Tải bản đầy đủ

CHƯƠNG 1:MÔI TRƯỜNG PHÁP LÝ CHO HOẠT ĐỘNG KINH DOANH

CHƯƠNG 1:
MÔI TRƯỜNG PHÁP LÝ CHO HOẠT ĐỘNG KINH DOANH
1.1. Khuôn khổ pháp lý cho hoạt động kinh doanh (1)
1.1.1. Hoạt động kinh doanh và hoạt động quản lý nhà nước về kinh tế
• Hoạt động kinh doanh:
Khái niệm kinh doanh: Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc
tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung
ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi. (Theo Khoản 2, Điều 3, Luật
Doanh nghiệp)
 Kinh doanh có phải là buôn bán, thương mại?
Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hoá,
cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác.
Mua bán hàng hoá là hoạt động thương mại, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển
quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận thanh toán; bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên
bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hoá theo thỏa thuận.
Cung ứng dịch vụ là hoạt động thương mại, theo đó một bên (sau đây gọi là bên cung ứng
dịch vụ) có nghĩa vụ thực hiện dịch vụ cho một bên khác và nhận thanh toán; bên sử dụng dịch vụ
(sau đây gọi là khách hàng) có nghĩa vụ thanh toán cho bên cung ứng dịch vụ và sử dụng dịch vụ
theo thỏa thuận. (Theo Điều 3, Luật Thương mại 2005).

Khái niệm Chủ thể kinh doanh: chưa có khái niệm thống nhất về chủ thể kinh

doanh, từ khái niệm kinh doanh có thể hiểu: chủ thể kinh doanh là bất kỳ cá nhân, tổ
chức, đơn vị nào theo quy định của pháp luật thực hiện một, một số hoặc tất cả các
công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc thực hiện dịch
vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi.
Chủ thể kinh doanh trong nền kinh tế thị trường rất đa dạng và phong phú. Nó
không những bao gồm tất cả các loại hình doanh nghiệp mà còn mở rộng đến tổ hợp
tác, hộ gia đình và cá nhân nữa.
Đặc điểm của chủ thể kinh doanh:
 Phải được thành lập, đăng ký hợp pháp: Các chủ thể kinh doanh nói
chung phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền ra quyết định thành lập, cho phép
thành lập hoặc công nhận. Hiện nay, khi Luật Doanh nghiệp có hiệu lực thì quy chế
pháp lý về việc thành lập các chủ thể kinh doanh và các doanh nghiệp nói riêng có
nhiều thay đổi theo hướng đơn giản hơn so với trước đây. Theo đó, các chủ thể kinh
doanh là các loại hình doanh nghiệp thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Doanh nghiệp
cùng với hộ kinh doanh cá thể, tổ hợp tác, và hợp tác xã trước đây chỉ cần đăng ký
kinh doanh tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Riêng với các chủ thể kinh doanh là
các doanh nghiệp có vốn đầu t nước ngoài, doanh nghiệp nhà nước, việc thành lập vẫn
phải tuân theo những trình tự thủ tục được quy định trong các văn bản quy phạm pháp
luật tương ứng đang có hiệu lực. Đây là đặc điểm xác lập tư cách chủ thể pháp lý độc
lập của các chủ thể kinh doanh, làm cơ sở để nhà nước thừa nhận và bảo vệ các chủ
thể kinh doanh trước pháp luật.


 Phải có tài sản riêng: Tài sản bao gồm vật có thực, tiền, giấy tờ trị giá
bằng tiền và các quyền tài sản. Để tham gia vào hoạt động kinh doanh, các chủ thể
kinh doanh phải có tài sản riêng của mình. Bởi tài sản riêng là cơ sở vật chất không
thể thiếu để các chủ thể này có thể tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh, thực
hiện các quyền, nghĩa vụ của mình. Dấu hiệu phải có tài sản riêng thể hiện tính độc
lập và khả năng tự quyết định, tự chịu trách nhiệm về toàn bộ các hoạt động của các
chủ thể kinh doanh. Nghĩa là các chủ thể này có quyền chiếm hữu (hoặc quản lý), sử
dụng, định đoạt tài sản đó cũng như có quyền điều phối khối tài sản này theo nhu cầu
sản xuất kinh doanh và phải chịu trách nhiệm bằng chính tài sản đó trước pháp luật.
 Phải có chức năng kinh doanh: Chức năng kinh doanh là phương diện
hoạt động thường xuyên, cơ bản và chủ yếu nhằm mục tiêu lợi nhuận của các chủ thể
kinh doanh. Chức năng kinh doanh thể hiện ở các mặt sau:
a. Phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh
doanh (gọi tắt là giấy phép kinh doanh). Đây là chứng thư pháp lý quan trọng thừa nhận một
chủ thể có quyền hoạt động kinh doanh. Riêng đối với các chủ thể kinh doanh là doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì giấy phép đầu tư có giá trị là giấy chứng nhận đăng ký
kinh doanh.

b. Các chủ thể kinh doanh chỉ được kinh doanh trong lĩnh vực ngành nghề và loại
hàng hoá ghi trong giấy phép kinh doanh. Mọi trường hợp kinh doanh không có giấy phép,
không đúng nội dung giấy phép hoặc hàng hoá kinh doanh là đối tợng mà pháp luật cấm
hoặc hạn chế lu thông sẽ không được Nhà nước thừa nhận và bảo vệ.
c. Phải thực hiện hoạt động kinh doanh một cách thường xuyên nhằm mục đích chủ
yếu là lợi nhuận. Với tư cách là một thực thể tham gia thị trường, nếu chủ thể kinh doanh
không lấy kinh doanh làm hoạt động cơ bản để tìm kiếm lợi nhuận thì tất yếu không có sự tồn
tại và không có khả năng tồn tại. Tất nhiên, chúng ta chỉ đứng ở giác độ lý luận khái quát
loại trừ những chủ thể kinh doanh là các doanh nghiệp nhà nước hoạt động công ích.

 Có tính liên quan đối kháng với nhau: Trong điều kiện kinh tế thị
trường, mỗi một chủ thể kinh doanh không tồn tại nh một tế bào kinh tế đơn lẻ mà
nằm trong một hệ thống lớn lực lợng sản xuất xã hội có tính liên quan một cách hữu
cơ với nhau. Các chủ thể kinh doanh phải hỗ trợ lẫn nhau trong quá trình tái sản xuất
xã hội. Sự hỗ trợ này thực chất là cung cấp sản phẩm cho xã hội thể hiện nhu cầu đối
với tiền vốn và sức lao động sản xuất. Có thể thấy mỗi hoạt động của chủ thể kinh
doanh này có thể ảnh hởng đến hoạt động của chủ thể kinh doanh khác. Mặt khác, với
t cách là một chủ thể tham gia thị trường, các chủ thể kinh doanh có tính đối kháng
với những nhân tố tác động từ bên ngoài nh: khủng hoảng tài chính tiền tệ, thiên tai
hoả hoạn, các thay đổi về chính sách quản lý kinh tế của nhà nước hoặc những lợi thế
từ các đối thủ cạnh tranh… để có thể tồn tại, phát triển. Biểu hiện của tính đối kháng
là chủ thể kinh doanh phải dựa vào chính bản thân mình để tiếp thu vật chất từ hoàn
cảnh thị trường, năng động và nhạy bén thông tin, chuyển hoá nguy cơ thành cơ hội…
từ đó không ngừng loại trừ, khắc phục những khó khăn; nếu không tất yếu sẽ bị quy
luật thị trường đào thải.


Các loại hình chủ thể kinh doanh trong nền kinh tế thị trường:
- DN nhà nước
- Hợp tác xã
- Tổ hợp tác
- DN tư nhân
- Công ty hợp danh
- Công ty cổ phần
- Công ty TNHH 1 thành viên
- Công ty TNHH 2 thành viên trở nên
- Công ty 100%vốn nước ngoài
- Công ty liên doanh
Môi trường pháp lý cho kinh doanh: là sự thể chế hóa thành quyền và nghĩa vụ
đối với cả hai phía chủ thể kinh doanh và cơ quan nhà nước. Đó là:
- Đối với chủ thể kinh doanh: Đó là những quyền và nghĩa vụ trong việc thực
hiện quyền tự do kinh doanh thể hiện qua các nội dung thành lập, quản lý điều hành,
giải thể các đơn vị kinh doanh; xác lập và giải quyết các quan hệ kinh tế và quan hệ
hợp đồng trong quá trình đầu tư, cạnh tranh; giải quyết các tranh chấp kinh doanh,
thương mại và thực hiện pháp luật về phá sản.
- Đối với cơ quan nhà nước: Đó là nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của từng
cơ quan nhà nước trong các công việc cụ thể của quá trình thực hiện chức năng quản
lý nhà nước về kinh tế và các quy định về tổ chức thực hiệ pháp luật về các nội dung
đó.
• Hoạt động quản lý nhà nước về kinh tế:
Khái niệm: Hoạt động quản lý nhà nước về kinh tế là sự tác động của Nhà
nước đối với các chủ thể kinh doanh bằng các phương pháp và nội dung do pháp luật
quy định nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh doanh đạt được lợi nhuận
tối đa, đồng thời trên cơ sở đó mà đạt được các mục tiêu kinh tế, xã hội được đặt ra
trong các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước.

Mục đích: Quản lý nhà nước về kinh tế tạo môi trường thuận lợi cho các chủ
thể kinh doanh thuộc mọi thành phần kinh tế thực hiện quyền tự do kinh doanh; đảm bảo sự
bình đẳng trong địa vị pháp lý giữa doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp thuộc mọi
thành phần kinh tế; hạn chế và tiến tới xóa bỏ những ưu đãi đặc biệt đang dành cho doanh
nghiệp nhà nước về quyền sử dụng đất, tài chính, tín dụng cũng như về điều kiện kinh doanh.

Chủ thể hoạt động quản lý nhà nước về kinh tế: Nhà nước, nhưng Chính phủ,
các Bộ và ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương cũng là chủ thể của
hoạt động kinh doanh với tư cách là chủ sở hữu phần vốn tại doanh nghiệp có vốn nhà
nước.
1.1.2. Pháp luật điều chỉnh hoạt động kinh doanh
• Khái niệm
Pháp luật điều chỉnh hoạt động kinh doanh gồm 2 nhóm:


- Nhóm 1: những quy định pháp luật điều chỉnh trực tiếp, dành riêng cho các chủ

thể kinh doanh, bao gồm các lĩnh vực chủ yếu:
 Pháp luật về thành lập doanh nghiệp, gồm thành lập, đăng ký kinh
doanh, đăng ký đầu tư và quản trị doanh nghiệp;
 Pháp luật về hợp đồng kinh doanh;
 Pháp luật về chế độ sử dụng lao động trong doanh nghiệp;
 Pháp luật về tổ chức, giải thể, phá sản doanh nghiệp;
 Pháp luật về giải quyết tranh chấp trong kinh doanh.
- Nhóm 2: Những quy định pháp luật áp dụng chung cho mọi cá nhân, tổ chức
kinh doanh cũng như không kinh doanh nhưng khi các chủ thể kinh doanh thực hiện
những quyền và nghĩa vụ có liên quan nên phải tuân theo. Ví dụ như: những quy định
có tính nguyên tắc, nền tảng về tài sản, quyền sở hữu tài sản, về hợp đồng của Bộ luật
dân sự; pháp luật về thuế, lệ phí, Pháp luật về đất đai, pháp luật về kế toán, thống kê,
giao thông, bảo vệ tài nguyên môi trường, di sản văn hóa,…
•Vai trò của pháp luật điều chỉnh hoạt động kinh doanh
Ngoài vai trò của pháp luật nói chung, pháp luật điều chỉnh hoạt động kinh
doanh nhằm đạt được 2 mục đích:
- Tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho doanh nghiệp trong hoạt động kinh doanh:
pháp luật điều chỉnh hoạt động kinh doanh phải tạo ra môi trường pháp lý bình đẳng
giữa các chủ thể kinh doanh; bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của nhà đầu tư, ngăn
ngừa sự can thiệp không hợp pháp của các cơ quan nhà nước vào hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp; tạo ra môi trường pháp lý an toàn khi doanh nghiệp ký kết
và thực hiện các hợp đồng, bảo vệ các doanh nghiệp làm ăn trung thực.
Điều 57 Hiến pháp 1992 quy định “Công dân có quyền tự do kinh doanh theo quy định
của pháp luật”. Sự tự do kinh doanh của các cá nhân, doanh nghiệp phải tuân theo các quy
định của pháp luật như Luật Doanh nghiệp, Luật Dân sự, Luật Lao động,…
- Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng, người tiêu dùng, người lao

động và cộng đồng xã hội nói chung. Ví dụ như: chống hàng giả hàng nhái, đảm bảo
chất lượng sản phẩm cho người tiêu dùng, không phân biệt nam nữ trong tuyển dụng
lao động, phải đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động, không được gây ô nhiễm
môi trường, sử dụng lãng phí tài nguyên.
Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, Luật số: 59/2010/QH12; Luật Lao động, Luật
số: 10/2012/QH13; Luật Bảo vệ môi trường, Số: 52/2005/QH11,..

1.1.3. Nguồn và các văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt động kinh doanh
•Các văn bản pháp luật
- Khái niệm: Nguồn luật điều chỉnh các hoạt động kinh doanh là các văn bản
quy phạm pháp luật và các hình thức khác chứa đựng các quy phạm điều chỉnh các
hoạt động kinh doanh.
 Nguồn luật điều chỉnh các hoạt động kinh doanh bao gồm một hệ thống nhiều văn
bản có tên gọi và giá trị pháp lý khác nhau.


- Hiến pháp năm 1992: có giá trị cao nhất, mang tính nguyên tắc chỉ đạo việc xác lập
các chế định, các quy phạm cụ thể.
Chương II, hiến pháp 1992 quy định: Về chế độ kinh tế là những quy định đặc biệt
quan trọng chỉ đạo trực tiếp việc xây dựng các chế định và các quy phạm pháp luật cụ thể
của Luật kinh tế.
- Các đạo luật có tên gọi là Luật hoặc Bộ Luật tùy theo quy mô điều chỉnh một hoặc
một số nhóm quan hệ xã hội nhất định: do Quốc hội thông qua, quy định những vấn đề quan
trọng trong quản lý kinh tế của Nhà nước đối với hoạt động kinh doanh. Bao gồm Luật
doanh nghiệp tư nhân, Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, Luật doanh nghiệp, Luật tổ
chức tòa án nhân dân, Luật phá sản doanh nghiệp.
- Các văn bản dưới luật: là các văn bản pháp luật do Ủy ban thường vụ quốc hội, các
cơ quan nhà nước khác ban hành để giải thích Hiến pháp, quy định chi tiết thi hành hoặc
hướng dẫn thực hiện các đạo luật của Quốc hội.
 Nghị quyết của Quốc hội: văn bản pháp luật có giá trị như luật. Ví dụ: Nghị
quyết thông qua phương hướng nhiệm vụ kế hoạch Nhà nước hàng năm hay dài hạn, Nghị
quyết thông qua kế toán ngân sách nhà nước.
 Pháp lệnh của Ủy ban thường vụ quốc hội: điều chỉnh các quan hệ kinh tế
quan trọng khi chưa có luật điều chỉnh. Ví dụ: Pháp lệnh về thủ tục giải quyết các vụ án
kinh tế,…Giá trị pháp lý của pháp lệnh vẫn là vấn đề tranh luận trong khoa học pháp lý.
Pháp lệnh có giá trị pháp lý như một đạo luật hay là một văn bản có giá trị pháp lý dưới
luật.
 Nghị quyết, Nghị định của Chính phủ; Quyết định, Chỉ thị của Thủ tướng
chính phủ; Quyết định, Chỉ thị của các Bộ, cơ quan ngang Bộ; Nghị quyết của Hội đồng
nhân dân và các quyết định của Ủy ban nhân dân các cấp tỉnh;…
- Hình thức và điều kiện có hiệu lực của các văn bản pháp luật:

Hình thức: Những quy định về điều kiện đối với ngành nghề kinh doanh phải
được quy định trong các văn bản Luật, Pháp lệnh, Nghị định mà không thể quy định
trong các văn bản khác.
Văn bản pháp luật của các cơ quan Nhà nước ở trung ương phải được đăng
Công báo nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, văn bản pháp luật của Hội đồng
nhân dân và Ủy ban nhân dân phải được yết thị tại trụ sở của cơ quan ban hành và
những địa điểm khác do Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân quyết định.
Điều kiện có hiệu lực: Những quy định pháp luật áp dụng cho hoạt động kinh
doanh phải là những quy định còn hiệu lực thi hành về mặt thời gian, không gian và
đối tượng.
Ví dụ: Luật Quảng cáo 2012 quy định:
CHƯƠNG V
ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH
Điều 42. Hiệu lực thi hành
Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2013.
Pháp lệnh quảng cáo số 39/2001/PL-UBTVQH10 ngày 16 tháng 11 năm 2001 hết hiệu lực
thi hành kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành.


• Công văn
Công văn không được Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật 1996, được
sửa đổi năm 2002 coi là văn bản quy phạm pháp luật. Trên thực tế, các Bộ, cơ quan
ngang Bộ (Thanh tra Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Uỷ ban Dân tộc, Văn
phòng Chính phủ), Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đã ban hành
nhiều Công văn để điều chỉnh các hoạt động kinh doanh, tức là coi Công văn như một
loại nguồn luật.
Việc sử dụng công văn làm cho môi trường pháp lý cho hoạt động kinh doanh không
ổn định, thiếu tính minh bạch và khó có thể dự đoán trước vì công văn thường dễ thay đổi,
khó tiếp cận do không được công khai. Đây chỉ có thể là những hướng dẫn không có tính bắt
buộc của Nhà nước đối với doanh nghiệp trong các hoạt động kinh doanh.

• Các điều ước quốc tế
Theo cam kết của Việt Nam khi gia nhập WTO, các cam kết quốc tế của Việt
Nam với tổ chức này sẽ có hiệu lực trực tiếp mà không phải chờ đến cơ quan có thẩm
quyền của Việt Nam ban hành văn bản quy phạm pháp luật để nội hóa.
Nghị quyết số 71/2006/QH11 ngày 29/11/2006 của Quốc hội phê chuẩn Nghị định
thư gia nhập Hiệp định thành lập Tổ chức thương mại thế giới WTO của Nước cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam quy định: “Áp dụng trực tiếp các cam kết của Việt Nam được ghi tại
Phụ lục đính kèm Nghị quyết này và các cam kết khác của Việt Nam với Tổ chức thương mại
thế giới được quy định đủ rõ, chi tiết trong Nghị định thư, các Phụ lục đính kèm và Báo cáo
của Ban công tác về việc Việt Nam gia nhập Hiệp định thành lập Tổ chức thương mại thế
giới”.(Điều 2).
Như vậy, các cơ quan nhà nước, cán bộ có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước,
doanh nghiệp và người dân phải năm bắt được nội dung các điều ước quốc tế mà Việt Nam
đã ký kết hoặc tham gia. Các cơ quan nhà nước có trách nhiệm công khai thông tin, các
doanh nghiệp có trách nhiệm nắm bắt và áp dụng các điều ước quốc tế.
Ví dụ: Hiệp định chung về thuế quan và thương mại GATT, Hiệp định về các khía
cạnh liên quan tới thương mại của quyền sở hữu trí tuệ TRIPs, Hiệp định về các biện pháp
đầu tư liên quan đến thương mại.

• Nguồn dự trữ, tìm kiếm các văn bản quy phạm pháp luật:
- Công báo do Văn phòng Chính phủ ban hành, đăng toàn văn các văn bản quy
phạm pháp luật do các cơ quan nhà nước ở trung ương ban hành. Công báo là nguồn
văn bản chính thức, có giá trị như văn bản gốc.
- Mạng cơ sở dữ liệu Luật Việt Nam do Văn phòng Quốc hội xây dựng, gồm tất
cả các văn bản do cơ quan nhà nước ở trung ương ban hành. Ví dụ:
www.vietlaw.gov.vn
- Các trang web của Quốc hội, Chính phủ, các Bộ, Ủy ban nhân dân các tỉnh,
thành phố trực thuộc trung ương, gồm các văn bản do các cơ quan này ban hành và có
liên quan.


Các tập hợp hóa các văn bản quy phạm pháp luật do các Bộ, các nhà xuất bản
ấn hành theo một chủ đề nhất định.
-

1.2. Đạo đức kinh doanh và trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp
1.2.1. Đạo đức kinh doanh
• Khái niệm
Đạo đức là các chuẩn mực của con người về các giá trị chân, thiện, mỹ.
Đạo đức kinh doanh là các chuẩn mực đạo đức của các chủ thể kinh doanh khi
tiến hành hoạt động kinh doanh.
Có nhiều quan điểm cho rằng việc tìm kiếm lợi nhuận cao nhất cho doanh nghiệp có
thể gây thiệt hại đến lợi ích chung của xã hội, có thể là người lao động, người tiêu dùng hay
cộng đồng nói chung. Trong lĩnh vực kinh doanh, việc tuân thủ các chuẩn mực đạo đức kinh
doanh khó khăn hơn các lĩnh vực khác, bởi vì:
- Việc đảm bảo tuân thủ các quy tắc đạo đức trong nhiều trường hợp có thể làm tăng
chi phí dẫn đến giảm lợi nhuận. ví dụ: việc đầu tư dây chuyền máy móc hiện đại tiết kiệm
nhiên liệu, đầu tư hệ thống xử lý nước thải ra môi trường.
- Thực hiện quy tắc đạo đức đòi hỏi sự đồng tâm, tự nguyện của cả tập thể những
người quản lý, một người quản lý điều hành cụ thể khó có thể toàn quyền ra quyết định. Hội
đồng quản trị trong công ty cổ phần làm việc theo chế độ tập thể và quyết định theo đa số.
Giám đốc công ty phải ra quyết định trên cơ sở Nghị quyết của Hội đồng quản trị.
- Việc ra quyết định trong kinh doanh phải đảm bảo cân bằng giữa các mục tiêu: lợi
nhuận cho các cổ đông hay thành viên công ty trong khi vẫn phải đảm bảo các chuẩn mực
đạo đức.

• Quy tắc đạo đức
Để khẳng định uy tín doanh nghiệp trên thương trường và bảo vệ người tiêu dùng,
nhiều doanh nghiệp, hiệp hội ngành nghề đã xây dựng quy tắc đạo đức áp dụng trong nội bộ
doanh nghiệp, hiệp hội ngành nghề hoặc khi cung cấp dịch vụ cho khách hàng (Ví dụ: doanh
nghiệp cung cấp dịch vụ tư vấn luật sư, kiểm toán viên,…). Các quy tắc đạo đức thường đề
ra chuẩn mực đạo đức cao hơn so với yêu cầu của pháp luật.

Những chuẩn mực đạo đức mà Quy tắc đạo đức thường đưa ra là:
Đảm bảo thông tin bí mật. Bí mật kinh doanh là một tài sản của doanh nghiệp. Khi

một doanh nghiệp cung cấp dịch vụ hay ký kết hợp đồng với một doanh nghiệp khác thường
được khách hàng cung cấp những thông tin nhất định mà khách hàng không muốn những
thông tin này lộ ra ngoài. Khi tiếp nhận những thông tin thuộc bí mật kinh doanh của khách
hàng thì doanh nghiệp, trước hết là nhân viên của họ phải tuyệt đối giữ bí mật thông tin của
khách hàng, không được để lộ thông tin đó ra ngoài dù cố ý hay vô tình.
- Tránh xung đột lợi ích. Một doanh nghiệp có thể tiếp nhận cùng lúc nhiều khách
hàng và quyền lợi của họ có thể xung đột với nhau. Ví dụ: một công ty luật sư có thể cung
cấp dịch vụ tư vấn luật cho cùng lúc nhiều khách hàng. Pháp luật không cấm hoạt động cung
cấp dịch vụ của doanh nghiệp này nhưng Quy tắc đạo đức có thể quy định để tránh xung đột
lợi ích giữa các khách hàng.
- Năng lực chuyên môn. Người kinh doanh phải từ chối giao kết hợp đồng nếu như
nhận thấy mình không đủ năng lực chuyên môn hay kinh nghiệm để thực hiện công việc được


giao. Thực tế, có rất nhiều doanh nghiệp vẫn ký hợp đồng, sau đó thuê doanh nghiệp khác
làm hoặc thực hiện chậm tiến độ, không đảm bảo chất lượng hàng hóa.

• Mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức kinh doanh
Pháp luật điều chỉnh hoạt động Đạo đức kinh doanh
kinh doanh
Mối quan hệ
Pháp luật thể chế hóa các chuẩn Không phải tất cả các chuẩn
mực đạo đức, phản ánh những giá mực đạo đức đều được pháp
trị đạo đức mà người kinh doanh luật thể chế hóa.
cần phải hành động khi quan hệ Ví dụ: nhiều đồ chơi Trung
Quốc bị cấm xuất khẩu sang các
với người khác.
nước châu Âu vì nguy hiểm với
trẻ em nhưng lại được bày bán
tràn lan tại Việt Nam.

Hậu quả

Việc vi phạm pháp luật sẽ phải
gánh chịu hậu quả pháp lý nhất
định như bị phạt tiền, tước quyền
kinh doanh, xử lý hình sự.

1.2.2. Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp
• Tháp nghĩa vụ của doanh nghiệp

Nghĩa vụ
nhân văn
(Đóng góp
nguồn lực cho
xã hội)
Nghĩa vụ đạo đức
(Tuân thủ những điều đúng,
công bằng)

Nghĩa vụ pháp lý khác
(Tuân thủ các quy định của pháp luật)

Nghĩa vụ kinh tế
(Tạo ra lợi nhuận)

Hình: tháp nghĩa vụ của doanh nghiệp

Vi phạm quy tắc đạo đức chỉ
bị dư luận xã hội lên án.
Tuy nhiên, dư luận xã hội có thể
tạo lên áp lực to lớn cho doanh
nghiệp, các hiệp hội và tổ chức
có thể kêu gọi người tiêu dùng
tẩy chay sản phẩm của doanh
nghiệp.


• Nội dung trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp: bao gồm:
- Trách nhiệm của các thành viên doanh nghiệp: Người quản lý, điều hành doanh
nghiệp có trách nhiệm sử dụng hợp lý nhất các nguồn lực kinh tế để tạo ra nhiều nhất
những giá trị kinh tế, đồng thời làm tốt những chức năng xã hội của doanh nghiệp.
Nội dung trách nhiệm của các thành viên doanh nghiệp được thể hiện thành nghĩa vụ
pháp lý của người quản lý doanh nghiệp. Cụ thể, trách nhiệm này được quy định trong
Luật Doanh nghiệp 2005.
- Trách nhiệm đối với người lao động: Theo quy định của pháp luật, người sử

dụng lao động có nghĩa vụ tạo môi trường lao động an toàn, trả lương không thấp hơn
mức lương tối thiểu và đóng góp bảo hiểm xã hội cho người lao động, thực hiện
những quy định của pháp luật lao động. Người sử dụng lao động không được phân
biệt đối xử giữa người lao động bởi các yếu tố giới tính, dân tộc, tôn giáo hay tuổi tác.
Doanh nghiệp có trách nhiệm góp phần cùng Nhà nước tạo ra việc làm để thực hiện
quyền làm việc cho mọi người lao động. Điều này được quy định cụ thể trong Luật Lao
động.
- Trách nhiệm đối với người tiêu dùng: Doanh nghiệp phải đảm bảo chất lượng,

độ an toàn của hàng hóa, dịch vụ. Doanh nghiệp có trách nhiệm hướng dẫn sử dụng
hàng hóa, dịch vụ, cảnh báo người tiêu dùng về nguy cơ người tiêu dùng có thể gặp
phải nếu sử dụng hàng hóa, dịch vụ của mình (đặc biệt là thuốc lá, dược phẩm, dịch
vụ thẩm mỹ thì điều này là bắt buộc). Doanh nghiệp phải bồi thường thiệt hại nếu có
lỗi đối với người tiêu dùng.
Ví dụ: chương 2, Luật Bảo vệ người tiêu dùng 2012, quy định về trách nhiệm của tổ chức,
cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ đối với người tiêu dùng.
Điều 12. Trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ trong việc cung
cấp thông tin về hàng hóa, dịch vụ cho người tiêu dùng
1. Ghi nhãn hàng hóa theo quy định của pháp luật.
2. Niêm yết công khai giá hàng hóa, dịch vụ tại địa điểm kinh doanh, văn phòng dịch vụ.
3. Cảnh báo khả năng hàng hóa, dịch vụ có ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, tính mạng, tài
sản của người tiêu dùng và các biện pháp phòng ngừa.
4. Cung cấp thông tin về khả năng cung ứng linh kiện, phụ kiện thay thế của hàng hóa.
5. Cung cấp hướng dẫn sử dụng; điều kiện, thời hạn, địa điểm, thủ tục bảo hành trong
trường hợp hàng hóa, dịch vụ có bảo hành.
6. Thông báo chính xác, đầy đủ cho người tiêu dùng về hợp đồng theo mẫu, điều kiện
giao dịch chung trước khi giao dịch
- Trách nhiệm đối với xã hội: doanh nghiệp phải đóng góp những nguồn lực cho

xã hội, như đóng góp vào các quỹ xã hội, quỹ từ thiện, tài trợ các chương trình nghiên
cứu, tạo việc làm cho các đối tượng có hoàn cảnh đặc biệt,…
1.3. Quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh
1.3.1. Nội dung quản lý nhà nước về kinh tế


Nội dung quản lý nhà nước về kinh tế được quy định thành văn bản về nhiệm
vụ, quyền hạn, và trách nhiệm của từng cơ quan quản lý nhà nước về kinh tế. Khái
quát lại, nội dung cơ bản của chức năng này là:
- Xây dựng chiến lược phát triển kinh tế và khoa học kỹ thuật; xây dựng quy
hoạch phát triển kinh tế theo ngành và các vùng lãnh thổ; xây dựng các kế hoạch phát
triển kinh tế - xã hội ngắn hạn, dài hạn và trung hạn.
- Xây dựng và ban hành thành pháp luật các chính sách, chế độ quản lý nhằm cụ
thể hóa và thực hiện Hiến pháp, Luật, Nghị quyết của Quốc hội, Pháp lệnh, Nghị
quyết của Ủy ban thường vụ quốc hội, Xây dựng và ban hành thành pháp luật các định
mức kinh tế kỹ thuật chủ yếu.
- Tổ chức thu thập, xử lý và tạo ra hệ thống chính thức của Nhà nước để cung
cấp thông tin cho hoạt động kinh doanh, bao gồm thông tin trong nước và quốc tế về
thị trường, giá cả; tiến hành dự báo, dự đoán về sự tiến triển của thị trường, giá cả làm
cơ sở để doanh nghiệp xây dựng và thực hiện các kế hoạch kinh doanh.
Bộ Công thương, Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và đầu tư, Bộ Công nghiệp,… đều có các
trung tâm thông tin để thu thập và cung cấp thông tin cho doanh nghiệp: www.mot.gov.vn
(Bộ Thương mại); www.mof.gov.vn (Bộ Tài chính); www.mpi.gov.vn (Bộ Kế hoạch và đầu
tư); www.moi.gov.vn (Bộ Công nghiệp).
- Tạo môi trường thuận lợi cho các hoạt động kinh doanh bao gồm: môi trường

kinh tế, môi trường pháp lý, chính trị trong và ngoài nước; cải thiện các quan hệ quốc
tế về kinh tế, chính trị, pháp lý để tạo cơ hội thuận lợi cho các doanh nghiệp phát
triển, mở rộng quan hệ về thương mại và đầu tư với các đối tác nước ngoài. Hướng
dẫn, điều tiết và phối hợp hoạt động kinh doanh trong nước; giải quyết, xử lý các vấn
đề ngoài khả năng tự giải quyết của doanh nghiệp. Tham gia giải quyết các tranh chấp
khi doanh nghiệp có yêu cầu.
- Xây dựng và thực hiện chiến lược, quy hoạch và kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng
cán bộ quản lý kinh tế, cán bộ quản trị doanh nghiệp cho toàn bộ nền kinh tế; xây
dựng và ban hành thành chế độ thống nhất các tiêu chuẩn, bằng cấp, chứng chỉ và
chức năng của các loại cán bộ quản lý làm cơ sở cho việc tuyền dụng và sử dụng trong
các đơn vị.
Ví dụ: chiến lược Tài chính đến năm 2020 Số: 450/QĐ-TTg ngày 18/4/2012, Chiến
lược phát triển dịch vụ vận tải đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030 số 318 QĐ-TTg,
ngày 4/3/2014.
- Cấp, gia hạn và thu hồi các loại giấy phép, chứng chỉ hành nghề, giấy chứng

nhận đủ điều kiện kinh doanh cho doanh nghiệp.
- Thực hiện việc kiểm tra, thanh tra hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Kiểm tra là chức năng thường xuyên, một nội dung vốn có của hoạt động quản lý. Thanh tra
là hoạt động đặc biệt của quản lý nhà nước do hệ thống cơ quan thanh tra thực hiện.
Hệ thống cơ quan thanh tra được tổ chức từ Trung ương đến địa phương bao gồm
Thanh tra Chính phủ, Thanh tra tỉnh thành phố trực thuộc trung ương, Thanh tra huyện,


quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh. Hệ thống thanh tra của các Ngành như Thanh tra Xây
dựng, Thanh tra tài chính,…

1.3.2. Các phương pháp quản lý nhà nước về kinh tế
- Phương pháp kế hoạch hóa: là phương pháp đề Nhà nước thực hiện vai trò
hướng dẫn, định hướng nền kinh tế quốc dân.
Đây là phương pháp mà Nhà nước xác định phương hướng, nhiệm vụ, mục tiêu phát
triển kinh tế trong từng giai đoạn nhất định, cũng như xác định các biện pháp, đường lối cơ
bản để đạt được các mục tiêu đó trên cơ sở phân tích một cách khoa học tình hình trong
nước và quốc tế. Trên cơ sở những chỉ tiêu tổng hợp, những định hướng của kế hoạch ở tầm
vĩ mô của Nhà nước, doanh nghiệp căn cứ vào điều kiện cụ thể để xây dựng kế hoạch kinh
doanh của mình.

- Phương pháp pháp chế: là phương pháp mà các biện pháp, chính sách, công cụ
quản lý nhà nước phải thể hiện dưới hình thức văn bản quy phạm pháp luật; đồng thời
phải có các biện pháp cụ thể để tổ chức thực hiện pháp luật, áp dụng các biện pháp xử
lý kịp thời và nghiêm minh đối với cá nhân, tổ chức vi phạm pháp luật.
Cơ quan nhà nước sử dụng quyền lực nhà nước khi thi hành chức năng quản lý nên chức
năng, nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của mỗi tổ chức, công chức trong quan hệ với doanh
nghiệp phải được quy định thành văn bản pháp luật. Công chức phải thực hiện đúng, đầy đủ
thẩm quyền trong phạm vi pháp luật quy định.

- Phương pháp kinh tế: là phương pháp đưa ra các biện pháp tác động đến lợi ích
kinh tế của các chủ thể kinh doanh để đạt được các mục đích của chủ thể quản lý.
Các biện pháp kinh tế thường được sử dụng như thực hiện điều tiết hoạt động kinh
doanh dựa trên lợi ích kinh tế với những quy định của pháp luật thuế, chính sách đầu tư,
thực hiện thưởng, phạt với nội dung là các lợi ích kinh tế.

- Phương pháp kiểm tra, kiểm soát hoạt động của các đơn vị kinh doanh: đây là
phương pháp thường xuyên kiểm tra, kiểm soát việc thực hiện trong thực tiễn những
quy định đã được đưa ra.
Thông qua việc kiểm tra, kiểm soát để tổng kết, phổ biến, và phát huy những kinh
nghiệm tốt của hoạt động kinh doanh cũng như quản lý nhà nước, kịp thời phát hiện, xử lý
những vấn đề trong các hoạt động.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×