm quốc tế, còn triệt để thanh lý

phạm vi hoàn thuế và cũng có thể đưa thuế duy trì, xây dựng đô thị, tiền phụ thu về

những chính sách miễn, giảm thuế, điều chỉnh chính sách ưu đãi về thuế đối với hàng

giáo dục là hai loại thuế đang cùng thu một lúc với thuế giá trị gia tăng vào phạm vi

hóa nhập khẩu theo phương thức mậu dịch biên giới và hàng hóa nhập khẩu của một bộ

hoàn thuế.

phận những người đi nước ngoài trở về.

- Sử dụng chính sách thuế để bảo vệ tài nguyên hiếm có vật tư khan hiếm.

- Chỉnh đốn và quản lý các “Khu bão thuế”.

- Từng bước hủy bỏ biện pháp tài trợ thuế xuất khẩu mà WTO ngăn cấm.

- Quy định một cách hợp lý việc quản lý phương thức mậu dịch gia công. Với sự

- Thống nhất thuế lợi nhuận đối với doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có

phát triển của phương thức mậu dịch gia công và trình độ quản lý trước đây của Trung
Quốc, mô thực này rất khó quản lý, giám sát. Do đó, trong cải cách thuế này đã đề xuất

vốn nước ngoài.
- Từng bước xóa bỏ sự khác biệt giữa các doanh nghiệp trong nước và doanh

việc các đơn vị gia công hàng xuất khẩu cần có tài khoản bảo đảm tại ngân hàng, từng

nghiệp có vốn nước ngoài, giữa người Trung Quốc và người nước ngoài ở Trung Quốc

bước tập trung việc gia công hàng xuất khẩu vào các “khu bão thuế” và “khu chế xuất”.

trong việc áp dụng các loại thuế khác.

- 21 -

- 22 -


- Từng bước xóa bỏ sự đối xử bất bình đẳng về chính sách thuế nhập khẩu đối với
doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn nước ngoài.
- Ban hành một số loại thuế mới như thuế an ninh xã hội, thuế thừa kế.

quốc gia này được ví như hai “cảng tự do”. Điều này mang ý nghĩa rất lớn đối với việc
thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài.
Đến nay, tại Đài Loan, tồn tại nhiều loại thuế : thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập
doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân, thuế quà tặng, thuế rượu thuốc lá, thuế dịch vụ,

1.3.2- Cải cách thuế ở Đài Loan :
Đài Loan - điển hình của các nước công nghiệp mới - được xem như là rất thành

thuế thừa kế…Hệ thống thuế được chia thành 2 hệ thống: thuế Trung ương và thuế địa

công trong việc thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài nhờ có hệ thống chính sách

phương. Hiện nay 70% số thu là thuế Trung ương, 30% là thuế Địa phương. Nhưng các

thuế hợp lý. Bởi lẽ từ nhận thức xem thuế là một công cụ có hiệu lực góp phần khuyến

dữ liệu về thuế do Trung ương quản lý hay do địa phương quản lý đều được tập trung

khích đầu tư, thúc đẩy phát triển kinh tế, góp phần đưa đất nước tiến lên giàu mạnh và

về trung tâm dữ liệu tài chính. Tại Đài loan có 3 loại thuế chiếm 50% tổng số thu của

tạo được nguồn tài chính quốc gia lành mạnh, Chính phủ Đài Loan đã không ngừng

cả nước là: thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân, thuế giá trị gia tăng.

quan tâm đến việc xem xét, cải cách hệ thống thuế đặc biệt đầu năm 1960, sau khi có

- Thuế kinh doanh (VAT): Tăng lên 17,5% (trước đây không có). Việc sử dụng

Luật thuế khuyến khích đầu tư nước ngoài, nhằm bảo đảm hệ thống thuế luôn hợp lý,

máy tính tạo thuận lợi cho cả cơ quan thuế và cả đầu tư nước ngoài. Đối tượng nộp

đạt hiệu quả cao trong tình hình kinh tế - xã hội thường xuyên biến động. Ở Đài Loan

thuế có thể tự kiểm tra số thuế của mình trên mạng (số phải nộp, đã nộp). Có trả lời

có 14 sắc thuế mà theo lý thuyết truyền thống của họ thì các loại thuế trực thu gồm :

ngay trên mạng những vấn đề về thuế. Không cần phải đến cơ quan thuế, đối tượng

Thuế TNCN, thuế lợi tức, thuế khai thác mỏ, thuế tài sản, thuế thừa kế, thuế đất, thuế

nộp thuế có thể gửi khiếu kiện cho cơ quan thuế qua mạng, và nhiều nghiệp vụ khác có

nhà, thu trước bạ xe cơ giới ; Còn thuế gián thu gồm có thuế quan, thuế giao dịch

thể giải quyết ngay trên mạng.

chứng khoán, thuế doanh nghiệp, thuế tem, thuế giải trí và thuế hàng hóa.
Từ năm 1981, hệ thống thuế Đài Loan được phân chia cho ba cấp phụ trách quản
lý thu gồm có : thuế quốc gia, thuế tỉnh (thành phố), thuế huyện (quận).
Và theo thời gian hệ thống chính sách thuế của Đài Loan đã không ngừng hoàn
thiện, thuế suất thuế thu nhập ngày càng giảm dần theo xu hướng ưu đãi hơn. Các quy

- Thuế thu nhập cá nhân: Thu theo hộ gia đình. Có 5.000.000 hộ gia đình. Mọi
gia đình đều phải kê khai. Trong tờ khai có kê khai các khoản chiết trừ như phải nuôi
người già…Do đó, sẽ tính thuế phải nộp hợp lý (một số gia đình sẽ không phải nộp
thuế thu nhập cá nhân).
- Thuế thu nhập doanh nghiệp: Tại Trung tâm dữ liệu Tài chính tập trung toàn bộ

định miễn giảm thuế cũng được mở rộng, bổ sung nhiều hơn. Các ưu đãi và khuyến

số liệu về hóa đơn bán hàng và hóa đơn mua hàng. Dữ liệu này không chỉ phục vụ cho

khích về thuế thu nhập gián tiếp bằng cách loại trừ ngày càng nhiều các khoản thu ra

việc kiểm tra, xác định thuế VAT mà còn phục vụ cho việc quản lý thuế Thu nhập

khỏi thu nhập chịu thuế đồng thời cho phép tăng khấu hao và chấp nhận một số khoản

doanh nghiệp.

chi phí như : chi nghiên cứu, sản xuất thử, chi tiếp thị…Chế độ thuế quan được thực

Tóm lại, Đài Loan nhờ có đường lối đúng đắn trong tiến trình cải cách thuế, đến

hiện rất thông thoáng với mục tiêu đạt được thông lệ của WTO. Đây cũng là đặc trưng

nay số thu của thuế đạt 45 tỷ/năm. So với tổng thu của Ngân sách quốc gia hàng năm là

cải cách thuế ở các nước công nghiệp mới, đặc biệt là ở Singapore và Hồng Kông, hai

65 tỷ thì số thu của thuế chiếm 75% số thu của Chính phủ. Đây quả thật là bài học kinh
nghiệm thực tế rất có ý nghĩa cho Việt Nam trong tiến trình cải cách thuế của mình.

- 23 -

- 24 -


1.3.3- Cải cách thuế ở các nước ASEAN :
Các nước thành viên ASEAN đã thực hiện cải cách triệt để hệ thống tài chính

15% ; 25% ; 35% (Trong Luật thuế cũ, thuế TNCN gồm 58 thuế suất với mức từ 10%
đến 50%, thuế thu nhập công ty gồm 10 mức thuế suất từ 20% đến 45%).

trong đó có hệ thống thuế. Đặc trưng của cải cách thuế ASEAN là sự thể hiện rõ nét sự

Năm 2001 Inđonexia tiếp tục một giai đoạn cải cách mới với nội dung chủ yếu là :

thích ứng với thông lệ quốc tế và vai trò hỗ trợ kỹ thuật của IMF hoặc WB, theo đó cải

- Về thuế GTGT : Thuế GTGT được mở rộng diện chịu thuế và hiện có một mức

cách thuế phải kết hợp giữa việc ban hành thuế GTGT (thay cho thuế doanh thu), đối
xử công bằng giữa mọi hình thức đầu tư, thu hẹp ưu đãi miễn giảm thuế và kiện toàn

thuế suất là 10% ; dự kiến sẽ tăng thuế suất lên 12,5%.
- Về thuế TNDN : Thay đổi các khái niệm về đối tượng cư trú, cơ sở thường trú

cơ chế quản lý thuế. Hiện nay, mô hình chính sách thuế của ASEAN tương đối giống

phù hợp với thông lệ quốc tế ; Mở rộng diện chịu thuế; Thuế suất lũy tiến từng phần

nhau với đặc điểm là :

10%, 20% và 35%; Cơ quan thuế và đối tượng chịu thuế có thể ký thỏa thuận trước về

- Thuế đối với tiêu dùng : Mặc dù đã ban hành thuế GTGT nhưng vẫn duy trì thuế

giá đối với các giao dịch quốc tế để quản lý và chuyển giá; Ưu đãi thuế đối với đầu tư

doanh thu (hoặc thuế kinh doanh) áp dụng đối với một số hoạt động kinh doanh hàng

(chỉ áp dụng đối với những vùng kém phát triển, hoặc sử dụng công nghệ cao) bằng

hóa và dịch vụ đặc biệt (hàng hóa xa xỉ phẩm, dịch vụ ngân hàng, vận tải quốc tế…)

cách giảm 30% thuế TNDN, cho khấu hao nhanh gấp hai lần, cho chuyển lỗ qua các

- Thuế thu nhập : Giảm thuế suất từ 1- 2% đối với thuế TNDN ; thuế suất cao đối
với thuế TNCN không quá 40%; thuế suất khấu trừ tại nguồn đối với thu nhập từ đầu
tư từ 10-20%. Trước tình trạng lợi dụng chuyển giá để tránh thuế của các công ty đa

năm sau.
- Về thuế TNCN : Mở rộng diện thu nhập chịu thuế ; Thuế suất lũy tiến là 10%,
20% và 35% ; Cho phép chiết trừ gia cảnh (vợ, con) khi tính thu nhập chịu thuế.

quốc gia, các nước ASEAN đã đồng loạt ban hành các quy định về kiểm soát chuyển

Kết quả của cải cách thuế trên đã làm tăng tỷ lệ động viên từ thuế trong GDP từ

giá (cho phép cơ quan thuế và đối tượng nộp thuế có thể ký thỏa thuận trước về giá) và

15,2% lên 18%, số thu chủ yếu từ thuế gián thu (thuế giá trị gia tăng chiếm 28,6% ;

kiểm soát lợi nhuận đầu tư ra nước ngoài.

thuế nhập khẩu chiếm 6,1% ; thuế tiêu thụ đặc biệt 5,7%).

- Chính sách ưu đãi đầu tư : Nhằm mục đích khuyến khích xuất khẩu, công nghệ

1.3.3.2- Cải cách thuế ở Malaysia :

cao và phát triển vùng sâu, vùng xa trên cơ sở không phân biệt ưu đãi đối với đầu tư

Vấn đề cải cách thuế rõ nhất của Malaysia là chuyển trọng tâm từ thuế trực thu

trong nước và nước ngoài. Biện pháp : Hạn chế sử dụng miễn giảm thuế theo thời gian

sang hệ thống thuế có phạm vi bao quát hơn đối với tiêu dùng, thông qua việc xóa bỏ

mà sử dụng chế độ khấu hao nhanh đối với một số loại tài sản đầu tư.

thuế đối với lợi nhuận siêu ngạch, giảm thuế suất đối với thuế thu nhập ; miễn thuế lợi

Sau đây là một số nội dung cải cách thuế của các nước ASEAN :

nhuận và lợi tức cổ phần trong thời gian tối đa là 10 năm đối với những cơ sở sử dụng
công nghệ mới, có độ rủi ro lớn. Các loại thuế chung của Liên bang có thuế thu nhập,

1.3.3.1- Cải cách thuế ở Inđonexia :
Hệ thống thuế được cải cách từ năm 1994. Mục tiêu của cải cách này là tăng số

thuế tài sản, thuế bất động sản, thuế lãi trên vốn, thuế công ty, thuế dầu lửa, thuế tem,

thu về thuế để bảo đảm yêu cầu chi tiêu của Ngân sách. Hệ thống thuế mới gồm thuế

thuế doanh nghiệp, thuế TTĐB, thuế XK, thuế NK, thuế dịch vụ. Các Bang được thu

chủ yếu là thuế thu nhập, thuế GTGT. Điểm mới là gộp thuế TNCN và thuế thu nhập

cho Ngân sách của Bang những loại thuế đất, thuế thu nhập, tiền nuôi rừng và một số

công ty thành một loại thuế suất đơn giản chỉ có ba thuế suất theo lũy tiến từng phần :

khoản thu không phải là thuế (tiền thu cấp giấy phép kinh doanh, duyệt thiết kế).

- 25 -

- 26 -


công nghệ cao và khu vực có điều kiện địa lý khó khăn ; đầu tư vào cơ sở hạ tầng được

1.3.3.3- Cải cách thuế ở Philipin :
Philipin tiến hành cải cách thuế toàn diện vào năm 1994 với mục tiêu chính là mở

hưởng khoản trừ bổ sung đối với tài sản đầu tư là 25%.

rộng diện đánh thuế và đơn giản, hợp lý hóa các luật thuế và quy trình, phương pháp

Như vậy, nhìn chung trên đây là một số nội dung cải cách thuế ở các nước

quản lý. Cải cách đã làm tăng số thu thuế từ 15,2% lên 20%/GDP, cơ cấu số thu vẫn

ASEAN. Thông qua công cuộc cải cách thuế ở các nước này Việt Nam có thể học hỏi

dựa vào thuế gián thu là chính. Cải cách chính sách thuế bao gồm những nội dung

nhiều kinh nghiệm thực tiễn cho định hướng hoàn thiện hệ thống thuế của mình theo

chính như sau :

xu hướng hội nhập. Bởi lẽ hiện nay, các nước này cũng với nền kinh tế đang phát triển

- Thuế thu nhập : Đánh thuế theo nguyên tắc tổng thu nhập thay cho đánh thuế

như Việt Nam, đang từng bước hoàn thiện hệ thống thuế sao cho phù hợp với thông lệ

theo loại thu nhập, chuyển đơn vị chịu thuế từ gia đình sang cá nhân; tăng diện áp dụng

quốc tế, để góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển và tăng trưởng kinh tế vững mạnh,

thuế khấu trừ tại nguồn đặc biệt là thu nhập từ cổ phần, lãi tiền vay, tiền bản quyền.

thu hút nhiều vốn đầu tư nước ngoài.

- Thuế gián thu : Chuyển từ cơ chế hai thuế suất sang một thuế suất đối với thuế

Thực tế, qua xem xét và phân tích chúng ta thấy rằng các nước ASEAN cũng đã

GTGT ; đánh thuế tuyệt đối đối với thuế TTĐB, áp dụng thuế suất % (thực chất là thuế

rất thành công trong việc sử dụng chính sách thuế trong quá trình hội nhập kinh tế quốc

doanh thu) đối với một số ngành dịch vụ không thuộc phạm vi áp dụng thuế GTGT

tế thông qua những nội dung cải cách thuế chủ yếu như :
- Giảm thuế suất thuế TNDN : Malaysia giảm từ 30% xuống còn 28% vào năm

(vận tải, ngân hàng, bảo hiểm…).
- Thuế đối với tài sản : Chú trọng các chính sách thu thuế đối với bất động sản
thông qua việc định giá lại bất động sản làm cơ sở ban hành chính sách thuế đối với tài

1998, Philipin giảm từ 34% xuống còn 32% vào năm 2000.
- Miễn, giảm thuế TNDN nếu đầu tư vào các dự án có vốn đầu tư lớn, tỷ trọng
hàng hóa xuất khẩu cao, dự án có công nghệ kỹ thuật tiên tiến.

sản.
- Về ưu đãi thuế đối với đầu tư : Khuyến khích doanh nghiệp đầu tư chọn biện

Tóm lại :

pháp khấu hao nhanh thay cho kỳ miễn thuế (tối đa là 8 năm) ; cho phép bổ sung 50%

Chương I đã khái quát những vấn đề lý luận chung về thuế và cải cách thuế theo

chi phí lao động trong 5 năm đối với một số dự án có tỷ lệ vốn đầu tư trên số công

xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế, đặc biệt là kinh nghiệm cải cách thuế ở những nước

nhân nhất định.

có điều kiện kinh tế - xã hội tương tự Việt Nam như Trung Quốc, Đài Loan, các nước

1.3.3.4- Cải cách thuế ở Thái Lan :

ASEAN. Qua đó, trang bị một nền tảng lý luận vững chắc để đi sâu vào phân tích thực

Thời kỳ 1990-1995 kinh tế Thái Lan tăng trưởng mạnh và Ngân sách thặng dư,

trạng của công cuộc cải cách thuế ở Việt Nam trong thời gian qua, tổng kết những

cải cách thuế chỉ tập trung vào tin học hóa công các quản lý thuế. Từ 1997 Thái Lan bị

thành quả đạt được, những mặt còn hạn chế của hệ thống thuế hiện hành, từ đó đề ra

khủng hoảng kinh tế nên cải cách thuế chịu ảnh hưởng bởi cam kết với IMF bao gồm

các giải pháp hoàn thiện hệ thống thuế Việt Nam phù hợp với bối cảnh hội nhập kinh tế

thuế GTGT chỉ có một mức thuế suất, giảm thuế suất thuế thu nhập (mức thuế suất lũy

quốc tế trong những chương tiếp theo.

tiến cao nhất là 50% giảm còn 37%). Về ưu đãi đối với đầu tư, Thái Lan cho phép
được hưởng kỳ miễn thuế đến 8 năm và giảm 50% cho 5 năm tiếp theo đối với lĩnh vực
- 27 -

- 28 -


Nhằm tạo điều kiện vật chất để khắc phục các khó khăn về chống thù trong, giặc

CHƯƠNG II :

THỰC TRẠNG HỆ THỐNG THUẾ Ở VIỆT NAM
TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ
QUỐC TẾ HIỆN NAY

ngoài, chống giặc đói, diệt giặc dốt…Với phương châm “Lấy dân làm gốc”, Chính phủ
lâm thời đã vận động nhân dân tự nguyện đóng góp cho cách mạng qua “Quỹ độc lập”,
“Tuần lễ vàng”, “Tuần lễ đồng”, “Hũ gạo nuôi quân”, “Đảm phụ quốc phòng”…và vay
của dân bằng “Công phiếu kháng chiến”, “Công trái quốc gia”… Những chủ trương
đúng đắn đó đã được nhân dân nhiệt tình ủng hộ và tích cực hưởng ứng. Chỉ riêng Quỹ

2.1- Khái quát quá trình hình thành và phát triển hệ thống thuế ở Việt Nam :
Hệ thống thuế của nước ta được hình thành và từng bước phát triển gắn liền với
sự ra đời và phát triển của Nhà nước Cách Mạng Dân Chủ Nhân Dân và Xã Hội Chủ
Nghĩa. Từ nền sản xuất nhỏ lên nền sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, tình hình kinh tế xã hội luôn có những biến động. Việc xây dựng và tổ chức thực hiện các chính sách
thuế phải luôn luôn căn cứ vào tình hình nhiệm vụ cụ thể của từng giai đoạn cách mạng
để có những sửa đổi, bổ sung.
Ngay sau khi Cách Mạng Tháng Tám thành công, Chính phủ lâm thời non trẻ đã
phải đương đầu với những nhu cầu chi tiêu vô cùng to lớn, cấp bách để củng cố chính
quyền cách mạng và thực hiện cùng một lúc nhiều nhiệm vụ nặng nề. Mặc dù vậy,
Trung ương Đảng, Bác Hồ, Chính phủ đã quyết định xóa bỏ thuế thân, bãi bỏ chế độ
độc quyền thuốc phiện, rượu, muối là những chính sách nô dịch của thực dân, phong
kiến. Nhà nước ta tạm thời cho duy trì một số sắc thuế cũ dưới thời thực dân Pháp (như
thuế môn bài, thuế tiêu thụ thuốc lá, rượu, muối, thuế quan…) trên cơ sở sửa đổi, bổ
sung lại một số điều cho phù hợp với thể chế của Nhà nước ta. Chủ trương đó đã giảm
bớt được khó khăn, tạo được chút niềm tin trong nhân dân, đặc biệt là nông dân chiếm
tới 90% dân số, sẵn sàng chịu đựng mọi hi sinh, gian khổ để bảo vệ nền độc lập, tự do
vừa giành được. Tuy nhiên, do có nhiều ấn tượng xấu trong nhân dân đối với các loại
thuế này nên số thu được không đáng kể.

- 29 -

Độc Lập và Tuần Lễ vàng đã động viên được 20 triệu đồng Đông dương và 370 kg
vàng, tương đương với số thuế thân và thuế điền thổ thu được trong một năm dưới chế
độ thực dân, phong kiến. Nhờ vậy, số thu đã đáp ứng được về cơ bản nhu cầu chi tiêu
lớn lao, cấp bách trong những năm đầu kháng chiến chống thực dân Pháp.
Đến năm 1951, sau Đại hội Đảng Toàn Quốc lần thứ II, thực hiện khẩu hiệu “Tất
cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng”, chính sách tài chính được thực hiện theo
phương châm “tăng thu, giảm chi, thống nhất quản lý thu chi tài chính”, chuyển từ
đóng góp tự nguyện sang đóng thuế công bằng, phù hợp với thu nhập và khả năng của
các tầng lớp dân cư. Nhà nước đã ban hành chính sách thuế nông nghiệp thu bằng hiện
vật và một số sắc thuế thu bằng tiền như thuế doanh nghiệp, thuế quán hàng, thuế buôn
chuyến, thuế hàng hóa, thuế xuất nhập khẩu, thuế sát sinh, thuế trước bạ và tem…với
chế độ quản lý vừa điều tra, vừa kết hợp với “dân chủ bình nghị” để nhân dân tham gia
ý kiến, phù hợp khả năng đóng góp thực tế của mỗi người.
Hệ thống thuế này được tiếp tục duy trì và bổ sung cho đến sau ngày Miền Bắc
hoàn toàn giải phóng. Từ năm 1961, do yêu cầu xây dựng và phát triển kinh tế quốc
doanh ở nước ta có hai chế độ thu cho Ngân sách khác nhau : chế độ thuế nông nghiệp,
công thương nghiệp áp dụng đối với kinh tế ngoài quốc doanh và chế độ thu quốc
doanh, trích nộp lợi nhuận, nộp khấu hao cơ bản, chênh lệch giá…áp dụng đối với khu
vực kinh tế quốc doanh. Tất cả các loại thuế và thu tài chính nói trên còn được tiếp tục
ban hành sửa đổi, bổ sung qua nhiều lần vào các năm 1966, 1968, 1974, 1980, 1983,

- 30 -


1987 và đầu năm 1989 nhằm nâng cao tính hợp pháp và phù hợp với tình hình nhiệm

hội, phù hợp với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và chủ động hội

vụ của từng thời kỳ, đặc biệt sau khi hoàn toàn thống nhất đất nước.

nhập kinh tế quốc tế. Các mục tiêu cụ thể là:

Trải qua những năm tháng lịch sử, hệ thống thuế và thu tài chính nói trên đã bảo
đảm nguồn thu quan trọng của Ngân sách, phục vụ cho thực hiện những nhiệm vụ

- Về mặt tài chính : Thuế phải là nguồn thu chủ yếu của Ngân sách Nhà
nước, là bộ phận cơ bản, chủ yếu của nền tài chính quốc gia lành mạnh.

chính trị - kinh tế - xã hội - quốc phòng trong từng thời kỳ. Đồng thời đã góp phần bảo

Thuế phải đảm bảo nhu cầu chi tiêu cần thiết hợp lý của Ngân sách Nhà nước,

đảm sản xuất nông nghiệp, công thương nghiệp, dịch vụ phát triển, nhất là kinh tế quốc

đảm bảo nguồn lực tài chính và giành một phần cho tích lũy phục vụ sự nghiệp công

doanh, kinh tế tập thể góp phần xóa bỏ quan hệ bóc lột phong kiến cải tạo xã hội chủ

nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Phấn đấu tốc độ tăng trưởng thuế và phí bình quân

nghĩa đối với nông nghiệp, công thương nghiệp, tư bản tư doanh và kinh tế cá thể.

hàng năm đạt trên 10%. Thực hiện tỷ lệ động viên từ thuế và phí vào Ngân sách Nhà

Phương hướng đổi mới của đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI về cơ chế quản lý
kinh tế là xóa bỏ tập trung, quan liêu, bao cấp, xây dựng cơ chế quản lý kinh tế và cơ

nước bình quân hàng năm 20% - 21% GDP. Tăng thu trong nước, giảm thu ngoài
nước, nâng dần tỷ lệ thuế trực thu trong tổng thu Ngân sách Nhà nước.

cấu kinh tế phù hợp với quy luật kinh tế khách quan của một nền kinh tế có nhiều thành

Một Ngân sách lành mạnh trước hết phải dựa vào nguồn thu nội bộ của nền kinh

phần theo hướng bình đẳng trước pháp luật. Nghị quyết Đại Hội lần thứ VI của Đảng

tế quốc dân, trong đó nguồn thu chủ yếu là thuế. Yêu cầu đó đòi hỏi thuế phải bao quát

cũng đã đạt nhiệm vụ quan trọng cho công tác tài chính trong những năm tới là phải

hết các nguồn thu.

“đổi mới” các chính sách, chế độ tài chính trước hết là chính sách thuế với mục tiêu cụ

Thứ hai nữa cần phải chú ý rằng mức động viên về thuế luôn luôn phải khai thác

thể là : “Điều tiết và phân phối hợp lý các nguồn thu nhập nhằm thực hiện công bằng

từ tổng sản phẩm xã hội. Chính vì vậy, phải phấn đấu để thuế trở thành nguồn thu chủ

xã hội và bảo đảm quan hệ tích lũy với tiêu dùng phù hợp với các mục tiêu kinh tế - xã

yếu của Ngân sách. Đồng thời phải đề cao được ý thức tự nguyện, tự giác chấp hành

hội”. Nhiệm vụ đó đòi hỏi hệ thống thuế phải được cải cách nhằm đáp ứng yêu cầu của

nghiêm chỉnh các nghĩa vụ khai báo, nộp thuế theo đúng pháp luật của cơ sở kinh

tình hình nhiệm vụ mới, phản ánh được đầy đủ nguyện vọng chính đáng của các tầng

doanh và tổ chức tốt việc thu nộp đầy đủ, kịp thời vào Ngân sách Nhà nước.

lớp dân cư, góp phần thúc đẩy đổi mới kinh tế - xã hội ở nước ta. Trước mắt tạo tiền đề
cho sự phát triển nhanh chóng, lâu dài.

- Về mặt kinh tế : Thuế phải trở thành công cụ chủ yếu của Nhà nước để
quản lý và điều tiết vĩ mô nền kinh tế.

2.1.1- Những mục tiêu, yêu cầu chủ yếu của cải cách hệ thống thuế của Việt Nam
trong thời gian từ năm 1990 đến nay :

Thuế phải là công cụ quản lý và điều tiết vĩ mô của Nhà nước đối với nền kinh tế,
phát huy cao độ các nguồn nội lực, thúc đẩy phát triển nhanh sức sản xuất; khuyến

Mục tiêu chung là xây dựng hệ thống chính sách thuế đồng bộ, có cơ cấu hợp lý

khích xuất khẩu, khuyến khích đầu tư nhất là đầu tư áp dụng công nghệ cao, đầu tư vào

đi đôi với hiện đại hóa công tác quản lý thuế nhằm đảm bảo chính sách động viên thu

vùng kinh tế xã hội khó khăn, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế; đảm bảo cho nền

nhập quốc dân của Đảng và Nhà nước, đảm bảo nguồn lực tài chính phục vụ sự nghiệp

kinh tế tăng trưởng cao, bền vững, góp phần ổn định và nâng cao đời sống nhân dân.

công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; góp phần đảm bảo bình đẳng, công bằng xã

Trong điều kiện hiện nay, hệ thống thuế phải thay đổi sao cho phù hợp với thông
lệ quốc tế, trong điều kiện hội nhập kinh tế khu vực và thế giới, đặc biệt là phù hợp với

- 31 -

- 32 -


những quy định của WTO. Hệ thống chính sách thuế phải vừa bảo hộ hợp lý, có chọn

tầm quan trọng và vai trò, vị trí, chức năng, nhiệm vụ của thuế trong nền kinh tế quốc

lọc; có thời hạn đối với các ngành kinh tế, ngành công nghiệp trọng điểm tạo nền tảng

dân.

cho việc thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, thúc đẩy sản xuất phát
triển, tăng cường sức cạnh tranh của nền kinh tế; Đồng thời chủ động hội nhập, thực
hiện chính sách mở cửa để khuyến khích thu hút đầu tư nước ngoài vào Việt Nam, mở
rộng thị trường xuất nhập khẩu hàng hoá; bảo đảm lợi ích quốc gia.
- Về mặt xã hội : Thuế phải góp phần thực hiện bình đẳng, công bằng, bảo

Hệ thống thuế phải rõ ràng, chặt chẽ và mang tính pháp luật cao mà mọi tổ chức
kinh tế, mọi công dân đều phải thực hiện nghiêm chỉnh.
Đối với những trường hợp làm sai pháp luật, dẫu ở cương vị nào trong xã hội đều
phải xử lý nghiêm minh theo quy định của Nhà nước, để phát huy tác dụng giáo dục và
đưa dần việc thực hiện các Luật thuế vào nền nếp, kỷ cương.
Vấn đề trước mắt, phải nhanh chóng hiện đại hóa và nâng cao năng lực của bộ

đảm tính trung lập về thuế.
Chính sách thuế áp dụng thống nhất giữa các thành phần kinh tế và mức động

máy quản lý thuế, hạn chế đến mức thấp nhất các hành vi gian lận thuế, chống thất thu

viên hợp lý giữa các lĩnh vực, ngành nghề kinh tế, thuế sẽ góp phần thực hiện bình

Ngân sách, khắc phục các hiện tượng tiêu cực, yếu kém trong quản lý thuế; Kiện toàn

đẳng và công bằng xã hội.

bộ máy quản lý thuế trong sạch, vững mạnh.

Công bằng, bình đẳng, trung lập về thuế đối với xã hội cũng không thể chỉ là vấn

- Về phương châm, bước đi : Có các nội dung cơ bản sau :

đề “đạo lý”, mà phải biểu hiện bằng chính sách, bằng văn bản pháp quy cụ thể, rõ ràng

+ Đối với những sắc thuế mà nhân dân ta đã quen thì sửa đổi, bổ sung và ban

về đối tượng nộp thuế, căn cứ tính thuế, biểu thuế, phương pháp thu nộp, chế độ miễn

hành ngay bằng Luật để nâng cao tính pháp lý. Nhưng đối với một số loại thuế mới cần

giảm để thống nhất được cách hiểu và cách làm giữa cơ quan thuế và người nộp thuế,

có thời gian thực nghiệm để người dân quen. Về hình thức, trước hết có thể ban hành

tránh tình trạng hiểu và làm tùy tiện, tiêu cực, không đúng với quy định và tính công

dưới dạng Pháp lệnh, sau đó sửa đổi, hoàn thiện và nâng lên thành Luật.
+ Luôn bảo đảm tính kế thừa khi xây dựng hệ thống thuế.

bằng của chính sách thuế đã ban hành.
Nhận thức đúng đắn và ý thức tự nguyện, tự giác nộp thuế đúng Pháp luật cũng là

+ Từng bước đơn giản chính sách thuế, thu gọn mức thuế suất. Đẩy mạnh cải

một yếu tố quan trọng để chính sách thuế bảo đảm được yêu cầu công bằng, bình đẳng.

cách hệ thống thuế theo hướng đơn giản, minh bạch, công khai, dân chủ trong công tác

Công bằng, bình đẳng trung lập về thuế đối với xã hội còn được biểu hiện ở chỗ

quản lý thuế. Bảo đảm dễ hiểu, dễ thực hiện, giúp cho người nộp thuế thực hiện tốt

các vi phạm phải được xử lý theo đúng quy định của pháp luật về tăng nặng hay giảm

nghĩa vụ của mình; Cơ quan thu thuế thực hiện tốt nhiệm vụ quản lý thuế. Đẩy nhanh

nhẹ.

việc áp dụng công nghệ tin học vào công tác quản lý thuế, đảm bảo thực thi chính sách
- Về mặt pháp lý : Thuế phải bảo đảm tính pháp lý cao đối với mọi tổ chức

thuế có hiệu quả, bao quát hết các nguồn thu từ các khoản thuế và phí vào Ngân sách
Nhà nước.

kinh tế, mọi công dân.
Thuế là một trong những chính sách lớn của Đảng và Nhà nước, có mối quan hệ
mật thiết đến mọi tổ chức, mọi công dân về nghĩa vụ, trách nhiệm và quyền lợi. Chính
sách thuế phải được ban hành bằng hình thức Luật do Quốc Hội phê chuẩn, đúng với
- 33 -

- 34 -


2.1.2- Nội dung cơ bản của cải cách thuế ở Việt Nam trong thời gian từ năm 1990

doanh. Có thể nói, đặc trưng cơ bản của cải cách thuế bước I này là đã chuyển từ một
cơ chế không phải là thuế sang cơ chế thuế là chủ yếu, trong điều kiện chưa có ngay

đến nay :
Từ tình hình thực tiễn Việt Nam năm 1989 với hệ thống thuế tồn tại nhiều khiếm

một cơ chế thị trường như mong đợi. Đặc trưng đó được thể hiện trước hết ở trong nội

khuyết và căn cứ vào kinh nghiệm cải cách thuế của các nước trên thế giới. Với mục

dung của hệ thống chính sách thuế vẫn còn phải kế thừa những quy định trước đây về

tiêu phát triển kinh tế đất nước, phát huy vai trò tăng thu cho Ngân sách, Nhà nước đã

mức động viên, về cơ cấu các thuế suất, về các tính thuế. Chẳng hạn như Thuế doanh

lần lượt thực hiện các cuộc cải cách thuế cho phù hợp với yêu cầu và tình hình kinh tế -

thu, lúc đầu có 30 thuế suất từ 0,5% đến 40% đến tháng 7/1993 thì điều chỉnh xuống

chính trị - xã hội trong từng giai đoạn của đất nước như sau :
2.1.2.1- Cải cách thuế bước I (thời kỳ từ năm 1990 đến năm 1999) :
a) Nội dung của cải cách thuế bước I :

còn 17 thuế suất, đến năm 1995 thì điều chỉnh xuống còn 11 thuế suất. Thuế lợi tức vẫn
còn phân biệt theo ngành nghề kinh doanh, thuế suất đối với công nghiệp nặng, vận tải,
xây dựng là 30%, công nghiệp nhẹ, công nghiệp thực phẩm là 40%, thương nghiệp,
dịch vụ là 50% (đến tháng 7/1993 thì điều chỉnh xuống còn 25%, 35%, 45%). Nhưng

Năm 1990, Quốc hội đã ban hành một loạt các sắc thuế mới như thuế doanh thu,

có hai điểm khác trước là hệ thống chính sách thuế được áp dụng chung cho các thành

thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế lợi tức, thuế tài nguyên, thuế thu nhập đối với người có thu

phần kinh tế và biện pháp thu mang tính pháp luật, cưỡng chế của thuế nhiều hơn.
Chính điều này làm cho công cụ thuế có hiệu lực và hiệu quả hơn trong việc thực hiện

nhập cao.
Năm 1991, Quốc hội ban hành Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu mới.
Năm 1992 ban hành Pháp lệnh thuế nhà, đất.
Năm 1993 ban hành Luật thuế sử dụng đất nông nghiệp và tiếp tục hoàn thiện, sửa

chức năng của mình, vừa góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển và chuyển dần sang
cơ chế thị trường, vừa bảo đảm tăng thu cho Ngân sách Nhà nước. Cùng với việc ban
hành hệ thống chính sách thuế, tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ ngành thuế cũng
được củng cố lại. Từ ba hệ thống tổ chức thu là : Hệ thống thu quốc doanh và quản lý

đổi Luật thuế xuất khẩu, Luật thuế nhập khẩu, Luật thuế lợi tức, Luật thuế tiêu thụ đặc

tài chính xí nghiệp, hệ thống thuế công thương nghiệp, hệ thống thuế nông nghiệp đã

biệt.

được thống nhất lại, từ năm 1990 thành một hệ thống thuế Nhà nước, tổ chức theo hệ
Năm 1994, ban hành Luật thuế chuyển quyền sử dụng đất.
b) Kết quả của cải cách thuế bước I :
Cải cách thuế bước I thật sự là một quá trình cải cách thuế toàn diện trên mọi

lĩnh vực, mọi thành phần kinh tế, sâu sắc và căn bản đảm bảo vai trò thuế là nguồn thu
chủ yếu của Nhà nước và là công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Trong đợt cải cách

thống dọc, từ Trung ương đến quận, huyện và xã, phường, bảo đảm vận hành thông
suốt hệ thống chính sách thuế mới.
Cụ thể cải cách thuế bước I đã đạt được những kết quả đáng kể sau : Đã từng
bước chủ động được nguồn thu cho Ngân sách và theo đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Sau đây là kết quả thu được chỉ sau 5 năm thực hiện cải cách thuế (1991 – 1995) :

thuế đầu tiên này, Nhà nước đã thông qua hệ thống 9 sắc thuế bao quát hầu hết các
nguồn thu, áp dụng thống nhất trong mọi thành phần kinh tế cả trong và ngoài quốc

- 35 -

- 36 -


Bảng 1 : Kết quả sau 5 năm (1991-1995) thực hiện cải cách thuế bước I
Năm

Số thu thuế %
(Tỷ đồng)

thuế %

tăng %

trong tổng thuế
thu NSNN

NSNN

tăng %

thu GDP

thuế Lạm

trên GDP

phát

- Tỷ trọng thuế và phí trong tổng thu Ngân sách Nhà nước ngày càng cao, trước
năm 1990 trung bình là 73%, giai đoạn 1990 - 1991 bình quân trên 90%. Cơ cấu nguồn
thu Ngân sách cũng có sự thay đổi theo hướng tăng dần tỷ trọng thuế gián thu, đây là
biểu hiện vô cùng tích cực.

1991

9.844

95

169,6

6,0

12,8

67,59

1992

18.516

88

188,1

8,6

16,8

17,6

1993

29.233

90

157,9

8,1

21,4

5,28

1994

37.206

89

127,3

8,8

21,3

14,29

1995

53.374

94

134,9

9,5

21,9

12,91

Nguồn : Tổng hợp từ số liệu Bộ tài chính
Qua số liệu trên, cho thấy rằng qua quá trình cải cách thuế bước đầu đã đạt được
những thắng lợi hết sức to lớn, cụ thể là :
- Số thu từ thuế là nguồn thu chủ yếu của Ngân sách Nhà nước, bù đắp kịp thời và
có hiệu quả các nguồn cắt giảm chi viện từ bên ngoài trong những năm đầu thập kỷ 90.
- Tốc độ tăng thu luôn lớn hơn nhiều so với tốc độ tăng trưởng kinh tế. Nhưng
kinh tế xã hội vẫn tiếp tục tăng trưởng và phát triển, lạm phát được kiểm soát đẩy lùi và
có kết quả tốt hơn trước. Đời sống nhân dân có bước cải thiện rõ rệt. Xóa bỏ bao cấp
trong giá và phân phối hàng hóa đã giành được thắng lợi một cách căn bản (bãi bỏ hẳn
chế độ tem phiếu trong phân phối hàng hóa).
- Số thu thuế năm 1995 bằng năm lần số thu thuế năm 1991 là một thành công hết
sức lớn trong cải cách thuế bước I, là một sự thể nghiệm có kết quả việc áp dụng công
cụ thuế góp phần thúc đẩy nền kinh tế chuyển dần sang kinh tế thị trường và từng bước
phát triển. Số thu về thuế tăng như vậy còn là cơ sở đảm bảo cho các yêu cầu chi tiêu
của Nhà nước, góp phần cơ bản vào việc ổn định về kinh tế, chính trị, xã hội trong

- Cải cách thuế bước I đã có những tác động tích cực đến sự tăng trưởng và phát
triển của nền kinh tế, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, khuyến khích đầu tư phát
triển, thu hút đầu tư nước ngoài, khuyến khích khai thác và sử dụng có hiệu quả các
nguồn tài nguyên quốc gia ; tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh và bình đẳng giữa
các thành phần kinh tế.
Tại Đại hội Đảng lần thứ VIII (1996), trên cơ sở đánh giá kết quả công cuộc đổi
mới đã đạt được đến năm 1995, Đảng ta đã quyết định đưa nền kinh tế đất nước bước
sang một thời kỳ mới : đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và chủ động hội nhập
kinh tế với các nước trong khu vực và trên thế giới. Những tiền đề kinh tế - xã hội đã
đặt ra những yêu cầu khách quan phải tiến tới cải cách thuế bước II.
2.1.2.2- Cải cách thuế bước II (thời kỳ từ năm 1999 đến nay ) :
a) Nội dung của cải cách thuế bước II :
Cải cách thuế bước II là tiếp tục hoàn thiện hệ thống chính sách thuế, làm cho hệ
thống chính sách thuế phù hợp với nền kinh tế thị trường đã từng bước hình thành trên
thực tế, phù hợp và thúc đẩy quá trình phát triển nền kinh tế theo hướng công nghiệp
hóa, hiện đại hóa, hội nhập kinh tế với các nước khu vực và trên thế giới.
Theo yêu cầu đó, Đảng và Nhà nước ta đã quyết định tiếp tục cải cách thuế bước
II từ năm 1996 bắt đầu bằng việc năm 1997 trình Quốc hội ban hành hai Luật thuế mới
là : Thuế giá trị gia tăng (thay thế cho Luật thuế doanh thu) và Luật thuế thu nhập
doanh nghiệp (thay thế cho Luật thuế lợi tức). Hai Luật thuế mới này có hiệu lực thi
hành từ ngày 1/1/1999. Đây là hai Luật thuế quan trọng nhất trong cả hệ thống chính
sách thuế, bởi diện điều chỉnh của hai Luật này rất rộng, bao quát hầu hết các đối tượng
sản xuất kinh doanh công thương nghiệp, có số thu chiếm tỷ trọng lớn trong Ngân sách

công cuộc đổi mới của đất nước.
- 37 -

- 38 -


Nhà nước (chiếm khoảng 30% tổng số thu của Ngân sách Nhà nước). Đặc biệt là Luật
thuế giá trị gia tăng lần đầu tiên áp dụng tại nước ta, nên khó tránh khỏi những lúng

- Kinh tế có bước tăng trưởng khá, đời sống nhân dân được nâng cao thêm một
bước.

túng ban đầu cả với người thu thuế và người nộp thuế. Nhưng với những ưu điểm nổi

Những kết quả đạt được về các mặt kinh tế - xã hội đã khẳng định việc cải cách

trội, Luật thuế này đã nhanh chóng thu hút sự quan tâm của tất cả mọi người và được

thuế bước II đã đề ra là đúng đắn và đang đạt được những kết quả rất khả quan. Song

cuộc sống tiếp nhận một cách nhanh chóng và tích cực.
Tiếp theo đó, Quốc hội đã đề ra chương trình xây dựng pháp luật trong nhiệm kỳ

cũng từ kết quả ấy, yêu cầu đặt ra cho việc tiếp tục hoàn thiện bước II cải cách hệ
thống chính sách thuế ở nước ta là : Phải gắn hơn nữa với cải cách hành chính trong

khóa X là : Tiếp tục hoàn thiện Luật thuế thu nhập doanh nghiệp và Luật thuế giá trị

lĩnh vực thuế. Cụ thể đặt ra là : Phải rà soát lại toàn bộ hệ thống thuế để kịp thời sửa

gia tăng cho phù hợp với yêu cầu của tình hình và nhiệm vụ mới.

đổi, bổ sung cho phù hợp. Mỗi khi bổ sung, sửa đổi một Luật thuế nào thì phải bổ

Nghiên cứu ban hành Luật thuế sử dụng đất để thay thế cho Luật thuế sử dụng đất
nông nghiệp và Pháp lệnh thuế nhà, đất.
Nghiên cứu ban hành Luật thuế thu nhập cá nhân để thay thế cho Pháp lệnh thuế
thu nhập đối với người có thu nhập cao.

sung, sửa đổi đồng bộ các Luật thuế có liên quan trong từng khối : Thuế trực thu (sửa
đổi thuế TNCN thì phải sửa thuế TNDN và ngược lại) ; Thuế gián thu (sửa thuế XK,
thuế NK thì đồng thời phải sửa thuế GTGT và thuế TTĐB…).
Trên cơ sở tổng kết cải cách thuế bước II, từ năm 2003, theo tinh thần Nghị quyết

Tiếp tục hoàn thiện một cách đồng bộ các Luật thuế : Luật thuế tiêu thụ đặc biệt,

đại hội Đảng IX, ngành thuế đã nghiên cứu, phục vụ kịp thời yêu cầu sửa đổi, bổ sung

Luật thuế xuất khẩu, Luật thuế nhập khẩu, Pháp lệnh thuế tài nguyên, Luật thuế chuyển

hoàn thiện các Luật thuế GTGT, TNDN, TTĐB, thuế thu nhập đối với người có thu

quyền sử dụng đất.

nhập cao, điều chỉnh khung biểu thuế XK, thuế NK, miễn giảm thuế SDĐNN, thực

Nghiên cứu ban hành Luật thuế tài sản.

hiện cắt giảm thuế nhập khẩu theo các cam kết quốc tế. Cụ thể là :

Ngoài ra, để phù hợp với các luật thuế mới, Nhà nước đã ban hành sửa đổi, bổ

- Trong giai đoạn 2001-2004, Bộ tài chính đã chủ động phối hợp với các Bộ,

sung các Luật khác có liên quan như Luật doanh nghiệp, Luật thương mại, Luật Ngân

ngành có liên quan nghiên cứu trình Chính Phủ, Quốc hội sửa đổi, bổ sung 4 Luật, 2

sách, Luật ngân hàng Nhà nước, Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, Luật khuyến

Pháp lệnh, 17 Nghị định quy định chi tiết thi hành các luật, pháp lệnh về thuế và phí ;

khích đầu tư trong nước.

đã kịp thời ban hành các Thông tư hướng dẫn và tổ chức triển khai thực hiện các Luật,

Như vậy, với việc ban hành và triển khai thực hiện hai Luật thuế giá trị gia tăng

Pháp lệnh, Nghị định nói trên. Nhìn chung hệ thống chính sách thuế, phí và hải quan đã

và thuế thu nhập doanh nghiệp, trong thời gian 4 năm (1999- 2002) cải cách thuế

được cải cách theo hướng: Giảm mức thuế suất, mở rộng diện ưu đãi thuế để khuyến

bước II đã đạt được những kết quả tích cực :

khích đầu tư, đẩy mạnh xuất khẩu, phát triển sản xuất trong nước phù hợp với nền kinh

- Số thu Ngân sách Nhà nước từ thuế và phí, lệ phí tiếp tục tăng lên qua các năm

tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và thực hiện các cam kết quốc tế. Qua triển

và chiếm phần chủ yếu trong Ngân sách Nhà nước. Số thu thuế năm 2000 bằng 10 lần

khai thực hiện đã được cộng đồng doanh nghiệp nhất trí cao, không còn những vướng

số thu thuế năm 1990 và cứ liên tục tăng qua các năm.

mắc lớn.

- Giá cả thị trường tiếp tục được ổn định.
- 39 -

- 40 -


- Ngày 28/3/2005, Bộ trưởng Bộ Tài chính đã ký quyết định số 16/2005/QĐ-BTC

- Đối với sản xuất kinh doanh :

điều chỉnh Danh mục hàng hóa và thuế suất thuế nhập khẩu để áp dụng hạn ngạch thuế

Thông qua việc giảm tỷ lệ điều tiết thuế, mở rộng diện ưu đãi miễn, giảm thuế đã

quan cho một số mặt hàng của Việt Nam để thực hiện Hiệp định ưu đãi thuế quan có

bảo hộ hợp lý sản xuất trong nước, giúp các cơ sở ổn định và phát triển sản xuất kinh

hiệu lực chung (CEPT) của các nước ASEAN cho các năm 2005 - 2013. Theo đó, 20

doanh, góp phần khuyến khích xuất khẩu, khuyến khích đầu tư phát triển, góp phần

nhóm mặt hàng trong danh mục này sẽ chịu các mức thuế ưu đãi khác nhau, áp dụng

chặng đứng suy thoái kinh tế và lấy lại đà tăng trưởng kinh tế. Xuất khẩu những năm

cho các tờ khai hàng hóa nhập khẩu đã đăng ký với hải quan từ 1/1/2005. Trong đó

qua đạt khá, tổng giá trị xuất khẩu năm 1999 tăng 23,3%, năm 2000 tăng 25% và năm

rượu mạnh và rượu mùi, đồ uống có rượu khác, thuế suất CEPT sẽ giảm từ 20% năm

2001 tăng 4,5% (năm 2001, sản lượng xuất khẩu vẫn tăng cao nhưng do giá trị nông

2005 xuống còn 5% năm 2006 và từ các năm sau, mức thuế suất là 0%. Nhóm các mặt

sản thế giới bị giảm mạnh nên kim ngạch xuất khẩu giảm), năm 2002 vẫn giữ được

hàng thực phẩm xúc xích và các sản phẩm tương tự làm từ thịt, từ phụ phẩm dạng thịt

nhịp độ tăng trưởng 7,1%.

sau giết mổ hoặc tiết, các chế phẩm thực phẩm từ các sản phẩm đó; thịt, các phụ phẩm

Chính sách thuế mới đã góp phần khuyến khích các thành phần kinh tế đẩy mạnh

dạng thịt sau giết mổ hoặc tiết đã chế biến hoặc bảo quản, từ năm 2005, mức thuế suất

đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh. Vốn đầu tư toàn xã hội năm 1999 tăng 4,5% ;

50% sẽ giảm tương ứng 10%/năm cho tới 2012, tới năm 2013, mức thuế suất đối với

năm 2000 tăng 16,2%, năm 2001 tăng 25%. Vốn đầu tư của dân doanh năm 1999 tăng
0,4%, năm 2000 tăng 11,9% và năm 2001 tăng 30%. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

nhóm mặt hàng này chỉ còn 5%.
- Ngày 11/06/2005, Quốc hội nước ta đã biểu quyết thông qua Luật thuế xuất
khẩu, thuế nhập khẩu (sửa đổi), hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2006 và thay thế
cho Luật thuế xuất khẩu, Luật thuế nhập khẩu cũ.
- Luật ''gộp'' sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế TTĐB và Luật thuế

năm 1999 giảm thấp so với năm 1998 nhưng đến năm 2000 đã tăng 18,5% và năm
2001 tăng 4%.
- Đối với thu Ngân sách Nhà nước :
Tổng thu Ngân sách Nhà nước năm sau luôn cao hơn năm trước. Năm 1999, tổng

GTGT được Chính phủ trình ra Hội nghị đại biểu Quốc hội chuyên trách chiều 18/8.

thu Ngân sách tăng 7,5% so với năm trước ; Năm 2000 tăng 15,6% ; Năm 2001 tăng

Ngày 24/8/2005, Ủy Ban Thường vụ Quốc hội thảo luận báo cáo của Ban Soạn thảo và

13,8% ; Năm 2002 tăng 20,7% ; Năm 2003 tăng 17% ; Năm 2004 tăng 23,8 %.

báo cáo của Ủy Ban Kinh tế và Ngân sách Quốc hội khóa XI xung quanh dự thảo Luật
thuế TTĐB và Luật thuế GTGT. Chính phủ đề nghị Luật này có hiệu lực từ 1/1/2006.
b) Kết quả của cải cách thuế bước II :
Nhờ sự chỉ đạo sát sao của Bộ Chính trị, việc sửa đổi bổ sung kịp thời của Quốc
hội và Ủy ban Thường vụ Quốc hội, sự chỉ đạo trực tiếp của Chính phủ, của các Cấp
ủy Đảng và Chính quyền các cấp, sự phối hợp chặt chẽ của các ngành và ý thức chấp
hành của các doanh nghiệp, các hộ, cá nhân kinh doanh nên việc triển khai thực hiện
các Luật thuế mới đạt được kết quả tích cực thể hiện trên các mặt :
- 41 -

Tỷ lệ động viên trên GDP vào Ngân sách Nhà nước năm 1990 mới đạt 13,1% ;
đến năm 2000 đạt 19,7% ; năm 2004 đạt 23,4%.
Số thu từ thuế, phí, lệ phí năm 1990 chỉ chiếm 76,78% tổng số thu Ngân sách Nhà
nước ; đến năm 2003 - 2004 chiếm 94%.
Kết quả thu trên đây đã đáp ứng được nhu cầu chi thường xuyên ngày càng tăng
của Ngân sách Nhà nước, giảm được bội chi Ngân sách, kiềm chế lạm phát từ ba con
số (1986-1990) xuống còn một con số, ngoài ra còn góp phần tích cực phục vụ yêu cầu
đầu tư phát triển kinh tế - xã hội đất nước.
- 42 -


- Đối với đời sống xã hội của nhân dân :

tế quốc tế của nước ta càng được thể hiện rõ nét và thực hiện tích cực hơn. Ngay từ Đại

Chính sách thuế mới được thực hiện chung cho mọi tầng lớp dân cư, mọi thành

hội Đảng lần thứ VII, họp vào tháng 6/1991, đã mở ra một bước đột phá mới khi đưa ra

phần kinh tế trong xã hội trên cơ sở công bằng và bình đẳng. Thông qua chính sách ưu

đường lối đối ngoại rộng mở với câu khẩu hiệu nổi tiếng : “Với chính sách đối ngoại

đãi đã khuyến khích đầu tư vào các vùng kinh tế chậm phát triển. Thông qua việc miễn,

rộng mở, chúng ta tuyên bố rằng : Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước trong

giảm thuế sử dụng đất nông nghiệp đã tạo điều kiện phát triển nông thôn, xóa đói, giảm

cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển”. Kể từ sau cuộc

nghèo. Nhìn chung trong suốt quá trình triển khai thực hiện các Luật thuế mới, giá cả

khủng hoảng chính trị của khối xã hội chủ nghĩa Đông Âu, Đảng và Nhà nước ta càng

thị trường không biến động, không gây ảnh hưởng xấu đến sản xuất kinh doanh và đời

nhận thức rõ tầm quan trọng của việc mở rộng quan hệ đối ngoại nói chung và toàn cầu

sống nhân dân.

hóa nói riêng. Đại hội Đảng lần thứ IX đã vạch rõ : “Toàn cầu hóa kinh tế là xu thế

Tóm lại, nhìn chung cải cách thuế bước II đã đạt được các mục tiêu, yêu cầu mà
Bộ Chính trị đề ra là ổn định và phát triển sản xuất kinh doanh, tăng khả năng cạnh
tranh của doanh nghiệp, đảm bảo nguồn thu cho Ngân sách Nhà nước, ổn định thị
trường trong nước, không xảy ra biến động về giá cả gây ảnh hưởng đến sản xuất và
đời sống nhân dân. Trong quá trình triển khai thực hiện chính sách thuế, cơ quan thuế
luôn theo sát các biến động phức tạp về kinh tế - xã hội, tiếp thu ý kiến đóng góp của
nhân dân và các đối tượng nộp thuế, kịp thời sửa đổi, bổ sung cho hợp lý. Nhờ vậy,
chính sách thuế đã góp phần thiết thực giải phóng mọi tiềm năng về sản xuất kinh
doanh, bảo đảm sự cạnh tranh lành mạnh giữa các doanh nghiệp, nâng cao hiệu quả
kinh doanh, đẩy mạnh giao lưu và hội nhập. Chính sách thuế mới đã thực sự đi vào đời
sống nhân dân.
2.2- Thực trạng tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam :
Toàn cầu hóa và quốc tế hóa nền kinh tế đang trở thành một xu thế tất yếu của
thời đại. Ngay từ khi mới giành được độc lập, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn coi
việc kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại là một trong những
nguyên tắc cơ bản trong đường lối quốc tế của mình. Từ giữa những năm 70 của thế kỷ
20 nước ta đã gia nhập Hội đồng tương trợ kinh tế (SEV), tích cực tham gia phong trào
không liên kết, Nhóm 77, Liên hiệp quốc...nhằm mở rộng quan hệ quốc tế của Việt

khách quan, lôi kéo ngày càng nhiều nước tham gia ; Xu thế này đang bị một số nước
phát triển và các tập đoàn kinh tế tư bản xuyên quốc gia chi phối, chứa đựng nhiều
mâu thuẫn, vừa có mặt tích cực, vừa có mặt tiêu cực, vừa có hợp tác, vừa có đấu
tranh”. Như vậy Đảng ta đã nhận thức được sự cần thiết của toàn cầu hóa và cả những
mặt bất lợi của nó.
Từ thập niên 1990, Việt Nam đã thực hiện những bước đầu tiên trong quá trình
hội nhập quốc tế của mình. Năm 1993, Việt Nam đã bình thường hóa quan hệ với các
tổ chức tài chính quốc tế như Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế (IMF), Ngân hàng Thế giới (WB),
Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB).
Bước tiến quan trọng đầu tiên của Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế
khu vực và quốc tế là việc nước ta chính thức gia nhập ASEAN ngày 25/07/1995, đồng
thời gia nhập khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA). Từ ngày 01/01/1996, chúng ta
bắt đầu thực hiện các nghĩa vụ và cam kết trong Chương trình ưu đãi thuế quan có hiệu
lực chung (CEPT) của AFTA.
Ngoài ra, chúng ta còn tham gia đàm phán Hiệp định thương mại dịch vụ, tham
gia Chương trình hợp tác công nghiệp (AICO) và Khu vực đầu tư ASEAN (AIA) cũng
như các chương trình hợp tác khác trong công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vận tải
của ASEAN.

Nam. Ngay từ thời kỳ đổi mới, chủ trương mở rộng quan hệ đối ngoại và hội nhập kinh
- 43 -

- 44 -


Tháng 3/1996, Việt Nam đã tham gia diễn đàn hợp tác Á - Âu (ASEM) với tư

gia súc, bia, một số sản phẩm sữa và đồ uống nhẹ, nguyên liệu tẩy rửa, máy móc công

cách thành viên sáng lập, nhằm thuận lợi hóa thương mại, đầu tư và hợp tác giữa các

nghiệp (điều hòa, máy giặt, tủ đá, máy sấy), phim ảnh, phụ liệu giày, trong đó 233

nhà doanh nghiệp Á - Âu.

nhóm có lộ trình cắt giảm vào 1/2005 và 11 nhóm có lộ trình cắt giảm vào 1/2007.

Ngày 15/06/1996, Việt Nam đã gửi đơn xin gia nhập Diễn đàn Hợp tác Kinh tế

ƒ Nếu chỉ áp dụng giảm thuế riêng cho hàng hóa xuất xứ từ nước Mỹ thì mức

Châu Á - Thái Bình Dương (APEC). Đến tháng 18/11/1998, chúng ta đã được công

giảm không đáng kể, tuy nhiên theo nguyên tắc tối huệ quốc (MFN), các mặt hàng

nhận là thành viên chính thức của tổ chức này. Tháng 12/1994, nước ta đã gửi đơn xin

thuộc diện cắt giảm sẽ được áp dụng đối với cả hàng hóa xuất xứ từ các nước đã ký

gia nhập Tổ chức thương mại Thế giới (WTO). Hiện nay, chúng ta đang tiến hành đàm

hiệp định thương mại với Việt Nam (khoảng trên 80 quốc gia).

phán song phương với các nước là thành viên của WTO để thỏa thuận về hợp tác
thương mại với từng nước, theo quy định của WTO.

ƒ Ngoài cam kết về giảm thuế nhập khẩu, Hiệp định Thương mại Việt - Mỹ
cũng yêu cầu phải thực hiện nguyên tắc giá tính thuế nhập khẩu theo hợp đồng ngoại

Tháng 07/2000, chúng ta đã ký Hiệp định Thương mại với Hoa Kỳ, và Hiệp định

thương (còn gọi là trị giá GATT), tức là không được áp dụng cơ chế giá tối thiểu từ

này chính thức có hiệu lực từ ngày 11/12/2001, mở đường cho Việt Nam tiếp tục mở

1/1/2004. Như vậy, nếu không tăng cường quản lý chống gian lận về giá thì có khả

rộng quan hệ hợp tác kinh tế với các nước trên thế giới.

năng dẫn tới giảm thu do gian lận về giá.

Sau đây, chúng ta sẽ đi vào nghiên cứu cụ thể hơn về các tổ chức kinh tế khu vực
và thế giới tiêu biểu mà Việt Nam đã, đang và sẽ gia nhập.

2.2.1.2- Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) :
a- Giới thiệu khái quát về ASEAN : Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á

2.2.1- Các cam kết hội nhập của Việt Nam :

(ASEAN) được thành lập ngày 8/8/1967 bởi Tuyên bố Băng cốc, Thái Lan, đánh dấu

2.2.1.1- Hiệp định thương mại Việt – Mỹ (BTA) :

một mốc quan trọng trong tiến trình phát triển của khu vực. Khi mới thành lập ASEAN

Hiệp định thương mại Việt Mỹ là Hiệp định thương mại song phương đầu tiên

gồm 5 nước là Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore và Thái Lan. Năm 1984

của Việt Nam được ký với diện cam kết rộng và dựa trên nguyên tắc và quy định của

ASEAN kết nạp thêm Bru-nây Darusalam làm thành viên thứ 6. Ngày 28/7/1995 Việt

WTO. Theo nội dung của Hiệp định được ký kết, hai bên Việt Nam và Mỹ dành cho

Nam trở thành thành viên thứ 7 của Hiệp hội. Ngày 23/7/1997 kết nạp Lào và

nhau quy chế tối huệ quốc trong quan hệ thương mại. Mỹ sẽ dành cho Việt Nam chế độ

Myanmar. Ngày 30/4/1999 kết nạp Căm-pu-chia, hoàn thiện ASEAN -10.

ưu đãi thuế quan phổ cập, theo đó chính sách thuế nhập khẩu trung bình của Việt Nam
vào thị trường Mỹ sẽ giảm từ 40% xuống còn 3% - 4%. Việc ký kết Hiệp định thương
mại Việt Mỹ coi như là cơ sở, tạo nền tảng cho việc chuẩn bị gia nhập WTO của Việt

- Các nguyên tắc hoạt động chính của ASEAN :
+ Các nguyên tắc làm nền tảng cho quan hệ giữa các Quốc gia thành viên
và với bên ngoài:
a/ Cùng tôn trọng độc lập, chủ quyền, bình đẳng, toàn vẹn lãnh thổ và bản

Nam.
** Lộ trình cắt giảm thuế quan khi thực hiện Hiệp định thương mại Việt Mỹ :
ƒ Cam kết cắt giảm 244 nhóm mặt hàng chủ yếu bao gồm : rau quả ôn đới, hạt
có dầu, dầu ăn sơ chế, thịt gia súc, thực phẩm chế biến phụ phẩm để chế biến thức ăn
- 45 -

sắc dân tộc của tất cả các dân tộc;
b/ Quyền của mọi quốc gia được lãnh đạo hoạt động của dân tộc mình,
không có sự can thiệp, lật đổ hoặc cưỡng ép của bên ngoài;
- 46 -


c/ Không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau;
d/ Giải quyết bất đồng hoặc tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, thân thiện;

** Lộ trình cắt giảm thuế quan khi tham gia AFTA :
Theo cam kết, Việt Nam phải cắt giảm 6.304 dòng thuế (chiếm 97%). Biểu thuế

e/ Không đe dọa hoặc sử dụng vũ lực;

nhập khẩu (các mặt hàng chưa cắt giảm gồm 2% tổng số dòng thuế gồm : 135 dòng

f/ Hợp tác với nhau một cách có hiệu quả;

thuế loại trừ toàn bộ và 50 dòng thuế hàng nông sản nhạy cảm cắt giảm sau 2010).

+ Các nguyên tắc điều phối hoạt động của Hiệp hội:

- Trong thực tế, từ năm 1999 Việt Nam bắt đầu phải thực hiện đưa các mặt hàng

a/ Nguyên tắc nhất trí

ở danh mục tạm thời chưa phải cắt giảm vào danh mục cắt giảm nhưng việc cắt giảm

b/ Nguyên tắc bình đẳng

thực sự là từ năm 2001. Cụ thể như sau :
ƒ Năm 2001 đưa vào cắt giảm 700 dòng thuế gồm nông sản (nho, hạt có dầu),

c/ Nguyên tắc 6-X.
b- Việt Nam gia nhập ASEAN (AFTA):
Như trên đã trình bày, Việt Nam bắt đầu gia nhập Khu vực Mậu dịch tự do
ASEAN (AFTA) từ ngày 01/01/1996. Khu vực mậu dịch tự do được xây dựng dựa
trên các nguyên tắc thương mại cơ bản như quy định của WTO. Song, cũng có những

nước khoáng và nước giải khát có gas, sơn và vecni, một số sản phẩm nhựa, kính và
một số chủng loại thép. Tổng số mặt hàng cắt giảm thuộc danh mục CEPT (chương
trình ưu đãi thuế quan ASEAN) chiếm 78% tổng số dòng thuế tại Biểu thuế.
ƒ Năm 2002 đưa vào cắt giảm 500 dòng thuế gồm một số loại nông sản (tấm,
gạo xát), một số loại rượu vang, giấy và bìa giấy, hóa chất hữu cơ, chất dẻo DOP, một

khác biệt :
- Theo quy định này, những ưu đãi về tự do hóa thuế quan và mở cửa thị trường
dịch vụ chỉ được áp dụng đối với những nước thành viên tham gia AFTA và sẽ không
bắt buộc phải dành ưu đãi cho các nước thành viên WTO và các nước khác nằm ngoài

số sản phẩm bằng da, đồng hồ,...Tổng số mặt hàng cắt giảm chiếm 85,5% số dòng thuế
phải cắt giảm.
ƒ Năm 2003 đưa vào cắt giảm 740 dòng thuế còn lại, phần lớn là các mặt hàng
có mức thuế suất rất cao (30-60%) như điện, điện tử, sữa, quả chế biến, ximăng,

khu vực.
- Về mức độ cam kết thì AFTA có mức độ tự do hóa cao hơn và toàn diện hơn
so với các mức cam kết mở cửa thị trường của các nước trong WTO. Các nước thành
viên ASEAN khi tham gia AFTA đều phải tiến tới mục tiêu tự do hóa hoàn toàn (cắt
giảm thuế suất xuống 0% và không duy trì hàng rào bảo hộ cản trở thương mại theo lộ
trình). Cụ thể, khi tham gia vào AFTA, Việt Nam có nghĩa vụ giảm thuế suất từ 0 - 5%
vào năm 2006 và sau đó tiếp tục giảm xuống 0% vào năm 2015. Ngoài ra, Việt Nam

gạch...với mức cắt giảm mạnh (còn 20%). Tổng số mặt hàng cắt giảm chiếm khoảng
97% biểu thuế.
+ Từ năm 2004 - 2006 : Tiếp tục cắt giảm thuế của các mặt hàng đưa vào
CEPT 2003 từ 20% xuống còn 0 - 5%.
+ Sau năm 2006 tổng số dòng thuế có mức thuế suất 0% chiếm khoảng 55% 60% Biểu thuế.

phải thực hiện lộ trình loại bỏ các hạn chế về định lượng và hàng rào phi thuế khác ;

- Đi đôi với việc thực hiện cắt giảm CEPT, Việt Nam phải thực hiện Hiệp định

Xây dựng một danh mục biểu thuế quan chung ASEAN ; Xây dựng hệ thống định giá

công nghệ thông tin (e-ASEAN) trong đó từ năm 2008 thuế suất các mặt hàng điện tử,

hải quan theo GATT/WTO và xây dựng hệ thống Luồng xanh hải quan nhằm tạo điều

công nghệ thông tin là 0%.

kiện thúc đẩy thương mại.
- 47 -

- 48 -


2.2.1.3- Khu vực Mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc, ASEAN - Ấn Độ :
Ngoài việc triển khai thực hiện AFTA, là một nước thành viên Việt Nam đang

phải nộp tại Việt Nam. Ngoài ra, Hiệp định còn tạo khuôn khổ pháp lý cho việc hợp tác
và hỗ trợ lẫn nhau giữa các cơ quan thuế Việt Nam với cơ quan thuế các nước ký kết

tiếp tục cùng với những nước ASEAN khác tham gia các Hiệp định thương mại tự do

trong công tác quản lý thuế quốc tế nhằm ngăn ngừa việc trốn lậu thuế đối với các loại

với những nước đối tác, trước mắt là Khu vực Mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc

thuế đánh vào thu nhập và vào tài sản. Phạm vi áp dụng Hiệp định: Hiệp định chỉ áp

và ASEAN - Ấn Độ.

dụng đối với các đối tượng là đối tượng cư trú của Việt Nam hoặc là đối tượng cư trú

Đối với khu vực mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc, việc cắt giảm thuế

của nước ký kết. Các loại thuế áp dụng : Thuế TNCN, thuế TNDN. Thủ tục áp dụng

chủ yếu được thực hiện từ năm 2005. Mục tiêu của Khu vực mậu dịch tự do này là cắt

Hiệp định do cơ quan Tổng cục Thuế, Cục thuế các tỉnh, thành phố giải quyết .

giảm thuế suất xuống 0% vào năm 2010 đối với 6 nước ASEAN cũ và 4 nước ASEAN

2.2.1.5- Diễn đàn Hợp tác Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương (APEC) :

mới, trong đó có Việt Nam.
** Lộ trình cắt giảm thuế quan khi thực hiện Hiệp định ASEAN Trung
Quốc :
ƒ Về cơ bản, trước tiên Việt Nam phải thực hiện chương trình cắt giảm nhanh
đối với 8 chương đầu của Biểu thuế gồm rau quả, thực phẩm tươi sống với thuế suất
bình quân là 30% xuống còn từ 0 - 5% từ năm 2004 - 2007.
ƒ Đối với các nhóm mặt hàng công nghiệp khác Việt Nam sẽ phải cắt giảm
thuế trong vòng 10 năm từ năm 2005 cho đến năm 2015 để đạt được mức thuế từ 0-5%
nhưng chưa thỏa thuận được mô hình cắt giảm cụ thể. Do vậy, tác động giảm thu của
nhóm mặt hàng này chưa được tính đến.
Đối với Ấn Độ, hiện nay ASEAN đang đàm phán để đi đến ký kết Hiệp định
mậu dịch tự do ASEAN - Ấn Độ. Theo đó, Việt Nam sẽ thực hiện nghĩa vụ tự do hóa
trong khuôn khổ Khu vực mậu dịch tự do ASEAN - Ấn Độ.
2.2.1.4- Hiệp định tránh đánh thuế hai lần :
Việt Nam đã ký Hiệp định tránh đánh thuế hai lần và ngăn ngừa việc trốn lậu thuế
đối với thu nhập với hơn 40 nước trên thế giới. Mục đích ký kết các Hiệp định tránh
đánh thuế hai lần nhằm loại bỏ việc đánh thuế trùng bằng cách: Miễn, giảm số thuế
phải nộp tại Việt Nam cho các đối tượng cư trú của nước ký kết hiệp định; hoặc khấu

Diễn đàn Hợp tác kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương được 12 thành viên thuộc
khu vực Châu Á - Thái Bình Dương sáng lập tại Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao và
Kinh tế tổ chức ở Canbêra tháng 11/1989 theo sáng kiến của Ôxtrâylia.
Chín nguyên tắc tự do hóa và thuận lợi hóa thương mại - đầu tư của APEC : Toàn
diện ; Nhất quán với WTO ; Cùng thực hiện ; Thực hiện đồng thời trong quá trình liên
tục với biểu thời gian khác nhau ; Giữ nguyên hiện trạng ; Linh hoạt ; Không phân biệt
đối xử.
APEC đòi hỏi phải cắt giảm mạnh thuế quan và công khai các chế độ thuế quan
của các nước thành viên, tiến tới xóa bỏ những biện pháp hạn chế phi thuế quan chính
đáng đối với xuất nhập khẩu. Các nước phải làm rõ chính sách thuế quan, các biện
pháp phi thuế quan cũng như phải liên tục thực hiện cắt giảm thuế quan và phi thuế
quan theo những thời hạn quy định cho các nước thành viên nước phát triển là năm
2010, các thành viên các nước đang phát triển là năm 2020. Về cơ bản đến thời điểm
đó, thuế nhập khẩu giữa các quốc gia là 0%.
Việt Nam gia nhập APEC năm 1998. Tuy là một nền kinh tế đang phát triển trong
giai đoạn chuyển đổi, Việt Nam đã tích cực tham gia vào các chương trình hoạt động
của APEC.

trừ số thuế mà đối tượng cư trú Việt Nam đã nộp tại nước ký kết hiệp định vào số thuế
- 49 -

- 50 -


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×