Tải bản đầy đủ

Nghiên cứu tình hình ung thư thân tử cung và các yếu tố liên quan tại một số tỉnh việt nam

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
________________

 ________________

Trịnh Thị Hào

NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH UNG THƯ
THÂN TỬ CUNG VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN
TẠI MỘT SỐ TỈNH VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC

Hà Nội – 2011


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
________________


 ________________

Trịnh Thị Hào

NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH UNG THƯ
THÂN TỬ CUNG VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN
TẠI MỘT SỐ TỈNH VIỆT NAM

Chuyên ngành: Sinh học thực nghiệm
Mã số

: 604230

LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS. TS. Trịnh Hữu Vách

Hà Nội – 2011


Lời cảm ơn
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy PGS.TS. Trịnh Hữu
Vách, ngời thầy đã tận tình chỉ bảo, hớng dẫn tôi trong suốt quá trình
nghiên cứu khoa học và thực hiện luận văn thạc sỹ này.
Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn thầy PGS.TS. Trịnh Hồng Thái
cùng các thầy giáo, cô giáo trong Khoa Sinh học-, Trờng Đại học
Khoa học Tự nhiên đã tận tình giảng dạy, giúp đỡ tôi trong thời gian
học tập tại Trờng.
Trong quá trình thực hiện luận văn, tôi đã nhận đợc rất nhiều sự
quan tâm giúp đỡ của các cán bộ, nhân viên thuộc Trung tâm nghiên
cứu dân số và sức khỏe nông thôn, Khoa Giải phẫu bệnh bệnh viện K
Hà Nội và các bệnh viện đa khoa thuộc địa bàn nghiên cứu. Tôi xin
chân thành cảm ơn.
Tôi xin trân trọng cảm ơn Giám đốc GS.TS. Trơng Việt Bình,
cùng ban Giám đốc Học viện và cán bộ, giảng viên thuộc bộ môn Sinh
học - Di truyền - Học viện Y Dợc học cổ truyền Việt Nam đã tạo điều
kiện, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, hoàn thành luận văn.
Tôi xin đợc gửi lời cảm ơn chân thành tới các bạn học viên, sinh
viên làm việc tại Phòng Proteomic thuộc phòng thí nghiệm Trọng điểm

Công nghệ Enzym và Protein, Khoa Sinh học - Trờng Đại học Khoa
học Tự nhiên, đã giúp đỡ và cộng tác với tôi trong quá trình học tập và
nghiên cứu.
Cuối cùng, tôi vô cùng biết ơn gia đình và bạn bè đã khích lệ,
động viên, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian qua.
Hà Nội, tháng 11 năm 2011
Học viên
Trịnh Thị Hào


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BV
BVĐK
BMI

CI
CTC
ĐH
FHI
FIGO

Bệnh viện
Bệnh viện đa khoa
Body mass index - chỉ số khối cơ thể
Cao đẳng
Khoảng tin cậy
Cổ tử cung
Đại học
Tổ chức sức khỏe Gia đình Thế giới (Family Health International)
Liên đoàn sản phụ khoa Quốc tế (Federation International de

HĐTĐ
IARC

Genecologie et Obstetrique)
Hội đồng thẩm định
Tổ chức quốc tế nghiên cứu về ung thư

KHHGĐ

NMTC
THCS
THPT
TP
TTC
OR
VPTW
WHO

(International Agency for Research on Cancer)
Kế hoạch hóa gia đình
Lao động
Nội mạc tử cung
Trung học cơ sở
Trung học phổ thông
Thành phố
Thân tử cung
Tỷ suất chênh (Odds Ratio)
Văn phòng trung ương
Tổ chức Y tế Thế giới (World Health Organization)


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU...........................................................................................................1
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU.................................................................4
1.1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ UNG THƯ THÂN TỬ CUNG.............................4
1.1.1. Khái niệm về thân tử cung (TTC)................................................................4
1.1.2. Ung thư thân tử cung...................................................................................5
1.1.3. Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của ung thư TTC................................7
1.2. TÌNH HÌNH MẮC UNG THƯ THÂN TỬ CUNG........................................12
1.2.1. Ung thư thân tử cung trên thế giới.............................................................12
1.2.2. Ung thư thân tử cung ở Việt Nam..............................................................14
1.3. CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN UNG THƯ THÂN TỬ CUNG..............15
1.3.1. Yếu tố môi trường liên quan đến ung thư thân tử cung..............................15
1.3.2. Một số yếu tố xã hội liên quan đến ung thư thân tử cung...........................16

Chương 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU...................20
2.1. ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU.......................20
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu................................................................................20
2.1.2. Địa điểm nghiên cứu.................................................................................21
2.1.3. Thời gian nghiên cứu.................................................................................22
2.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU...................................................................22
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu...................................................................................22
2.2.2. Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu...........................................................23
2.2.3. Tiêu chuẩn chẩn đoán, kỹ thuật áp dụng trong nghiên cứu........................26
2.2.4. Công cụ thu thập số liệu và tổ chức nghiên cứu.........................................30
2.2.5. Các biện pháp khống chế sai số.................................................................35
2.2.6. Xử lý số liệu..............................................................................................36
2.2.7. Khía cạnh đạo đức trong nghiên cứu.........................................................37

Chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN...............................38
3.1. PHÂN LOẠI VÀ PHÂN BỐ UNG THƯ THÂN TỬ CUNG.......................38


3.1.1. Số lượng các ca bệnh được sàng lọc và phân tích......................................38
3.1.2. Phân bố bệnh nhân ung thư TTC theo các tỉnh..........................................39
3.2. ĐẶC ĐIỂM CỦA PHỤ NỮ UNG THƯ THÂN TỬ CUNG.........................40
3.2.1. Độ tuổi của phụ nữ ung thư TTC...............................................................40
3.2.2. Trình độ học vấn của phụ nữ ung thư TTC................................................41
3.2.3. Nghề nghiệp của bệnh ung thư TTC............................................................42
3.2.4. Tình trạng hôn nhân và việc làm................................................................43
3.2.5. Số con trung bình......................................................................................44
3.3. CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN TỚI UNG THƯ THÂN TỬ CUNG................45
3.3.1. Liên quan giữa một số yếu tố kinh tế, xã hội với ung thư thân tử cung......45
3.3.2. Liên quan giữa tiền sử sinh sản với ung thư thân tử cung..........................49
3.3.3. Liên quan giữa tình trạng kinh nguyệt với ung thư TTC............................54
3.3.4. Liên quan giữa việc nạo hút thai, sử dụng các biện pháp tránh thai với ung
thư thân tử cung...................................................................................................58
3.3.5. Liên quan giữa một số yếu tố khác với ung thư thân tử cung.....................63

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ.........................................................................65
Thứ nhất, về phân loại và phân bố ung thư thân tử cung:......................................65
Thứ hai, đặc điểm của phụ nữ ung thư thân tử cung:............................................65
Thứ ba, một số yếu tố liên quan tới ung thư than tử cung:....................................65

KIẾN NGHỊ....................................................................................................67
.........................................................................................................................67
TÀI LIỆU THAM KHẢO...............................................................................68
41. Lucas W. E. (1981), “Estrogen - a cause of gynecologic cancer”,
American Cancer Society National Conference Gynecologic Cancer, Vol 48,
Issue Supplement S1, pp.451–454..................................................................72


DANH MỤC BẢNG


DANH MỤC BIỂU ĐỔ

DANH MỤC HÌNH VÀ SƠ ĐỒ
Hình 1. Cấu tạo giải phẫu TTC.........................................................................5
Hình 2. Ung thư nội mạc tử cung......................................................................6
Hình 3. BẢN ĐỒ 12 TỈNH TRONG NGHIÊN CỨU....................................21


MỞ ĐẦU

Theo dự báo của Tổ chức Y tế Thế giới về mô hình bệnh tật thế kỷ 21 thì
bệnh không nhiễm trùng nói chung và bệnh ung thư nói riêng là nhóm bệnh chủ yếu
đe dọa sức khỏe con người. Bệnh ung thư đã và đang tạo ra gánh nặng bệnh tật
trong cộng đồng. Ung thư là nguyên nhân của 12% trong số 56 triệu trường hợp tử
vong hàng năm trên thế giới do nhiều nguyên nhân khác nhau [45]. Tại Việt Nam,
ước tính hàng năm có tới 100.000-150.000 trường hợp mắc mới ung thư và khoảng
70.000 người chết vì căn bệnh này [15].
Ung thư thân tử cung (TTC) phần lớn là ung thư nội mạc tử cung (NMTC)
(95%) và ung thư cơ tử cung (1-3%). So với các ung thư ở phụ nữ thì ung thư nội
mạc tử cung đứng thứ tư sau ung thư vú, ung thư đại tràng và ung thư phổi. Ở Mỹ
năm 2001 có khoảng 38.300 trường hợp, Pháp tần số mắc bệnh là 25/100.000
người. Tần suất ung thư khác nhau ở các châu lục, các nước trong châu Á tần suất
thường gặp thấp hơn so với châu Âu 4-5 lần [15]. Ung thư cơ tử cung ít gặp hơn so
với ung thư nội mạc tử cung chỉ chiếm khoảng 1-3% các trường hợp ung thư thân tử
cung. Tuy nhiên, mức độ nguy hiểm, tái phát cao ngay cả khi bệnh ở giai đoạn đầu.
Tuy tỷ lệ phát hiện bệnh ung thư cơ tử cung ít nhưng có tới 15% các trường hợp tử
vong do loại ung thư này [7] [15].
Ở Việt Nam, phụ nữ hiện vẫn là lực lượng quan trọng trong cơ cấu lực lượng
lao động, nhất là trong lao động nông nghiệp, chăn nuôi trồng trọt, dệt, thủ công
nghiệp,… Đa số điều kiện lao động các ngành nghề này chịu nhiều tác động bất lợi
do ngành nghề lao động nặng nhọc. Bên cạnh đó phải kể đến việc có một tỷ lệ lớn
phụ nữ hiện sử dụng các biện pháp kế hoạch hoá gia đình như dùng thuốc tránh thai,
triệt sản bằng thắt vòi trứng và bằng thuốc Quinacrine đặt vào buồng tử cung.
Một câu hỏi lớn đặt ra hiện nay là liệu các yếu tố môi trường và xã hội có tác
động đến sự gia tăng tỷ lệ mắc ung thư thân tử cung ở phụ nữ Việt Nam hay không.
Tuy nhiên, vẫn chưa có nghiên cứu nào đi sâu phân tích tình hình ung thư thân tử
cung ở phụ nữ Việt Nam và các yếu tố liên quan. Mới chỉ có một số ít nghiên cứu

1


tập trung vào việc ghi nhận ung thư thân tử cung tại các bệnh viện hay tiến hành
nghiên cứu sàng lọc tiền ung thư thân tử cung ở cộng đồng trong địa bàn nhỏ.
Vì vậy, nghiên cứu bệnh ung thư phụ khoa nói chung, ung thư thân tử cung
nói riêng và những yếu tố liên quan đến nó nhằm tìm ra các giải pháp khả thi để hạn
chế các yếu tố nguy cơ gây ung thư, phát hiện sớm và điều trị kịp thời kéo dài tuổi
thọ cho người bệnh. Để góp phần có được cơ sở khoa học giải quyết những vấn đề
nêu trên, chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu tình hình ung thư thân tử cung
và các yếu tố liên quan tại một số tỉnh Việt Nam”.
Kết quả nghiên cứu của đề tài được mong đợi giúp ngành Y tế có được các
phát hiện mới về mối liên quan với ung thư thân tử cung của một số yếu tố trước
đây chưa được nghiên cứu hoặc nghiên cứu chưa đầy đủ ở Việt Nam. Địa bàn
nghiên cứu gồm 12 tỉnh là một yếu tố đảm bảo các phát hiện của đề tài có tính đại
diện vùng miền cao, là cơ sở khoa học góp phần cho các nhà hoạch định các chính
sách xây dựng các giải pháp can thiệp phù hợp, nâng cao chất lượng chăm sóc và
bảo vệ sức khỏe cho người dân nói chung, phụ nữ nói riêng ở nước ta.

2


MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1. Xác định sự phân bố và một số đặc điểm phụ nữ ung thư thân tử cung tại
12 tỉnh ở Việt Nam, giai đoạn 2001-2010.
2. Xác định các yếu tố liên quan đến ung thư thân tử cung ở phụ nữ trên địa
bàn nghiên cứu.

3


Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ UNG THƯ THÂN TỬ CUNG

1.1.1. Khái niệm về thân tử cung (TTC)
Tử cung là cơ quan sinh dục nữ nằm giữa chậu hông bé, sau bàng quang,
trước trực tràng, trên âm đạo, dưới các quai ruột non và có hình quả lê. Đây là nơi
làm tổ và phát triển của trứng đã thụ tinh cho tới khi thai trưởng thành. Khối lượng
tử cung thay đổi tuỳ theo giai đoạn phát triển của người phụ nữ, theo chu kỳ kinh
nguyệt và tình trạng thai nghén. Tử cung của phụ nữ chưa sinh đẻ có kích thước vào
khoảng 7,5cm x 5cm x 2,5cm [5].
Tính từ trên xuống, tử cung gồm ba phần: thân, eo và cổ. TTC có dạng hình
thang, phần rộng ở trên gọi là đáy tử cung, hai góc bên là chỗ ống dẫn trứng thông
với buồng tử cung. Đây là nơi bám của hai dây chằng tròn và dây chằng tử cung buồng trứng gọi là sừng tử cung. Thân tử cung dài khoảng 4cm, rộng khoảng
4,5cm, trọng lượng trung bình 50 gam (ở những người đẻ nhiều kích thước tử cung
có thể lớn hơn một chút) [4].
Cấu tạo mô học TTC: thành TTC được cấu tạo từ ngoài vào trong gồm ba lớp:
thanh mạc, cơ và nội mạc. Lớp thanh mạc là lớp phúc mạc phủ các mặt của tử cung,
lách xuống tận thành bên chậu hông và tạo nên dây chằng rộng [5]. Lớp cơ gồm ba
tầng: lớp ngoài gồm những sợi cơ dọc; Lớp giữa dày nhất, gồm những sợi cơ đan
chéo bao quanh các mạch máu. Sau khi đẻ, các sợi cơ này co rút lại, chèn ép vào các
mạch máu làm cho máu tự cầm; Lớp trong là cơ vòng. Các lớp cơ thân tử cung tạo
thành một hệ thống có tính chất vừa giãn vừa co. Trong cùng là nội mạc tử cung, đó
là lớp biểu mô tuyến gồm hai lớp: lớp đáy mỏng, ít thay đổi theo chu kỳ kinh nguyệt,
lớp nông thay đổi theo chu kỳ kinh nguyệt và bong ra khi hành kinh [4].

4


Hình 1. Cấu tạo giải phẫu TTC
1.1.2. Ung thư thân tử cung
Ung thư TTC phát triển từ phần thân tử cung phổ biến gồm ung thư nội mạc
tử cung (NMTC), phát triển từ lớp nội mạc tử cung và hiếm hơn là ung thư cơ tử
cung. Trong nghiên cứu này chúng tôi đề cập 2 loại bao gồm ung thư nội mạc tử
cung và cơ tử cung.
Ung thư NMTC là bệnh ác tính đường sinh dục hay gặp nhất ở các nước
phát triển, hay gặp ở những phụ nữ từ 50 – 70 tuổi đã mãn kinh. Tuy nhiên, cũng có
tới 15 – 25% các trường hợp ung thư NMTC gặp ở phụ nữ trong thời kỳ tiền mãn
kinh, tiên lượng thường tốt nếu được phát hiện sớm và điều trị sớm. Với triệu chứng
diễn ra một cách âm thầm nhưng có khoảng 10% có cảm giác khó chịu ở vùng bụng
dưới và có thể đau do cổ tử cung bị xâm nhiễm, chít hẹp khiến tử cung bị giãn căng
ra. Nếu các chất hoại tử trong tử cung bị nhiễm trùng và áp xe thì thậm chí bệnh
nhân có thể bị nhiễm trùng huyết.

5


Hình 2. Ung thư nội mạc tử cung
Phân giai đoạn lâm sàng ung thư NMTC của FIGO (Federation International de
Genecologie et Obstetrique - Liên hiệp Quốc tế phụ khoa và sản khoa) năm 1988 (36).
Giai đoạn Ia: Ung thư chỉ tại nội mạc tử cung
Ib: Khối u xâm lấn dưới 1/2 lớp cơ tủ cung
Ic:Khối u xâm lấn trên ½ lớp cơ tử cung
Giai đoạn II: Ung thư lan tràn khắp thân và cổ tử cung
IIa: Chỉ xâm nhiễm tuyến cổ trong ống cổ tử cung
IIb: Xâm lấn mô đệm cổ tử cung
Giai đoạn III: Ung thư lan tràn ra ngoài tử cung nhưng chưa vào tiểu khung
IIIa: Lan ra thanh mạc hoặc phần phụ (lan trực tiếp hoặc di căn hoặc tế
bào học màng bụng dương tính)
IIIb: Lan xuống âm đạo (lan trực tiếp hoặc di căn)
IIIc: Di căn vùng chậu hoặc di căn đến hạch cạnh động mạch chủ
Giai đoạn IV: Ung thư lan tràn ra ngoài tiểu khung hoặc lan tràn đến bàng quang,
trực tràng

6


IVa: Ung thư xâm lấn niêm mạc ruột, niêm mạc bàng quang
IVb: Ung thư di căn xa
Trong khi đó ung thư cơ tử cung thường gặp ở những phụ nữ trẻ hơn, ở tuổi
tiền mãn kinh khoảng sau 40 tuổi, nhưng vẫn gặp ở cả phụ nữ trẻ 20 – 30 tuổi. Các
triệu chứng lâm sàng thường rất rầm rộ, nhanh chóng và khá điển hình, đó là ra máu
bất thường ở âm đạo (khoảng 60% các trường hợp), bụng to nhanh lên vì kích thước
của tử cung tăng lên nhanh tạo thành một khối ở vùng tiểu khung, kết quả là bệnh
nhân thấy đau vùng bụng dưới do dãn và do chèn ép. Tiên lượng bệnh rất tồi và
nguyên nhân cũng không được rõ, nhưng mối liên quan về nguy cơ của bệnh với
việc chụp vùng tiểu khung đã được một số nghiên cứu ghi nhân, với nguy cơ tăng
đến 5,38 lần với thời gian ủ bệnh tử 10 – 20 năm [21] [32] [46].
1.1.3. Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của ung thư TTC

1.1.3.1. Đặc điểm lâm sàng
Các dấu hiệu chỉ điểm
- Dấu hiệu thường gặp là chảy máu nhưng lượng máu không nhiều, không rõ
nguyên nhân, có trường hợp chảy máu khi cố rặn đi tiểu hay đại tiện gây chèn ép
vào tử cung. Chỉ cần một dấu hiệu chảy máu sau mãn kinh cũng đủ để báo động vì
không hiếm các trường hợp dấu hiệu này mất đi lại tái suất sau vài tuần hay vài
tháng, rồi trở nên thường xuyên hơn.
- Ra khí hư lẫn mủ: thường do nhiễm khuẩn, mủ lẫn máu tạo thành một chất
dịch màu nâu rất nặng mùi, giai đoạn đầu chưa có nhiễm khuẩn có thể ra dịch trong.
- Đau: thường xuất hiện muộn khi khối u lan tràn vào các bộ phận trong
hố chậu.
Khám lâm sàng
Nói chung, thăm khám lâm sàng sờ bụng và thăm âm đạo thấy hoàn toàn
bình thường. Đặc biệt, tử cung có thể tích bình thường hoặc có thể tích nhỏ, di động
và không đau. Các túi cùng âm đạo tự do, không có tổn thương phần phụ. Khám
bằng mỏ vịt, cổ tử cung bình thường, nhưng nếu là đang trong thời kỳ chảy máu, thì

7


sẽ nhận thấy máu chảy ra từ nội cổ tử cung. Nếu rút nhẹ mỏ vịt đồng thời kẹp nhẹ
cổ tử cung giữa hai van của mỏ vịt và nếu động tác này làm rỉ ra một ít máu thì điều
đó báo hiệu nguồn gốc máu là từ nội mạc tử cung. Đôi khi tử cung tăng thể tích và
bệnh nhân mang u xơ rõ rệt.
Khám lâm sàng tử cung bình thường hoặc có chảy máu sau mãn kinh, tử
cung nhỏ [2].
Đối với ung thư NMTC có nhiều nghiên cứu cho thấy triệu chứng âm đạo
gặp ở hầu hết các bệnh nhân.
Theo David Gal [37] triệu chứng ra máu gặp 93% các trường hợp.
Theo Novak [48] gặp 85% các trường hợp.
Theo Meyer 1999 [44] gặp 100% các trường hợp ung thư NMTC.
Theo báo cáo tổng kết của Đào Thị Hợp 1986 [16] triệu chứng ra máu gặp
95,92% các trường hợp, ra khí hư gặp 30,61%, triệu chứng đau gặp 20,41% các
trường hợp.
Với các triệu chứng lâm sàng như vậy thì chưa thể chẩn đoán xác định được
bệnh mà còn phải dựa vào các phương pháp thăm dò cận lâm sàng.

1.1.3.2. Phương pháp chẩn đoán cận lâm sàng
1.1.3.2.1. Phương pháp tế bào bệnh học
Bao gồm tất cả các phương pháp nhằm tìm ra các tế bào có nguồn gốc từ tử
cung như: lấy mẫu bệnh phẩm từ túi cùng sau âm đạo, từ ống cổ tử cung và lấy trực
tiếp từ buồng tử cung. Các nghiên cứu đều cho thấy muốn phát hiện ung thư thân tử
cung phải lấy mẫu trực tiếp từ buồng tử cung.
Phiến đồ Papanicolaou [39]: Mặc dù phiến đồ Papanicolaou có hiệu quả cao
trong phát hiện ung thư cổ tử cung xong nó không có hiệu quả trong phát hiện ung
thư nội mạc tử cung vì tế bào nội mạc tử cung khó bong và có thể thoái biến trong
buồng tử cung và ống cổ tử cung. Nên khi lấy bệnh phẩm ở túi cùng sau âm đạo số
lượng tế bào NMTC rất ít.

8


Khi lấy bệnh phẩm ở túi cùng sau âm đạo [39] theo Gusberg tỷ lệ chính xác
là 47%, theo David là 45%, theo Mc Govan tỷ lệ này thay đổi từ 50%-75%, theo
Averette H.E (1995) tỷ lệ chính sác là 60-83%, có quá nhiều âm tính giả. Theo tác
giả nếu mẫu tế bào dương tính thì có giá trị chẩn đoán, mẫu tế bào âm tính thì vẫn
không thể loại trừ ung thư nội mạc tử cung.
Để khắc phục hạn chế của phương pháp này các phương pháp lấy mẫu bệnh
phẩm trực tiếp từ buồng tử cung được đề xuất và áp dụng.
+ Hút nội mạc: Do Carry (1943) đề xuất, dùng một canuyn đường kính 23mm bằng kim loại hoặc bằng chất dẻo đưa vào buồng tử cung và hút bằng 1 bơm
tiêm, bơm lên phiến kính cố định và nhuộm. Theo Aex Ferenczy [35] độ chính xác
cũng khoảng 88-89%. Theo Averette [35] việc hút nội mạc tử cung bằng canuyn
polyethylen tỷ lệ chính xác là 85%.
+ Rửa nội mạc tử cung: Dùng 2-6 ml nước muối sinh lý bơm vào buồng tử cung
sau hút trực tiếp ra đem ly tâm và làm phiến đồ. Theo Aex Ferenczy [35] độ chính xác
chẩn đoán là 82%. Nhưng chỉ định của phương pháp này rất nghiêm ngặt, có thể
xảy ra tai biến.
+ Chải nội mạc tử cung được Ayre đưa ra năm 1995 [30] ông dùng một bàn
chải nhỏ xoay tròn trong buồng tử cung để thu thập bệnh phẩm nhưng phương pháp
này thường gây chảy máu nhiều.
+ Rửa thành tia được Dowling & Gravlee mô tả năm 1964 [39].
Phương pháp này đòi hỏi nhiều phương pháp phân tích tế bào phức tạp, tỷ lệ
thất bại do không đưa được dụng cụ vào buồng tử cung cao, tỷ lệ bệnh phẩm không
đủ số lượng và chất lượng để chẩn đoán cao.
+ Phương pháp chọc rửa ổ bụng làm tế bào xác định giai đoạn của bệnh để
có phương pháp điều trị thích hợp.
Nói chung, các kỹ thuật trên phần lớn mới chỉ áp dụng trên thực nghiệm. Do
vậy, các kết quả đạt được chưa đại diện cho việc đánh giá ở mức độ lớn.

9


Việc sàng lọc ung thư nội mạc tử cung bằng phương pháp tế bào bệnh học
rất tốn thời gian. Việc đánh giá kết quả cũng rất khó khăn vì sự phức tạp của các
hình thái tế bào tuyến, tỷ lệ dương tính giả cao [35].

1.1.3.2.2. Sinh thiết nội mạc tử cung:
Đây là một thủ thuật đơn giản, dễ làm và dễ được bệnh nhân chấp nhận,
thủ thuật này không cần nong cổ tử cung. Người ta dùng 1 thìa nhỏ đưa vào
buồng tử cung nạo một mẩu nội mạc tử cung, Mẫu bệnh phẩm tuy nhỏ nhưng
không những cho phép chẩn đoán bệnh mà còn xác định mức độ tổn thương,
hướng tới một phương pháp điều trị thích hợp. Tuy nhiên, phương pháp này dễ
bỏ sót tổn thương nếu được kết hợp với 1 phương pháp xác định vị trí tổn thương
như soi buồng tử cung, chụp BTC, siêu âm bằng đầu dò âm đạo thì có giá trị
chẩn đoán và tiên lượng bệnh cao.
Theo Averette [38] độ chính xác của phương pháp này đạt tới 90%. Nhưng điều
bất cập lớn nhất của phương pháp này là mẫu bệnh phẩm quá nhỏ, nếu tổn thương còn
khu trú thì dễ bỏ sót nên ta có thể áp dụng phương pháp nạo buồng tử cung.

1.1.3.2.3. Nạo buồng tử cung chẩn đoán giải phẫu bệnh lý
Cho tới nay đây vẫn là phương pháp đáng tin cậy và chắc chắn nhất cho
chẩn đoán.
Ưu điểm: Đây là phương pháp đơn giản, rẻ tiền, có khả năng phổ cập rộng
rãi, các mẫu bệnh phẩm thu được có chất lượng tốt giúp cho việc phát hiện các tổn
thương ung thư và tiền ung thư dễ dàng, ngoài ra nó còn có tác dụng cầm máu.
Tai biến: có thể gây thủng tử cung
Đôi khi cũng có những thất bại do cổ tử cung cứng, bệnh nhân đau. Cũng có
nhiều trường hợp phải nạo lại vài 3 lần mới chẩn đoán được.
Năm 1925 lần đầu tiên Kelly đã áp dụng phương pháp nạo sinh thiết không
cần gây mê từ đó đến nay đã có rất nhiều cải tiến.

10


Hofmeister[26] đã làm hơn 20.000 sinh thiết trong vòng 20 năm, với độ
chính xác chẩn đoán là 94%. Theo Kahl và cộng sự [38] độ chính xác là 96%. Theo
Hugent Hark có thể chẩn đoán sai 15-20%.
Theo Alex Ferenczy [35] độ chính xác của phương pháp tới 97%.
Chụp buồng tử cung có thuốc cảm quang:
Chụp buồng tử cung đã được sử dụng từ lâu trong chẩn đoán ung thư tử
cung, dựa vào những hình ảnh gián tiếp trên phim như: hình khuyết bờ không đều,
bờ căng cưa, hình lỗ rỗ ruột bánh mì để chẩn đoán ung thư NMTC.
Ưu điểm của phương pháp này là tỷ lệ dương tính cao, dựa vào vị trí tổn
thương trên phim giúp lấy mẫu bệnh phẩm một cách chính xác.
Tai biến: có thể làm lan tràn các tế bào ung thư vào ổ bụng.
Theo Barry Anderson đã tiến hành chụp cho 1.500 trường hợp thì chỉ có 2
trường hợp dương tính giả [26].

1.1.3.2.4. Siêu âm bằng đầu dò âm đạo
Đây là phương pháp mới có thể áp dụng cả trong sàng lọc, chẩn đoán ung
thư và tiền ung thư NMTC. Người ta sử dụng đầu dò từ 5 đến 7 mHz đưa vào trong
âm đạo. Qua siêu âm có thể xác định chính xác độ dày của niêm mạc tử cung. Siêu
âm còn xác định được các nguyên nhân lành tính gây chảy máu tử cung như: polip,
u xơ dưới niêm mạc [29].
Qua siêu âm có thể xác định được kích thước của buồng tử cung của khối u,
độ xâm lấn của khối u, độ xâm lấn của khối u vào cơ tử cung, nhờ đó xác định được
giai đoạn ung thư NMTC và tiến triển trong điều trị. Hạn chế của phương pháp này là
không đặc hiệu, chẩn đoán xác định phải dựa vào lâm sàng và giải phẫu bệnh.
Ngày nay, trên thế giới thường sử dụng phương pháp siêu âm bằng đầu dò
âm đạo dựa vào độ dày NMTC để hướng tới bệnh. Ở người đã mãn kinh nếu độ dày
NMTC dưới hoặc bằng 4mm thì ít có nguy cơ bị ung thư NMTC. Nếu NMTC từ
5mm trở lên thì cần nạo sinh thiết NMTC để chẩn đoán.

11


Đối với ung thư NMTC theo Blumenfeid [37] độ nhạy của phương pháp siêu
âm khoảng 80%, độ đặc hiệu khoảng 60%, giá trị chẩn đoán dương tính là 26% và
giá trị chẩn đoán âm tính là 94,4%.

1.1.3.2.5. Chất chỉ điểm sinh học [48]
Một số tác giả đã nêu lên một số chất chỉ điểm sinh học như: CA-125
(Cancer Antigen – 125), CA 15-3,… có thể tăng lên trong ung thư NMTC. Nhưng
thường chỉ tăng trong giai đoạn IV của bệnh hoặc u tái phát, hầu như không tăng
trong giai đoạn sớm của bệnh.

1.1.3.2.6. Soi buồng tử cung [35]
Phương pháp này đã được Bozzini mô tả lần đầu tiên năm 1905 từ đó đến
nay nó đã được cải tiến nhờ máy nội soi hiện đại Microhysteroscopy.
Phương pháp này cho phép quan sát trực tiếp buồng tử cung, đánh giá tổn
thương và sinh thiết đúng chỗ.
Kỹ thuật làm phồng buồng tử cung bằng nước muối sinh lý, đưa ống soi với
hệ thống thấu kính phóng đại. Qua soi có thể quan sát trực tiếp buồng tử cung đánh
giá bản chất bệnh lý trong buồng tử cung, các tổn thương sùi, loét, chợt, các polip, u
xơ niêm mạc và tình trạng ủa niêm mạc tử cung.
1.2. TÌNH HÌNH MẮC UNG THƯ THÂN TỬ CUNG

1.2.1. Ung thư thân tử cung trên thế giới
Trong ung thư TTC khoảng 95% có nguồn gốc từ biểu mô tuyết của nội mạc
tử cung. Ung thư xuất phát từ biểu mô liên kết thân tử cung rất hiếm (1-3%), tiến
triển nhanh, tiên lượng xấu.
Ung thư nội mạc tử cung: là loại bệnh thường gặp ở người lớn tuổi với 7580% sau mãn kinh, tuổi trung bình là 60 tuổi. Tuy nhiên, có khoảng 20% trường
hợp gặp ở những phụ nữ tiền mãn kinh, 5% ở phụ nữ dưới 40 tuổi; là bệnh ác tính
đường sinh dục hay gặp nhất ở các nước phát triển. Tại Mỹ nguy cơ ung thư nội
mạc tử cung ở phụ nữ da trắng là 2,4% so với 1,3% các phụ nữ da đen.

12


Tỷ lệ mắc ung thư NMTC rất khác nhau tùy theo từng quốc gia, từng chủng
tộc. Trên thế giới ung thư NMTC có tỷ lệ cao nhất ở Bắc Mỹ và Châu Âu, thấp hơn
ở Nam Mỹ, hiếm gặp ở Châu Á và Châu Phi [24].
Tại Mỹ tỷ lệ mắc bệnh này ngày càng tăng. Năm 1991 có 33.000 ca mới mắc
và có khoảng 4.000 ca chết. Năm 1996 có tới 34.000 ca mới mắc và 6.000 ca tử
vong [28]. Năm 1999 có tới 37.400 ca mới mắc và 6.400 ca chết [29].
Trong khi ung thư cổ tử cung (CTC) ngày càng giảm thì ung thư NMTC có
xu hướng gia tăng. Theo Averette H.E. [26] tỷ lệ ung thư cổ tử cung so với ung thư
NMTC giữa thập kỷ 40 là 5/1. Đến thập kỷ 60 là 2/1, năm 1996 tỷ lệ này là 23/71.
Theo hiệp hội phòng chống ung thư quốc tế năm 1988-1991 [40] tỷ lệ ung
thư NMTC như sau:
Cao nhất là Ecuado chiếm tỷ lệ 13,7/100.000 dân
Venezuela chiếm tỷ lệ 7,9/100.000 dân
Australia chiếm tỷ lệ 5,1/100.000 dân
Nga chiếm tỷ lệ 4,4/100.000 dân
Pháp chiếm tỷ lệ 4,0/100.000 dân
Mexico chiếm tỷ lệ 2,6/100.000 dân
Mỹ chiếm tỷ lệ 2,5/100.000 dân
Anh chiếm tỷ lệ 2,4/100.000 dân
Singapore chiếm tỷ lệ 1,8/100.000 dân
Hồng công chiếm tỷ lệ 1,4/100.000 dân
Ung thư cơ tủ cung: ung thư này thường gặp ở phụ nữ trẻ hơn, ở tuổi tiền
mãn kinh khoảng sau 40 tuổi, các triệu chứng lâm sàng thường rất rầm rộ và diễn ra
một cách nhanh chóng và khá điển hình, đó là ra máu âm đạo bất thường (60% các
trường hợp), bụng to lên nhanh vì kích thước của tử cung tăng lên là bệnh nhân thấy
rất đau ở vùng bụng dưới do giãn và do chèn ép. Tiên lượng bệnh rất tồi, và nguyên
nhân cũng không được biết rõ [7][4][5].

13


1.2.2. Ung thư thân tử cung ở Việt Nam
Ở Việt Nam ung thư nội mạc tử cung đứng sau ung thư cổ tử cung (tỷ lệ 1/9).
Tuổi bệnh nhân thường lớn hơn ung thư cổ tử cung: 75% ung thư nội mạc tử cung ở
thời kỳ đã mãn kinh, chỉ có 4% tuổi trước 40. Mặc dù chưa tìm thấy gen gây ung
thư nhưng từ 12-28% trường hợp có tính chất gia đình, điều này tương tự như trong
ung thư vú, ung thư buồng trứng [23].
Nghiên cứu về tình hình ung thư thân tử cung tại bệnh viện phụ sản trung
ưng năm 2007-2008 cho thấy: trong số 95 bệnh nhân ung thư TTC thì có tới 90
bệnh nhân (94,7%) ung thư nội mạc tử cung với độ tuổi trung bình là 57± 7,68%, đa
số các phụ nữ đã mãn kinh với 75/90 bệnh nhân (82,2%). Còn lại 5 (5,3%) bệnh
nhân ung thư cơ tử cung có tuổi trung bình 48,60± 16,41%. Như vậy có sự khác biệt
về tuổi trung bình giữa hai nhóm bệnh khoảng 10 tuổi [15].
Theo nghiên cứu so sánh đặc điểm giải phẫu bệnh - lâm sàng ung thư nội
mạc tử cung ở hai nhóm tuổi 45 tuổi hoặc trẻ hơn và trên 45 tuổi, năm 1998 cho
thấy: trong số 80 bệnh nhân ung thư nội mạc tử cung thì chủ yếu hay gặp ở những
bệnh nhân trên 45 tuổi với 68/80 bệnh nhân (85%), phụ nữ dưới 45 tuổi bị bệnh
chiếm 15% trong tổng số các trường hợp, trong đó đa số là các bệnh nhân vô sinh
với 9/12 chiếm 75%. Triệu chứng báo hiệu có ý nghĩa là rong kinh, rong huyết hoặc
ra máu bất thường. Ung thư nội mạc tử cung ở những phụ nữ trẻ thường là ung thư
biểu mô tuyến biệt hóa, có phối hợp quá sản nội mạc tử cung 10/12 (83%) và tiên
lượng tốt. Ở bệnh nhân trên 45 tuổi ung thư biểu mô kém biệt hóa, xâm nhập sâu
vào cơ tử cung do đó có tiên lượng xấu hơn [9].
Theo báo cáo của Phạm Thị Hoàng Anh [1] năm 1995-1996 tỷ lệ ung thư
NMTC ở Hà Nội là 1,6/100.000 dân và ở thành phố Hồ Chí Minh là 2,7/100.000.
Cả nước ước tính năm 2000 là 2,4/100.000 trường hợp.
Theo Dương Thị Cương [11], ung thư NMTC chiếm tỷ lệ 6% các loại ung
thư sinh dục nữ ở bệnh viện Bà mẹ trẻ sơ sinh và đứng hàng thứ ba sau ung thư
buồng trứng và ung thư CTC.

14


Theo số liệu tổng kết của Đào Thị Hợp [16] năm 1986, ung thư NMTC
chiếm 5,27% so với ung thư sinh dục khác điều trị tại bệnh viện.
1.3. CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN UNG THƯ THÂN TỬ CUNG

1.3.1. Yếu tố môi trường liên quan đến ung thư thân tử cung
Một số nghiên cứu dịch tễ cho thấy rằng có trên 80% tác nhân gây ung thư bắt
nguồn từ môi trường sống. Trong đó hai tác nhân lớn nhất là chế độ ăn uống (35%),
uống rượu và hút thuốc lá (40%); những tác nhân này có ảnh hưởng xấu rất nhiều đối
với sức khỏe con người nói chung, đặc biệt là đối với phụ nữ và trẻ em [33], [42].
Các yếu tố môi trường như sự ô nhiễm không khí, ô nhiễm nước… là một
trong những nguyên nhân gây ra bệnh tật của con người nói chung trong đó có ung
thư. Các số liệu về tình hình mắc ung thư ở tất cả các nước trên thế giới cho thấy
ung thư ở vùng đô thị gặp nhiều hơn ở vùng nông thôn. Các nguồn ô nhiễm không
khí ở đô thị là do công nghiệp, giao thông và tiêu thụ những sản phẩm có chứa các
chất gây ung thư. Các mẫu không khí lấy từ các thành phố công nghiệp lớn cho thấy
thành phần một số loại hợp chất gây ung thư cao, các hydrocarbon thơm đa vòng,
Benren, Asen, SO2, Cadmium,... [3], [22].
Năm 1997, Tổ chức Quốc tế về Nghiên cứu Ung thư (International Agency
for Research on Cancer – IARC) thuộc WHO đã công bố 2,3,7,8-etrachlorodibenzop-Dioxin (2,3,7,8-TCDD) là chất gây ung thư nhóm 1 (nghĩa là nhóm đã được công
nhận gây ung thư). Đồng thời, tháng 1 năm 2001, chương trình Độc học Quốc gia
Hoa Kỳ đã chuyển dioxin vào nhóm “các chất gây ung thư cho người”. Cuối cùng,
trong một nghiên cứu kiểm định năm 2003, các nhà khoa học cũng khẳng định
không có một liều lượng nào là an toàn hoặc ngưỡng dioxin mà dưới nó thì không
gây ung thư. Điều này có thể hiểu là nếu một người phơi nhiễm dioxin dù lượng
nhỏ nhất thì đã mang trong mình hiểm họa ung thư [34].
Chế độ ăn nhiều mỡ động vật và nhiều năng lượng toàn phần gây ung thư nội
mạc tử cung, ăn rau quả, chất xơ, làm giảm nguy cơ ung thư nội mạc tử cung [15].

15


1.3.2. Một số yếu tố xã hội liên quan đến ung thư thân tử cung
Một số yếu tố xã hội như: tuổi, trình độ văn hoá, nghề nghiệp, dân tộc, nơi
cư trú, các yếu tố tiền căn sản phụ khoa (tuổi lấy chồng, tuổi sinh con lần đầu, số
lần sinh con, số con, số lần quan hệ tình dục, tuổi quan hệ tình dục lần đầu)... là
những yếu tố nguy cơ cao gây ung thư nói chung và ung thư TTC nói riêng.
Phần dưới đây trình bày kết quả nghiên cứu về một số yếu tố môi trường xã
hội có nguy cơ gây ung thư TTC cao.

1.3.2.1. Yếu tố nhân khẩu học liên quan tới ung thư TTC
Các yếu tố liên quan ung thư nội mạc tử cung như nhân khẩu học: tình trạng
kinh tế, xã hội, bệnh sử của nội mạc tử cung, vú, những thành viên của gia đình có
người ung thư nội mạc tủ cung. Sinh lý học: mập phệ, đái đường, cao huyết áp, vô
sinh và vô noãn, hội chứng Stein – Leventhal. Ngoại sinh, môi trường: chế độ ăn
nhiều mỡ, liệu pháp thay thế nội tiết với estrogen, không đối kháng [23].
Về tuổi: Đối với ung thư NMTC là loại ung thư thường gặp ở người lớn tuổi,
có hơn 80% bệnh nhân ung thư NMTC gặp ở người mãn kinh [18].
Theo Novak [43] tuổi mắc bệnh trung bình là 57 tuổi muộn hơn so với ung
thư cổ tử cung khoảng 10 năm. 75% gặp ở phụ nữ mãn kinh, 15% ở người tiền mãn
kinh và 10% đang còn kinh nguyệt.
Theo Weyer 1999 [43] tuổi mắc bệnh trung bình là 58,8 (từ 34-80 tuổi). Hầu
hết ở phụ nữ mãn kinh 80-85% [44].
Ở Việt Nam tuổi mắc bệnh nhiều nhất là 55-57, phần lớn xảy ra ở người tiền
mãn kinh và mãn kinh 80-85% [25].
Yếu tố thể trạng: liên quan đến ung thư nội mạc tử cung bao gồm: đẻ ít, béo
phì, cao huyết áp, đái tháo đường. Béo phì liên quan đến chuyển hoá
androstenedion thành estrogen trong mô mỡ. Sự kích thích của estrogen không đối
kháng cũng là yếu tố nguy cơ.

16


Yếu tố di truyền: cũng tương tự ung thư vú, yếu tố di truyền gia đình đóng
vai trò quan trọng. Ung thư nội mạc tử cũng hay gặp ở những gia đình có mẹ, dì, em
gái bị ung thư nội mạc tử cung [17].
Yếu tố nội tiết: nhiều nghiên cứu cho thấy phụ nữ sử dụng estrogen không
đối kháng trên 2 năm có nguy cơ ung thư nội mạc tử cung tăng gấp 2 – 3 lần [17].
Viên uống tránh thai có tỷ lệ estrogen cao cũng có nguy cơ gây ung thư [30].
Yếu tố kinh nguyệt: Hầu hết các nghiên cứu cho thấy tuổi mãn kinh có
liên quan trực tiếp với nguy cơ phát sinh ung thư NMTC. Theo Mac Mahon [30]
[40], những người mãn kinh muộn sau tuổi 52 có nguy cơ cao gấp 2,4 lần so với
những người mãn kinh trước tuổi, có kinh sớm khi còn ít tuổi cũng là một yếu tố
nguy cơ [30].

1.3.2.2. Yếu tố y tế liên quan tới ung thư thân tử cung
Yếu tố sinh sản: theo đa số các nghiên cứu thì nguy cơ mắc bệnh ở những
người không đẻ cao gấp 3 lần so với người đã sinh đẻ. William E. Lucas [40] cho
rằng vô sinh là yếu tố nguy cơ cho bệnh này.
Các thuyết của Richelot cho rằng ung thư tử cung thường hay gặp trên u xơ tử
cung, của Ménétrier coi các u lành, u thịt thừa (polype) như những thương tổn tiền
ung thư [13].
Một số yếu tố thuận lợi gây ung thư nội mạc tử cung như vai trò của estrogen
được xếp hàng đầu. Ung thư nội mạc tử cung liên quan trực tiếp và tỷ lệ thuận với
sự tăng nồng độ estrogen nội sinh cũng như ngoại sinh, cùng với thời gian kích
thích kéo dài, tỷ lệ ung thư nội mạc tử cung cao gấp 4 tới 8 lần ở những phụ nữ có
sử dụng estrogen thay thế và hội chứng buồng trứng đa nang [19].
Tamoxifen liên quan chặt chẽ đến sự phát triển ung thư nội mạc tử cung.
Tamoxifen là một hợp chất không steroid hoạt động bằng cách cạnh tranh với
estrogen tại các thụ thể. Tamoxifen là loại thuốc được sử dụng trong điều trị ung thư
vú hiệu quả cao. Nhưng một số tác giả nhận thấy nếu dùng Tamoxifen thì có nguy
cơ ung thư nội mạc tủ cung từ 1,72 đến 3 lần [15].

17


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×