Tải bản đầy đủ

xây dựng quy trình giám định định tính và định lượng chất m TFMPP (1 3 (trifluoromethyl)phenylpiperazine) bằng sắc kí khí ghép nối khối phổ

MỞ ĐẦU

Tệ nạn ma tuý là hiểm hoạ cho toàn xã hội, gây tổn hại sức khoẻ, làm
suy thoái nòi giống, phẩm giá con người, phá hoại hạnh phúc gia đình gây ảnh
hưởng nghiêm trọng đến trật tự, an toàn xã hội và an ninh quốc gia. Tệ nạn
ma túy còn là tác nhân tăng nhanh các loại tội phạm khác, đặc biệt là nguyên
nhân chính làm lây lan đại dịch HIV/AIDS [1].
Lợi dụng chính sách mở cửa, hội nhập kinh tế thế giới, bọn tội phạm đã
tìm mọi cách thẩm lậu ma tuý qua biên giới, biến nước ta thành địa bàn sử
dụng và trung chuyển ma tuý (Hầu hết các chất ma tuý tổng hợp (ATS) trên
thế giới đều kích thích thần kinh trung ương kiểu amphetamine). Trong những
năm gần đây, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế, các vũ trường,
sàn nhảy xuất hiện ngày càng nhiều. Trong đó, một số đã biến thành tụ điểm
thu hút một lượng không nhỏ thanh thiếu niên đến sử dụng ma tuý và các hoạt
động tệ nạn khác làm nhức nhối xã hội.
Giám định ma tuý là một hoạt động tố tụng, sản phẩm của nó là bản kết
luận giám định. Theo quy định của pháp luật, kết luận chất ma tuý là nguồn
chứng cứ bắt buộc để luận tội và định khung hình phạt, ảnh hưởng trực tiếp
đến sinh mạng, chính trị của công dân. Do đó, quá trình giám định chất ma
tuý phải được thực hiện theo một quy trình chuẩn đã được thẩm định để đảm
bảo kịp thời, chính xác, khách quan và đồng nhất kết quả giữa các phòng thí

nghiệm.
m-TFMPP là chất tổng hợp gây nghiện có tác dụng kích thích thần
kinh trung ương kiểu thuốc lắc (ecstasy). Trên thế giới, chúng thường được
giới trẻ sử dụng trong các vũ trường, sàn nhảy để thay thế cho thuốc lắc.
Trước sự bùng phát của chất gây nghiện này, nhiều quốc gia đã đưa mTFMPP vào danh mục cần kiểm soát như: Đan mạch (12/2005), Thụy Điển
(3/2006), New Zealand... (Ở nước ta hiện nay, m-TFMPP đã được các cơ
quan tham mưu đề xuất Chính Phủ đưa vào danh mục các chất ma túy cần
kiểm soát. Ngày 22/2/2011 chính phủ đã ban hành nghị định số

1


17/2011/NĐCP bổ sung vào danh mục các chất ma túy [22,39]). Cho đến nay
chưa có công trình nào nghiên cứu, xây dựng quy trình giám định m-TFMPP.
Điều này gây khó khăn không nhỏ cho cơ quan điều tra khi thời hiệu tạm giữ
đối tượng có hạn và khó khăn cho giám định viên khi bảo vệ kết luận giám
định trước tòa. Trên thế giới khi tiến hành nghiên cứu, giám định các loại ma
túy mới thì GC-MS được sử dụng rộng rãi và phổ biến. Vì vậy, trong luận văn
tập trung tiến hành nghiên cứu, xây dựng quy trình giám định định tính và
định lượng chất m- TFMPP (1-[3-(trifluoromethyl)phenyl]piperazine) bằng
sắc kí khí ghép nối khối phổ.

2


CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN
1.1. Đối tượng nghiên cứu:
1.1.1. Lịch sử:
- Chất m-TFMPP là một trong những dẫn xuất của piperazine. Vào
cuối những năm 1970 m-TFMPP được biết đến là một chất có tác dụng làm
giảm đau, chống viêm tên biệt dược là (Stakane), m-TFMPP làm hoạt hóa thụ
thể (5-HT1B và 5-HT2C) Serotonin hơn nữa nó là một chất làm phóng thích
Serotonin làm tăng mức độ Serotonin ở khe tế bào thần kinh. Vào những năm
1985, m-TFMPP bị lạm dụng như các chất ma túy tổng hợp khác. Năm 2002,
cơ quan phòng chống ma túy của Mỹ (DEA) đã phát hiện, công bố chất mTFMPP được giới trẻ Mỹ sử dụng để lắc trong các hộp đêm. Hoạt chất này
thường được phối hợp với các chất ma túy khác như BZP, MDMA, MDA ...
để tăng tác dụng kích thích khoái cảm dùng để lắc. Trong thời gian này, Mỹ
và nhiều quốc gia khác như Đan mạch (12/2005), Thụy Điển (3/2006), New
Zealand (4/2008), Singapore (2007)... đã đưa m-TFMPP vào danh mục các
chất ma túy cần kiểm soát [14,17,18,28,36].

- Tháng 4 năm 2010 đã phát hiện được một số lượng lớn các viên nén
được giới trẻ dùng để lắc (có thành phần chính là m-TFMPP ) tại một số vũ
trường ở Việt Nam và đang có nguy cơ bùng phát. Đây là hoạt chất gây
nghiện mới đã được các cơ quan ban ngành tham mưu đề xuất chính phủ đưa
vào danh mục chất ma túy cần kiểm soát. Ngày 22/02/2011, Chính phủ ban
hành Nghị định số 17/2011/NĐ-CP bổ sung chất m-TFMPP vào danh mục
các chất ma túy cần kiểm soát. Cho đến nay chưa có công trình nào nghiên
cứu, xây dựng quy trình giám định m-TFMPP. Điều này gây khó khăn không
nhỏ cho cơ quan điều tra khi thời hiệu tạm giữ đối tượng có hạn và khó khăn
cho giám định viên khi bảo vệ kết luận giám định trước tòa. Trên thế giới khi

3


giám định, nghiên cứu về các loại ma túy mới GC-MS được sử dụng rộng rãi
và phổ biến. Vì vậy, luận văn đã đặt ra vấn đề nghiên cứu, xây dựng quy
trình giám định định tính và định lượng chất m- TFMPP bằng sắc kí khí ghép
nối khối phổ [2].
1.1.2. Dẫn xuất của piperazine :
Các dẫn xuất của piperazine được chia thành 2 nhóm: Các dẫn xuất của
1-Phenylpiperazine và các dẫn xuất của 1-Benzylpiperazine [6,7].
* Các dẫn xuất của 1-Phenylpiperazine: Khung cấu trúc của các dẫn
xuất nhóm 1-phenylpiperazin có dạng:
R3
R2

N
R1

NH

Tên chất
1-(3-trifluoromethylphenyl)piperazine
1-(2-trifluoromethylphenyl)piperazine
1-(4-trifluoromethylphenyl)piperazine
1-(2-methoxyphenyl)piperazine
1-(4-methoxyphenyl)piperazine
1-(3-chlorophenyl)piperazine
1-(4-chlorophenyl)piperazine
1-(2-fluorophenyl)piperazine
1-(4-fluorophenyl)piperazine
1-(3-methylphenyl)piperazine
1-(4-methylphenyl)piperazine

mTFMPP
oTFMPP
pTFMPP
oMeOPP
pMeOPP
mCPP
pCPP
oFPP
pFPP
mMPP
pMPP

R1

Nhóm thế
R2

R3

H
CF3
H
OCH3
H
H
H
F
H
H
H

CF3
H
H
H
H
Cl
H
H
H
CH3
H

H
H
CF3
H
OCH3
H
Cl
H
F
H
CH3

* Các dẫn xuất của 1-Benzylpiperazine:
Các hợp chất của nhóm 1-benzylpiperazin có khung cấu trúc như sau:

4


N
N

Tên chất
1-Benzylpiperazine
1-Benzy-4-methyllpiperazine
1,4-Dibenzylpiperazine

Viết tắt
BZP
MBZP
DBZP

R4

Nhóm thế R4
H
CH3
C6H5CH2

1.1.3. Công thức cấu tạo:
TFMPP (Trifluoromethylphenylpiperazine hay 1-[3-(trifluoromethyl)
phenyl] piperazine, N-(α, α, α-trifluoro-m-tolyl)piperazine) là dẫn xuất của 1Phenylpiperazine có công thức phân tử C11H13F3N2. TFMPP có 3 đồng phân
ortho, meta, para tuỳ thuộc vào vị trí thế của nhóm trifluormethyl trên nhân
phenyl ở vị trí 2, 3, 4 so với gốc piperazine:
NH

NH
F3 C

CF3

N

N

NH
N

F3 C

m-TFMPP

p-TFMPP

o-TFMPP

Hình 1.1.3. Công thức cấu tạo của TFMPP
1.1.4. Tính chất lý hóa:
Trong tự nhiên, TFMPP tồn tại chủ yếu ở hai dạng: Dạng bazơ và dạng
muối hydroclorit, cả hai dạng này đều rất bền ở điều kiện thường. Các mảnh
phổ đặc trưng cho TFMPP như sau (m/z): 188, 230, 145, 56, 172, 73, 221.
Dạng bazơ có tên khoa học là 1-[3-(trifluoromethyl)phenyl] piperazine,
công thức phân tử: C11H13F3N2, tỷ trọng: 1,226g/ml, sôi ở nhiệt độ 100 102oC, nóng chảy ở nhiệt độ 65 – 71oC.
Dạng muối có tên khoa học là 1-[3-(trifluoromethyl)phenyl] piperazine

5


hydrochloride, công thức phân tử: C11H13F3N2 HCl, khối lượng phân tử:
266,66, nóng chảy ở nhiệt độ 239-241oC. Ở dạng bazơ, TFMPP thường tồn tại
dưới dạng bột kết tinh màu trắng.
1.1.5. Các dạng tồn tại thường dùng:
Các dẫn xuất của piperazin nói chung thường tồn tại dưới dạng bột kết
tinh hoặc tinh thể nguyên chất, không màu hoặc màu trắng. Chất m-TFMPP
thường tồn tại dưới dạng muối hydroclorit, được pha chế để tiêm, hút hoặc
uống. m-TFMPP rất dễ hấp thụ qua đường dạ dày, ruột và qua hàng rào máu
não để tác dụng nên não bộ.
Từ khi xuất hiện ở nước ta cho đến nay, m-TFMPP chủ yếu lưu hành
dưới dạng viên nén, viên nhộng với nhiều hình dạng, kích thước, màu sắc và
kí hiệu khác nhau. Trong mỗi dạng có thể chứa một hoặc nhiều thành phần
chất ma túy tùy từng cơ sở sản xuất [13,24].
1.1.6. Tác dụng của m-TFMPP:
Tác dụng dược lý: m-TFMPP có tác dụng hướng tâm thần kinh, nó
vừa có tác dụng kích thích của thuốc lắc (ecstasy), vừa có tác dụng gây ảo
giác của mescalin, psilocybin hoặc LSD. Khi dùng m-TFMPP, con người như
được “bùng phát” thấy nhạy cảm hơn, tinh tế hơn và cảm nhận tốt hơn. Tác
dụng này thay đổi tùy theo liều dùng: Ở liều uống khoảng 25mg, tác dụng
kích thích của thuốc lắc thể hiện rõ, nhưng với liều uống 75-105mg, tác dụng
gây ảo giác hay “loạn sắc” lại chiếm ưu thế. Tác dụng phụ có thể xảy ra bao
gồm phản ứng trên da, tiêu chảy hay rối loạn tiêu hóa, tăng thân nhiệt, tăng
nhịp tim, buồn nôn và nôn [7,8].
Tác dụng kích thích hệ thần kinh trung ương: m-TFMPP là chất
tổng hợp gây nghiện có tác dụng kích thích thần kinh trung ương kiểu thuốc
lắc (ecstasy). Trên thế giới, chúng thường được giới trẻ sử dụng trong các vũ
trường, sàn nhảy thay thế cho thuốc lắc. Nó tác dụng lên vỏ não, kích thích
thần kinh trung ương, ngoài ra chúng còn có kích thích hệ thống lưới hoạt hóa
của hệ thần kinh trung ương. Các tác dụng này gây ra những thay đổi trạng
thái tinh thần như: Cảm giác sảng khoái, tỉnh táo, phấn chấn, tinh thần nhanh

6


nhẹn, tăng tính năng động, tự tin, tăng vận động, giảm mệt mỏi,... Các trạng
thái này có thể giúp người sử dụng cải thiện được công việc một cách đơn
giản hoặc làm được nhiều việc, nhất là những việc cần thao tác của cơ thể như
điền kinh, nhảy múa… Bên cạnh những tác dụng trên, nó còn gây ra một số
tác dụng không mong muốn: Nếu dùng kéo dài hoặc dùng liều lớn thường gây
ra chán trường mệt mỏi, ảo giác, loạn sắc nhiều khi còn sảy ra hiện tượng đau
đầu, giảm trí nhớ, nhịp tim tăng, chóng mặt, rối loạn vận mạnh, kích động lẫn
lộn, suy nhược thần kinh [5,14].
Tác dụng kích thích hệ thần kinh giao cảm:
Tác dụng trên tim mạch: Tác dụng gây co mạch làm tăng huyết áp cả
tâm thu (huyết áp tối đa) và tâm trương (huyết áp tối thiểu). Với liều lớn có
thể xuất hiện loạn nhịp tim.
Tác dụng trên cơ trơn: Giảm co thắt đối với dạ dày, ức chế nhu động dạ
dày, ruột, giảm chuyển dịch thức ăn.
Các chất m-TFMPP có tác dụng giảm đau nhẹ và kích thích trung tâm
hô hấp: Đối với người bình thường, tác dụng này không đáng kể, nhưng đã bị
ức chế bởi các chất tác dụng trên hệ thần kinh trung ương thì chúng có tác
dụng kích thích hô hấp rõ ràng. Ngoài ra, nó còn gây chán ăn và một số tác
dụng phụ không mong muốn khác như: Mất nước, thân nhiệt giảm… [6,13].
Tác dụng gây ảo giác của các chất vòng: Do cấu trúc gần giống với
chất gây ảo giác mescalin, một số các dẫn chất vòng piperazine có thể gây ảo
giác ở các mức độ khác nhau.
Tác hại của m-TFMPP: Khi dùng quá liều, m-TFMPP gây ra các triệu
chứng ngộ độc dẫn đến tử vong, hôn mê, co giật, chảy máu não. Liều độc tối
thiểu gây chết người bình thường 200mg - 1gam. Triệu chứng ngộ độc xuất
hiện khi nồng độ TFMPP trong máu 0,2-3µg/ml và gây chết người khi nồng
độ lớn hơn 0,5µg/ml [25,34].
1.2. Các phương pháp phân tích m-TFMPP:
Hiện nay, các nhà khoa học trên thế giới không chỉ nghiên cứu xác định

7


được m-TFMPP trong mẫu viên nén, viên nhộng,… mà còn nghiên cứu xác
định được m-TFMPP và sản phẩm chuyển hóa của nó trong mẫu sinh học. Có
nhiều phương pháp để phân tích định tính và định lượng m- TFMPP như:
Phản ứng màu, sắc ký lớp mỏng (TLC), quang phổ hồng ngoại (FTIR), sắc ký
khí, sắc kí khí khối phổ (GC-FID, GC-MS), sắc ký lỏng khối phổ (LC/MS)...
[32,37,38].
1.2.1. Phương pháp phản ứng màu:
Phản ứng màu được dùng để nhận biết nhanh sự có mặt của chất ma tuý
có trong mẫu. Phương pháp này thường được thực hiện ngay tại hiện trường
hoặc trong phòng thí nghiệm giám định trước khi phân tích trên các thiết bị
hiện đại. m-TFMPP là hợp chất dị vòng, trong phân tử chứa cả nitơ bậc hai và
nitơ bậc ba, vì vậy thuốc thử dùng trong phản ứng màu có thể là Simon,
Marquis hoặc Dragendorff…
Các hợp chất có nitơ bậc hai thường cho màu xanh với thuốc thử
Simon. Tuy nhiên, các dẫn xuất của piperazin cho kết quả kém nhạy hơn
(màu sắc xuất hiện chậm và nhạt) so với các chất ma túy khác như MA,
MDMA. Giữa dạng muối và dạng bazơ của TFMPP cũng cho kết quả khác
nhau khá nhiều. Dạng bazơ tan trong thuốc thử Simon kém hơn nên màu sắc
quan sát được cũng kém nhạy hơn so với dạng muối.
Sự thay đổi màu sắc khi dùng thuốc thử Marquis là do cấu trúc phân tử
có chứa C, H và N gây nên. Sự khác nhau về màu sắc với những hợp chất
khác nhau là do sử dụng thêm H 2SO4 đặc. Vì vậy trong các phản ứng màu với
Marquis, tác giả thường cho thêm 3 giọt H 2SO4 đặc. Chính H2SO4 đặc này
đóng vai trò như tác nhân xúc tác cho phản ứng. Phản ứng này giống nhau với
hầu hết các dẫn xuất của piperazine trừ p-TFMPP và o-MeOPP. Với Marquis,
m-TFMPP đổi từ kết tủa trắng sang nâu nhạt, khi thêm H 2SO4 đặc chỉ có thể
quan sát được kết tủa trắng.
Các ancaloit chứa N bậc ba đều cho kết quả dương tính với thuốc thử
Dragendoff. Hợp chất m-TFMPP có chứa N bậc hai và N bậc ba nên cho màu
da cam, đỏ da cam hoặc vàng da cam với Dragendoff [22].

8


1.2.2. Phương pháp sắc ký bản mỏng (TLC):
Mẫu chứa thành phần m-TFMPP được hòa tan trong các dung môi dễ
bay hơi như metanol, aceton,... và được triển khai trên bản mỏng silicagen.
Quá trình tách xảy ra khi cho pha động (hệ dung môi) chuyển qua lớp mỏng
chất hấp phụ (pha tĩnh). Khi dung môi đi lên, nhờ tác dụng của lực mao dẫn,
chất phân tích (m-TFMPP) sẽ dịch chuyển theo phương chuyển động của
dung môi. Trong quá trình chuyển động qua chất hấp phụ, do hệ số phân bố
khác nhau mà chất phân tích được tách ra khỏi các chất khác. Tùy theo từng
loại thuốc thử để nhận biết mà trên bản mỏng ta quan sát được sắc đồ của các
chất với hệ số đường đi khác nhau.
Hệ dung môi dùng để triển khai có thể là các hệ sau: 2-butanone:
dimethylformamide: ammonia 25% (13: 0,9: 0,1 v/v); 2-propanol: Ammoniac
25% (95: 5 v/v); acetone: toluene: ammoniac 25% (20: 10: 1 v/v); methanol:
ammoniac 25% (100: 1,5 v/v) hoặc 1-butanol: axit acetic: nước (2: 1: 1 v/v)
Thuốc thử nhận biết có thể là các thuốc thử sau: thuốc thử Dragendoff,
Simon, Iodoplatinate, dung dịch iot 1% - methanol, dung dịch p-DMAB hoặc
có thể soi dưới đèn tử ngoại ở bước sóng 254nm để nhận ra sự có mặt của mTFMPP và các dẫn xuất khác của piperazine [26,29].
1.2.3. Phương pháp quang phổ hồng ngoại (FTIR):
Ba đồng phân của trifluoromethylphenylpiperazine đã được nhiều tác
giả nghiên cứu bằng phương pháp quang phổ hổng ngoại. Các kết quả nghiên
cứu chỉ ra rằng sự khác nhau về phổ của ba đồng phân trên là do cấu trúc, vị
trí nhóm thế vào vòng thơm, vì vậy gây ra sự khác nhau về vùng dao động
biến dạng 600 – 1000 cm-1. Hình 1.3.3 dưới đây chỉ ra sự khác biệt về dạng
phổ giữa các đồng phân và giữa dạng bazơ và dạng muối hydroclorit [22]:

9


Hình 1.3.3. Phổ hồng ngoại của TFMPP
1.2.4. Phương pháp sắc kí lỏng khối phổ (LC-MS):
Sắc kí lỏng khối phổ là một trong những phương pháp phân tích hiện đại,
cho phép phân tích định tính và định lượng chất phân tích ở nồng độ ppb. Khi phân
tử m-TFMPP va chạm với dòng điện tử có năng lượng cao, dưới tác dụng của dòng
điện này các ion được hình thành. Sau đó, ion này bị bẻ gẫy thành các ion có khối
lượng nhỏ hơn. Thông qua bộ phận thu nhận tín hiệu, các ion này được phát hiện,
từ đó cho thông tin về khối lượng và cấu trúc phân tử của hợp chất.
Với phương pháp này, điều kiện tối ưu để phân tích đã được nhiều tác giả
đề cập đến: Pha động là hỗn hợp của axit formic 10mM (A) và acetonitril (B)
với gradient để tách như sau: 0-2 phút (5% B); 2-3 phút (5-10% B); 3-5 phút
(10% B), 5-10 phút (10-50% B); 10-15 phút (50% B); 15-15,5 phút (50-5% B);
15,5-45 phút (5% B), tốc độ dòng 0,2ml/phút và thực hiện ở 400C với cột C18.
Hệ thống khối phổ dùng kĩ thuật ion hóa bằng va chạm điện tử với
dòng điện 60eV, giới hạn quét m/z = 70 – 300. Hình 1.3.4 dưới đây chỉ ra sự
phân thành các mảnh phổ đặc trưng của TFMPP [22,26].

10


Điện thế

30V

60V

Hình 1.3.4. Sắc kí đồ của TFMPP khi phân tích bằng LC-MS
1.2.5. Phương pháp sắc kí khí khối phổ (GC-MS):
Tương tự như sắc kí lỏng khối phổ, sắc kí khí khối phổ bao gồm hệ
thống sắc kí khí được dùng kết hợp với hệ thống khối phổ để tăng độ nhạy
cho cả phân tích định tính và định lượng. Thông qua hệ thống sắc kí khí, các
chất được tách ra khỏi nhau, thông qua hệ thống khối phổ có thể xác định
được các mảnh phổ của các chất có trong mẫu phân tích.
Mẫu phân tích chứa thành phần m-TFMPP thường tồn tại dưới dạng
muối, do đó cần chuyển từ dạng muối sang dạng bazơ bằng cách hòa tan
trong môi trường kiềm mạnh pH = 12 và chiết bằng diethylether. Việc phân
tích được thực hiện trên cột Rtx-5MS với chiều dài cột 30m, đường kính mao
quản 0,25m, bề dày lớp film pha tĩnh 0,25µm, nhiệt độ injector và interface
tương ứng là 2800C và 3000C, nhiệt độ lò từ 900C (giữ 1 phút) tăng 150C/phút
đến 3000C (giữ 5 phút), khí mang là He với tổng các dòng 50ml/phút, áp suất

11


đầu cột 72,3 kPa.
Sau khi tách bằng hệ thống sắc kí khí, m-TFMPP có thể được xác định
bằng cách quét toàn bộ các ion (chế độ fullscan) trên thiết bị khối phổ hoặc
chỉ lựa chọn một số ion cơ bản, đặc trưng (chế độ SIM), kĩ thuật ion hóa bằng
va chạm điện tử với dòng điện có năng lượng cao 70 eV. Bằng cách lựa chọn
các ion đặc trưng, cơ bản của phân tử, các nhà khoa học có thể tách và xác
định được cả 3 đồng phân của TFMPP. Các mảnh phổ đặc trưng của các đồng
phân TFMPP được chỉ ra trong hình 1.3.5.1 sau đây:

Hình 1.3.5.1. Phổ khối các của TFMPP khi phân tích bằng GC-MS
Bên cạnh việc định lượng m-TFMPP bằng sắc kí khí,nhiều tác giả cũng
đã đề cập tới việc định lượng m-TFMPP bằng sắc kí khí khối phổ. Định lượng
m-TFMPP bằng phương pháp sắc kí khí khối phổ dựa vào việc lựa chọn một
số mảnh phổ đặc trưng (56, 145, 188, 230). Thông qua tỷ lệ chiều cao các
mảnh đặc trưng của m-TFMPP và chiều cao pic nội chuẩn mà ta có thể xác
định được hàm lượng m-TFMPP có trong mẫu [19,22].

12


Trong một số trường hợp, khi hàm lượng mẫu quá nhỏ, nhiều tác giả đã
nghiên cứu việc dẫn xuất hóa các hợp chất của TFMPP nói riêng và
piperazine nói chung để tăng độ nhạy của chúng. Việc dẫn xuất có thể được
thực hiện bằng nhiều kĩ thuật khác nhau trước khi sử dụng trên các thiết bị
phân tích hiện đại như: Kĩ thuật acetyl hóa, trifluoroacetyl hóa hoặc
trimethylsilyl hóa [19,22,23,37]
Các hình vẽ dưới đây chỉ ra thời gian lưu và phổ khối của m-TFMPP
khi được dẫn xuất hóa.

Hình 1.3.5.2. C: N-TFA- o-TFMPP; B: N-TFA- m-TFMPP;
D: N-TFA- p-TFMPP
1.3. Giám định m-TFMPP:
1.3.1. Nguyên tắc trong giám định ma túy:
Nhằm thống nhất và đảm bảo sự chấp nhận quốc tế về kết quả giám
định các chất ma túy, tiền chất mẫu bắt được, các nhà khoa học hình sự đã
thống nhất đưa ra “ nguyên tắc tiêu chuẩn tối thiểu trong giám định ma túy bắt
được ”.

13


Hạng A
Quang phổ hồng ngoại

Hạng B
Điện di mao quản

Hạng C
Phản ứng màu

( Infrared
Spectrophotometry )
Phổ khối lượng

( Capillary
Electrophoresis)
Sắc kí khí GC

( Color Tests )

( Mass Spectroscopy)

( Gas Chromatography)

Quang phổ hồng ngoại
gần

Phổ chuyển dịch ion

Phổ huỳnh quang
( Fluorescence
Spectroscopy )
Phương pháp miễn dịch

(Ion Mobility
Spectrophotometry)

(Immunoassay)

Sắc kí lỏng

Xác định điểm chảy
( Meltinh Point )

Phổ Raman

( Liquid
chromatography)
Các test vi tinh thể

( Raman spectroscopy )

( Microcrystalline Tests )

( Near Infrared
Spectrophotometry )
Phổ cộng hưởng từ hạt
nhân ( Nuclear Magnetic
Resonance spectroscopy )

Quang phổ tử ngoại
( Ultraviolet
Spectrophotometry )

Nhận dạng dược phẩm
( Phamrmaceutical
Identifiers )
Sắc kí lớp mỏng
( Thin layer
chromatography )
Xác định hình thái: vi thể
Macroscopic
Examination
Microscopic Examination
Việc áp dụng nguyên tắc tiêu chuẩn tối thiểu như sau: Khi đã vận dụng
một phương pháp phân tích ở hạng A để phân tích mẫu thì ít nhất phải dùng
thêm một phương pháp phân tích khác (hạng A, B hay C). Khi không sử dụng

14


phương pháp phân tích nào ở hạng A đều phải sử dụng ít nhất ba phương
pháp khác đã được thẩm định [31].
1.3.2. Tình hình giám định m-TFMPP ở Việt Nam:
TFMPP là một chất ma túy mới xuất hiện ở Việt Nam. Hiện nay, trong
cả nước chưa có quy trình chuẩn được thẩm định dùng trong giám định
TFMPP. Viện khoa học hình sự đã bước đầu tiến hành nghiên cứu, xác định
TFMPP trong mẫu viên nén. Việc phân tích tốn nhiều thời gian kinh phí và
đều phụ thuộc vào kinh nghiệm, sự mày mò của Giám định viên kết hợp với
sự hỗ trợ của các nhà khoa học, thiết bị máy móc ngoài ngành. Đó là thực
trạng gây khó khăn không nhỏ, ảnh hưởng đến thời hiệu giam giữ đối tượng
của cơ quan điều tra (theo qui định thời hiệu giam giữ không quá 3 ngày và
lệnh giam giữ chỉ được gia hạn tối đa không quá 2 lần) và khó khăn cho Giám
định viên khi bảo vệ kết luận trước tòa. Khi chưa có quy trình chuẩn thì
không thể triển khai công tác giám định tại các Phòng kỹ thuật hình sự - Công
an các tỉnh. Đây là một nhiệm vụ và thách thức không nhỏ đối với lực lượng
phòng chống ma túy nói chung và lực lượng kỹ thuật hình sự nói riêng.

15


CHƯƠNG 2. THỰC NGHIỆM
2.1. Nội dung và phương pháp nghiên cứu:
m-TFMPP xuất hiện ở nước ta thường được trộn với tá dược và được
ép thành viên dưới dạng viên nén hoặc viên nhộng. Do đó, để định tính và
định lượng m-TFMPP ta cần tách, chiết được m-TFMPP từ các mẫu viên trên.
Dựa vào hệ thống sắc kí khí để tách hoàn toàn m-TFMPP ra khỏi những chất
khác. Thông qua hệ thống khối phổ có thể định lượng m-TFMPP dựa vào các
mảnh phổ đặc trưng của nó [3,15].
Cơ chế phân mảnh của m-TFMPP:

16


HN CH2

C2H3N m/z=29

F3 C
.
N

+

NH

NH

C3H7N m/z=57

C4H9N2 m/z=85
C7H4F3 m/z=145

F3 C
N

+
NH

NH

C3H 6N m/z=56

C11H13F3N2 M+= 230

.
CH2
N

.

CF3

+

CH2

+ CH2
N
CH 3

C9H9F3N m/z=188

C9H10F3N m/z=189

CH2
N

CH2

C2H4N m/z=42

F3 C

F 3C

+

F3C

+
N CH

N CH 2

C8H6F3N m/z=173

C8H5F3N m/z=172

Hình 2.1: Sơ đồ phân mảnh khối của m-TFMPP không dẫn xuất.

17


Để xây dựng quy trình giám định định tính và định lượng m-TFMPP
bằng thiết bị GC-MS, trong luận văn này chúng tôi nghiên cứu các vấn đề sau
đây:
1. Nghiên cứu điều tối ưu để tách m-TFMPP trong hỗn hợp ATS thường
gặp khác trên thiết bị GC-MS.
2. Khảo sát điều kiện tách, chiết m-TFMPP từ mẫu viên nén:
• Dung môi chiết.
• Môi trường chiết (pH).
• Đánh giá hiệu quả chiết.
3. Phương pháp định lượng m-TFMPP:
• Xây dựng đường hồi qui tuyến tính của m-TFMPP;
• Tìm giới hạn phát hiện (LOD), giới hạn định lượng (LOQ) của
phương pháp.
• Đánh giá tính phù hợp của phương pháp: Sai đố tương đối, hiệu
suất thu hồi,…
4. Ứng dụng: Định lượng m-TFMPP trong mẫu viên nén từ một số vụ án
xuất hiện ở Việt Nam.
5. Bước đầu dẫn xuất hóa để phân tích lượng vết m-TFMPP.
2.2. Hóa chất, thiết bị:
2.2.1. Hóa chất:
m-TFMPP chuẩn 2000ppb: Cân chính xác 20mg m-TFMPP trên cân
phân tích, hòa tan và định mức thành 10ml bằng metanol.
Nội chuẩn Docosan ( C22H46 ) 1mg/ml: Cân chính xác 100mg Docosan
trên cân phân tích, hòa tan và định mức thành 100ml bằng etylacetat.
Mẫu phân tích: Các mẫu viên chứa thành phần m-TFMPP được nghiền
mịn, trộn đều. Cân chính xác một lượng chất bột trên, hòa tan và định mức

18


đến vạch bằng HCl 0,1M sao cho nồng độ là ở dạng bột 1mg/ml. Lắc đều,
siêu âm và lọc vào bình sạch, khô, bảo quản nơi thoáng mát.
Các dung môi tinh khiết dùng trong phân tích: Metanol, Cloroform,
Diclorometan, Etylacetat, Dietylete, n-Hexan.
Các hóa chất tinh khiết dùng trong phân tích: NaOH, HCl, Na 2SO4,
Na2HPO4, NaH2PO4,…
Một số mẫu ma túy tổng hợp: Ketamine, 1-Benzylpiperazine (BZP),
Methamphetamine (MA), 3,4-methylenedioxymethamphetamine (MDMA),…
2.2.2. Thiết bị:
GC-MS: Thermo-Finnigant - Autosampler AS3000.
GC-FID: Agilent 6890N (Mỹ) - Autosampler AS7683.
Cột Rtx-5MS (30m x 0,25mm x 0,25µm)
Máy siêu âm: Branson 1510.
Máy lắc: Unitwist 300.
Máy li tâm Hettich Zenntrifuugen Rotofix 32.
Cân phân tích: AE240 (d = 0,01mg, max 200g).
Máy điều nhiệt Memmer, Germany.
Các dụng cụ thông thường khác trong phòng thí nghiệm: tủ sấy, tủ ấm,
bình hút ẩm, bình định mức, pipet các loại...
2.3. Tiến hành thí nghiệm:
2.3.1. Lấy mẫu và xử lí mẫu:
Các viên nén thu giữ trong các vụ án được phân tích theo mẫu (các mẫu
được phân biệt theo đối tượng, vị trí thu giữ, ... tiến hành theo quy trình thu
lượm dấu vết ma túy chung). Ở mỗi mẫu được phân nhóm dựa theo kết quả
nhận dạng cảm quan: màu sắc, kích thước, lô-gô...
Nếu nhóm có số viên ≤ 3 thì thu tất cả.

19


Nếu nhóm có số viên n ≥ 4 thì số lượng thu là

n +1, bằng cách lấy

ngẫu nhiên trong nhóm (với n là tổng số viên trong nhóm). Các mẫu được bảo
quản trong túi nilon hoặc lọ thủy tinh nút mài khi chờ phân tích [35].
Các mẫu viên chứa thành phần m-TFMPP được nghiền mịn, trộn đều.
Cân chính xác một lượng chất bột trên, hòa tan và định mức đến vạch bằng
HCl 0,1M sao cho nồng độ là ở dạng bột 1mg/ml. Lắc đều, siêu âm và lọc vào
bình sạch, khô, bảo quản nơi thoáng mát.
2.3.2. Định tính, định lượng m-TFMPP:
Mẫu chuẩn: m-TFMPP dạng tinh khiết phân tích hòa tan trong metanol
và được trộn lẫn với docosan sao cho nồng độ docosan 0,1mg/ml. Lấy hỗn
hợp trên vào lọ và tiến hành phân tích ở điều kiện tối ưu.
Mẫu phân tích: Lấy vào ống nghiệm có lắp 5ml mẫu phân tích, 1ml
NaOH 25%, 5ml CHCl3, 0,5ml docosan 1mg/ml. Lắc xoáy, để phân lớp, lấy
dịch chiết vào lọ và tiến hành phân tích ở điều kiện tối ưu.
Định tính, định lượng m-TFMPP: Trong các nghiên cứu, chúng tôi sử
dụng phương pháp nội chuẩn để phân tích định tính, định lượng m-TFMPP:
Đối với phân tích định tính, cần xác định được các mảnh phổ đặc trưng của
chất phân tích. Đối với phân tích định lượng, yếu tố cần xác định là tỷ lệ diện
tích píc của m-TFMPP (dựa trên mảnh target) so với diện tích pic của nội
chuẩn docosan và nồng độ chất phân tích ở các điều kiện tối ưu đã chọn;
Nồng độ của m-TFMPP trong mẫu phân tích được tính dựa vào phương trình
hồi quy tuyến tính của m-TFMPP hoặc được tính trên phần mềm Xcalibul
trên thiết bị GC-MS: Thermo-Finnigant - Autosampler AS3000.

20


CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1. Điều kiện phân tích:
Tương tự như các chất ma túy nhóm ATS khác, m-TFMPP cũng là chất
ma túy được sản xuất theo con đường tổng hợp, nó vừa có tác dụng kích thích
thần kinh trung ương vừa có tác dụng gây ảo giác. Do vậy, các nghiên cứu sau
đây xuất phát từ điều kiện tối ưu cho việc phân tích các chất ma túy tổng hợp.
Lấy vào lọ sắc kí hỗn hợp các chất chuẩn gồm: MA, MDMA, MDA,
Ketamine, TFMPP, BZP,… và tiến hành phân tích trên thiết bị GC-MS ở các
điều kiện như sau:
• Điều kiện phân tích 1:
Chế độ MS: Chạy máy theo chế độ full Scan. Khoảng m/z: 40-500.
Chế độ chạy EI + (Electron Impact). Khí mang heli, tốc độ dòng 1,2
ml/phút. Lò sắc kí: 80oC giữ 0,5 phút, tăng 20oC/phút đển 270oC giữ đẳng
nhiệt 5 phút. Tổng chương trình sắc kí là 15 phút.

Hình 3.1.1. Sắc kí đồ của hỗn hợp chuẩn ở điều kiện phân tích 1.

21


Hình 3.1.2. Phổ khối của m-TFMPP ở điều kiện phân tích 1
Với điều kiện phân tích 1, trên sắc kí đồ ta thấy các chất ma túy tổng
hợp thông thường: MA, MDA, MDMA, Ketamin,… tách rất tốt ra khỏi nhau.
Tuy nhiên, khi có m-TFMPP thì chân pic của nó lại trùng với chân pic của
BZP và MDMA.
• Điều kiện phân tích 2:
Chế độ MS: full Scan. Khoảng m/z: 40-500.
Chế độ chạy EI + (Electron Impact).
Khí mang heli, tốc độ dòng 1,2 ml/phút. Lò sắc kí: 80oC giữ 0,5 phút,
tăng 15oC/ phút đển 270oC giữ đẳng nhiệt 2 phút. Tổng chương trình sắc kí là
15 phút.

22


Hình 3.1.3. Sắc kí đồ của hỗn hợp chuẩn ở điều kiện phân tích 2.

Hình 3.1.4. Phổ khối của m-TFMPP ở điều kiện phân tích 2
Tương tự như khi thực hiện ở điều kiện phân tích 1, ở điều kiện phân

23


tích 2, các chất ma túy tổng hợp thông thường tách ra khỏi nhau rất tốt, nhưng
chân pic của m-TFMPP, BZP và MDMA trùng nhau, gây khó khăn cho định
tính và định lượng m-TFMPP.
• Điều kiện phân tích 3:
Chế độ MS: full Scan. Khoảng m/z: 40-500.
Chế độ MS: SIM( m/z: 56, 57, 72, 85, 91, 134, 135, 145, 176, 180, 182,
188, 230, 310). Chế độ chạy EI + (Electron Impact). Khí mang heli, tốc độ
dòng 1,2 ml/phút. Lò sắc kí: 80 oC giữ 0,5 phút, tăng 20oC/ phút đến 170oC,
giữ 1 phút, tăng 15oC/phút đến 270oC giữ đẳng nhiệt 3 phút. Tổng chương
trình sắc kí 15,7 phút.

Hình 3.1.5. Sắc kí đồ của hỗn hợp chuẩn ở điều kiện phân tích 3 - full Scan.

24


Hình 3.1.6. Phổ khối của m-TFMPP ở điều kiện phân tích 3-full Scan

Hình 3.1.7. Sắc kí đồ của hỗn hợp chuẩn ở điều kiện phân tích 3-chế độ SIM.

25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×