Tải bản đầy đủ

Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp xã Văn Võ huyện Chương Mỹ thành phố Hà Nội

LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan những nội dung trong đồ án này là do em thực hiện
dưới sự hướng dẫn của Th.S Trần Thị Oanh.
Em xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng cá nhân mình,
các số liệu, kết quả nêu trong đồ án là trung thực và chưa từng được ai công
bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Em xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong đồ án đều đã được
chỉ rõ nguồn gốc.
Sinh viên

Nguyễn Văn Uyn


LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện đề tài, bản thân em luôn nhận được sự quan
tâm giúp đỡ chỉ bảo tận tình của các thầy, cô giáo trong khoa Quản lý đất đai
- Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội, cùng các phòng, ban
tại địa phương đã tạo điều kiện thuận lợi nhất để em hoàn thành báo cáo
khóa luận tốt nghiệp này.
Lời đầu tiên, em xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo Trường Đại
học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội nói chung, các thầy, cô giáo trong

khoa Quản lý đất đai nói riêng đã tận tình dạy dỗ, chỉ bảo ân cần trong suốt
thời gian em học tập tại trường; trong đó đặc biệt Ths. Trần Thị Oanh
người đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo em trong suốt thời gian em thực hiện
đồ án này.
Em xin chân thành cảm ơn UBND xã Văn Võ, các ban ngành đoàn thể
cùng nhân dân trong phường đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp đỡ em
trong thời gian nghiên cứu làm đề tài tại phường. Cuối cùng từ đáy lòng
mình, em xin kính chúc các thầy, cô giáo và các cô, chú mạnh khỏe, hạnh
phúc, thành đạt trong cuộc sống.
Em xin trân trọng cảm ơn…!!!
Hà Nội, ngày 09 tháng 06 năm 2016
Sinh viên

Nguyễn Văn Uyn


MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN........................................................................................................................2
* Hiệu quả về môi trường.....................................................................................................20
2.2.2 Hiện trạng và đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp của xã Văn Võ................32
2.3.4. Một số phương pháp khác..........................................................................................34
Bảng 3.1: Tình hình phát triển dân số, lao động xã Văn Võ............................................47
3.3.3. Đánh giá về hiệu quả xã hội.......................................................................................71
Bảng 3.15: Tổng hiệu quả xã hội 2 tiểu vùng xã Văn Võ...................................................74
3.4.4. Đánh giá hiệu quả môi trường....................................................................................75
Bảng 3.16: So sánh mức đầu tư phân bón vô cơ thực tế......................................................77
Bảng 3.18: Tình hình sử dụng thuốc bảo vệ thực vật một số cây trồng...............................79
Qua bảng 3.20 ta thấy:..........................................................................................................87
- Tiểu vùng 1:.......................................................................................................................87
+ Kiểu sử dụng đất Lúa xuân – Lúa mùa – Đậu tương được mở rộng thêm 10 ha được lấy
từ kiểu sử dụng đất Lúa xuân – Lúa mùa 3 ha và 7 ha được lấy từ kiểu sử dụng đất Lúa
xuân – Lúa mùa – Khoai lang..............................................................................................87
+ Kiểu sử dụng đất Rau – Lạc xuân được mở rộng thêm 4 ha là do được chuyển từ kiểu sử
dụng đất Ngô đông – Rau.....................................................................................................87
+ Kiểu sử dụng đất Lúa – Cá được mở mới là 9,32 ha từ kiểu sử dụng đất Lúa xuân – Lúa
mùa.......................................................................................................................................87
- Tiểu vùng 2:.......................................................................................................................87
+ Kiểu sử dụng đất Lúa xuân – Lúa mùa – Đậu tương được mở rộng thêm 6 ha được
chuyển từ kiểu sử dụng đất Lúa xuân – Lúa mùa – Khoai...................................................87

+ Kiểu sử dụng đất Bưởi được mở rộng thêm 5 ha do được chuyển từ kiểu sử dụng đất Rau
– Ngô xuân 2 ha và kiểu sử dụng đất Rau – Lạc xuân 3 ha.................................................87
+ Kiểu sử dụng đất Cam được mở rộng thêm 2 ha từ kiểu sử dụng đất Chuối....................88
3.6.3. Một số giải pháp thực hiện.........................................................................................88


DANH MỤC BẢNG
LỜI CẢM ƠN........................................................................................................................2
* Hiệu quả về môi trường.....................................................................................................20
2.2.2 Hiện trạng và đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp của xã Văn Võ................32
2.3.4. Một số phương pháp khác..........................................................................................34
Bảng 3.1: Tình hình phát triển dân số, lao động xã Văn Võ............................................47
3.3.3. Đánh giá về hiệu quả xã hội.......................................................................................71
Bảng 3.15: Tổng hiệu quả xã hội 2 tiểu vùng xã Văn Võ...................................................74
3.4.4. Đánh giá hiệu quả môi trường....................................................................................75
Bảng 3.16: So sánh mức đầu tư phân bón vô cơ thực tế......................................................77
Bảng 3.18: Tình hình sử dụng thuốc bảo vệ thực vật một số cây trồng...............................79
Qua bảng 3.20 ta thấy:..........................................................................................................87
- Tiểu vùng 1:.......................................................................................................................87
+ Kiểu sử dụng đất Lúa xuân – Lúa mùa – Đậu tương được mở rộng thêm 10 ha được lấy
từ kiểu sử dụng đất Lúa xuân – Lúa mùa 3 ha và 7 ha được lấy từ kiểu sử dụng đất Lúa
xuân – Lúa mùa – Khoai lang..............................................................................................87
+ Kiểu sử dụng đất Rau – Lạc xuân được mở rộng thêm 4 ha là do được chuyển từ kiểu sử
dụng đất Ngô đông – Rau.....................................................................................................87
+ Kiểu sử dụng đất Lúa – Cá được mở mới là 9,32 ha từ kiểu sử dụng đất Lúa xuân – Lúa
mùa.......................................................................................................................................87
- Tiểu vùng 2:.......................................................................................................................87
+ Kiểu sử dụng đất Lúa xuân – Lúa mùa – Đậu tương được mở rộng thêm 6 ha được
chuyển từ kiểu sử dụng đất Lúa xuân – Lúa mùa – Khoai...................................................87
+ Kiểu sử dụng đất Bưởi được mở rộng thêm 5 ha do được chuyển từ kiểu sử dụng đất Rau
– Ngô xuân 2 ha và kiểu sử dụng đất Rau – Lạc xuân 3 ha.................................................87
+ Kiểu sử dụng đất Cam được mở rộng thêm 2 ha từ kiểu sử dụng đất Chuối....................88
3.6.3. Một số giải pháp thực hiện.........................................................................................88


DANH MỤC BẢNG
LỜI CẢM ƠN........................................................................................................................2
* Hiệu quả về môi trường.....................................................................................................20
2.2.2 Hiện trạng và đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp của xã Văn Võ................32
2.3.4. Một số phương pháp khác..........................................................................................34
Bảng 3.1: Tình hình phát triển dân số, lao động xã Văn Võ............................................47
3.3.3. Đánh giá về hiệu quả xã hội.......................................................................................71
Bảng 3.15: Tổng hiệu quả xã hội 2 tiểu vùng xã Văn Võ...................................................74
3.4.4. Đánh giá hiệu quả môi trường....................................................................................75
Bảng 3.16: So sánh mức đầu tư phân bón vô cơ thực tế......................................................77
Bảng 3.18: Tình hình sử dụng thuốc bảo vệ thực vật một số cây trồng...............................79
Qua bảng 3.20 ta thấy:..........................................................................................................87
- Tiểu vùng 1:.......................................................................................................................87
+ Kiểu sử dụng đất Lúa xuân – Lúa mùa – Đậu tương được mở rộng thêm 10 ha được lấy
từ kiểu sử dụng đất Lúa xuân – Lúa mùa 3 ha và 7 ha được lấy từ kiểu sử dụng đất Lúa
xuân – Lúa mùa – Khoai lang..............................................................................................87
+ Kiểu sử dụng đất Rau – Lạc xuân được mở rộng thêm 4 ha là do được chuyển từ kiểu sử
dụng đất Ngô đông – Rau.....................................................................................................87
+ Kiểu sử dụng đất Lúa – Cá được mở mới là 9,32 ha từ kiểu sử dụng đất Lúa xuân – Lúa
mùa.......................................................................................................................................87
- Tiểu vùng 2:.......................................................................................................................87
+ Kiểu sử dụng đất Lúa xuân – Lúa mùa – Đậu tương được mở rộng thêm 6 ha được
chuyển từ kiểu sử dụng đất Lúa xuân – Lúa mùa – Khoai...................................................87
+ Kiểu sử dụng đất Bưởi được mở rộng thêm 5 ha do được chuyển từ kiểu sử dụng đất Rau
– Ngô xuân 2 ha và kiểu sử dụng đất Rau – Lạc xuân 3 ha.................................................87
+ Kiểu sử dụng đất Cam được mở rộng thêm 2 ha từ kiểu sử dụng đất Chuối....................88
3.6.3. Một số giải pháp thực hiện.........................................................................................88


PHẦN MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của chuyên đề
Trong những năm qua, bằng đường lối đổi mới đúng đắn, chuyển nền
kinh tế tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội
chủ nghĩa, Việt Nam đã thu được những thành quả to lớn trong quá trình phát
triển kinh tế - xã hội. Nền nông nghiệp nước ta từng bước chuyển từ tự túc, tự
cấp sang sản xuất hàng hóa. Nông nghiệp có sự tăng trưởng khá, sức sản xuất
ở nông thôn được giải phóng, tiềm năng đất nông nghiệp dần được khai thác.
Hiện nay, với trên 70% dân số và lao động xã hội đang sống ở vùng nông
thôn, ngành nông nghiệp vẫn có vị trí, vai trò quan trọng trong nhiều năm tới.
Đất đai đóng vai trò quyết định sự tồn tại và phát triển của xã hội loài
người, là cơ sở tự nhiên, là tiền đề cho mọi quá trình sản xuất. Các Mác đã
nhấn mạnh: “Đất là mẹ, lao động là cha, sản sinh ra mọi của cải vật chất”. Đất
nông nghiệp tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất và làm ra sản phẩm
phục vụ đời sống của con người và xã hội. Đất nông nghiệp là yếu tố đầu vào
quan trọng tác động mạnh mẽ đến hiệu quả sản xuất nông nghiệp.
Hiện nay, Việt Nam đang đẩy mạnh sự nghiệp CNH - HĐH đất nước.
Quá trình đô thị hóa và sự gia tăng dân số đã gây áp lực mạnh mẽ đến việc
chuyển đổi mục đích sử dụng đất làm cho diện tích đất nông nghiệp ngày càng
bị thu hẹp. Hơn nữa, những đòi hỏi của sự phát triển kinh tế và nhu cầu ngày
càng tăng của con người buộc chúng ta phải sử dụng đất nông nghiệp một cách
có hiệu quả hơn. Thực tế ở một số địa phương, nông nghiệp đã phát triển theo
hướng sản xuất hàng hoá mang lại hiệu quả kinh tế khá cao nên đời sống người
dân được cải thiện hơn trước. Tuy nhiên, do nhận thức và hiểu biết của nhiều
người còn hạn chế nên việc khai thác đất nông nghiệp chưa thật hợp lý, không
phát huy hết tiềm năng, sức sản xuất của đất. Từ đó, ảnh hưởng đến năng suất
lao động và mức sống của người nông dân. Vì vậy, sử dụng đất nông nghiệp
một cách đúng đắn và có hiệu quả là yêu cầu có tính cấp thiết hiện nay.
1


Văn Võ là một xã đồng bằng thuộc lưu vực sông Đáy tương đối bằng
phẳng, cách trung tâm huyện là thị trấn Trúc Sơn là 15 km. Tổng diện tích đất
tự nhiên của toàn xã là 465,87 ha phần lớn là đất nông nghiệp nên đã được
huyện Chương Mỹ xác định là một trong những địa bàn quan trọng nhất cung
cấp lương thực, thực phẩm cho thành phố Hà Nội và nhiều tỉnh trong cả nước.
Trong những năm gần đây, nông nghiệp của huyện đã có những bước khởi
sắc. Hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp tăng, xuất hiện những sản phẩm nông
nghiệp hàng hoá có giá trị. Tuy nhiên, nông nghiệp của huyện vẫn mang nặng
tính truyền thống, các loại nông sản mới chỉ mang tính tự phát, chưa có quy
hoạch và phương án giải quyết đầu ra nên không phát huy hết các tiềm năng
sẵn có. Vì vậy, việc nâng cao hơn nữa hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp, đưa
ra những loại hình sử dụng đất, kiểu sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả
kinh tế cao, có tính hàng hoá và bền vững trên địa bàn huyện là vấn đề rất cần
thiết. Xuất phát từ thực tiễn trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “
Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp xã Văn Võ huyện Chương Mỹ
thành phố Hà Nội”.
2. Mục tiêu chuyên đề
- Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp nhằm góp phần giúp
người nông dân lựa chọn phương thức sử dụng đất phù hợp trong điều kiện cụ
thể trên địa bàn xã.
- Định hướng và đề xuất các giải pháp hợp lý nhằm nâng cao hiệu quả
sử dụng đất nông nghiệp đáp ứng yêu cầu phát triển nông nghiệp bền vững
theo hướng sản xuất hàng hoá.
- Xác định các loại hình sản xuất nông nghiệp, nhằm đem lại hiệu quả
cao trong việc sử dụng đất nông nghiệp, phục vụ cho việc phát triển bền vững.
3. Yêu cầu đề tài
- Đánh giá đúng, khách quan, trung thực, toàn diện hiện trạng sử dụng
đất nông nghiệp.

2


- Các phương án đánh giá cần xây dựng dựa trên cơ sở điều tra số liệu,
phân tích cụ thể, đảm bảo tính khoa học.
- Bước đầu đề cấp các giải pháp để sử dụng đất có hiệu quả và bền
vững, có tính khả thi cao.
- Nội dung đề tài có thể áp dụng vào thực tế.

3


CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Khái niệm về đất, đất nông nghiệp, vai trò và phân loại đất nông
nghiệp.
1.1.1. Khái niệm về đất
Đã có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến những khái niệm, định
nghĩa về đất. Khái niệm đầu tiên của học giả người Nga Docutraiep năm 1987
cho rằng: “Đất là một vật thể thiên nhiên cấu tạo độc lập lâu đời do kết quả
quá trình hoạt động tổng hợp của 5 yếu tố hình thành đất đó là: sinh vật, đá
mẹ, khí hậu, địa hình và thời gian”. Tuy vậy, khái niệm này chưa đề cập đến
khả năng sử dụng và sự tác động của các yếu tố khác tồn tại trong môi trường
xung quanh. Do đó, sau này một số học giả khác đã bổ sung các yếu tố: nước
của đất, nước ngầm và đặc biệt là vai trò của con người để hoàn chỉnh khái
niệm về đất nêu trên. Ngoài ra, còn có một số học giả khác cũng có những
khái niệm về đất như sau:
Nhà thổ nhưỡng học Docutraiep cho rằng: “Đất là vật thể thiên nhiên
cấu tạo độc lập, lâu đời do kết quả quá trình hoạt động của 5 yếu tố hình
thành đất đó là: đá mẹ, sinh vật, khí hậu, địa hình và thời gian”.
Nhà nông học người Anh V.R William đã đưa ra khái niệm: “Đất là lớp
mặt tơi xốp của lục địa có khả năng tạo ra sản phẩm của cây”.
Trong phạm vi nghiên cứu về sử dụng đất, đất đai được nhìn nhận là
một nhân tố sinh thái. Với khái niệm này, đất đai bao gồm tất cả các thuộc
tính sinh học và tự nhiên của bề mặt trái đất có ảnh hưởng nhất định đến tiềm
năng và hiện trạng sử dụng đất. Đất theo nghĩa đất đai bao gồm: khí hậu, dáng
đất, địa hình địa mạo, thổ nhưỡng, thủy văn, thảm thực vật tự nhiên bao gồm
cả rừng, cỏ dại trên đồng ruộng, động vật tự nhiên, những biến đổi của đất do
các hoạt động của con người [10].
Theo quan niệm của các nhà thổ nhưỡng và quy hoạch Việt Nam cho
rằng: “Đất là phần trên mặt của vỏ Trái đất mà ở đó cây cối có thể mọc được”
4


[2] và đất đai được hiểu theo nghĩa rộng: “Đất đai là một diện tích cụ thể của
bề mặt trái đất, bao gồm tất cả các yếu tố cấu thành của môi trường sinh thái
ngay trên và dưới bề mặt bao gồm: khí hậu, thời tiết, thổ nhưỡng, địa hình,
mặt nước, các lớp trầm tích sát bề mặt cùng với nước ngầm và khoáng sản
trong lòng đất, động thực vật, trạng thái định cư của con người, những kết quả
của con người trong quá khứ và hiện tại để lại” [2].
Trong phạm vi nghiên cứu về sử dụng đất, đất đai được nhìn nhận là
một nhân tố sinh thái. Với khái niệm này, đất đai bao gồm tất cả các thuộc
tính sinh học và tự nhiên của bề mặt trái đất có ảnh hưởng nhất định đến tiềm
năng và hiện trạng sử dụng đất. Đất theo nghĩa đất đai bao gồm: khí hậu, dáng
đất, địa hình địa mạo, thổ nhưỡng, thủy văn, thảm thực vật tự nhiên bao gồm
cả rừng, cỏ dại trên đồng ruộng, động vật tự nhiên, những biến đổi của đất do
các hoạt động của con người.
Theo quan niệm của các nhà thổ nhưỡng và quy hoạch Việt Nam cho
rằng: “Đất là phần trên mặt của vỏ trái đất mà ở đó cây cối có thể mọc được”
và đất đai được hiểu theo nghĩa rộng: “Đất đai là một diện tích cụ thể của bề
mặt trái đất, bao gồm tất cả các yếu tố cấu thành của môi trường sinh thái
ngay trên và dưới bề mặt bao gồm: khí hậu, thời tiết, thổ nhưỡng, địa hình,
mặt nước, các lớp trầm tích sát bề mặt cùng với nước ngầm và khoáng sản
trong lũng đất, động thực vật, trạng thái định cư của con người, những kết quả
của con người trong quá khứ và hiện tại để lại”.[14]
Với ý nghĩa đó, đất nông nghiệp là đất được sử dụng chủ yếu vào sản
xuất của các ngành nông nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy
sản, hoặc sử dụng vào mục đích nghiên cứu thí nghiệm về nông nghiệp. Khi
nói đất nông nghiệp người ta nói đất sử dụng chủ yếu vào sản xuất của các
ngành nông nghiệp, bởi vì thực tế có trường hợp đất đai được sử dụng vào
mục đích khác nhau của ngành. Trong trường hợp đó, đất đai được sử dụng
chủ yếu cho hoạt động sản xuất nông nghiệp mới được coi là đất nông nghiệp,

5


nếu không sẽ là các loại đất khác (tùy theo việc sử dụng vào mục đích nào là
chính).
Tuy nhiên, để sử dụng đầy đủ hợp lý ruộng đất, trên thực tế người ta
coi đất đai có thể tham gia vào hoạt động sản xuất nông nghiệp mà không cần
có đầu tư lớn nào cả.
1.1.2. Khái niệm về đất nông nghiệp.
Đất nông nghiệp là đất sử dụng vào mục đích sản xuất, nghiên cứu, thí
nghiệm về nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, làm muối và mục
đích bảo vệ, phát triển rừng. Đất nông nghiệp bao gồm đất sản xuất nông
nghiệp, đất lâm nghiệp, đất nuôi trồng thuỷ sản, đất làm muối và đất nông
nghiệp khác. [11]
- Đất nông nghiệp gồm:
+ Đất sản xuất nông nghiệp: Là đất nông nghiệp sử dụng vào mục đích sản
xuất nông nghiệp. Bao gồm đất trồng cây hàng năm và đất trồng cây lâu năm.
+ Đất lâm nghiệp: Là đất có rừng tự nhiên hoặc có rừng trồng, đất
khoanh nuôi phục hồi rừng (đất đã giao, cho thuê để khoanh nuôi, bảo vệ
nhằm phục hồi rừng bằng hình thức tự nhiên là chính), đất để trồng rừng mới
(đất đã giao, cho thuê để trồng rừng và đất có cây rừng mới trồng chưa đạt
tiêu chuẩn rừng). Theo loại rừng lâm nghiệp bao gồm: đất rừng sản xuất,
đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng.
+ Đất nuôi trồng thuỷ sản: Là đất được sử dụng chuyên vào mục đích
nuôi, trồng thuỷ sản, bao gồm đất nuôi trồng nước lợ, mặn và đất chuyên nuôi
trồng nước ngọt.
+ Đất làm muối: Là đất các ruộng để sử dụng vào mục đích sản xuất
muối.
+ Đất nông nghiệp khác: Là đất tại nông thôn sử dụng để xây dựng nhà
kính (vườn ươm) và các loại nhà khác phục vụ mục đích trồng trọt, kể cả các
hình thức trồng trọt không trực tiếp trên đất, xây dựng chuồng trại chăn nuôi
gia súc, gia cầm và các loại động vật khác được pháp luật cho phép, đất để
6


xây dựng trạm, trại nghiên cứu thí nghiệm nông nghiệp, lâm nghiệp, diêm
nghiệp, thủy sản, xây dựng cơ sở ươm tạo cây giống, con giống, xây dựng nhà
kho, nhà của hộ gia đình, cá nhân để chứa nông sản, thuốc bảo vệ thực
vật, phân bón, máy móc, công cụ sản xuất nông nghiệp.
1.1.3.Vai trò và ý nghĩa của đất đai trong nông nghiệp
Đất là khoảng không gian lãnh thổ cần thiết đối với mọi quá trình sản
xuất trong các ngành kinh tế quốc dân và hoạt động của con người. Nói về
tầm quan trọng của đất, C.Mac viết: “Đất là một phòng thí nghiệm vĩ đại, kho
tàng cung cấp các tư liệu lao động, vật chất, là vị trí để định cư, là nền tảng
của tập thể” (C.Mac 1949). Đối với nông nghiệp: đất đai là yếu tố tích cực
của quá trình sản xuất, là điều kiện vật chất đồng thời là đối tượng lao động
(luôn chịu tác động trong quá trình sản xuất như cầy, bừa, xới, xáo,...) và
công cụ lao động. Quá trình sản xuất luôn có mối quan hệ chặt chẽ với độ phì
nhiêu và quá trình sinh học tự nhiên của đất. [9]
Thực tế cho thấy, trong quá trình phát triển xã hội loài người, sự hình
thành và phát triển của mọi nền văn minh, các thành tựu khoa học công nghệ
đều được xây dựng trên nền tảng cơ bản – sử dụng đất. Trong nông nghiệp,
ngoài vai trò là cơ sở không gian, đất còn có hai chức năng đặc biệt quan
trọng:
- Là đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của con người trong quá trình
sản xuất.
- Đất tham gia tích cực vào quá trình sản xuất cung cấp cho cây trồng
nước và muối khoáng, các chất dinh dưỡng khác cần thiết cho sự sinh trưởng
và phát triển của cây trồng. Như vậy, đất trở thành công cụ sản xuất. Năng
suất và chất lượng sản phẩm phụ thuộc vào độ phì nhiêu của đất. Trong tất cả
các loại tư liệu sản xuất dùng trong nông nghiệp chỉ có đất mới có chức năng
này.
Chính vì vậy có thể nói rằng đất là tư liệu sản xuất chủ yếu và đặc biệt
trong nông nghiệp.
7


1.1.4. Phân loại đất nông nghiệp
Theo Luật Đất Đai 2013, nhóm đất nông nghiệp được phân thành các
loại sau:
- Đất trồng cây hàng năm (đất canh tác) là loại đất dùng trồng các loại
cây ngắn ngày, có chu kỳ sinh trưởng không quá một năm. Đất trồng cây hàng
năm bao gồm:
+ Đất 3 vụ là đất gieo trồng và thu hoạch được 3 vụ/năm với các công
thức 3 vụ lúa, 2 vụ lúa + 1 vụ màu,...
+ Đất 2 vụ có công thức luân canh như lúa - lúa, lúa - màu, màu - màu,...
+ Đất 1 vụ là đất trên đó chỉ trồng được 1 vụ lúa hay 1 vụ màu/năm.
- Ngoài ra đất trồng cây hàng năm còn được phân theo các tiêu thức khác
và được chia thành các nhóm đất chuyên trồng lúa, đất chuyên trồng màu,...
+ Đất trồng cây lâu năm gồm đất dùng để trồng các loại cây có chu kỳ
sinh trưởng kéo dài trong nhiều năm, phải trải qua thời kỳ kiến thiết cơ bản
mới đưa vào kinh doanh, trồng một lần nhưng thu hoạch trong nhiều năm.
+ Đất rừng sản xuất là diện tích đất được dùng để chuyên trồng các loại
cây rừng với mục đích sản xuất.
+ Đất rừng phòng hộ: là diện tích đất để trồng rừng với mục đích phòng hộ.
+ Đất rừng đặc dụng: là diện tích đất được Nhà nước quy hoạch, đưa
vào sử dụng với mục đích riêng.
+ Đất nuôi trồng thuỷ sản là diện tích đất dùng để nuôi trồng thuỷ sản
như tôm, cua, cá...
+ Đất làm muối là diện tích đất được dùng để phục vụ cho quá trình sản
xuất muối.[11]
1.2. Tình hình sử dụng đất, sử dụng đất nông nghiệp
1.2.1. Sử dụng đất và những nhân tố ảnh hưởng đến việc sử dụng đất
1.2.1.1.Sử dụng đất là gì?
Sử dụng đất là một hệ thống các biện pháp nhằm điều hòa mối quan hệ
người – đất trong tổ hợp với nguồn tài nguyên thiên nhiên khác và môi
8


trường. Căn cứ vào quy luật phát triển kinh tế xã hội cùng với yêu cầu không
ngừng ổn định và bền vững về mặt sinh thái, quyết định phương hướng chung
và mục tiêu sử dụng đất hợp lý nhất là tài nguyên đất đai, phát huy tối đa công
dụng của đất nhằm đạt tới hiệu ích sinh thái, kinh tế, xã hội cao nhất. Vì vậy,
sử dụng đất thuộc phạm trù hoạt động kinh tế của nhân loại. Trong mỗi
phương thức sản xuất nhất định, việc sử dụng đất theo yêu cầu của sản xuất
và đời sống cần căn cứ vào thuộc tính tự nhiên của đất đai. Với vai trò là nhân
tố của sức sản xuất, các nhiệm vụ và nội dung sử dụng đất đai được thể hiện ở
khía cạnh sau :
- Sử dụng đất hợp lý về không gian, hình thành hiêu quả kinh tế không
gian sử dụng đất.
- Phân phối hợp lý cơ cấu đất đai trên diện tích đất đai được sử dụng,
hình thành cơ cấu kinh tế sử dụng đất.
- Quy mô sử dụng đất cần có sự tập trung thích hợp, hình thành quy mô
kinh tế sử dụng đất.
- Giữ mật độ sử dụng đất đai thích hợp, hình thành việc sử dụng đất đai
một cách kinh tế, tập trung, thâm canh.
1.2.1.2.Những nhân tố ảnh hưởng đến việc sử dụng đất nông nghiệp
* Nhóm yếu tố về điều kiện tự nhiên
Điều kiện tự nhiên (đất, nước, khí hậu, thời tiết,…) có ảnh hưởng trực
tiếp đến sản xuất nông nghiệp. Bởi vì các yếu tố của điều kiện tự nhiên là tài
nguyên để sinh vật tạo nên sinh khối. Do vậy, cần đánh giá đúng điều kiện tự
nhiên để trên cơ sở đó xác định cây trồng vật nuôi chủ lực phù hợp và định
hướng đầu tư thâm canh đúng.
Theo Mác, điều kiện tự nhiên là cơ sở hình thành địa tô chênh lệch 1.
Theo N.Borlang – người được giải Nobel về giải quyết lương thực cho các
nước phát triển cho rằng : yếu tố duy nhất quan trọng hạn chế năng suất cây
trồng ở tầm cỡ thế giới của các nước đang phát triển, đặc biệt đối với nông
dân thiếu vốn là độ phì của đất.
9


Điều kiện về đất đai, khí hậu, thời tiết có ý nghĩa quan trọng đối với sản
xuất nông nghiệp. Nếu điều kiện tự nhiên thuận lợi, các hộ nông dân có thể
lợi dụng những yếu tố đầu vào không kinh tế thuân lợi để tạo ra nông sản
hàng hóa với giá rẻ.
Sản xuất nông nghiệp là ngành kinh doanh năng lượng ánh sáng mặt
trời dựa trên các điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội khác.
* Yếu tố khí hậu
Thực vật nói chung và cây trồng nói riêng muốn sống, sinh trưởng và
phát triển đòi hỏi phải có đầy đủ các yếu tố sinh trưởng là ánh sáng, nhiệt độ,
không khí, nước và dinh dưỡng. Trong đó, ánh sáng, nhiệt độ, lượng mưa và
độ ẩm không khí chính là các yếu tố khí hậu [1]. Chính vì thế, khí hậu là một
trong những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến sinh trưởng, năng suất và sản
lượng cây trồng, ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp.
Việt Nam có khí hậu nhiệt đới gió mùa, tuy nhiên vì sự khác biệt về vĩ
độ địa lý và địa hình nên khí hậu có khuynh hướng khác biệt nhau khá rõ nét
theo từng vùng. Miền bắc có nhiệt độ trung bình 22,2 – 23,5 0C, lượng mưa
trung bình từ 1.500 – 2.400 mm, tổng số giờ nắng từ 1.650 – 1.750 giờ/năm.
Trong khi đó, ở miền nam, khí hậu mang tính chất xích đạo, nhiệt độ trung
bình 22,6 – 27,50C, lượng mưa trung bình 1.400 – 2.400 mm, nắng trên 2.000
giờ/năm.
Trải dài trên 15 vĩ độ, Việt Nam có 7 tiểu vùng khí hậu khác nhau nên
chúng ta có thể đa dạng hóa các loại cây trồng, vật nuôi. Chính vì thế, sử dụng
đất cũng đa dạng và giảm được rủi ro vì có thể trồng các loại cây trồng có
nguồn gốc nhiệt đới, á nhiệt đới và cả ôn đới.
Khí hậu là yếu tố quan trọng, ảnh hưởng rất lớn đến việc phân bố các
loại cây trồng, cũng như thời vụ cây trồng trong sản xuất nông nghiệp. Nếu
như ở trung du và miền núi phía Bắc có thể trồng mận, đào, chuối, súp lơ
xanh,… ở đồng bằng sông Hồng có thể trồng các loại rau vụ đông có nguồn
gốc ôn đới…thì ở đồng bằng sông Cửu Long có thể trồng sầu riêng, măng
10


cụt…hay miền Đông Nam Bộ và Tây Nguyên có thể trồng chôm chôm, trái
bơ, thanh long…là những cây nhiệt đới điển hình [5].
Yếu tố khí hậu nhiều khi ảnh hưởng rõ nét đến hiệu quả sử dụng đất
nông nghiệp với mức độ khác nhau. Ở đồng bằng sông Hồng và Bắc trung bộ,
nhiệt độ thấp vụ đông và thời kỳ đầu vu xuân kèm theo ẩm ướt, mưa phùn,
thiếu ánh sáng làm hạn chế sinh trưởng và phát triển của cây trồng ưa nắng,
ưa nhiệt nhưng lại phù hợp cho cây trồng ưa lạnh có nguồn gốc ôn đới. Trời
âm u thiếu ánh sáng cũng là điều kiện cho sâu bệnh phát triển phá hại mùa
màng.
* Yếu tố đất trồng
Cùng với khí hậu, đất tạo nên môi trường sống của cây trồng. Đất trồng
với các đặc tính như loại đất, thành phần cơ giới, chế độ nước, độ phì…có vai
trò quan trọng đối với sự sinh trưởng, phát triển và năng suất của cây trồng,
ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp.
Đất giữ cây đứng vững trong không gian, cung cấp cho cây các yếu tố
sinh trưởng như nước, dinh dưỡng và không khí [1]. Độ phì là một trong
những yếu tố quan trọng nhất của đất. Vị trí từng mảnh đất có ảnh hưởng đến
quá trình hình thành độ phì của đất. Độ phì nhiêu của đất liên quan trực tiếp
đến năng suất cây trồng. Do vậy, tùy theo vị trí địa hình, chất đất mà lựa
chọn, bố trí cây trồng thích hợp trên từng loại đất mới cho năng suất, hiệu quả
sử dụng đất cao.
* Yếu tố cây trồng
Trong sử dụng đất nông nghiệp, cây trồng là yếu tố trung tâm. Con
người hưởng lợi trực tiếp từ những sản phẩm của cây trồng. Những sản phẩm
này cung cấp lương thực, thực phẩm cho các nhu cầu thiết yếu cho con người
và cho xuất khẩu. [16]
Việc bố trí cây trồng và kiểu sử dụng đất hợp lý trên đất đem lại những
giá trị cao về mặt hiệu quả cho cả người sản xuất và môi trường đất. Ngược

11


lại, nếu cây trồng được bố trí bất hợp lý, sử dụng đất bừa bãi không những
gây thất thu cho người nông dân mà còn ảnh hưởng xấu đến đất.
Ngày nay, với sự phát triển nhanh chóng của những tiến bộ khoa học,
kỹ thuật, các giống cây trồng mới với chất lượng và năng suất cao, thời gian
sinh trưởng ngắn xuất hiện ngày càng nhiều. Sản xuất nông nghiệp hàng hóa
phát triển gắn với việc tăng hệ số sử dụng đất. Vì vậy, những tiến bộ trong
công tác giống cây trồng đã tạo cơ hội cho việc phát triển nông nghiệp hàng
hóa.[16]
* Nhóm yếu tố về điều kiện kinh tế, xã hội
- Yếu tố con người
Con người là nhân tố tác động trực tiếp tới đất và hưởng lợi từ đất. Khi
dân số còn thấp, trình độ và nhu cầu thấp, việc khai thác quỹ đất nông nghiệp
còn ở mức hạn chế, hiệu quả không cao nhưng sự bền vững trong sử dụng đất
nông nghiệp được đảm bảo. Ngược lại, ngày nay, khi dân số tăng nhanh kéo
theo sự gia tăng các nhu cầu thì tài nguyên đất nông nghiệp bị khai thác
nhiều, triệt để hơn nhằm đạt năng suất và hiệu quả cao hơn. Vì vậy, quy luật
sinh thái và tự nhiên bị xâm phạm, tính bền vững tài nguyên đất kém hơn [6].
Việc đảm bảo cân bằng giữa sử dụng và bảo vệ đất trở thành vấn đề cấp thiết.
Đối với các hoạt động kinh tế nói chung, sản xuất nông nghiệp nói
riêng, dân số vừa là thị trường cầu của sản phẩm hàng hóa và dịch vụ, vừa là
nguồn cung về lao động cho sản xuất. Các hoạt động kinh tế sẽ không thể
phát triển nếu không có thị trường tiêu thụ các sản phẩm do chúng tạo ra [6].
Đặc biệt, đối với một nền sản xuất nông nghiệp hàng hóa thì điều này lại càng
trở nên quan trọng.
Chất lượng nguồn lao động cũng đóng vai trò quan trọng trong các hoạt
động sản xuất nông nghiệp. Nếu người dân có kinh nghiệm, kỹ thuật, có ý
thức trong sản xuất thì việc sử dụng đất nông nghiệp sẽ đạt hiệu quả cao.
- Yếu tố kinh tế

12


Đối với mỗi quốc gia, mức độ phát triển của nền kinh tế quốc dân có
ảnh hưởng lớn đến các hoạt động sản xuất nói chung và sử dụng đất nông
nghiệp nói riêng và ngược lại. Nếu sử dụng đất có hiệu quả sẽ góp phần thúc
đẩy nền kinh tế phát triển. Khi kinh tế phát triển, nó sẽ làm tiền đề cho quá
trình sử dụng đất đạt được hiệu quả cao hơn, thông qua việc đầu tư, áp dụng
tiến bộ kỹ thuật, công nghệ cao làm nâng cao năng suất và chất lượng sản
phẩm cây trồng.[17]
- Cơ chế chính sách
Do có tầm quan trọng đặc biệt nên nông nghiệp, nông thôn luôn giành
được những ưu tiên trong chính sách phát triển kinh tế - xã hội. Trong mỗi
nền kinh tế, người nông dân tiến hành sản xuất, kinh doanh ở những điều kiện
khác nhau, đặc biệt là các điều kiện về tự nhiên và kinh tế, gây ra bất bình
đẳng về thu nhập. Mặt khác, thị trường luôn hàm chứa các hoạt động cạnh
tranh không lành mạnh dẫn đến một số người giàu lên do có những việc làm
bất chính. Vì vậy, nhà nước cần can thiệp vào thị trường thông qua những
chính sách có tính chất trợ giúp và phân phối lại thu nhập nhằm đảm bảo sự
công bằng xã hội [9]. Các chính sách đầu tư cho nông nghiệp và nông thôn,
chính sách tín dụng nông thôn, chính sách về giải quyết việc làm và xóa đói
giảm nghèo, khuyến nông…thực sự đã giúp ích rất nhiều trong quá trình sử
dụng đất nông nghiệp của những người nông dân.
Trong sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là sản xuất nông nghiệp hàng hóa,
người nông dân thường chịu thiệt thòi do hạn chế về kiến thức thị trường,
thông tin thị trường, sức mua… Hơn nữa, các hiệu ứng tràn ra ngoài trong sản
xuất nông nghiệp cũng làm cho sản xuất không hiệu quả : việc sử dụng bừa
bãi phân hóa học, thuốc trừ sâu, thuốc trừ cỏ… có tác động tiêu cực đến môi
trường, nguồn nước, không khí và đất. Do vậy, việc nhà nước can thiệp bằng
các chính sách và pháp luật thích hợp đã tạo điều kiện, khuyến khích, hướng
dẫn sản xuất nông nghiệp và đảm bảo tính bền vững của các yếu tố nguồn lực

13


trong sản xuất nông nghiệp, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông
nghiệp [9].
Cũng bằng các chính sách thích hợp, sử dụng đất nông nghiệp được
đảm bảo ổn định và lâu dài. Trong những năm qua, Chính phủ đã không
ngừng ban hành sửa đổi và bổ sung những chủ trương, chính sách về đất đai
nhằm mục đích thúc đẩy sự phát triển sản xuất nông nghiệp nông thôn. Luật
đất đai 2013 đã thể chế hóa và nới rộng quyền của người sử dụng đất. Đây là
một chính sách khuyến khích người nông dân đầu tư vào sản xuất dài hạn,
thay đổi cơ cấu cây trồng nhằm phát triển sản xuất hàng hóa một cách có hiệu
quả [5]. Mặc dù đất đai thuộc sở hữu toàn dân nhưng pháp luật công nhận
quyền sử dụng lâu dài đối với đất. Người sử dụng đất không chỉ được quyền
sử dụng đất lâu dài mà còn được quyền thừa kế những đầu tư trên đất. Điều
đó đã trở thành động lực quan trọng trong phát triển nông nghiệp. Nó làm cho
người nông dân yên tâm đầu tư trên đất, sử dụng đất nông nghiệp một cách
chủ động và hiệu quả, phát huy được lợi thế so sánh của từng vùng, từng
miền. Thưc tế cho thấy, chính sách về đất đai thông thoáng sẽ là cơ sở để hình
thành các phương thức sản xuất mới như thâm canh, tăng vụ, nâng cao hiệu
quả sử dụng đất canh tác, đặc biệt là sử dụng để sản xuất cây trồng có giá trị
hàng hóa cao. Các quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất nông nghiệp cũng là cơ
sở để phát triển hệ thống cây trồng, vật nuôi và khai thác đất một cách đầy đủ
và hợp lý, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi để đầu tư thâm canh và tiến hành
tập trung hóa, chuyên môn hóa, hiện đại hóa nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng
đất nông nghiệp.
- Nhóm yếu tố các biện pháp kỹ thuật canh tác
Biện pháp kỹ thuật canh tác là tác động của con người vào đất đai, cây
trồng, vật nuôi, nhằm tạo nên sự hài hòa giữa các yếu tố của quá trình sản
xuất để hình thành, phân bố và tích lũy năng suất kinh tế. Đây là những vấn
đề thể hiện sự hiểu biết về đối tượng sản xuất, về thời tiết, về điều kiện môi
trường và thể hiện những dự báo thông minh của người sản xuất. Lựa chọn
14


các động tác kỹ thuật, lựa chọn chủng loại và cách sử dụng các đầu vào phù
hợp với các quy luật tự nhiên của sinh vật nhằm đạt được các mục tiêu đề ra
là cơ sở để phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa. Theo Frank Elli và
Douglass C.North, ở các nước phát triển, khi có tác động tích cực của kỹ
thuật, giống mới, thủy lợi, phân bón tới hiệu quả thì cũng đặt ra yêu cầu mới
đối với tổ chức sử dụng đất. Có nghĩa là ứng dụng công nghệ sản xuất tiến bộ
là một đảm bảo vật chất cho kinh tế nông nghiệp tăng trưởng nhanh dựa trên
việc chuyển đổi sử dụng đất. Cho đến giữa thế kỷ 20, trong nông nghiệp nước
ta, quy trình kỹ thuật có thể góp phần đến 30% của năng suất kinh tế [3]. Như
vậy, nhóm các biện pháp kỹ thuật đặc biệt có ý nghĩa quan trọng trong quá
trình khai thác đất theo chiều sâu và nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông
nghiệp.
Khoa học kỹ thuật đóng vai trò quan trọng trong quá trình công nghiệp
hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn. Cải tiến kỹ thuật trước hết làm tăng
cung về hàng hóa nông sản, cũng tức là làm phát triển kinh tế. Áp dụng khoa
học (kiến thức), kỹ thuật (công cụ), công nghệ (kỹ năng) để tăng năng suất,
hiệu quả sản xuất, kinh doanh, phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn
một cách bền vững [9]. Thông qua việc áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ
thuật vào sản xuất nông nghiệp như giống cây trồng, vật nuôi mới, các quy
trình kỹ thuật trong canh tác, trong chế biến bảo quản…làm tăng năng suất,
chất lượng cây trồng, vật nuôi, tăng hiệu quả sử dụng nguồn lực như đất đai,
lao động, vốn.
Lựa chọn các tác động khoa học kỹ thuật, lựa chọn chủng loại và cách
sử dụng các đầu vào phù hợp với các quy luật tự nhiên của sinh vật sẽ đạt
được mục tiêu đề ra.
1.2.1.3. Tình hình sử dụng đất đai theo quan điểm phát triển bền vững
Đất đai là nguồn tài nguyên có hạn trong khi đó nhu cầu của con người
về các sản phẩm được lấy từ đất ngày càng tăng. Mặt khác đất nông nghiệp
ngày càng bị thu hẹp do bị trưng dụng sang các mục đích khác. Vì vậy, sử
15


dụng đất nông nghiệp ở nước ta cần hướng tới mục tiêu nâng cao hiệu quả
kinh tế xã hội trên cơ sở đảm bảo an ninh lương thực, thực phẩm, tăng cường
nguyên liệu cho công nghiệp và hướng tới xuất khẩu. Sử dụng đất nông
nghiệp trong sản xuất nông nghiệp dựa trên cơ sở cân nhắc những mục tiêu
phát triển kinh tế-xã hội, tận dụng được tối đa lợi thế so sánh về điều kiện
sinh thái và không làm ảnh hưởng xấu đến môi trường là những nguyên tắc cơ
bản và cần thiết để đảm bảo cho khai thác và sử dụng bền vững tài nguyên đất
đai. Do đó đất nông nghiệp cần được sử dụng theo nguyên tắc “đầy đủ và hợp
lý” [14]
Để duy trì sự sống còn của con người, nhân loại đang phải đương đầu
với nhiều vấn đề hết sức phức tạp và khó khăn, sự bùng nổ dân số, nạn ô
nhiễm và suy thoái môi trường, mất cân bằng sinh thái,... Nhiều nước trên thế
giới đã xây dựng và phát triển nông nghiệp theo quan điểm nông nghiệp hiệu
quả, bền vững.
Nông nghiệp bền vững là tiền đề và điều kiện cho định cư lâu dài. Một
trong những cơ sở quan trọng bậc nhất của nông nghiệp bền vững là thiết lập
được các hệ thống sử dụng đất hợp lý. Về vấn đề này Altieri và cộng sự là
Susanna B.H. 1990 cho rằng: nền tảng của nông nghiệp bền vững là chế độ đa
canh cây trồng với các lợi thế cơ bản là: tăng sản lượng, tăng hiệu quả sử dụng
tài nguyên, giảm tác hại của sâu bệnh và cỏ dại, giảm nguy cơ rủi ro,... Quan
điểm đa canh và đa dạng hoá nhằm nâng cao sản lượng và tính ổn định này
được ngân hàng thế giới đặc biệt khuyến khích ở các nước nghèo. [15]
Phát triển nông nghiệp bền vững sẽ vừa đáp ứng nhu cầu của hiện tại,
vừa đảm bảo nhu cầu của các thế hệ tương lai [10]. Một quan niệm khác cho
rằng: Phát triển nông nghiệp bền vững là sự quản lý và bảo tồn sự thay đổi về
tổ chức và kỹ thuật nhằm đảm bảo thoả mãn nhu cầu ngày càng tăng của con
người cả cho hiện tại và mai sau. Để phát triển nông nghiệp bền vững ở nước
ta cần nắm vững mục tiêu về tác dụng lâu bền của từng mô hình, để duy trì và
phát triển đa dạng sinh học.
16


1.2.2. Khái niệm và đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
1.2.2.1. Khái quát về hiệu quả và hiệu quả sử dụng đất
Có nhiều quan điểm khác nhau về hiệu quả. Khi nhận thức của con
người còn hạn chế, người ta thường quan niệm kết quả và hiệu quả là một.
Sau này khi nhận thức của con người phát triển cao hơn, người ta thấy rõ sự
khác nhau giữa kết quả và hiệu quả.
Theo từ điển ngôn ngữ hiệu quả chính là kết quả như yêu cầu của việc
làm mang lại [13].
Hiệu quả là kết quả mong muốn, cái sinh ra kết quả mà con người chờ
đợi hướng tới; nó có những nội dung khác nhau. Trong sản xuất, hiệu quả có
nghĩa là hiệu suất, là năng suất. Trong kinh doanh, hiệu quả là lãi suất, lợi
nhuận. Trong lao động nói chung, hiệu quả lao động là năng suất lao động
được đánh giá bằng số lượng thời gian hao phí để sản xuất ra một đơn vị sản
phẩm, hoặc bằng số lượng sản phẩm được sản xuất ra trong một đơn vị thời
gian.[ 8]
Kết quả, mà là kết quả hữu ích là một đại lượng vật chất tạo ra do mục
đích của con người, được biểu hiện bằng những chỉ tiêu cụ thể, xác định. Do
tính chất mâu thuẫn giữa nguồn tài nguyên hữu hạn với nhu cầu ngày càng
tăng của con người mà người ta phải xem xét kết quả được tạo ra như thế
nào? Chi phí bỏ ra để tạo ra kết quả đó là bao nhiêu? Có đưa lại kết quả hữu
ích hay không? Chính vì thế khi đánh giá hoạt động sản xuất không chỉ dừng
lại ở việc đánh giá kết quả mà còn phải đánh giá chất lượng các hoạt động sản
xuất kinh doanh tạo ra sản phẩm đó. Đánh giá chất lượng của hoạt động sản
xuất kinh doanh là nội dung đánh giá hiệu quả [12].
Trong lĩnh vực sử dụng đất thì hiệu quả là chỉ tiêu chất lượng đánh giá
kết quả sử dụng đất trong hoạt động kinh tế, thể hiện qua lượng sản phẩm,
lượng giá trị thu được bằng tiền. Đồng thời về mặt hiệu quả xã hội là thể hiện
mức thu hút lao động trong quá trình hoạt động kinh tế để khai thác sử dụng
đất. Riêng đối với ngành nông nghiệp, cùng với hiệu quả kinh tế về giá trị và
17


hiệu quả về mặt sử dụng lao động trong nhiều trường hợp phải coi trọng hiệu
quả về mặt hiện vật là sản lượng nông sản thu hoạch được, nhất là các loại
nông sản cơ bản có ý nghĩa chiến lược (lương thực, sản phẩm xuất khẩu…) để
đảm bảo sự ổn định về kinh tế - xã hội của đất nước.
Như vậy, hiệu quả sử dụng đất là kết quả của cả một hệ thống các biện
pháp tổ chức sản xuất, khoa học, kỹ thuật, quản lý kinh tế và phát huy các lợi
thế, khắc phục các khó khăn khách quan của điều kiện tự nhiên, trong những
hoàn cảnh cụ thể còn gắn sản xuất nông nghiệp với các ngành khác của nền
kinh tế quốc dân, gắn sản xuất trong nước với thị trường quốc tế.
Sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả cao thông qua việc bố trí cơ cấu
cây trồng, vật nuôi là một trong những vấn đề được quan tâm hiện nay của
hầu hết các nước trên thế giới. Nó không chỉ thu hút sự quan tâm của các nhà
khoa học, các nhà hoạch định chính sách, các nhà kinh doanh nông nghiệp mà
còn là mong muốn của cả nhà nông - những người trực tiếp tham gia vào quá
trình sản xuất nông nghiệp [18].
Ngày nay các nhà nghiên cứu cho rằng: việc xác định đúng khái niệm,
bản chất của hiệu quả sử dụng đất phải xuất phát từ luận điểm triết học của
Mác và những lý luận của lý thuyết hệ thống, nghĩa là hiệu quả phải được
xem xét trên 3 mặt: hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội, hiệu quả môi trường.
* Hiệu quả kinh tế
Theo Vũ Thị Phương Thụy (2000), hiệu quả kinh tế là một phạm trù
chung nhất, nó liên quan trực tiếp tới nền sản xuất hàng hoá và với tất cả các
phạm trù và các quy luật kinh tế khác. Vì thế hiệu quả kinh tế phải đáp ứng được
3 vấn đề:
- Một là, mọi hoạt động của con người đều tuân theo quy luật “tiết
kiệm thời gian”.
- Hai là, hiệu quả kinh tế phải được xem xét trên quan điểm của lý
luận hệ thống.
- Ba là, hiệu quả kinh tế là một phạm trù phản ánh mặt chất lượng của
18


hoạt động kinh tế bằng quá trình tăng cường các nguồn lực sẵn có phục vụ
cho lợi ích của con người.
Hiệu quả kinh tế phải được tính bằng tổng giá trị trong một giai đoạn,
phải trên mức bình quân của vùng, hiệu quả vốn đầu tư phải lớn hơn lãi xuất tiền
cho vay vốn ngân hàng. Chất lượng sản phẩm phải đạt tiêu chuẩn tiêu thụ trong,
ngoài nước, hệ thống phải giảm mức thấp nhất thiệt hại (rủi ro) do thiên tai,
sâu bệnh...
Hiệu quả kinh tế được hiểu là mối tương quan so sánh giữa lượng kết quả
đạt được và lượng chi phí bỏ ra trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Kết quả
đạt được là phần giá trị thu được của sản phẩm đầu ra, lượng chi phí bỏ ra là
phần giá trị của các nguồn lực đầu vào. Mối tương quan đó cần xét cả về phần so
sánh tuyệt đối và tương đối cũng như xem xét mối quan hệ chặt chẽ giữa 2 đại
lượng đó.[24]
Hiệu quả kinh tế là phạm trù kinh tế mà trong đó sản xuất đạt cả hiệu
quả kinh tế và hiệu quả phân bổ. Điều đó có nghĩa là cả hai yếu tố hiện vật và
giá trị đều tính đến khi xem xét việc sử dụng các nguồn lực trong nông
nghiệp. Nếu đạt được một trong hai yếu tố hiệu quả kỹ thuật hay hiệu qủa
nghiệp phân bổ mới có điều kiện cần chứ chưa phải là điều kiện đủ cho đạt
hiệu quả kinh tế. Chỉ khi nào việc sử dụng nguồn lực đạt cả chỉ tiêu hiệu quả
kỹ thuật và hiệu quả phân bổ thì khi đó mới đạt hiệu quả kinh tế.[24]
Từ những vấn đề trên có thể kết luận rằng: bản chất của phạm trù kinh
tế sử dụng đất là: với một diện tích đất đai nhất định sản xuất ra một khối
lượng của cải vật chất nhiều nhất với một lượng đầu tư chi phí về vật chất và
lao động tiết kiệm nhất nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về vật chất của
xã hội.
* Hiệu quả xã hội
Hiệu quả xã hội là mối tương quan so sánh giữa kết quả xét về mặt xã
hội và tổng chi phí bỏ ra [17]. Hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội có mối
quan hệ mật thiết với nhau, chúng là tiền đề của nhau và là một phạm trù
19


thống nhất.
Hiệu quả xã hội trong sử dụng đất hiện nay là phải thu hút được nhiều
lao động, đảm bảo đời sống nhân dân, góp phần thúc đẩy xã hội phát triển,
nội lực và nguồn lực của địa phương được phát huy; đáp ứng nhu cầu của hộ
nông dân về ăn, mặc, và nhu cầu sống khác. Sử dụng đất phù hợp với tập
quán, nền văn hoá của địa phương thì việc sử dụng đó bền vững hơn, ngược
lại sẽ không được người dân ủng hộ.
Theo Nguyễn Duy Tính (1995), hiệu quả về mặt xã hội sử dụng đất
nông nghiệp chủ yếu được xác định bằng khả năng tạo việc làm trên một diện
tích đất nông nghiệp.
* Hiệu quả về môi trường
Theo Bùi Huy Hiền và Nguyễn Văn Bộ (2001), hiệu quả môi trường
được thể hiện ở chỗ: loại hình sử dụng đất phải bảo vệ được độ mầu mỡ của
đất đai, ngăn chặn sự thoái hoá đất, bảo vệ môi trường sinh thái. Độ che phủ
tối thiểu phải đạt ngưỡng an toàn sinh thái (>35%). Đa dạng sinh học biểu
hiện qua thành phần loài.
Trong thực tế tác động của môi trường diễn ra rất phức tạp và theo
chiều hướng khác nhau. Cây trồng được phát triển tốt khi phát triển phù hợp
với đặc tính, tính chất của đất. Tuy nhiên, trong quá trình sản xuất dưới tác
động của các hoạt động sản xuất, quản lý của con người hệ thống cây trồng sẽ
tạo nên những ảnh hưởng rất khác nhau đến môi trường.
Hiệu quả môi trường được phân theo nguyên nhân gây nên gồm: hiệu quả
hoá học môi trường, hiệu quả vật lý môi trường và hiệu quả sinh học môi trường
[2].
Trong sản xuất nông nghiệp hiệu quả hoá học môi trường được đánh
giá thông qua mức độ hoá học hoá trong nông nghiệp. Đó là việc sử dụng
phân bón và thuốc bảo vệ thực vật trong quá trình sản xuất cho cây trồng sinh
trưởng tốt, cho năng suất cao mà không gây ô nhiễm môi trường đất.
Hiệu quả sinh học môi trường được thể hiện qua mối tác động qua lại
20


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×