Tải bản đầy đủ

XÂY DỰNG BẢN ĐỒ NGUY CƠ XÓI MÒN ĐẤT VÀ ĐỀ XUẤT MÔ HÌNH SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP HỢP LÝ CHO HUYỆN QUẢN BẠ - TỈNH HÀ GIANG

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
---------------------

Nguyễn Thị Mai Hƣơng

XÂY DỰNG BẢN ĐỒ NGUY CƠ XÓI MÒN ĐẤT VÀ
ĐỀ XUẤT MÔ HÌNH SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP HỢP LÝ
CHO HUYỆN QUẢN BẠ - TỈNH HÀ GIANG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

Hà Nội – 2015


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
---------------------

Nguyễn Thị Mai Hƣơng


XÂY DỰNG BẢN ĐỒ NGUY CƠ XÓI MÒN ĐẤT VÀ
ĐỀ XUẤT MÔ HÌNH SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP HỢP LÝ
CHO HUYỆN QUẢN BẠ - TỈNH HÀ GIANG

Chuyên ngành: Khoa học môi trƣờng
Mã số: 60440301

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. LÊ VĂN THIỆN

Hà Nội - 2015


LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc về sự giúp đỡ vô cùng quý báu của
PGS.TS. Lê Văn Thiện, ngƣời hƣớng dẫn khoa học đã hết lòng dạy dỗ, chỉ bảo tận
tình, tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn.
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các Thầy, Cô Khoa Môi trƣờng nói
chung và các Thầy, Cô giáo ở Bộ môn Thổ nhƣỡng - Môi trƣờng đất nói riêng đã
dìu dắt, dạy dỗ những kiến thức bổ ích trong suốt quá trình học tập, rèn luyện tại
trƣờng cũng nhƣ đã tạo mọi điều kiện để tôi có thể hoàn thành luận văn một cách tốt
nhất.
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các lãnh đạo và cán bộ tại Sở Tài nguyên và
Môi trƣờng tỉnh Hà Giang, Uỷ ban nhân dân huyện Quản Bạ, Phòng Tài nguyên và
Môi trƣờng huyện Quản Bạ đã tạo điều kiện, cung cấp tài liệu giúp tôi có điều kiện
tốt nhất để hoàn thành luận văn.
Luận văn có ý kiến góp ý của ThS. Phạm Anh Hùng, cán bộ Trung Tâm Tài
nguyên và Môi trƣờng - Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp - Bộ NN&PTNT,
tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến sự giúp đỡ quý báu đó.
Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè đã giúp đỡ và động
viên tôi trong suốt thời gian qua.

Hà Nội, 2015
Tác giả

Nguyễn Thị Mai Hƣơng


MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG BIỂU ......................................................................................... i

DANH MỤC HÌNH VẼ ..............................................................................................ii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT .......................................................................... iii
MỞ ĐẦU ..................................................................................................................... 1
CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU ............................................. 3
1.1. Tổng quan về xói mòn đất ....................................................................................3
1.1.1. Khái niệm xói mòn đất ......................................................................................3
1.1.2. Các nhân tố ảnh hƣởng tới xói mòn đất ............................................................4
1.1.3. Phân loại xói mòn đất ......................................................................................13
1.2. Lịch sử nghiên cứu xói mòn đất .........................................................................14
1.2.1. Lịch sử nghiên cứu xói mòn đất trên thế giới .................................................14
1.2.2. Lịch sử nghiên cứu xói mòn đất tại Việt Nam ................................................22
CHƢƠNG 2. ĐỐI TƢỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .. 27
2.1. Đối tƣợng nghiên cứu.........................................................................................27
2.2. Nội dung nghiên cứu ..........................................................................................27
2.3. Phƣơng pháp nghiên cứu....................................................................................27
2.3.1. Phƣơng pháp thu thập và tổng hợp tài liệu .....................................................28
2.3.2. Phƣơng pháp khảo sát thực địa .......................................................................28
2.3.3. Phƣơng pháp xây dựng bản đồ nguy cơ xói mòn đất......................................30
CHƢƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN .................................. 42
3.1. Đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội ảnh hƣởng đến xói mòn đất tại
vùng nghiên cứu ........................................................................................................42


3.1.1. Đặc điểm điều kiện tự nhiên ...........................................................................42
3.1.2. Đặc điểm kinh tế - xã hội huyện Quản Bạ ......................................................48
3.2. Kết quả đánh giá xói mòn đất và lập bản đồ xói mòn đất vùng nghiên cứu ......53
3.2.1. Xác định các hệ số xói mòn đất ......................................................................53
3.2.2. Phân vùng nguy cơ xói mòn đất huyện Quản Bạ ............................................64
3.3. Đề xuất mô hình sản xuất nông nghiệp hợp lý cho huyện Quản Bạ, tỉnh Hà
Giang .........................................................................................................................67
3.3.1. Đề xuất các giải pháp giảm thiểu xói mòn đất ................................................67
3.3.2. Đề xuất mô hình sản xuất nông nghiệp hợp lý cho huyện Quản Bạ ...............70
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ...................................................................................72
TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................................................... 73


DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1. 1. Ảnh hƣởng của độ dốc đến xói mòn đất ....................................................7
Bảng 1. 2. Phân mức xói mòn theo độ dốc .................................................................8
Bảng 1. 3. Phân loại thành phần cơ giới đất theo N.A. Katrinski .............................10
Bảng 2. 2. Chỉ số xói mòn K của một số đất ở Việt Nam .........................................34
Bảng 2. 3. Giá trị hệ số C, P của một số loại hình sử dụng đất và thảm thực vật .....38
Bảng 3. 1. Hiện trạng sử dụng đất năm 2014 tại huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang ....52
Bảng 3. 2. Các loại đất huyện Quản Bạ ....................................................................56
Bảng 3. 3. Hệ số K của các loại đất huyện Quản Bạ ................................................58
Bảng 3. 4. Thống kê giá trị hệ số C, P của huyện Quản Bạ ......................................63
Bảng 3. 5. Thống kê diện tích các cấp độ phân vùng xói mòn đất huyện Quản Bạ .65

i


DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 1.1. Các nhân tố chính ảnh hƣởng đến xói mòn đất ...........................................4
Hình 2. 1. Khu vực gò đất cao thuộc huyện Quản Bạ...............................................29
Hình 2. 2. Hoạt động sản xuất nông nghiệp tại huyện Quản Bạ ...............................30
Hình 2. 3. Quy trình tính toán hệ số R [8] ................................................................32
Hình 2.4. Quy trình tính toán hệ số LS [8] ...............................................................32
Hình 2. 5. Quy trình đánh giá xói mòn đất theo mô hình USLE [8].........................40
Hình 3. 1. Sơ đồ ranh giới hành chính huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang ................... 42
Hình 3. 2. Sơ đồ nội suy lƣợng mƣa trung bình hàng năm huyện Quản Bạ (thu nhỏ
từ bản đồ tỷ lệ 1:25.000) ...........................................................................................54
Hình 3. 3. Sơ đồ hệ số R tại huyện Quản Bạ (thu nhỏ từ bản đồ tỷ lệ 1:25.000) .....55
Hình 3.4. Sơ đồ phân bố thổ nhƣỡng huyện Quản Bạ (thu nhỏ từ bản đồ tỷ lệ
1:25.000)………………………………………………………………………….. 58
Hình 3.5. Sơ đồ hệ số K của huyện Quản Bạ (thu nhỏ từ bản đồ tỷ lệ 1:25.000).....59
Hình 3.6. Mô hình DEM huyện Quản Bạ .................................................................62
Hình 3.7. Sơ đồ độ dốc của huyện Quản Bạ (thu nhỏ từ bản đồ tỷ lệ 1:25.000) ......64
Hình 3.8. Sơ đồ phân bố hệ số xói mòn do độ dốc và chiều dài sƣờn dốc (LS) của
huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang (thu nhỏ từ bản đồ tỷ lệ 1:25.000)…………….62
Hình 3.9. Sơ đồ phân bố hệ số xói mòn do biện pháp canh tác và quản lý (C*P)
huyện Quản Bạ (thu nhỏ từ bản đồ tỷ lệ 1:25.000)……………………………….. 64
Hình 3.10. Sơ đồ nguy cơ xói mòn đất huyện Quản Bạ (thu nhỏ từ bản đồ tỷ lệ
1:25.000) ...................................................................................................................66

ii


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CGIAR: Consultative Group on International Agricultural Research
DEM: Digital Elevation Model
FAO: Food anh Agriculture Organization.
GIS: Geographic information system.
NN&PTNT: Nông nghiệp và phát triển nông thôn
SALT: Kỹ thuật canh tác trên đất dốc
SALT2: mô hình kỹ thuật nông lâm súc kết hợp
SLEMSA: Soil-Loss Estimation Model for Southern Africa
UNEP: United Nations Environment Programme
USLE: Universal Soil Loss Erosion.

iii


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Xói mòn đất từ lâu đƣợc coi là nguyên nhân gây thoái hóa tài nguyên đất
nghiêm trọng ở các vùng đồi núi [36]. Xói mòn đất là một hiện tƣợng tự nhiên
nhƣng do các hoạt động của con ngƣời đã làm cho hiện tƣợng này diễn ra ngày càng
nghiêm trọng. Mỗi năm ở vùng đồi núi nƣớc ta bị mất đi một khối lƣợng đất khổng
lồ do hiện tƣợng xói mòn. Xói mòn đất làm mất đất, phá huỷ lớp thổ nhƣỡng bề
mặt, làm giảm độ phì của đất, gây ra bạc màu, ảnh hƣởng trực tiếp tới sự sống và
phát triển của thảm thực vật... Vấn đề xói mòn đất đã đƣợc đề cập đến trong các
công trình nghiên cứu của nhiều tác giả trong và ngoài nƣớc từ nhiều thập niên nay
[26].
Để giảm thiểu xói mòn đất ở khu vực miền vúi, hai vấn đề cần đƣợc nghiên
cứu song song là thực trạng quá trình xói mòn đất, nguyên nhân, các yếu tố ảnh
hƣởng và những giải pháp ngăn chặn xói mòn đất [20]. Có nhiều phƣơng pháp khác
nhau để nghiên cứu vấn đề xói mòn đất, trong đó phƣơng pháp sử dụng công nghệ
viễn thám GIS để mô hình hóa, tính toán xói mòn đất theo phƣơng trình mất đất phổ
dụng của Wischmeier và Smith là phƣơng pháp hiện đại và đem lại hiệu quả cao
[26].
Quản Bạ là huyện vùng cao biên giới phía Bắc của tỉnh Hà Giang với địa
hình hết sức phức tạp gồm nhiều khu vực núi đá vôi với nhiều khu vực bị chia cắt
mạnh có có độ dốc trên 250 và các thung lũng phân bố dọc sông Miện. Bên cạnh đó,
trong điều kiện mƣa lớn và tập trung làm cho đất đai bị xói mòn và thoái hóa, ảnh
hƣởng rất lớn đến quỹ đất sản xuất nông nghiệp vốn rất ít của huyện. Hơn nữa, việc
quy hoạch, bố trí cơ cấu cây trồng chƣa hợp lý, độ che phủ rừng thấp cũng là những
nguyên nhân làm cho lũ ống, lũ quét thƣờng xuyên xảy ra gây thiệt hại về ngƣời và
của cho nhân dân nơi đây [2,26].
Vì vậy, việc lập bản đồ để đánh giá nguy cơ xói mòn đất và đề xuất mô hình
sản xuất đất nông nghiệp hợp lý cho huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang là quan trọng
và cần thiết. Đề tài có ý nghĩa khoa học và thực tiễn.
1


2. Mục tiêu của luận văn
- Xác định đƣợc các hệ số xói mòn đất tại vùng nghiên cứu.
- Xây dựng đƣợc bản đồ nguy cơ xói mòn đất nhằm tạo cơ sở cho việc đánh
giá mức độ xói mòn đất và đề xuất các biện pháp kiểm soát, hạn chế xói mòn đất
trên địa bàn nghiên cứu.
- Đề xuất đƣợc mô hình sản xuất nông nghiệp hợp lý cho huyện Quản Bạ,
tỉnh Hà Giang.
3. Nhiệm vụ chính của luận văn
- Thu thập và tổng hợp các tài liệu có liên quan đến xói mòn đất tại vùng
nghiên cứu;
- Khảo sát thực địa tại huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang;
- Xác định và tính các hệ số xói mòn đất;
- Lập các bản đồ thành phần và bản đồ nguy cơ xói mòn đất;
- Đề xuất mô hình sản xuất nông nghiệp hợp lý cho vùng nghiên cứu.

2


CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Tổng quan về xói mòn đất
1.1.1. Khái niệm xói mòn đất
Đến nay, có rất nhiều các định nghĩa, khái niệm khác nhau về xói mòn đất.
Theo từ điển bách khoa toàn thƣ về khoa học đất, xói mòn xuất phát từ tiếng Latin
là “erodere” chỉ sự ăn mòn dần, thuật ngữ xói mòn dùng để chỉ các quá trình liên
quan đến các lớp đất, đá tơi ra và bị mang đi bởi các tác nhân nhƣ gió, nƣớc, băng,
tuyết tan hoặc hoạt động của sinh vật.
Theo Ellison (1944), “Xói mòn là hiện tƣợng di chuyển đất bởi nƣớc mƣa,
bởi gió dƣới tác động của trọng lực lên bề mặt của đất. Xói mòn đất đƣợc xem nhƣ
là một hàm số với biến số là loại đất, độ dốc địa hình, mật độ che phủ của thảm thực
vật, lƣợng mƣa và cƣờng độ mƣa” [40].
Ngoài ra, theo Hudson (1968) xói mòn đất còn đƣợc xem là sự chuyển dời
vật lý của lớp đất do nhiều tác nhân khác, nhau nhƣ lực đập của giọt nƣớc, gió,
tuyết và bao gồm cả quá trình sạt lở do trọng lực [40].
Theo FAO (1994), “Xói mòn là hiện tƣợng các phần tử mảnh, cục và có khi
cả lớp bề mặt đất bị bào mòn, cuốn trôi do sức gió và sức nƣớc.” [43].
R.P.C Morgan, 2005 thì cho rằng, xói mòn đất là một quá trình gồm hai pha
bao gồm sự tách rời của các phần tử nhỏ từ mặt đất sau đó vận chuyển chúng dƣới
các tác nhân gây xói nhƣ nƣớc chảy và gió. Khi năng lƣợng không còn đủ để vận
chuyển các phần tử này, pha tứ ba – quá trình bồi lắng - sẽ xảy ra.
Cũng dựa trên yếu tố trọng lực, tác giả Cao Đăng Dƣ có quan niệm cho rằng
quá trình xói mòn, trƣợt lở, bồi lấp thực chất là quá trình phân bố lại vật chất dƣới
ảnh hƣởng của trọng lực, xảy ra khắp nơi và bị chi phối bởi yếu tố địa hình.
Theo một trong những cách tiếp cận khác khi nghiên cứu về lớp phủ thực vật
Nguyễn Quang Mỹ và Nguyễn Tứ Dần (1986) lại cho rằng xói mòn là một quá trình
động lực phá hủy độ màu mỡ của đất, làm mất trạng thái cân bằng của cả vùng bị
xói mòn lẫn vùng bị bồi tụ [43].
3


1.1.2. Các nhân tố ảnh hưởng tới xói mòn đất
Có 5 nhân tố chính ảnh hƣởng tới xói mòn đất là địa hình, đất đai, thảm thực
vật, khí hậu và con ngƣời (hình 1.1)
Khí hậu

Địa
hình
Xói
mòn
Đất đai

Con
ngƣời
Thảm
thực vật
Ảnh hƣởng hai chiều
Ảnh hƣởng tích cực
Ảnh hƣởng tiêu cực

Hình 1. 1. Các nhân tố chính ảnh hưởng đến xói mòn đất [8]
1.1.2.1. Ảnh hưởng của khí hậu lên xói mòn:
Yếu tố khí hậu có thể nói là yếu tố ảnh hƣởng lớn nhất đến xói mòn đất.
Trong các yếu tố gây xói mòn chính thì mƣa là quan trọng hơn cả. Đã có nhiều công
trình nghiên cứu cả trong phòng thí nghiệm và ngoài thực địa đều cho thấy rằng tác
động của hạt mƣa lớn hơn nhiều so với các yếu tố khác nhƣ hiệu ứng cắt xé và rửa
xói của dòng chảy do nƣớc mƣa và gây nên. Ngoài ra có những yếu tố ảnh hƣởng
trực tiếp hay gián tiếp đến xói mòn nhƣ nhiệt độ không khí, độ ẩm, tốc độ gió . . .
a. Lƣợng mƣa:
Lƣợng mƣa ảnh hƣởng rất lớn đến quá trình xói mòn. Ở những khu vực có
lƣợng mƣa thấp thì khả năng xói mòn là rất thấp vì lƣợng mƣa không đủ để tạo
thành dòng chảy (vì bị mất do ngấm vào đất, bay hơi, thực vật sử dụng ...) và do đó
không có khả năng vận chuyển vật chất đi xa. Lƣợng mƣa trung bình hàng năm

4


thƣờng phải lớn hơn 300 mm thì xói mòn do mƣa mới xuất hiện rõ. Nếu lƣợng mƣa
lớn hơn 1000 mm/ năm thì cũng tạo điều kiện tốt cho lớp phủ thực vật phát triển và
lƣợng xói mòn cũng không đáng kể. Nhƣng với lƣợng mƣa nhƣ vậy mà tại những
khu vực có rừng bị tàn phá thành đất trống, đồi núi trọc thì xói mòn thì sẽ là rất lớn.
b. Bốc hơi nƣớc:
Một phần bốc hơi trực tiếp vào khí quyển, phần khác bốc hơi qua hoạt động
của thực vật và động vật sau đó đƣợc ngấm xuống đất theo khe nứt, thẩm thấu.
Lƣợng nƣớc còn lại hình thành dòng chảy bề mặt.
Vì vậy tác động của mƣa sẽ phụ thuộc vào điều kiện khí hậu, địa chất, thổ
nhƣỡng của khu vực. Nhiệt độ càng cao, độ ẩm không khí thấp dẫn tới bốc hơi càng
mạnh, đất càng bị nén chặt, tốc độ và khả năng thấm ít thì lƣợng mƣa tạo dòng chảy
bề mặt càng nhiều, . . . Do đó ảnh hƣởng của trận mƣa đầu và thời gian đầu của một
trận mƣa ít hớn so với những trận mƣa sau và ở thời gian sau vì độ thấm của đất, và
hơi ẩm của không khí đã bị thay đổi.
c. Cƣờng độ mƣa:
Quá trình hình thành dòng chảy phụ thuộc nhiều vào cƣờng độ của trận mƣa.
Cƣờng độ mƣa là lƣợng mƣa trong một thời gian nhất định trong một đơn vị tính là
mm/h. Theo các kết quả nghiên cứu ở nhiều khu vực trên thế giới thì những trận
mƣa có cƣờng độ mƣa trên 25 mm/h thì mới có tác dụng tạo nên dòng chảy và từ đó
mới gây xói mòn. Tỷ lệ lƣợng mƣa tạo ra trong năm đƣợc tạo ra bởi các trận mƣa có
cƣờng độ lớn hơn 25 mm/h càng nhiều thì khả năng gây xói mòn càng lớn. Nếu thời
gian mƣa dồn dập trong thời gian ngắn thì đó chính là tiền đề cho sự hình thành lũ
quét, trƣợt lở ở vùng núi gập lụt ở hạ lƣu, cùng với việc gia tăng xói mòn đất.
d. Đặc tính của mƣa:
Đặc tính của mƣa cũng ảnh hƣởng lớn đến xói mòn của đất. Mƣa rào nhiệt
đới gây tác hại nhiều hơn nhiều so với mƣa nhỏ ở các vùng ôn đới. Ở các vùng có
khí hậu nửa khô, mƣa có cƣờng độ lớn mang tính chất mƣa rào nhƣng không kéo
dài vẫn gây ra xói mòn nghiêm trọng. Mặt khác xói mòn cũng mạnh nếu lƣợng mƣa
chỉ đạt trung bình nhƣng ở trên những sƣờn dốc thiếu lớp phủ thực vật. Khi hạt mƣa

5


lớn (mƣa rào thƣờng có đƣờng kính hạt mƣa lớn nhất là khoảng 5 mm, ít khi lớn
hơn vì nếu quá lớn sẽ không bền vững và dễ bị phá vỡ thành các hạt nhỏ hơn) thì
vận tốc khi chạm đất cũng tăng và do đó lực phá huỷ cấu trúc đất vẫn tăng. Vận tốc
cuối của hạt mƣa có đƣờng kính khoảng 5 mm sẽ đạt khoảng 9 m/giây.
e. Thời gian mƣa:
Hay là mức độ tập trung của những trận mƣa. Thƣờng thì mƣa chỉ dồn dập
vào mấy tháng mùa mƣa, ở Việt Nam mƣa tập trung trong 6 tháng, khoảng từ tháng
V đến tháng X nhanh hay chậm hơn tuỳ vùng. Lƣợng mƣa trong mùa mƣa thƣờng
chiếm 70 - 85% lƣợng mƣa cả năm. Do mƣa dồn dập nhƣ vậy mà khả năng thấm
xuống đất chỉ có tác dụng ở những trận mƣa đầu, còn phần lớn sẽ tạo thành dòng
chảy bề mặt khi nƣớc trong đất đã đạt bão hoà. Chính vì vậy mà lƣợng đất bị xói
mòn chủ yếu là vào mùa mƣa, nhất là những nơi đất đang thời kỳ bỏ hoá không có
sự điều tiết và cản nƣớc của lớp phủ thực vật.
f. Các yếu tố khác:
Tác động trực tiếp hoặc gián tiếp lên sự xói mòn đất nhƣ nhiệt độ không khí,
sự bay hơi nƣớc, tốc độ gió (khi mƣa xuống), ... Những tác động này nếu so sánh
với tác động do mƣa gây ra thì có thể xem là không đáng kể, trừ một số trƣờng hợp
đặc biệt nhƣ lƣợng mƣa quá nhỏ.
1.1.2.2. Ảnh hưởng của địa hình lên xói mòn:
Địa hình ảnh hƣởng rất lớn lên xói mòn và với mỗi kiểu địa hình sẽ có những
loại hình xói mòn khác nhau. Nếu địa hình núi, phân cắt có độ dốc lớn thì xói mòn
khe rãnh dạng tuyến diễn ra mạnh mẽ. Còn đối với những mặt sƣờn phơi và địa
hình thấp, thoải thì xói mòn theo diện (hay xói mòn bề mặt) sẽ chiếm ƣu thế. Với
địa hình núi đá vôi thì không có hai loại hình trên mà có xói mòn ngầm, tạo các
dạng hang động.
Trên lý thuyết thì những vùng núi cao, độ dốc lớn thì đƣợc coi là những nơi
có xói mòn, còn những vùng đồng bằng, nơi có độ dốc không đáng kể thì đƣợc coi
là vùng bồi tụ, tức là tích tụ vật chất bị xói mòn từ những vùng cao xuống. Thực tế
thì cả những vùng đồng bằng cũng có bị xói mòn nhƣng lƣợng đất mất rất ít, chủ

6


yếu là quá trình rửa trôi lớp đất màu bề mặt và hậu quả là làm giảm độ phì của đất
canh tác. Khi thực hiện lập bản đồ xói mòn tiềm năng đất bằng hệ thông tin địa lý
thì để đơn giản, chúng tôi chỉ xét tới những vùng có khả năng xói mòn tiềm năng
cao (những vùng độ dốc lớn) mà không xét tới nhũng vùng ít khả năng (nhƣ vùng
thung lũng giữa núi, ruộng bậc thang, đồng bằng) hoặc vùng cồn cát ven biển (chịu
tác động mạnh của gió, dòng chảy dọc bờ, thuỷ triều nhiều hơn).
Ảnh hƣởng của địa hình có thể trực tiếp hay gián tiếp đến sự xói mòn đất.
Trƣớc hết, địa hình làm thay đổi vi khí hậu trong vùng đến ảnh hƣởng gián tiếp đến
xói mòn đất thông qua tác động của khí hậu. Địa hình núi cao cùng với sƣờn chắn
gió ẩm là một trong những yếu tố tạo nên những tâm mƣa lớn. Ảnh hƣởng trực tiếp
của địa hình đến xói mòn đƣợc thông qua yếu tố chính là độ dốc và chiều dài sƣờn
dốc.
a. Ảnh hƣởng của độ dốc lên xói mòn:
Độ dốc là yếu đầu tiên trong yếu tố địa hình, có ảnh hƣởng lớn đến xói mòn
đất. Độ dốc càng lớn thì khả năng xói mòn càng lớn. Nó ảnh hƣởng tới sự phân chia
dòng nƣớc và cƣờng độ dòng nƣớc chảy. Xói mòn có thế xảy ra cƣờng độ dốc từ 30
và nếu độ dốc tăng lên hai lần thì cƣờng độ xói mòn tăng lên 4 lần hoặc hơn.
Bảng 1. 1. Ảnh hưởng của độ dốc đến xói mòn đất

Loại đất

Cây trồng

Đất đỏ
Chè 1 tuổi
Bazan

Đất phù sa
cổ

Chè lâu năm

Đất bị mất
(tấn/ha/năm)

Tác giả và năm nghiên
cứu

30

96

Nguyễn Quang Mỹ

80

211

150

305

(Tây Nguyên, 1976 1982)

30

4

50

12

Độ dốc

Nguyễn Quang Mỹ
(Phú Thọ, 1980 -1987)

0

22

167

7


Đất Feralit

Rừng thƣa

đỏ vàng

40

15

80

47

160

124

300

147

Nguyễn Danh Mô
(Nông trƣờng Sông
Cầu, 1966 - 1967)

Nguồn:Viện Quy hoạch thiết kế Nông nghiệp, 1984 [37]
Nhƣ vậy độ dốc ảnh hƣởng lớn đến xói mòn đất, nhất là khi điều kiện lớp đất
phủ thực vật mỏng. Do vậy việc quy hoạch sử dụng đất trong nông nghiệp là cần
thiết để giảm khả năng xói mòn đất khi sử dụng không đúng những vùng đất dốc.
Trong điều tra lập bảng đồ đất quy hoạch sử dụng đất tỷ lệ nhỏ có thế xác
định độ dốc theo 3 cấp sau:
Đất có độ dốc dƣới 150: đƣợc coi là vùng đất bằng, ít dốc. Trong số này chủ
yếu là các vùng đất ven biển, đồng bằng thung lũng, cao nguyên và đồng bằng thấp,
vùng bán sơn địa. Cây nông nghiệp trồng chủ yếu trên những loại đất này.
Đất có độ dốc từ 15o - 250: đây là những vùng có độ dốc trung bình nhƣng đã
phải hạn chế sản xuất nông nghiệp với các loại cây nông nghiệp ngắn ngày, có độ
che phủ thấp hoặc cây trồng cần chăm sóc đặc biệt không nên trồng trên đất dốc
trên 150. Các loại cây trồng lâu năm có tán lá rộng, che phủ cao có thể trồng đƣợc
nhƣng phải có biện pháp hạn chế xói mòn. Mô hỉnh sử dụng hợp lý nhất là sản xuất
nông lâm kết hợp.
Độ dốc trên 250: theo quy định thì không đƣợc bố trí cây nông nghiệp ở đây.
Vùng này chỉ đƣợc phép bảo vệ, phục hồi và trồng lại rừng.
Trong quy hoạch sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam, độ dốc đƣợc chia thành
5 cấp nhƣ sau:
Bảng 1. 2. Phân mức xói mòn theo độ dốc
Mức độ rửa trôi xói mòn

Độ dốc

Yếu

<30

8


Trung bình

3-80

Mạnh vừa

8 - 150

Mạnh

15 - 25 0

Rất mạnh

>250

Nguồn:Viện Quy hoạch thiết kế Nông nghiệp – Bộ NN &PTNT, 1984

1.1.2.3. Ảnh hưởng của yếu tố đất lên xói mòn:
Mỗi loại đất khác nhau thì có tính chống xói mòn khác nhau. Có thể định
nghĩa tính xói mòn của đất là đại lƣợng biểu hiện tính chất dễ bị xói mòn của đất.
Tính xói mòn mang tính chất ngƣợc lại với tính chống xói mòn của đất. Những yếu
tố tác dụng đến tính xói mòn của đất đƣợc chia làm 2 nhóm:
Nhóm 1: Các tính chất vật lý của đất nhƣ cấu trúc đất, thành phần cơ giới,
tốc độ thấm.
Nhóm 2: Các biện pháp làm đất trong quá trình sử dụng đất.
Những tính chất quan trọng của đất gồm: thành phần cơ giới, cấu trúc, tốc độ
thấm và giữ nƣớc, độ xốp hay độ nén của đất.
a. Thành phần cơ giới của đất:
Thành phần cơ giới của đất là yếu tố ảnh hƣởng theo cả hai cách, trực tiếp và
gián tiếp đến xói mòn. Ảnh hƣởng trƣợc tiếp của nó là làm cho đất có tính chống
xói mòn khác nhau tuỳ tỷ lệ % của các hạt sét, cát và limon. Còn ảnh hƣởng gián
tiếp đến xói mòn do nó ảnh hƣởng đến khả năng giữ nƣớc và thấm nƣớc dẫn đến từ
đó ảnh hƣởng đến tốc độ thấm của nƣớc và lƣợng nƣớc bị giữ lại trong đất càng lớn
thì khả năng hình thành dòng chảy bề mặt càng giảm dẫn đến khả năng xói mòn
giảm.

9


Mọi tính chất hoá, lý của đất đều liên quan đến thành phần cơ giới của đất
nhƣ độ chua mặn, độ xốp, cấu trúc, độ thấm, khả năng hấp phụ các chất dinh dƣỡng
cũng nhƣ các chất ô nhiễm,... ví dụ nhƣ đất Feralít nâu đỏ phát triển trên Bazan có
thành phần cơ giới nặng nên có khả năng giữ nƣớc tốt, hấp thụ nhiều các chất dinh
dƣỡng, khả năng chống xói mòn đất cao do có độ kết dính bền chặt. Xói mòn sẽ lớn
trên những loại đất có thành phần cơ giới nhẹ, độ ngậm nƣớc thấp nhƣ đất bồi tích,
đất giàu Silic hoà tan.
Thành phần cơ giới của đất (hay còn gọi là thành phần cấp hạt) là hàm lƣợng
phần trăm của những nguyên tố cơ học có kích thƣớc khác nhau khi đoàn lạp đất ở
trạng thái bị phá huỷ.
Các nguyên tố cơ học đƣợc phân loại theo độ lớn khác nhau. Hiện nay phổ
biến nhất là bảng phân loại của N.A. Katrinski (Liên Xô cũ).
Bảng 1. 3. Phân loại thành phần cơ giới đất theo N.A. Katrinski
Kích thƣớc cấp hạt (mm)

Tên gọi

>3

Đá

3 -1

Dăm cuội

1 - 0,5

Cát thô

0,5 - 0,25

Cát trung bình

0,25 - 0,05

Cát mịn

0,05 - 0,01

Limon thô

0,01 - 0,005

Limon trung bình

0,005 - 0,001

Limon mịn

<0,001

Sét

>0,001

Cát vật lý

<0,01

Sét vật lý

10


Các nguyên tố cơ học đƣợc chia làm 2 loại:
Kích thƣớc > 0,01 mm: thành phần Cát vật lý.
Kích thƣớc < 0,01 mm: thành phần Sét vật lý.
Theo quy định quốc tế năm 1930 thì phân loại khác một chút theo cách phân
loại của Mỹ. Thành phần cát đƣợc coi là những hạt có kích thƣớc > 0,02 mm, thành
phần sét có kích thƣớc < 0,02 mm.
b. Cấu trúc đất:
Đất đƣợc cấu tạo từ các nguyên tố cơ học nhƣ đã xét ở trên. Nhờ những năng
lƣợng bề mặt, những lực tác động nhƣ lực liên kết hoá trị, lực keo tụ của keo đất.
lực liên kết Hyđro, ... của những nguyên tố cơ học này mà có tác dụng gắn kết các
hạt đất lại với nhau tạo nên cấu trúc đoản lạp hay còn gọi là những cấu trúc riêng
biệt. Theo Geđrốit (1926), những đoàn lạp có kích thƣớc nhỏ hơn 0,25 mm gọi là vi
đoàn lạp, kích thƣớc lớn hơn 0,25 mm gọi là đại đoàn lạp.
Cấu trúc đất đƣợc chia thành 3 loại, gồm cấu trúc khối, cấu trúc hình lăng trụ
và cấu trúc dạng phiến, dẹt. Nhƣng để đánh giá xói mòn đất thì có thể chia thành 4
loại.
- Cấu trúc hạt rất mịn.
- Cấu trúc hạt mịn.
- Cấu trúc hạt trung bình, thô.
- Cấu trúc hạt lớn dạng khối tảng.
c. Tốc độ thấm và khả năng giữ nƣớc
Tốc độ thấm của đất cũng phụ thuộc nhiều vào thành phần cơ giới của đất.
Đất có thành phần cơ giới nhẹ nhƣ đất cát, sỏi,... là những loại đất có tính thấm cao
nhất và ngƣợc lại, những loại đất nhƣ đất sét, thịt nặng,... có tốc độ thấm chậm nên
có khả năng bị xói mòn lớn hơn.
Tính thẩm thấu của đất đƣợc đo bằng tốc độ thẩm thấu của nƣớc qua một
khối đất có chiều sâu nhất định. Tốc độ đƣợc đo với đơn vị là cm/h và gọi là hệ số
thấm nƣớc và dao động trong khoảng 0 đến 60 cm/h.
11


Tốc độ thấm sử dụng trong đánh giá xói mòn đất đƣợc chia thành 6 cấp độ:
Tốc độ thấm nhanh (rapid)
Tốc độ thấm nhanh vừa (mod, to rapid)
Tốc độ thấm trung bình (monderate)
Tốc độ thấm hơi chậm (slow to mod)
Tốc độ thấm chậm (slow)
Tốc độ thấm rất chậm (very slow).
1.1.2.4. Ảnh hưởng của lớp phủ thảm thực vật đến xói mòn đất:
Ngoài ra, một yếu tố quan trọng có ảnh hƣởng tới xói mòn là yếu tố thảm
thực vật. Thảm thực vật có tác dụng rất lớn trong việc ngăn chặn xói mòn nhờ làm
tắt năng lƣợng hạt mƣa, làm chậm tích tụ nƣớc, giảm năng lƣợng của gió, tăng khả
năng thấm nƣớc và tăng ma sát cơ học thông qua bộ rễ và thảm lá rụng. Thảm thực
vật rừng nhiệt đới tự nhiên có khả năng hạn chế xói mòn cao hơn nhiều so với rừng
trồng về công năng giữ đất và giữ nƣớc.
1.1.2.5. Ảnh hưởng của con người đến xói mòn đất:
Trong các hoạt động của mình con ngƣời tác động đến thế giới tự nhiên theo
hai hƣớng tích cực và tiêu cực, các hoạt động này có thể là nguyên nhân trực tiếp
hay gián tiếp tác động lên xói mòn. Yếu tố con ngƣời ở đây có thể là các hoạt động
cày bừa, làm đất hay chặt phá rừng, chăn nuôi gia súc trong thời gian dài…
Về mặt tích cực, con ngƣời có khả năng tác động vào thảm thực vật nhằm
hạn chế xói mòn theo hƣớng có lợi cho con ngƣời thông qua các biện pháp canh tác
hợp lý và duy trì sản xuất một cách bền vững. Ví dụ, các phƣơng pháp canh tác theo
đƣờng đồng mức, trồng cây theo băng, luân canh, đa canh, trồng xen, gối vụ, tạo
các đai rừng, bón phân hợp lý để cây phát triển và tạo tán che kịp thời. Ngoài ra,
trong quá trình canh tác, một số biện pháp công trình cũng có những ảnh hƣởng tới
mức độ xói mòn đất.
Về mặt tiêu cực, việc phá rừng của con ngƣời đã gián tiếp đẩy mạnh quá
trình xói mòn đất. Canh tác trên đất dốc không khoa học, du canh du cƣ cũng là
những tác nhân gây gia tăng xói mòn đất.

12


1.1.3. Phân loại xói mòn đất
1.1.3.1. Xói mòn do nước
Xói mòn do nƣớc gây ra do tác động của nƣớc chảy tràn trên bề mặt. Để xảy
ra xói mòn nƣớc cần có năng lƣợng của mƣa làm tách các hạt đất ra khỏi thể đất sau
đó nhờ dòng chảy vận chuyển chúng đi. Khoảng cách di chuyển hạt đất phụ thuộc
vào năng lƣợng của dòng chảy, địa hình của bề mặt đất,... Bao gồm có các dạng sau
[3]:
- Xói mòn theo lớp: Đất bị mất đi theo lớp không đồng đều nhau trên những
vị trí khác nhau của bề mặt địa hình. Đôi khi dạng xói mòn này cũng kèm theo
những rãnh xói nhỏ đặc biệt rõ ở những đồi trọc trồng cây hoặc bị bỏ hoang.
- Xói mòn theo các khe, rãnh: Bề mặt đất tạo thành những dòng xói theo các
khe, rãnh trên sƣờn dốc nơi mà dòng chảy đƣợc tập trung. Sự hình thành các khe
lớn hay nhỏ tùy thuộc vào mức xói mòn và đƣờng cắt của dòng chảy.
- Xói mòn mƣơng xói: Đất bị xói mòn cả ở dạng lớp và khe, rãnh ở mức độ
mạnh do khối lƣợng nƣớc lớn, tập trung theo các khe thoát xuống chân dốc với tốc
độ lớn, làm đất bị đào khoét sâu.
1.1.3.2. Xói mòn do gió
Là hiện tƣợng xói mòn gây ra bởi sức gió. Đây là hiện tƣợng xói mòn có thể
xảy ra tại bất kỳ nơi nào khi có nhƣng điều kiện thuận lợi sau [3]:
- Đất khô, tơi và bị tách nhỏ đến mức độ gió có thể cuốn đi.
- Mặt đất phẳng có ít thực vật che phủ thuận lợi cho việc di chuyển của gió.
- Diện tích đất đủ rộng và tốc độ gió đủ mạnh để mang các hạt đất đi.
Thông thƣờng đất cát là loại rất dễ bị xói mòn do gió vì sự liên kết giữa các
hạt cát là rất nhỏ, đất lại bị khô nhanh. Dƣới tác dụng của gió thì đất có thể di
chuyển thành nhiều dạng phức tạp nhƣ: nhảy cóc, trƣờn trên bề mặt, lơ lửng.

13


1.2. Lịch sử nghiên cứu xói mòn đất
1.2.1. Lịch sử nghiên cứu xói mòn đất trên thế giới
Có thể nói rằng, con ngƣời đã quan tâm đến hiện tƣợng xói mòn từ rất sớm,
từ thời Hy Lạp và La Mã cổ đại đã có những tác giả đề cập đến xói mòn cùng với
việc bảo vệ đất. Quá trình xói mòn hiện đại đƣợc gắn liền với các hoạt động nông
nghiệp. Nhiều ngƣời cho rằng đất đai bị khai thác cạn kiệt có thể là nguyên nhân
khiến các nền văn minh quá khứ mất đi. Vì vậy, cùng với thoái hóa đất, xói mòn tồn
tại nhƣ một vấn đề trong suốt quá trình phát triển của toàn nhân loại [8].
Về nguyên nhân xói mòn, hầu hết các nghiên cứu trên thế giới đều thống
nhất rằng có hai nguyên nhân cơ bản dẫn tới hiện tƣợng thoái hóa đất đang diễn ra
mạnh mẽ trên qui mô toàn cầu hiện nay là nguyên nhân tự nhiên và con ngƣời.
Nguyên nhân con ngƣời, theo nhiều nhà nghiên cứu đƣợc thể hiện ở sự quản lý đất
kém và dƣờng nhƣ đó là một cái giá phải trả cho sự phát triển kinh tế, xã hội. Các
giải pháp đƣa ra, đƣợc phân tích là khả thi nhất, là các biện pháp can thiệp vào lớp
phủ thực vật nhằm đạt đƣợc hiệu quả tốt hơn trong việc chống xói mòn. Xói mòn tự
nhiên là quá trình diễn ra liên tục trong tự nhiên và chỉ là thứ yếu nếu so với xói
mòn do nguyên nhân con ngƣời. Tuy vậy, việc phân định nguyên nhân xói mòn
không phải lúc nào cũng dễ dàng và cũng không cần thiết, nên trong việc lập bản đồ
xói mòn đất, nhiều khi ngƣời ta không phân biệt hai nguyên nhân này.
1.2.1.1. Các xu hướng nghiên cứu xói mòn đất
Quản lý và kiểm soát xói mòn đã trở thành một thách thức kể từ khi ngành
nông nghiệp định cƣ (settled agriculture) ra đời. Với cố gắng kiểm soát xói mòn
trên những vùng đất dốc đã dẫn đến sự ra đời của kiểu canh tác trên ruộng bậc
thang. Ruộng bậc thang đã trở thành nét truyền thống trong các cộng đồng cƣ dân
cổ trên toàn thế giới bao gồm Trung Đông (Phoenicians), Trung và Đông Nam Á,
Tây Á (Yêmen), và Trung – Nam Mỹ. Ngƣời dân Inca đã thiết kế hệ thống ruộng
bậc thang với tƣờng đá phức tạp ở Peru (Wiliam L.S, 1987) [37].

14


Theo Baver (1939) các nghiên cứu đầu tiên về xói mòn đất đƣợc các nhà
khoa học ngƣời Đức thực hiện vào những năm 1877 (Hudson, 1995). Năm 1907 tại
Mỹ các chƣơng trình nghiên cứu về xói mòn đất đƣợc bắt đầu khi Bộ Nông nghiệp
nƣớc này tuyên bố chính sách về bảo vệ nguồn tài nguyên đất. Các nghiên cứu chi
tiết đầu tiên về mƣa đƣợc tiến hành bởi Laws (1941). Ellison (1944) đã phân tích
các tác động cơ học của hạt mƣa lên đất và đƣa ra tiến trình xói mòn. Công thức
toán học đƣợc Zingg (1940) đƣa vào để đánh giá ảnh hƣởng của độ dốc và độ dài
của sƣờn dốc đến sự xói mòn [35].
Năm 1947 Musgrave và cộng sự đã phát triển một phƣơng trình thực nghiệm
đƣợc gọi là phƣơng trình Musgrave (Hudson, 1995). Phƣơng trình này đã đƣợc triển
khai áp dụng trong nhiều năm cho đến khi Wischmeier and Smith (1958) đƣa ra
công thức tính xói mòn đất, đƣợc gọi là phƣơng trình mất đất phổ dụng (USLE). Từ
giữa những năm 1980 đến đầu năm 1990 các mô hình xói mòn khác nhau đã đƣợc
phát triển dựa trên phƣơng trình USLE ở nhiều nơi trên thế giới nhƣ: mô hình dự
đoán mất đất cho miền nam châu Phi- SLEMSA (Elwell, 1981), mô hình
SOILLOSS (Rosewell, 1993) đƣợc phát triển tại Úc và mô hình ANSWERS đƣợc
phát triển vào cuối những năm 1970 để đánh giá mức độ bồi lắng lƣu vực sông
(Beasley và cộng sự, 1980) [40].
Những nghiên cứu hiện đại về xói mòn đất và các kỹ thuật kiểm soát xói
mòn đƣợc phát triển ở khắp nơi trên toàn thế giới (R. Lal, 2001) [40]. Một số tổ
chức nghiên cứu xói mòn và bảo tồn đất điển hình là:
Hệ thống nhóm tƣ vấn về nghiên cứu nông nghiệp quốc tế (Consultative
Group on International Agricultural Research (CGIAR)): một số các kết quả nghiên
cứu về xói mòn đất đã đƣợc tiến hành tại vài trung tâm nghiên cứu nông nghiệp
quốc tế đƣợc quản lý bởi hệ thống này. Liên quan đến hệ thống này có bốn trung
tâm quản lý tài nguyên thiên nhiên bao gồm: Viện nông nghiệp nhiệt đới quốc tế tại
Nigeria thành lập năm 1967; Trung tâm nông nghiệp nhiệt đới quốc tế tại Columbia
cũng thành lập năm 1967; Viện nghiên cứu cây trồng nhiệt đới bán khô hạn quốc tế
tại Ấn Độ và Ban nghiên cứu và quản lý đất quốc tế tại Thailand thành lập năm
1984 (R. Lal, 1976-1981). Các nghiên cứu quản lý lƣu vực tƣơng tự đã đƣợc tiến

15


hành bởi Viện nghiên cứu cây trồng nhiệt đới bán khô hạn quốc tế trong những
năm 1980 và 1990. Những thí nghiệm về tác động của xói mòn đến chất lƣợng đất
và năng suất đã đƣợc đã đƣợc tiến hành trong những năm 1980 và 1990 bởi Trung
tâm nông nghiệp nhiệt đới quốc tế và Ban nghiên cứu và quản lý đất quốc tế. Một
trong các khía cạnh quan trọng của công tác nghiên cứu xói mòn tại các trung tâm
nghiên cứu nông nghiệp quốc tế liên quan đến việc phát triển các mạng lƣới nhằm
đƣa ra các chƣơng trình hợp tác với các viện nghiên cứu nông nghiệp quốc gia trong
các vùng sinh thái do họ quản lý. Tại hội nghị quốc tế về quản lý và bảo tồn đất
trong các vùng nhiệt đới ẩm (1975), các nhà khoa học đã kết hợp với nhau và cuối
cùng thành lập một mạng lƣới nhằm tổ chức các cuộc hội thảo định kỳ luân phiên
dƣới sự bảo trợ của Tổ chức bảo tồn đất quốc tế. Liên quan chặt chẽ với tổ chức này
là Tổ chức bảo tồn đất và nƣớc thế giới.
Nghiên cứu đất Liên hiệp quốc và các tổ chức liên quan: các tổ chức khác
nghiên cứu về xói mòn đất trên phạm vi quốc tế bao gồm Tổ chức lƣơng thực và
Nông nghiệp Liên hiệp quốc (FAO) tại Italia, Chƣơng trình môi trƣờng Liên Hiệp
quốc (UNEP) tại Kenya. FAO đã cố gắng phát triển phƣơng pháp nhằm đánh giá sự
bạc màu của đất gây ra bới xói mòn và các tác nhân khác và tổ chức một mạng lƣới
để đánh giá tác động của xói mòn lên sản lƣợng cây trồng. Các nghiên cứu toàn cầu
về xa mạc hóa và phƣơng thức kiểm soát chúng cũng đƣợc tổ chức bởi UNEP.
Cùng với Tổ chức bảo tồn đất quốc tế và Tổ chức bảo tồn đất và nƣớc thế giới còn
có một số tổ chức chuyên môn quốc tế mà thành viên của họ có liên quan đến
nghiên cứu xói mòn đất. Hai tổ chức quan trọng nhƣ thế là Hội các khoa học thủy
văn quốc tế và Tổ chức nghiên cứu đất trồng trọt quốc tế. Hiệp hội các khoa học đất
quốc tế đƣợc lập ra để giải quyết các nhiệm vụ liên quan đến xói mòn và bảo tồn
đất.
Các tổ chức nghiên cứu quốc gia: xói mòn và kiểm soát xói mòn là các vấn
đề ƣu tiên hàng đầu với hầu hết các tổ chức nghiên cứu quốc gia trong các lĩnh vực
tài nguyên đất, nông học, thủy văn và kỹ thuật nông nghiệp. Mỗi quốc gia đều có
các tổ chức đƣợc lập ra hoặc có chức năng nghiên cứu xói mòn và các biện pháp
hạn chế xói mòn đất trong phạm vi lãnh thổ cũng nhƣ qui mô quốc tế.

16


Gần đây, xói mòn đất đƣợc nghiên cứu mở rộng hơn dƣới nhiều loại hình và
tính chất khác nhau. Xu hƣớng phổ biến hiện nay trong nghiên cứu xói mòn trên thế
giới, thể hiện qua hội thảo lần thứ 12 đƣợc tổ chức tại Bắc Kinh năm 2002 là nghiên
cứu xói mòn theo hƣớng mô hình hóa diễn tả động lực của quá trình xói mòn và
nghiên cứu xói mòn kết hợp với các khoa học khác, chủ yếu để tìm hiểu quá trình
cũng nhƣ tác động của xói mòn lên môi trƣờng nhằm có các biện pháp chống xói
mòn khả thi [8].
Nghiên cứu xói mòn đất đã đi đƣợc một chặng đƣờng dài và đạt đƣợc nhiều
kết quả. Trọng tâm của các nghiên cứu trong thế kỷ 20 là đo đạc và dự báo tốc độ
xói mòn và các tác động trực tiếp đến sản lƣợng nông nghiệp. Một số ảnh hƣởng
của xói mòn tới chất lƣợng nƣớc, ô nhiễm, tai biến thiên nhiên, v.v… cũng đã đƣợc
đề cập đến. Xói mòn đất sẽ tiếp tục là thách thức với việc quản lý bền vững tài
nguyên đất và nƣớc trong thế kỷ XXI. Vẫn cần phải nghiên cứu các mối quan hệ
giữa các tác nhân gây ra xói mòn cả về lý thuyết và thực tế. Sử dụng các công cụ
viễn thám và GIS cùng với các mô hình hóa trong nghiên cứu xói mòn đất nhằm
tăng độ chính xác trong đánh giá cũng là một trong các vấn đề đang đƣợc quan tâm
hàng đầu hiện nay.
1.2.1.2. Các phương pháp đánh giá xói mòn đất [8]
a. Phƣơng pháp phân loại, phân vùng lãnh thổ theo mức độ xói mòn
Phƣơng pháp này đã đƣợc áp dụng ở nhiều nƣớc để phân chia khái quát ra
các vùng lớn có mức độ nguy hiểm xói mòn tiềm năng khác nhau trên toàn lãnh thổ
một quốc gia. Tuy nhiên, hạn chế của phƣơng pháp này là thiên về định tính, mang
đặc trƣng của phƣơng pháp chuyên gia, có khó khăn trong việc giải quyết chính xác
ranh giới giữa các vùng và ở phạm vi hẹp. Phƣơng pháp này đã đƣợc các tác giả
Liên Xô (cũ) và Trung Quốc áp dụng. Các bản đồ phân vùng theo độ nguy hiểm
tiềm năng xuất hiện xói mòn đƣợc xây dựng trên cơ sở tổng hợp các bản đồ phân
cấp các điều kiện tự nhiên tham gia quá trình xói mòn: địa hình, khí hậu, lớp phủ
thực vật. Trong các yếu tố đó, các tác giả chú ý nhiều nhất đến các yếu tố địa hình
và khí hậu.
17


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×