Tải bản đầy đủ

Phân tích về các nghiệp vụ của Ngân hàng thương mại

I.

Ngân hàng thương mại
1.

Khái niệm ngân hàng thương mại

NHTM là một trong những định chế tài chính mà đặc trưng là cung cấp đa
dạng các dịch vụ tài chính với nghiệp vụ cơ bản là nhận tiền gửi, cho vay và cung ứng
các dịch vụ thanh toán. Ngoài ra, NHTM còn cung cấp nhiều dịch vụ khác nhằm thoả
mãn tối đa nhu cầu về sản phẩm dịch vụ của xã hội.

2.
a.

Các loại hình của NHTM
căn cứ theo hình thức sở hữu NHTM

Có 4 loại: Ngân hàng sở hữu tư nhân, ngân hàng cổ phần, ngân hàng sở hữu
nhà nước, ngân hàng liên doanh
b.


Căn cứ theo cơ cấu tổ chức NHTM

Có 4 loại: Ngân hàng sở hữu công ty, Công ty sở hữu ngân hàng, ngân hàng
đơn nhất, ngân hàng có chi nhánh

3.

Chức năng
a. Chức năng trung gian tín dụng

Chức năng trung gian tín dụng được xem là chức năng quan trọng nhất của ngân hàng
thương mại. Khi thực hiện chức năng trung gian tín dụng, NHTM đóng vai trò là cầu
nối giữa người thừa vốn và người có nhu cầu về vốn. Với chức năng này, ngân hàng
thương mại vừa đóng vai trò là người đi vay, vừa đóng vai trò là người cho vay và
hưởng lợi nhuận là khoản chênh lệch giữa lãi suất nhận gửi và lãi suất cho vay và góp
phần tạo lợi ích cho tất cả các bên tham gia: người gửi tiền và người đi vay... Cho vay
luôn là hoạt động quan trọng nhất của ngân hàng thương mại, nó mang đến lợi nhuận
lớn nhất cho ngân hàng thương mại.
b. Chức năng trung gian thanh toán

Ở đây NHTM đóng vai trò là thủ quỹ cho các doanh nghiệp và cá nhân, thực hiện các
thanh toán theo yêu cầu của khách hàng như trích tiền từ tài khoản tiền gửi của họ để
thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ hoặc nhập vào tài khoản tiền gửi của khách hàng
tiền thu bán hàng và các khoản thu khác theo lệnh của họ.
Các NHTM cung cấp cho khách hàng nhiều phương tiện thanh toán an toàn,tiện lợi
như séc, ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu, thẻ rút tiền, thẻ thanh toán, thẻ tín dụng…
Chức năng này vô hình trung đã thúc đẩy lưu thông hàng hóa, đẩy nhanh tốc độ thanh
toán, tốc độ lưu chuyển vốn, từ đó góp phần phát triển kinh tế.
c.

Chức năng tạo tiền


Tạo tiền là một chức năng quan trọng, phản ánh rõ bản chất của NHTM. Với mục tiêu
là tìm kiếm lợi nhuận như là một yêu cầu chính cho sự tồn tại và phát triển của mình,
các NHTM với nghiệp vụ kinh doanh mang tính đặc thù của mình đã vô hình chung
thực hiện chức năng tạo tiền cho nền kinh tế.
Với chức năng này, hệ thống NHTM đã làm tăng tổng phương tiện thanh toán trong
nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu thanh toán, chi trả của xã hội. Ngân hàng thương mại tạo

tiền phụ thuộc vào tỉ lệ dự trữ bắt buộc của ngân hàng trung ương đã áp dụng đối với
NHTM. do vậy ngân hàng trung ương có thể tăng tỉ lệ này khi lượng cung tiền vào
nền kinh tế lớn.
NHTW có thể điều tiết khối lượng tiền cung ứng bằng cách thay đổi tỷ lệ dự trữ bắt
buộc để tăng hoặc giảm khả năng tạo tiền của NHTM. Từ đó ảnh hưởng đến khả năng
cấp tín dụng cho nền kinh tế. Do đó, đạt được hiệu quả mà mục tiêu chính sách tiền tệ
đề ra.

II. Nghiệp vụ tài sản nợ
Khái niệm nghiệp vụ tài sản nợ
Nghiệp vụ tài sản nợ là nghiệp vụ dùng để hình thành nguồn vốn của ngân hàng
thương mại. Nguồn vốn của ngân hàng thương mại bao gồm: vốn chủ sở hữu( vốn tự
có), vốn huy động và vốn vay. Do đó nghiệp vụ tài sản nợ bao gồm
- nghiệp vụ tạo vốn tự có
- nghiệp vụ huy động vốn
- nghệp vụ vay vốn
a. Nghiệp vụ tạo vốn tự có( Vốn điều lệ )
Mỗi ngân hàng phải có số vốn tự có làm điều kiện hình thành và duy trì hoạt động
kinh doanh của mình. Số vốn tự có này thường chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn
vốn của NHTM nhưng đóng vai trò rất quan trọng, Vốn tự có được tạo ra thông qua:
- Vốn điều lệ (Charter capital) Là mức vốn được hình thành khi Ngân hàng được thành
lập. Vốn điều lệ luôn lớn hơn hoặc bằng vốn pháp định. Được ghi vào điều lệ thành
lập Ngân hàng. Tuỳ thuộc vào loại hình Ngân hàng mà vốn điều lệ được hình thành từ
những nguồn gốc khác nhau:Vốn điều lệ có thể được điều chỉnh tăng lên trong quá
trình hoạt động của ngân hàng.
Vốn điều lệ có thể do nhà nước cấp nếu đó là ngân hàng thương mại quốc doanh, có
thể là vốn đóng góp của cổ đông nếu là ngân hàng thương mại cổ phần.
 Ngân hàng liên doanh: Vốn điều lệ được hình thành từ vốn góp của các bên
liên doanh.
 Ngân hàng nước ngoài: Vốn diều lệ được hình thành từ 100% vốn nước ngoài
 Ngân hàng tư nhân: Vốn điều lệ được hình thành từ vốn của chủ Ngân hàng.
Trên thế giới, vốn của hầu hết các ngân hàng thương mại dưới dạng vốn cổ phần do
các cổ đông đóng góp. Đứng về mặt hạch toán, ngân hàng thương mại cổ phần coi số
vốn cổ phần là phần vay nợ từ các cổ đông. Do vậy, việc huy động vốn để thành lập
ngân hàng cổ phần cũng được coi là nghiệp vụ vay nợ.
Cho đến thời điểm này, Vietinbank vẫn là ngân hàng dẫn đầu hệ thống về vốn điều lệ
với 37.234 tỷ đồng. Tuy nhiên khác với trước, Vietinbank cao hơn trên dưới chục
1.


nghìn tỷ so với 3 ngân hàng ở vị trí tiếp theo là Agribank, BIDV và Vietcombank thì
đến nay, BIDV đã theo sau khá sát với 31.481 tỷ đồng, sau khi nhận sáp nhập với
MHB.

Dưới đây là tình hình vốn điều lệ của các ngân hàng được tổng hợp từ báo cáo tài
chính, các số liệu ngân hàng công bố tính đến cuối quý II/2015.


(http://cafef.vn/tai-chinh-ngan-hang/trat-tu-moi-trong-bang-xep-hang-von-cua-36ngan-hang-hien-nay-20150913104230311.chn)


b. Nghiệp vụ huy động vốn:

Đây là nguồn vốn chủ yếu của các ngân hàng thương mại, thực chất là tài sản bằng
tiền của các sở hữu chủ mà ngân hàng tạm thời quản lý và sử dụng nhưng phải có
nghĩa vụ hoản trả kịp thời và đầy đủ khi khách hàng yêu cầu.
Các hình thức huy động vốn bao gồm:
- Tiền gửi không kỳ hạn: là loại tiền gửi mà khách hành có thể rút ra bất cứ lúc
nào. Khách hàng có thể yêu cầu ngân hàng trích tiền trong tài khoản để chuyển
qua cho người khác, hoặc chuyển số tiền được hưởng vào tài khoản này. Tiền
gửi không kỳ hạn có chi phí thấp, tuy nhiên ngoài chi phí lãi, còn có chi phí
phát sinh trong hoạt động phục vụ thanh toán.
Ví dụ: công ty A muốn thanh toán tiển hàng hóa cho công ty B là 1tỷ đồng thì
công ty A sẽ yêu cầu ngân hàng mà công ty A đã có tài khoản không kỳ hạn
chuyển 1 tỷ đồng từ tài khoản của công ty A vào tài khoản của công ty B.
- Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn: đây là loại hình tiền gửi tích lũy không mang
tính giao dịch. Khi khách hàng có yêu cầu rút thì ngân hàng phải đáp ứng ngay.
Về mức độ ổn định, do mang tính chất phi giao dịch nên thời gian lượng tiền
này tồn tại tại ngân hàng tương đối dài so với tiền gửi không kỳ hạn. Về lãi
suất ngân hàng trả lãi suất theo mức lãi suất không kỳ hạn.
- Phát hành kỳ phiếu, trái phiếu: ngân hàng chủ động phát hành kỳ phiếu,trái
phiếu ngân hàng nhằm thực hiện những dự án đầu tư đã định. Việc huy động
vốn bằng việc phát hành ký phiếu, trái phiếu ngân hàng được thực hiện bằng
hai cách :
 Phát hành theo mệnh giá : trả lãi sau, người mua trả tiền theo mệnh giá
được ghi trên bề mặt ký phiếu.
 Phát hành bằng hình thức chiết khấu: trả lãi trước, người mua sẽ trả một
số tiền bằng mệnh giá trừ đi trừ đi khoản lãi mà họ được hưởng.
c. Nghiệp vụ vay vốn
Nguồn vốn đi vay nhằm tạo khả năng thanh toán cho NHTM. Khi một NHTM thiếu
vốn để đáp ứng nhu cầu vốn của khách hàng hay cho mục đích đầu tư phát triển mà
các nguồn khác chưa đủ đáp ứng thì NHTM có thể đi vay.
Nghiệp vụ vay vốn của NHTM có thể chia thành hai loại chính: Vay thông qua phát
hành giấy tờ có giá và vay trực tiếp như sau:
 Vay thông qua phát hành giấy tờ có giá:
Phát hành giấy tờ có giá là nghiệp vụ huy động vốn của NHTM dưới hình thức phát
hành các chứng từ như: Chứng chỉ tiền gửi ( kỳ phiếu), trái phiếu,...
 Vay vốn các tổ chức tín dụng
Một NHTM có thể vay ở một số nguồn chính như: Vay từ NHNN và Bộ Tài chính
(BTC), vay từ các NHTM khác và tổ chức tín dụng, từ nước ngoài.
Chi phí cho các khoản vay trực tiếp thường cao hơn chi phí phải trả cho các hình thức
huy động vốn khác


Vay từ NHNN và BTC:
- Vay từ NHNN: NHTW sẽ tiếp vốn cho các NHTM, thông thường các
NHTM chỉ được vay để bù đắp những thiếu hụt ngắn hạn, tạm thời dưới
hình thức chiết khấu, tái chiết khấu, tái cấp vốn.
Tuy nhiên, có những trường hợp đặc biệt, NHNN vẫn cho NHTM vay để cho vay lại
nền kinh tế theo kế hoạch của Nhà nước với một mức lãi suất ưu đãi, các khoản vay
này thường bị hạn chế số lượng, đặc biệt là khi chính sách tiền tệ quốc gia đang thắt
chặt.
- Vay từ Bộ Tài chính:
Mặc dù đã có Tổng cục đầu tư phát triển nhưng Bộ tài chính vẫn có sự hỗ trợ cho các
chương trình tín dụng Ngân hàng. Hàng năm, các địa phương được phân bổ một số
vốn trung và dài hạn cho các công trình phục vụ các mục tiêu quốc kế dân sinh.
Nguồn này sẽ được Bộ Tài chính chuyển sang Ngân hàng Đầu tư và Phát triển hoặc
của NHTM quốc doanh khác dưới hình thức quỹ đầu tư phát triển để cho các đối
tượng này vay với lãi suất ưu đãi.
Do đó NHTM có thể vay một phần từ Bộ Tài chính để tài trợ cho các dự án này, Bộ
Tài chính sẽ chuyển tiền để cấp bù phần chênh lệch giữa lãi suất cho vay trung và dài
hạn của NHTM là lãi suất ưu đãi để NHTM không bị lỗ trong kinh doanh.
- Vay từ các NHTM và Tổ chức tín dụng khác
Ngoài nghiệp vụ trên có thể vay các NHTM hoặc vay từ các Công ty Bảo biểm để
đảm bảo vốn cho hoạt động kinh doanh dựa trên nguyên tắc:
- Các NHTM phải hoạt động hợp pháp
- Thực hiện việc đi vay và cho vay theo hợp đồng tín dụng.
- Vốn vay phải được bảo đảm bằng thế chấp, cầm cố hay xin bảo lãnh của NHNN.
Nguồn vay mượn này thường có chi phí cao, kỳ hạn trung hạn là chủ yếu, phụ thuộc
nhiều vào quan hệ cũng như uy tín của NHTM đi vay.
VD : Các số liệu vay nợ của Ngân hàng ACB
Vay nợ NHNN
Vay các tổ chức
Chỉ tiêu
và chính phủ
tín dụng khác
(triệu VND)
(triệu VND)
Báo cáo tài chính của ngân hàng ACB
5.178.981
335.541
(tính đến 31/12/2015)
Bảng cân đối kế toán hợp nhất giữa
515.504
1.649.984
niên độ tại ngày 31/3/2016
-

Vay từ nước ngoài:
Các NHTM Việt Nam hiện có quan hệ đại lý và thanh toán rộng rãi với các Ngân
hàng trong khu vực và trên thế giới nên nghiệp vụ này tiến hành cũng khá thuận lợi.
Lãi suất vay được áp dụng theo lãi suất trên thị trường tiền tệ thế giới. Tuy nhiên, khi
vay thì các NHTM Việt Nam phải chấp hành một hạn mức tín dụng do nước ngoài
quy định. Hạn mức này phải được Chính phủ hoặc NHNN Việt Nam bảo lãnh. Theo
Nghị định 90/CP, thì mức bảo lãnh vay vốn nước ngoài cho một tổ chức tín dụng
-


không quá 6 lần vốn tự có của tổ chức đó. Nhưng hạn mức trên phải trừ đi số nợ trước
chưa trả đến thời điểm đến thời điểm vay mới.

II.
1.

Nghiệp vụ tài sản có
Nghiệp vụ ngân quỹ
Đây là một hoạt động cơ bản của ngân hàng thương mại. Ngân hàng nhận được các
khoản tiền gửi của khách hàng dưới các hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có
kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm và các hình thức khác. Ngân hàng nhận tiền gửi của cá nhân,
của tổ chức và các doanh nghiệp. Ngân hàng phải hoàn trả gốc và lãi cho khách hàng
khi đến hạn hoặc khi khách hàng có nhu cầu sử dụng đến rút tiền ở ngân hàng.
Là những loại tài sản không sinh lợi được nắm giữ chủ yếu nhằm mục đích đảm bảo
dự trữ bắt buộc của NHNN, đảm bảo khả năng thanh toán, chi trả cho người gửi tiền,
thanh toán bù trừ và đáp ứng được nhu cầu vốn khả dụng của NH -> tài sản có tính
thanh khoản cao - Chiếm khoảng 15% trong tổng tài sản Có của các ngân hàng, Trong tương lai, khoản mục này có xu hướng ngày càng giảm do sự phát triển của
thanh toán không dùng tiền mặt, trình độ quản lý của ngân hàng
Thành phần TS Có của ngân hàng bao gồm:
Tiền mặt tại quỹ
Tiền gửi tại NHNN
Tiền gửi tại các TCTD khác
Dự trữ các giấy tờ ngắn hạn
a. Tiền mặt tại quỹ
Nội tệ, ngoại tệ, đá quý…
- Tính thanh khoản – tính lỏng cao nhất, đáp ứng nhu cầu chi trả thường xuyên
Gắn với chi phí phát sinh như: bảo quản, đếm, vận chuyển
- Tâm lý, thói quen giữ tiền mặt trong thanh toán của VN ->giữ tỷ lệ tiền mặt cao
- TS không sinh lời-> giữ ngân quỹ ở mức thấp nhất có thể
- Lượng dự trữ phụ thuộc vào nhu cầu chi tiêu và khả năng thu hút tiền mặt mỗi
thời kỳ, khoảng cách giữa trung tâm tiền tệ & NH
b. Tiền gửi tại các Ngân hàng khác: để đáp ứng nhu cầu thanh toán, chuyển

tiền…
Bao gồm:
Tiền gửi đáp ứng nhu cầu giao dịch & thanh toán bù trừ
Tiền gửi để duy trì dự trữ bắt buộc theo tỷ lệ qui định: (duy trì theo ngày)
Số tiền DTBB cho ngày hôm sau = Tổng NV huy động cuối ngày hôm nay
DTBB
Tiền gửi khác

x

Tỷ lệ

c. Dự trữ các giấy tờ ngắn hạn: tín phiếu kho bạc, tín phiếu ngân hàng nhà nước

Tín phiếu kho bạc Tín phiếu kho bạc thường được coi là không có rủi ro tín dụng
(rủi ro phá sản).


Thanh khoản & đa dạng hóa TS
Bù trừ rủi ro tín dụng trong danh mục cho vay.
Cung cấp nguồn thanh khoản dự phòng cho ngân hàng.
Giúp cho ngân hàng giảm số thuế phải nộp nhưng vẫn tăng thu nhập ).
d. Tiền gửi tại ngân hàng trung ương: bao gồm tiền gửi dự trữ bắt buộc theo qui

2.

định của ngân hàng trung ương và tiền gửi thanh toán để phục vụ các hoạt động
thanh toán giữa các ngân hàng thông qua vai trò trung gian thanh toán của ngân
hàng trung ương.
Nghiệp vụ cho vay
-NHTM sử dụng phần lớn nguồn vốn của mình vào việc cho vay đối với các doanh
nghiệp và cá nhân nên gọi là tài sản có tín dụng.
-Nghiệp vụ cho vay chiếm tỉ trọng cao nhất trong tất cả các nghiệp vụ tài sản có
Lợi nhuận từ NHTM chủ yếu từ nghiệp vụ này.

Vietcombank: Kết thúc năm 2015, tổng tài sản của ngân hàng đạt 674 nghìn tỷ đồng,
tăng 17%, đứng thứ 3 trong số các ngân hàng niêm yết. Vốn chủ sở hữu đạt 45 nghìn
tỷ đồng, tăng 6%, trong đó, vốn điều lệ của ngân hàng là 27 nghìn tỷ đồng.
Cho vay khách hàng đạt 387 nghìn tỷ đồng, tăng 19%, tổng quy mô tín dụng đạt
khoảng 578 nghìn tỷ đồng


http://taichinhplus.vn/TIEN-TE/Ngan-hang/VCB-dang-dung-o-vi-tri-nao-trong-hethong-ngan-hang-Viet-post157734.html
VietinBank
tổng tài sản đạt 779.000 tỷ đồng, tập trung vào các lĩnh vực ưu tiên. Năm qua, ngân
hàng cho vay nền kinh tế 537.000 tỷ đồng
http://news.zing.vn/tong-tai-san-cua-vietinbank-dat-gan-780000-ty-dongpost617613.html
- Cho vay gồm
:+ Tín dụng ngắn hạn cho doanh nghiệp
+ Tín dụng ngắn hạn cho cá nhân: tiêu dùng
+ Tín dụng dài hạn :mua bất động sản
• Cho vay trực tiếp
Căn cứ vào thời hạn:
Cho vay ngắn hạn: 1 ngày – 1 năm
Cho vay trung hạn: 1 năm – 5 năm
Cho vay dài hạn: > 5 năm
• Cho vay gián tiếp
Là các khoản cho vay được thực hiện bằng:
Chiết khấu thương phiếu và giấy tờ có giá
Nghiệp vụ bao thanh toán
Chiết khấu thương phiếu và giấy tờ có giá:
♣ Chiết khấu là 1 hình thức cấp tín dụng mà theo đó NHTM nhận các thương phiếu, chứng
từ có giá chưa đến hạn thanh toánvà ứng trước cho khách hàng một số tiền bằng mệnh giá
của chứng từ nhận chiết khấu trừ đi phần lợi nhuận và chi phí mà ngân hàng được hưởng
♣ Phương thức chiết khấu:
chiết khấu có thời hạn
chiết khấu toàn bộ thời hạn còn lại của GTCG
Trong đó Tín dụng ngắn hạn chiếm ưu thế vì ngân hàng có thể giữ được khă
năng thanh toán.
Tóm lại làm tốt nghiệp vụ cho vay Ngân hàng Thương mại - Tổ chức tín dụng thực
hiện chức năng tín dụng ngân hàng tạo cho tổ chức tín dụng có vai trò nổi bật trên các
mặt sau đây:
Một là, thông qua chức năng phân phối lại vốn, tín dụng góp phần thúc đẩy sản xuất
phát triển, tăng trưởng kinh tế.


Hai là; tín dụng được coi như một công cụ trong chính sách tiền tệ quốc gia để thực
hiện điều hoà lưu thông tiền làm cho tiền tệ ổn định. Thông qua tín dụng, Ngân hàng
Trung ương tiến hành việc phát hành thêm tiền vào lưu thông hoặc bớt tiền ra khỏi lưu
thông tuỳ theo yêu cầu phát triển kinh tế. Như vậy, yêu cầu quy luật lưu thông tiền tệ
được tôn trọng.
Ba là, tín dụng là công cụ tài trợ cho các ngành kinh tế kém phát triển. Nhờ có tín
dụng cấp vốn mà nhiều lĩnh vực kinh tế, nhiều ngành kinh tế đã phục hồi và phát huy
được thế mạnh. Mặt khác, tín dụng góp phần tác động để tăng cường chế độ hạch toán
kinh tế của các doanh nghiệp.
Bốn là, tín dụng tạo điều kiện phát triển các quan hệ kinh tế với nước ngoài. Tín dụng
là phương tiện nối liền kinh tế trong nước với kinh tế nước ngoài.
 Nghiệp vụ cho thuê được sử dụng rất đa dạng và phong phú



Nghiệp vụ đầu tư.
3.
Đầu tư ( Investment)
Khoản mục đầu tư có vị trí quan trọng thứ hai sau khoản mục cho vay, nó
mang lại khoản thu nhập lớn và đáng kể của ngân hàng thương mại. Trong nghiệp vụ
này, ngân hàng sẽ dùng nguồn vốn của mình và nguồn vốn ổn định khác để đầu tư
dưới các hình thức như:
– Hùn vốn mua cổ phần, cổ phiếu của các Công ty; hùn vốn mua cổ phần chỉ được
phép thực hiện bằng vốn của ngân hàng. Hoạt động góp vốn, liên doanh với các doanh
nghiệp, các tổ chức tài chính tín dụng.
- Mua trái phiếu chính phủ, chính quyền địa phương, trái phiếu công ty.
Tất cả hoạt động đầu tư chứng khoán đều nhằm mục đích mang lại thu nhập, mặt khác
nhờ hoạt động đầu tư mà các rủi ro trong hoạt động ngân hàng sẽ được phân tán, mặt
khác đầu tư vào trái phiếu chính phủ thì mức độ rủi ro sẽ rất thấp.

-

Nghiệp vụ tài sản có khác
Đảm bảo điều kiện cần thiết cho việc duy trì hoạt động của bộ máy NH.
Loại TS có tính thanh khoản thấp và không có khả năng sinh lời, thường chiếm tỷ
trọng nhỏ (2-7%) trên tổng tài sản Có của NH,
Bao gồm:
+ Nhà xưởng và thiết bị
+ Các TS khác mà NH có được từ việc siết nợ của các khách hàng vỡ nợ.
Xây dựng hoặc mua thêm nhà cửa để làm trụ sở văn phòng, trang thiết bị, máy móc,
phương tiện vận chuyển, xây dựng hệ thống kho quỹ…ngoài ra còn các khoản thu, các
khoản khác…
Góp vốn liên doanh liên kêt, đầu tư tài sản cố định…
4.
Nghiệp vụ trung gian hoa hồng
NHTM làm trung gian, cung ứng cá dịch vụ nhằm thực hiện những ủy thác, yêu cầu
của khách hàng và qua đó được hưởng hoa hồng phí. Đây là nghiệp vụ quan trọng
nhằm tăng thu nhập cho ngân hàng, đồng thời tạo tiền đề thuận lợi để thực hiện các
nghiệp vụ tài sản có và nghiệp vụ tài nợ.
Nghiệp vụ trung gian hoa hồng rất đa dạng như:
Nghiệp vụ chuyển tiền : NH đóng vai trò là trung gian thanh toán, nhận phí hoa hồng
và không có trách nhiệm ràng buộc với hai bên.(Chuyển tiền bằng điện, thư )
Nhận ủy thác từ khách hàng : thu hộ, đầu tư tài sản cho khách hàng, quản lý, bảo đảm
tài sản, chuyển giao tài sản , chuyển giao thừa kế…
Tư vấn tài chính, tư vấn quản trị doanh nghiệp.
Tư vấn đầu tư
Nhận chi trả kiều hối
Thu đổi ngoại tệ


-

Cho thuê két sắt là dịch vụ ngân hàng cho khách hàng thuê két sắt tại trụ sở ngân hang
để bảo quản, cất giữ giấy tờ, tài sản.
………..
Những dịch vụ ngân hàng ngày càng phát triển vừa cho phép hỗ trợ đáng kể cho
nghiệp vụ khai thác nguồn vốn, mở rộng các nghiệp vụ đầu tư, vừa tạo ra thu nhập
cho ngân hàng bằng các khoản tiền hoa hồng, lệ phí… có vị trí xứng đáng trong giai
đoạn phát triển hiện nay của ngân hàng thương mại. Các hoạt động này gồm:
– Các dịch vụ thanh toán thu chi hộ cho khách hàng (chuyển tiền, thu hộ séc, dịch vụ
cung cấp thẻ tín dụng, thẻ thanh toán..)
– Nhận bảo quản các tài sản quí giá, các giấy tờ chứng thư quan trọng của công chúng
– Bảo quản, mua bán hộ chứng khoán theo uỷ nhiệm của khách hàng
– Kinh doanh mua bán ngoại tệ, vàng bạc đá quí
– Tư vấn tài chính, giúp đỡ các công ty, xí nghiệp phát hành cổ phiếu, trái phiếu…



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×