Tải bản đầy đủ

SKKN giup cac em hoc sinh lop 3 giai tot cac bai toan lien quan den rut gon ve don vi

Phòng giáo dục và đào tạo quận Thanh Xuân


Mó SKKN

Sáng kiến kinh nghiệm

Giúp các em học sinh lớp 3 giải tốt bài toán
liên quan đến rút về đơn vị

Lĩnh vực/ Môn: Toán

Năm học : 2015-2016


Giúp các em học sinh lớp 3 giải tốt bài toán liên quan đến rút về đơn vị.

Mục lục
Phần I: mở đầu
I. Lí do chọn đề tài......................................................................................................
2

II. Mục đích nghiên cứu.............................................................................................
3
III. Đối tợng nghiên cứu.............................................................................................
3
IV. Nhiệm vụ nghiên cứu...........................................................................................
3
V. Phơng pháp nghiên cứu tiến hành.........................................................................
4
VI. Phạm vi nghiên cứu..............................................................................................
4
VII. Dự kiến kế hoạch nghiên cứu.............................................................................
5
Phần II: Nội dung
I. Cơ sở lí luận.............................................................................................................
6
II.Lịch sử vấn đề nghiên cứu......................................................................................
6
III. Thực trạng của dạy và học....................................................................................
7
IV. Những kinh nghiệm và giải pháp chỉ đạo............................................................
8
V. Tổng kết kinh nghiệm............................................................................................
17
VI. Phân tích tổng hợp những bài học kinh nghiệm..................................................
17

2/19


Giúp các em học sinh lớp 3 giải tốt bài toán liên quan đến rút về đơn vị.
VII. Những điều còn bỏ ngỏ.......................................................................................
18
VIII. Khả năng vận dụng vào thực tiễn......................................................................
18
Phần III: Kết luận....................................................................................................
19

3/19



Giúp các em học sinh lớp 3 giải tốt bài toán liên quan đến rút về đơn vị.

Phần I : Mở đầu
I/ Lí do chọn đề tài:
Mỗi môn học ở tiểu học đều góp phần vào việc hình thành và phát triển
những cơ sở ban đầu rất quan trọng ở nhân cách con ngời. Trong các môn học ở
tiểu học cùng với môn Tiếng Việt, môn Toán có vị trí rất quan trọng vì: Các kiến
thức, kĩ năng của môn Toán có rất nhiều ứng dụng trong cuộc sống, chúng rất
cần thiết cho ngời lao động, rất cần thiết để học các môn học khác và học tiếp
Toán ở Trung học. Các kiến thức, kĩ năng của môn Toán ở tiểu học đợc hình
thành chủ yếu bằng thực hành, luyện tập và thờng xuyên đợc ôn tập, củng cố,
phát triển, vận dụng trong học tập và trong đời sống.
Nh chúng ta đã biết, căn cứ vào sự phát triển tâm, sinh lí của học sinh
Tiểu học mà cấu trúc nội dung môn Toán rất phù hợp với từng giai đoạn phát
triển của học sinh. ở lớp 3, các em đợc học các kiến thức, kĩ năng ở thời điểm
kết thúc của giai đoạn 1, chuẩn bị học tiếp giai đoạn sau, cho nên các em phải
nắm đợc chắc tất cả các cơ sở ban đầu về giải toán nói riêng, tất cả các kĩ năng
khác nói chung. Đặc biệt, ở lớp 3 sang học kì II, các em bắt đầu đợc làm quen
với các dạng toán hợp cơ bản, trong đó có dạng toán liên quan rút về đơn vị.
Dạng toán này có rất nhiều ứng dụng trong thực tế, nó đòi hỏi các em phải có kĩ
năng giải toán tốt, kĩ năng ứng dụng thực tế trong hàng ngày. Sau khi dạy giải
toán ở lớp 3 hai năm liền, tôi thấy các em nắm đợc kĩ năng giải toán của giáo
viên truyền đạt tới nh là một văn bản của lí thuyết, còn nó có ứng dụng vào thực
tế nh thế nào đó thì cha cần biết. Đó là điều băn khoăn, suy nghĩ cho chúng ta.
Có những bài toán các em làm xong, không cần thử lại, không cần xem thực tế
áp dụng trong thực tế nh thế nào, cứ để kết quả nh vậy mặc dù có thể sai. Đó là
những tác hại lớn khi học toán. Xuất phát từ tình hình thực tế học sinh nh vậy, tôi
mong muốn có những sáng kiến về phơng pháp giúp các em giải toán dạng toán
có liên quan đến rút về đơn vị ở lớp 3. đến thời điểm này, tôi đã nghiên cứu xong,
sau đây tôi sẽ trình bày để các đồng chí đóng góp ý kiến với đề tài: Giúp các
em học sinh lớp 3 giải tốt bài toán liên quan đến rút về đơn vị.
II/ Mục đích nghiên cứu:
Dựa trên thực trạng dạy và học môn Toán ở lớp 3 nói chung, dạy học sinh
giải bài toán liên quan đến rút về đơn vị nói chung, tôi muốn đa ra một số ý kiến
đổi mới để giúp các em nắm chắc đợc cách giải dạng toán này một cách sâu sắc,
tránh không còn bị nhầm lẫn, giúp các em nắm vững bài và yêu thích môn Toán
hơn. Từ đó các em có vốn kĩ năng tính toán chính xác ở những lúc cần thiết
trong cuộc sống, tránh đợc những sai sót có thể xảy ra. Tạo cho các em có tác
4/19


Giúp các em học sinh lớp 3 giải tốt bài toán liên quan đến rút về đơn vị.
phong học tập và làm việc có suy nghĩ, có kế hoạch, có kiểm tra, có tinh thần
hợp tác, độc lập và sáng tạo, có ý chí vợt khó khăn, cẩn thận, kiên trì, tự tin.
III/ Đối tợng nghiên cứu:
Để làm rõ đợc mục đích tôi đã nói ở trên, tôi đã thấy đối tợng nghiên
cứu là học sinh ở lớp 3 ở trờng Tiểu học trong hai năm học gần đây nhất đó là
2014- 2015 và năm học 2015-2016. Tôi đã thực nghiên cứu trên tất cả các đối tợng học sinh lớp 3, lấy kết quả đối chứng trong từng giai đoạn của hai năm sau
khi dạy dạng toán này.
IV/ Nhiệm vụ nghiên cứu:
Xuất phát từ tình hình thực tế, để các em nắm vững đợc phơng pháp giải
bài toán liên quan đến rút về đơn vị, tôi lần lợt nghiên cứu phơng pháp dạygiải
dạng toán này theo các kiểu bài với từng bớc sau:
Bớc 1: Giúp các em nắm chắc phơng pháp chung để giải các bài toán.
Bớc 2: Hớng dẫn học sinh nắm chắc phơng pháp giải bài toán liên quan đến
rút về đơn vị bằng phép tính chia, nhân.
Bớc 3: Hớng dẫn học sinh nắm chắc phơng pháp giải bài toán liên quan đến
rút về đơn vị bằng hai phép chia.
Bớc 4: Luyện tập, so sánh cách giải và củng cố kiến thức cho học sinh.
Để giải quyết đợc nhiệm vụ trên, tôi càn bám sát vào các phơng pháp,
hình thức tổ chức dạy học toán ở Tiểu học nói chung, của lớp 3 nói riêng sao cho
phù hợp và nhận thức của học sinh, các em có hứng thú tốt khi học tốt, tạo không
khí lớp học sôi nổi, chất lợng cao.
V/ Phơng pháp nghiên cứu tiến hành:
Khi tiến hành nghiên cứu, tôi thờng sử dụng các phơng pháp sau:
1. Phơng pháp nghiên cứu, lí luận:
- Đọc các tài liệu cần thiết.
- Tìm hiểu sách giáo khoa, sách giáo viên, chơng trình liệu bồi dỡng
giáo viên , sách tham khảo.
2. Phơng pháp điều tra quan sát.
- Truyền đạt , phỏng vấn giáo viên.
- Điều tra học sinh, các loại vở bài tập.
3. Phơng pháp kiểm tra, thống kê kết quả:
- Kiểm tra chất lợng qua mỗi giai đoạn.
- Thống kê kết quả ở từng giai đoạn.
4. Phơng pháp tổng kết kinh nghiệm:
Giáo viên rút kinh nghiệm cho mình, tổng kết thành các bài học cơ bản.
5. Phơng pháp thiết kế bài dạy:
5/19


Giúp các em học sinh lớp 3 giải tốt bài toán liên quan đến rút về đơn vị.
- Tiết 122: Bài toán có liên quan đến rút về đơn vị.
- Tiết 157: Bài toán có liên quan đến rút về đơn vị(tiếp theo).
VI/ Phạm vi nghiên cứu:
Từ những năm trớc tôi đặc biệt đã chú trọng đến phơng pháp dạy dạng
toán: Bài toán có liên quan đến rút về đơn vị ở lớp 3. Mục đích chính là giúp
các em có một kĩ năng giải toán và phân loại dạng toán tốt, tạ O cơ sở tốt cho các
em học tốt dạng toán về đại lợng tỉ lệ thuận và đại lợng tỉ lệ nghịch sau này.
Thực chất ở dạng bài toán này, chúng ta đã phân loại cho các em thành hai kiểu
bài theo chơng trình học. Cho nên cái chính là tôi muốn giúp các em không
những có phơng pháp tốt giải hai kiểu bài này mà còn giúp các em có kĩ năng
nhận biết, so sánh, đối chiếu sự giống nhau và khác nhau ở hai kiểu bài, từ đó
các em tránh đợc nhầm lẫn đáng tiếc xảy ra. Vậy nên, chúng ta phải có phơng
pháp khéo léo phù hợp với quá trình nhận thức của các em, giúp các em nhẹ
nhàng tiếp thu, không gò bó, nhớ đợc sâu sắc kĩ năng giải.
VII/ Dự kiến kế hoạch nghiên cứu
Để thực hiện đợc mục tiêu của mình đề ra, tôi đã lập kế hoạch về thời
gian và nội dung thực hiện theo từng bớc sau:
* Bớc 1: Tập hợp lại kết quả chất lợng sau khi học ở mỗi kiểu bài tôi đã
lấy kết quả thực nghiệm đối chiếu.
* Bớc 2: Tổ chức chuyên đề phơng pháp dạy học kiểu bài 1, để giáo viên
khối 3 nắm và truyền thụ cho tất cả học sinh khối 3.
* Bớc 3: Khảo sát chất lợng lấy kết quả ở kiểu bài 1.
* Bớc 4: Tổ chức chuyên đề phơng pháp dạy học kiểu bài 2, để giáo
viên khối 3 nắm và truyền thụ cho tất cả học sinh khối 3.
* Bớc 5: Khảo sát chất lợng lấy kết quả ở kiểu bài 1 rồi đối chiếu.
* Bớc 6: Cùng giáo viên khối 3 thảo luận phân tích, so sánh sự giống nhau
và khác nhau ở 2 kiểu bài đó, thống nhất phơng pháp rèn luyện cho học sinh,
tránh khi giải các em lại nhầm kiểu bài 1 với kiểu bài 2.
* Bớc 7: Lập kế hoạch luyện tập cho tất cả học sinh lớp 3 luyện tập 2 kiểu
bài song song.
* Bớc 8: Khảo sát chất lợng sau một thời gian luyện tập, lấy kết quả đối
chiếu.
* Bớc 9: Phân tích, đánh giá, rút ra những kinh nghiệm cho bản khi dạy
học dạng toán này.

6/19


Giúp các em học sinh lớp 3 giải tốt bài toán liên quan đến rút về đơn vị.

Phần II: Nội dung

I/ Cơ sở lí luận:
Quá trình dạy học Toán 3 phải góp phần thiết thực vào việc hình thành
phơng pháp suy nghĩ, phơng pháp học tập và làm việc tích cực, chủ động, khoa
học, sáng tạo cho học sinh. Cho nên, giáo viên cần tổ chức hoạt động học tập thờng xuyên tạo ra các tinh huống có vấn đề, tìm các biện pháp lôi cuốn học sinh
tự phát hiện và giải quyết vấn đề bằng cách hớng dẫn học sinh tìm hiểu kĩ năng
vấn đề đó, huy động các kiến thức và các công cụ đã có để tìm ra con đờng hợp
lí nhất giải đáp từng câu hỏi đặt ra trong qua trình giải quyết vấn đề, diễn đạt các
bớc đi trong cách giải, tự mình kiểm tra lại các kết quả đã đạt đợc, cùng các bạn
rút kinh nghiệm về phơng pháp giải. Tuy nhiên, để tổ chức đợc các hoạt động
học tập, giáo viên cần xác định đợc: Nội dung toán cần cho học sinh lĩnh hội là
gì? Cần tổ chức các hoạt động nh thế nào? Mặt khác, nội dung dạy giải toán ở
lớp 3 đợc sắp xếp hợp lí, đan xen và tơng hợp với mạch kiến thức khác, phù hợp
với sự phát triển nhận thức của học sinh lớp 3. Dạy học giải toán có lời văn là
một trong những con đờng hình thành và phát triển trình độ t duy của học sinh.
Các em biết phát hiện và tự giải quyết vấn đề, tự nhận xét so sánh, phân tích,
tổng hợp, rút ra quy tắc ở dạng khái quát nhất định.
Tuy nhiên, giáo viên phải chủ động tổ chức, hớng dẫn học sinh hoạt
động theo chủ đích nhất định với sự trợ giúp đúng mức của giáo viên, của sách
giáo khoa và đồ dùng dạy học, để mỗi cá nhân học sinh khám phá tự phát
hiện và tự giải quyết bài toán thông qua việc biết thiết lập mối quan hệ giữa kiến
thức mới, với các kiến thức liên quan đã học, với kinh nghiệm của bản thân. Đó
là các cơ sở để các em học giải tốt dạng toán rút về đơn vị nói riêng, học giải
dạng toán hợp nói chung.
II/ Lịch sử vấn đề nghiên cứu:
Phơng pháp dạy học Toán ở Tiểu học là sự vận dụng các phơng pháp dạy
học Toán nói chung cho phù hợp với mục tiêu, nội dung, các điều kiện dạy học.
Do đặc điểm nhận thức của học sinh Tiểu học, trong quá trình dạy học Toán,
giáo viên thờng phải vận dụng linh hoạt các phơng pháp trực quan, thực hành,
gợi mở, vấn đáp, giảng giải, tùy theo mức độ ở từng lớp. Từ trớc cho tới nay có
không ít các đồng chí giáo viên đã từng nghiên cứu về việc vận dụng các phơng
pháp này vào dạy các dạng toán ở các khối lớp. ở lớp 3, chắc cũng có nhiều đồng
chí đã từng nghiên cứu, tìm tòi các phơng pháp, hình thức tổ chức dạy một dạng
toán, một kiểu bài nào đó. Tôi cũng vậy, sau nhiều năm nghiên cứu, tích lũy ,
viết sáng kiến kinh nghiệm dạy học của mình, tôi đã có một ít vốn kinh nghiệm
giảng dạy ở tất cả các môn. Song, giờ đây, tôi muốn cùng các đồng chí nghiên
cứu tiếp với vấn đề: Giúp các em học sinh lớp 3 giải tốt các bài toán liên quan
7/19


Giúp các em học sinh lớp 3 giải tốt bài toán liên quan đến rút về đơn vị.
đến rút về đơn vị. Nhìn lại về quá trình dạy dạng toán này, về cơ bản thì ai
cũng thể cho rằng các em dễ tiếp thu, dễ làm bài, dễ nhớ, ít sai. Nhng đi sâu hơn
nữa, theo cái nhìn chủ quan của tôi, với dạng toán này các em cũng có những
nhầm lẫn đáng tiếc nếu nh các em không nắm chắc đặc điểm cơ bản, phơng pháp
giải cơ bản của hai kiểu bài trong dạng toán này. Nếu hớng dẫn học sinh từng
kiểu bài một trong một tiết thì các em làm bài gần nh theo khuôn mẫu, ít sai sót.
Nếu hớng dẫn học sinh luyện tập song song cả hai kiểu bài hoặc học xong cả hai
kiểu bài rồi, các em mà không nắm vững sẽ sai nhầm dễ dàng. Điều này sẽ xảy
ra với các em lực học trung bình, trung bình yếu. Cho nên, việc nghiên cứu phơng pháp giúp các em giải tốt dạng toán này ở lớp 3 sẽ phải dần từng bớc đợc
khắc phục, đổi mới, kích thích học theo nhận thức chủ đạo của học sinh thì chất
lợng mới cao, phát huy tính t duy, độc lập, sáng tạo ở tất cả học sinh.
III/ Thực trạng của dạy và học:
Trong nhiều năm theo dõi học sinh học Toán, đặc biệt là hai năm gần
đây, tôi trực tiếp theo dõi các em học sinh lớp 3 giải toán nói riêng, tôi thấy các
em có một thói quen không tốt cho lắm đó là: đọc đầu bài qua loa, sau đó giải
bài toán ngay, làm xong không cần kiểm tra lại kết quả, cho nên, khi trả bài các
em mới biết là mình sai. đối với dạng toán này, khi giáo viên hớng dẫn xong kiểu
bài 1, các em làm bài khá tốt, ít nhầm lẫn, nhng còn sai nhiều trong tính toán,
đến khi dạy xong kiểu bài 2, các em làm bài có phần nhầm lẫn nhiều hơn, nhiều
em thực hiện ở các bớc 2 đáng lẽ là phép chia thì các em lại làm phép nhân
( giống ở kiểu bài 1). ở năm học trớc tôi cha triển khai phơng pháp dạy của mình
tới giáo viên dạy khối 3, song tôi đã để ý, quan sát các em làm bài ở lớp mỗi khi
dự giờ, thăm lớp, các em đã có sự nhầm lẫn đáng tiếc xảy ra. Để nắm đợc thực
trạng học sinh lớp 3 giải dạng toán này cụ thể nh thế nào, tôi đã tiến hành ra hai
bài toán, thuộc hai kiểu bài của dạng toán này nh sau cho các em làm bài trong
thời gian là 20 phút để nắm đợc kết quả.
*Bài toán 1:
Một cửa hàng có 6 bao gạo chứa đợc 36 kg gạo. Hỏi 4 bao gạo nh thế có
thể chứa đợc bao nhiêu ki lô gam gạo?
* Bài toán 2:
Có 42 lít dầu đựng vào 6 can. Hỏi có 84 lít dầu thì cần có bao nhiêu can
nh thế để đựng?
Sau khi chấm bài, tôi nhận thấy kết quả các em làm bài nh sau:
- Có nhiều em làm đúng cả 2 bài.
-Một số em làm nhầm ở bớc 2 từ kiểu bài 1 sang kiểu bài 2 và ngợc lại.

- Một số em có tính sai.
- Còn một vài em sai cả 2 bài.
8/19


Giúp các em học sinh lớp 3 giải tốt bài toán liên quan đến rút về đơn vị.
* Kết quả cụ thể: 49 học sinh.
Cha hon thnh

Cui k 1
Hon thnh
20

40%

Hon thnh tt
29

60%

* Nguyên nhân có kết quả nh vậy là do phần lớn các em còn chủ quan
khi làm bài, cha nhớ kĩ các phơng pháp giải dạng toán này. Mặt khác, cũng
có thể là các em cha đợc củng cố rõ nét về 2 kiểu bài trong dạng toán này
nên sự sai đó không tránh khỏi. Con nữa, đây là các bài toán áp dụng rất thực
tế mà các em quên mất phơng pháp thử lại nên kết quả đa ra rất đáng tiếc.
IV/ Những kinh nghiệm và giải pháp chỉ đạo:
Muốn cho học sinh giải tốt bài toán liên quan đến rút về đơn vị, trớc tiên
chúng ta phải hớng dẫn các em nắm chắc đợc những bớc cần thực hiện khi giải
toán nói chung đã.

1/Hớng dẫn học sinh nắm chắc phơng pháp chung để giải các
bài toán:
Mỗi bài toán các em có làm tốt đợc hay không đều phụ thuộc vào các
phơng pháp giải toán đợc vận dụng ở mỗi bớc giải bài toán đó. Cho nên, chúng
ta cần hớng dẫn học sinh nắm đợc các bớc giải bài toán nh sau:
* Bớc 1: Đọc kĩ đề toán.
* Bớc 2: Tóm tắt đề toán.
* Bớc 3: Phân tích bài toán.
* Bớc 4: Viết bài giải.
* Bớc 5: Kiểm tra lời giải và đánh giá cách giải.
Cụ thể yêu cầu đối với học sinh nh sau:
a/ Đọc kĩ đề toán: Học sinh đọc ít nhất 3 lần mục đích để giúp các em nắm
đợc ba yếu tố cơ bản. Những dữ kiện là những cái đã cho, đã biết trong đầu
bài, những ẩn số là những cái cha biết và cần tìm và những điều kiện là quan
hệ giữa các dữ kiện với ẩn số.
Cần tập cho học sinh có thói quen và từng bớc có kĩ năng suy nghĩ trên
các yếu tố cơ bản của bài toán, phân biệt và xác định đợc các dữ kiện và điều
kiện cần thiết liên qua đến cái cần tìm, gạt bỏ các tình tiết không liên quan đến
câu hỏi, phát hiện đợc các dữ kiện và điều kiện không tờng minh để diễn đạt một
cách rõ ràng hơn. Tránh thói quen xấu là vừa đọc xong đề đã làm ngay.
b/ Tóm tắt đề toán: Sau khi đọc kĩ đề toán, các em biết lợc bớt một số câu
chữ, làm cho bài toán gọn lại, nhờ đó mối quan hệ giữa cái đã cho và một số phải
tìm hiện rõ hơn. Mỗi em cần cố gắng tóm tắt đợc các đề toán và biết cách nhìn
vào tắt ấy mà nhắc lại đợc đề toán.

9/19


Giúp các em học sinh lớp 3 giải tốt bài toán liên quan đến rút về đơn vị.
Thực tế có rất nhiều cách tóm tắt bài toán, nếu các em càng nắm đợc
nhiều cách tóm tắt thì các em sẽ càng giải toán giỏi. Cho nên, khi dạy tôi đã
truyền đạt các cách sau tới học sinh:
* Cách 1: Tóm tắt bằng chữ.
* Cách 2: Tóm tắt bằng chữ và dấu.
* Cách 3: Tóm tắt bằng sơ đồ đoạn thẳng.
* Cách 4: Tóm tắt bằng hình tợng trng.
* Cách 5: Tóm tắt bằng lu đồ.
* Cách 6: Tóm tắt bằng sơ đồ Ven.
* Cách 7: Tóm tắt băng kẻ ô.
Tuy nhiên tôi luôn luôn hớng các em chọn cách nào cho hiểu nhất, rõ nhất,
điều đó còn phụ thuộc vào nội dung từng bài.
c/ Phân tích bài toán: Sau khi tóm tắt đề bài xong, các em tập viết phân
tích đề bài để tìm ra cách giải bài toán. Cho nên, ở bớc này, giáo viên cần sử
dụng phơng pháp phân tích và tổng hợp, thiết lập cách tìm hiểu, phân tích bài
toán theo sơ đồ dới dạng các câu hỏi thông thờng:
- Bài toán cho biết gì?
- Bài toán hỏi gì?
- Muốn tìm cái đó ta cần biết gì?
- Cái này biết cha?
- Còn cái này thì sao?
- Muốn tìm cái cha biết ta cần dựa vào đâu? Làm nh thế nào?
Hớng dẫn học sinh phân tích xuôi rồi tổng hợp ngợc lên, từ đó các em
nắm bài kĩ hơn, tự các em giải đợc bài toán.
d/ Viết bài giải: Dựa vào sơ đồ phân tích, quá trình tìm hiểu bài, các em
sẽ dễ dàng viết đợc bài giải một cách đầy đủ, chính xác. Giáo viên chỉ việc yêu
cầu học sinh trình bày đúng, đẹp, cân đối ở vở là đợc, chú ý câu trả lời ở các bớc phải đầy đủ, không viết tắt, chữ và số phải đẹp.

e/ Kiểm tra lời giải và đánh giá cách giải:
Qua quá trình quan sát học sinh giải toán, chúng ta dễ dàng thấy rằng
học sinh thờng coi bài toán đã giải xong khi tính ra đáp số hay tìm đợc câu trả
lời. Khi giáo viên hỏi: Em có tin chắc kết quả là đúng không? thì nhiều em
lúng túng. Vì vậy việc kiểm tra , đánh giá kết quả là không thể thiếu khi giải
toán va phải trở thành thói quen đối với học sinh. Cho nên khi dạy giải toán,
chúng ta cần hớng dẫn các em thông qua các bớc:
- Đọc lại lời giải.
- Kiểm tra các bớc giải xem đã hợp lí yêu cầu của bài cha, các câu văn
diễn đạt trong lời giải đúng cha.
10/19


Giúp các em học sinh lớp 3 giải tốt bài toán liên quan đến rút về đơn vị.
- Thử lại các kết quả vừa tính từ bớc đầu tiên.
- Thử lại kết quả đáp số xem đã phù hợp với yêu cầu của đề bài cha.
Đối với học sinh giỏi, giáo viên có thể hớng các em nhìn lại toàn bộ bài
giải, tập phân tích cách giải, động viên các em tìm các cách giải khác, tạo điều
kiện phát triển t duy linh hoạt, sáng tạo, suy nghĩ độc lập của học sinh.

2/ Hớng dẫ học sinh nắm chắc phơng pháp giải bài toán liên quan
đến rút về đơn vị bằng phép tính chia ,nhân ( kiểu bài 1):
Để học sinh nắm chắc phơng pháp giải kiểu bài toán này, tôi đã tiến
hành dạy ngay ở trên lớp theo phơng pháp và hình thức sau:
a/ Kiểm tra bài cũ: Để nhắc lại kiến thức cũ và chuẩn bị cho kiến thức mới
cần truyền đạt, tôi ra đề nh sau:
Mỗi can chứa đợc 5 lít mật ong. Hỏi 7 can nh vậy chứa đợc bao nhiêu lít mật
ong?
Với bài này, học sinh dễ dàng giải đợc nh sau:
Bài giải.
Bảy can nh vậy chứa đợc số lít mật ong là:
5 x 7 = 35 ( l)
Đáp số: 35 l mật ong.
Sau đó, tôi yêu cầu học sinh nhận dạng toán đã học và giải thích cách
làm, đồng thời cho học sinh nhắc lại quy trình của giải một bài toán.
b/ Bài mới:
* Giới thiệu bài: Dựa vào bài toán kiểm tra bài cũ, giáo viên vừa củng cố, vừa
giới thiệu bài ngày hôm nay các em đợc học.
* Hớng dẫn học sinh giải bài toán 1: Có 35 l mật ong chia đểu vào 7 can. Hỏi
mỗi can có mấy lít mật ong?
- Giáo viên yêu cầu học sinh đọc đầu bài( 3 em).
- Hớng dẫn học sinh tóm tắt bài toán ( sử dụng phơng pháp hỏi đáp):
+ Bài toán cho biết gì? (35 lít mật ong đổ đều vào 7 can).
+ Bài toán hỏi gì? ( 1 can chứa bao nhiêu lít mật ong).
+ Giáo viên yêu cầu học sinh nêu miệng phần tóm tắt để giáo viên ghi bảng:
7 can: 35 l
1 can:? l .
- Hớng dẫn học sinh phân tích bài toán để tìm phơng pháp giải bài toán.
- Giáo viên yêu cầu học sinh làm vào bảng con.
- Giáo viên đa bài giải đối chiếu.
Bài giải
Số lít mật ong có trong mỗi can là:
35 : 7 = 5 (l)
11/19


Giúp các em học sinh lớp 3 giải tốt bài toán liên quan đến rút về đơn vị.
Đáp số: 5 l mật ong.
- Giáo viên củng cố cách giải: Để tìm 1 can chứa bao nhiêu lít mật ong ta
làm phép tính gì? ( phép tính chia).
- Giáo viên giới thiệu. Bài toán cho ta biết số lít mật ong có trong 7 can,
yêu cầu chúng ta tìm số lít mật ong trong 1 can, để tìm đợc số lít mật ong trong
1 can, chúng ta thực hiện phép chia. Bớc này gọi là rút về đơn vị, tức là tìm giá
trị của một phần trong các phần.
- Giáo viên cho học sinh nêu miệng kết quả một số bài toán đơn giản để áp
dụng, củng cố nh:
5 bao: 300kg hoặc 3 túi : 15 kg
1 bao? kg
1 túi : ? kg
* Hớng dẫn học sinh giải bài toán 2: Có 35 lít mật ong cia đèu vào 7 can. Hỏi
2 can có mấy lít mật ong?
- Giáo viên yêu cầu học sinh đọc kĩ đầu bài ( 3 lần).
- Yêu cầu học sinh nêu tóm tắt bài toán Giáo viên ghi bảng( Phơng pháp
hỏi đáp).
7 can : 35 lít
2 can : ? lít.
- Hớng dẫn học sinh phân tích bài toán: ( Phơng pháp hỏi đáp)
+ Muốn tính đợc số lít mật ong có trong 2 can ta phải biết gì? ( 1
can chứa đợc bao nhiêu lít mật ong)
+Làm thế nào để tìm đợc số lít mật ong có trong 1 can? ( Lấy số lít
mật ong trong 7 can chia cho 7).
+ Yêu cầu học sinh nhẩm ngay 1 can: ? l.
+ Yêu cầu học sinh nêu cách tính 2 can khi đã biết 1 can.
(Lấy số lít mật ong có trong 1 can nhân với 2).
- Một học sinh nêu lần lợt bài giải. Giáo viên ghi bảng.
Bài giải
Số lít mật ong có trong mỗi can là:
35 : 7 = 5 (l)
Số lít mật ong có trong 2 can là:
5 x 2 = 10 (l)
Đáp số:10l mật ong.
- Yêu cầu học sinh nêu bớc nào là bớc rút về đơn vị: Bớc tìm số lít mật ong
trong 1 can gọi là bớc rút về đơn vị.
- Hớng dẫn học sinh củng cố dạng toán kiểu bài 1:
Các bài toán có liên quan đến rút về đơn vị thờng đợc giải bằng 2 bớc:

12/19


Giúp các em học sinh lớp 3 giải tốt bài toán liên quan đến rút về đơn vị.
+Bớc 1: Tìm giá trị một đơn vị ( giá trị một phần trong các phần bằng
nhau) . Thực hiện phép chia.
+ Bớc 2: Tìm giá trị của nhiều đơn vị cùng loại( giá trị của nhiều phần
bằng nhau) . Thực hiện phép nhân.
+ Học sinh nhẩm thuộc, nêu lại các bớc.
- Hớng dẫn học sinh làm bài tập áp dụng.
- Giáo viên nêu miệng, ghi tóm tắt lên bảng, học sinh nêu kết quả và giải
thích cách làm nh.
3 túi : 45 kg
hoặc : 4 thùng : 20 gói.
12 túi : ? kg.
5 thùng : ? gói.
Sau khi học sinh nắm chắc cách giải bài toán ở kiểu bài này, chúng ta
cần tiến hành hớng dẫn học sinh luyện tập.

c/Luyện tập:
Khi tiến hành hớng dẫn học sinh luyện tập qua từng bài, giáo viên cần
thay đổi hình thức luyện tập.
Bài 1: - Hớng dẫn học sinh thảo luận chung cả lớp, sau đó 1 học sinh
tóm tắt và giải bài toán trên bảng, cả lớp làm vào vở.
- Củng cố bớc rút về đơn vị.
- Củng cố các bớc giải bài toán này.
Bài 2: - Học sinh thảo luận và làm việc theo nhóm đôi.
- Yêu cầu 1 cặp học sinh trình bày bảng Giáo viên kiểm tra các
kết quả của cả lớp.
- Yêu cầu học sinh nêu bớc rút về đơn vị.
- Củng cố cách thực hiện 2 bớc giải bài toán.
Bài 3: Hớng dẫn học sinh chơi trò chơi ghép hình.
d/ Củng cố dặn dò:
- Học sinh tự nêu các bớc, cách thực hiện giải bài toán có liên quan đến
rút về đơn vị ( kiểu bài 1)
- Giao thêm bài về nhà dạng tơng tự để hôm sau kiểm tra.
- Qua mỗi lần luyện tập xen kẽ, giáo viên đều củng cố cách làm ở kiểu
bài 1 là: + Bài giải đợc thực hiện qua 2 bớc:
Bớc 1: ( Bớc rút về đơn vị) Tìm giá trị 1 đơn vị ( Giá trị 1 phần). ( phép
chia).
Bớc 2: Tìm nhiều đơn vị ( từ 2 trở lên) ( phép nhân).
+ Nhấn mạnh cốt chính của kiểu bài 1 là tìm giá trị của nhiều đơn
vị ( nhiều phần).
13/19


Giúp các em học sinh lớp 3 giải tốt bài toán liên quan đến rút về đơn vị.
- Khi học sinh đã nắm chắc kiểu bài 1 thì các em dễ dàng giải đợc kiểu
bài 2.

3/ Hớng dẫn học sinh nắm chắc phơng pháp giải bài toán liên
quan đến rút về đơn vị giải bằng 2 phép tính chia: ( Kiểu bài 2)
Khi dạy kiểu bài 2 này, tôi cũng dạy các bớc tơng tự. Song để học sinh
dễ nhận dạng, so sánh phơng pháp giải 2 kiểu bài, khi kiểm tra bài cũ, tôi đa đề
bài lập lại của kiểu bài 1: Có 35 lít mật ong rót đều vào 7 can . Hỏi 2 can đó
có bao nhiêu lít mật ong. Mục đích là vừa kiểm tra, củng cố phơng pháp giải ở
kiểu bài 1, cũng là để tôi dựa vào đó hớng các em tới phơng pháp giải ở kiểu
bài 2( giới thiệu bài).
Bài toán ở kiểu bài 2 có dạng sau: Có 35 lít mật ong đựng đều vào 7 can.
Nếu có 10 lít mật ong thì đựng đều vào mấy can nh thế?
- Cách tổ chức, hớng dẫn học sinh cũng nh ở kiểu bài 1.
- Khi củng cố, học sinh nêu đợc ở bớc 1 là bớc rút về đơn vị và các bớc
thực hiện bài giải chung của kiểu bài 2 này.
+ Bớc 1:: Tìm giá trị 1 đơn vị ( giá trị 1 phần). ( đây là bớc rút về đơn
vị) . ( phép chia).
+ Bớc 2: Tìm số phần (số đơn vị) ( phép chia).
Sau mỗi bài tập, chúng ta lại củng cố lại một lần, các em sẽ nắm chắc
phơng pháp hơn. Đặc biệt khi học xong kiểu bài 2 này, các em dễ nhầm với
cách giải ở kiểu bài 1. Cho nên, chúng ta phải hớng dẫn học sinh cách kiểm tra,
đánh giá kết quả bài giải ( thử lại theo yêu cầu của bài).
Ví dụ: Các em đặt kết quả tìm đợc vào phần tóm tắt của bài các em sẽ thấy đợc
cái vô lí khi thực hiện sai phép tính của bài giải nh:
35 l : 7 can.
35 l : 7 can
10 l : 2 can ( đúng)
10 l : 50can ( vô lí).
Từ đó các em nắm chắc phơng pháp giải kiểu bài 2 tốt hơn, có kĩ năng , kĩ
xảo tốt khi giải toán.

4/ Hớng dẫn học sinh luyện tập so sánh ph ơng pháp giải 2 kiểu bài :
Để học sinh luyện tập tốt 2 kiểu bài này, tôi đã hớng dẫn các em so sánh các bớc giải và đặc điểm của mỗi kiểu bài.

14/19


Giúp các em học sinh lớp 3 giải tốt bài toán liên quan đến rút về đơn vị.
Các
bớc
1

Kiểu bài 1
Kiểu bài 2
( Tìm giá trị của các phần)
( Tìm số phần)
- Tìm giá trị của 1 phần: ( phép
- Tìm giá trị của 1 phần: ( phép
chia)
chia)
(Đây là bớc rút về đơn vị)
(Đây cũng là bớc rút về đơn vị)
2
- Tìm giá trị của 1 phần
- Tìm số phần.
( phép nhân)
- (Phép chia)
- Lấy giá trị 1 phần nhân với số
- Lấy giá trị các phần chia cho
phần
gía trị 1 phần.
Sau đó, tôi yêu cầu học sinh học thuộc để áp dụng nhận dạng kiểu bài và
giải các bài toán đó. Khi luyện tập, tôi tiến hành cho học sinh luyện 2 bài tập
song song với nhau, mục đích là để các em vừa làm, vừa nhận dạng, so sánh. Sau
mỗi lần luyện tập nh vậy, chúng ta lại củng cố kiến thức một lần cho các em,
chắc các em không còn nhầm lẫn nữa.
* Lần 1:
Bài toán 1: Có 5 túi gạo chứa đợc 40 kg gạo. Hỏi 3 túi gạo thì chứa đợc bao
nhiêu ki - lô - gam gạo?
Bài toán 2: Có 40 ki lô - gam gạo đựng vào 5 túi. Hỏi có 24 kg gạo thì
cần bao nhiêu túi nh thế để đựng?
* Củng cố cách giải, mối quan hệ giữa các phép tính trong 2 bài toán này.
Mặt khác học sinh dễ dàng nhìn nhận ra lỗi sai của mình, nếu nh nhầm phép
tính ( Bài toán 2 là bài toán ngợc của bài toán 1)
* Lần 2:
Bài toán 1: Có 4 cái áo đơm hết 24 cái cúa áo. Hỏi có 1236 cúa áo thì đơm
đợc bao nhiêu cái áo nh thế?
Bài toán 2: Ba thùng nh nhau đựng đợc 27 lít mật ong. Hỏi 7 thùng nh thế
đựng đợc bao nhiêu kg mật ong?
*Đổi thứ tự bài để học sinh củng cố đợc cách nhận dạng 2 kiểu bài và phơng
pháp giải.
* Tóm lại: Trên đây là phơng pháp hớng dẫn các em học sinh lớp 3 giải
tốt dạng toán: Bài toán liên quan đến rút về đơn vị, tôi tin rằng nếu chúng ta
làm đợc nh vậy thì các em nắm đợc phơng pháp giải dạng toán này tốt hơn,
chắc chắn hơn, tránh đợc những sai sót có thể xảy ra. Các em sẽ có đợc tinh
thần phấn khởi, tự tin khi giải toán.
V/ Tổng kết kinh nghiệm:
Trong suốt quá trình nghiên cứu, quan sát học sinh giải toán, tôi thấy
các em rất thích giải toán khi các em đã có đủ vốn kiến thức, phơng pháp giải
toán. Các em giải toán đúng, chính xác hơn khi các em đợc thầy cô nhiệt tình
15/19


Giúp các em học sinh lớp 3 giải tốt bài toán liên quan đến rút về đơn vị.
hớng dẫn với phơng pháp dễ hiểu nhất, dễ nhớ nhất. Với phơng pháp này tôi
đã trang thiết bị cho các em vốn kiến thức phơng pháp cơ bản để các em giải
dạng toán này không nhầm lẫn, sai sót đến chất lợng học của các em đợc
nâng lên rõ rệt. Dạy xong kiểu bài 1, so với năm học 2009-2010, năm nay
các em làm bài tốt hơn nhiều, chất lợng tăng 20%. Dạy xong kiểu bài 2, chất
lợng càng tăng hơn 15% so với thời điểm năm ngoái. Nhìn chung, các em đợc giải toán, so sánh cách giải của 2 kiểu bài này, cho nên các em làm bài
chính xác cao, chất lợng khả quan.
VI/ Phân tích tổng hợp những bài học kinh nghiệm:
Dạy toán ở Tiểu học nói chung, ở lớp 3 nói riêng là cả một quá trình kiên
trì, đầy sự sáng tạo, nhất là đối với dạng toán liên quan đến rút về đơn vị, cho
nên khi hớng dẫ học sinh giải toán nói chung, giải dạng toán liên quan đến rút về
đơn vị nói riêng chúng ta cần phải:
1/ Tạo niềm hứng thú, sự say mê giải toán, bởi các em có thích học toán thì
các em mới có sự suy nghĩ, tìm tòi các phơng pháp giải bài toán một cách thích
hợp.
2/ Hớng dẫn học sinh nắm đầy đủ các kĩ năng cần thiết khi giải toán bằng phơng pháp phù hợp, nhẹ nhàng, không gò bó.
3/ Kích thích t duy sáng tạo, khả năng phân tích, tổng hợp trong khi tìm tòi,
phát hiện đờng lối trong giải toán.
4/ Thờng xuyên thay đổi hình thức dạy học ở mỗi bài để tránh sự nhàm chán.
5/ Tập cho học sinh có kĩ năng tự phân tích bài toán, tự kiểm tra đánh giá kết
quả của bài toán, tập đặt các câu hỏi gợi mở cho các bớc giải trong bài toán.
6/ Phải coi việc giải toán là cả một quá trình, không nóng vội mà phải kiên trì
tìm và phát hiện ra chỗ hổng sau mỗi lần hớng dẫn để khắc phục, rèn luyện.
7/ Nên động viên, khuyến khích các em có đa ra phơng pháp giải gần hợp lí,
tránh đa ra tình huống phủ định ngay.
8/ Gần gũi, động viên những em học yếu môn Toán để các em có tiến bộ, giúp
đỡ nhẹ nhàng khi cần thiết.
VII/ Những điều còn bỏ ngỏ:
Với phơng pháp giúp các em học sinh lớp 3 giải tốt bài toán liên quan
đến rút về đơn vị tôi vừa nêu ở trên, áp dụng cho mọi đối tợng học sinh, tuy có
nhiều thành công song mặt nào đó nó vẫn còn hạn chế của nó. Đối với học sinh
yếu kém, các em vẫn phải giải đi giải lại nhiều lần ( luyện nhiều) mới nhớ đợc
các bớc giải, kĩ năng phân biệt ở 2 kiểu bài cha chắc lắm. Đối với học sinh giỏi,
các em làm tốt dạng toán này, đòi hỏi phải có sự nâng cao hơn về kiến thức,
không thì các em cho rằng việc giải toán quá đơn giản. Điều này tôi còn cha nêu

16/19


Giúp các em học sinh lớp 3 giải tốt bài toán liên quan đến rút về đơn vị.
ở trong phơng pháp dạy dạng toán này. Tôi sẽ coi đây là mục tiêu để nghiên cứu
sau này.
VIII/ Khả năng vận dụng vào thực tiễn:
Trên đây, tôi đã trình bày phơng pháp hớng dẫn học sinh giải tốt dạng
toán liên quan đến rút về đơn vị. Với phơng pháp này, tôi đã triển khai chuyên đề
với tất cả giáo viên tổ 2- 3 , nó đợc áp dụng dạy với tất cả đối tợng học sinh, thực
chất nó mang lại kết quả rất cao. Bởi từ phơng pháp này giáo viên sẽ giúp các em
nắm đợc các bớc cần thực hiện đợc khi giải toán, các em biết phân biệt cách giải
các kiểu bài này trong cùng một dạng toán cơ bản. Đối với phơng pháp này, tất
cả các đối tợng học sinh sẽ nắm đợc quy trình giải 2 kiểu bài một cách dễ dàng,
dễ nhớ mà không nhầm lẫn, các em biết phân biệt đợc sự giống nhau và khác
nhau khi thực hiện bài giải của 2 kiểu bài này. Đó cũng là mong muốn của mỗi
chúng ta.

17/19


Giúp các em học sinh lớp 3 giải tốt bài toán liên quan đến rút về đơn vị.

Phần III: Kết luận

I / Kết quả thành công:
Ngay từ khi bớc sang học kỳ II của năm học này, tôi đã tiến hành triển
khai chuyên đề Toán lớp 3 để các dồng chí nắm đợc phơng pháp giải dạng toán
có liên qua đến rút về đơn vị. Cho nên khi dạy đến dạng bài toán này, phơng
pháp dạy theo chuyên đề đã đợc áp dụng với tất cả học sinh các lớp ở khối 3.
Chính vì vậy, các em đã nhanh chóng nắm đợc cách giải kiểu bài 1 rồi đến kiểu
bài 2 của dạng toán này, các em biết phân tích để thấy đợc sự giống nhau, khác
nhau khi thự hiện bài giải, đặc biệt là các em biết nhận dạng toán này một cách
thành thục, có kĩ năng, kĩ xảo tốt. Các em học sinh trung bình thì làm khá tốt.
Đó là tất cả những gì chúng ta mong muốn để có đợc khi dạy học sinh giải toán.
Tôi mong muốn giải pháp này sẽ đợc áp dụng sâu rộng hơn để quá trình dạy học
toán, thích giải toán và thích tìm tòi, khám phá cái mới, cái cần có khi giải toán.
Đạt đợc tất cả những điều trên đó là thành công lớn trong giảng dạy.
II/ Phơng hớng tiếp tục hoàn thiện:
Mỗi chúng ta, khi đứng trên bục giảng, ai cũng luôn mong muốn cho
mình một phơng pháp dạy tốt nhất để mang lại chất lợng dạy học cao nhất.
Đặc biệt, tôi rất thích nghiên cứu về môn toán với đối tợng là học sinh giỏi hoặc
khá giỏi. Cho nên,trong thời gian tới, tôi tiếp tục nghiên cứu, su tầm, thiết lập
các kiểu bài nâng cao của dạng toán tôi vừa nghiên cứu và các dạng kiểu bài
toán khác để hớng dẫn học sinh học toán có chất lợng cao. Hình thành kĩ năng,
kĩ xảo khi giải toán tốt nhất cho cho học sinh. Tôi sẽ nghiên cứu, mở rộng với tất
cả các khối lớp, góp phần nâng cao chất lợng dạy và học ở Tiểu học nói riêng,
của Ngành giáo dục nói chung.
Trên đây, tôi vừa trình bày phơng pháp giúp học sinh lớp 3 giải tốt dạng
toán liên quan đến rút về đơn vị. Một phần, tôi muốn góp phần nhỏ vào phơng
pháp dạy học toán ở Tiểu học nói chung, phơng pháp dạy toán nói riêng. Một
phần, tôi muốn trình bày ý kiến của mình để các đồng nghiệp tham khảo, đóng
góp ý kiến xây dựng để cho phơng pháp dạy học của tôi hoàn thiện hơn. Kính
mong các đồng nghiệp xem xét và nhiệt tình góp ý kiến cho tôi để tôi có nhiều
thành công trong sự đổi mới phơng pháp dạy học hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 14 tháng 3 năm 2016
Tôi xin cam đoan đây là sáng kiến kinh nghiệm do
mình viết không sao chép nội dung của ngời khác

Nhận xét của hội đồng xét duyệt skkn
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
18/19


Giúp các em học sinh lớp 3 giải tốt bài toán liên quan đến rút về đơn vị.
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................

19/19



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×