Tải bản đầy đủ

Tiểu luận tốt nghiệp: GIẢI PHÁP NÂNG CAO TÍNH TRANH TỤNG TẠI PHIÊN TOÀ HÌNH SỰ THEO TINH THẦN CẢI CÁCH TƯ PHÁP

Giải pháp nâng cao tính tranh tụng tại Phiên toà hình sự theo cải cách tư pháp
BỐ CỤC ĐỀ TÀI:
APHẦN MỞ ĐẦU......................................................................................02
BPHẦN NỘI DUNG..................................................................................04
CHƯƠNG 1- KHÁI QUÁT CHUNG....................................................................04
1.1.
Một số vấn đề về cải cách tư pháp............................................................04
1.2.
Bản chất của tranh tụng tại phiên toà.......................................................05
1.3.
Sự ra đời và phát triển của khái niệm tranh tụng trong tố tụng...............08
1.4.
Các quy định hiện hành của pháp luật TTHS Việt Nam về vấn đề tranh
tụng tại phiên toà.......................................................................................10
1.4.1.
Các nguyên tắc đảm bảo tính tranh tụng tại phiên toà.............................10
1.4.2.
Chủ thể thực hiện tranh tụng....................................................................12
1.5.
Nội dung tranh tụng tại phiên toà.............................................................13
CHƯƠNG 2- THỰC TRẠNG, NGUYÊN NHÂN VÀ GIẢI PHÁP..................16

2.1.
Thực trạng tranh tụng tại phiên tòa hình sự.............................................16
2.2.
Nguyên nhân của hạn chế trong tranh tụng tại phiên tòa hình sự............18
2.2.1.
Quy định pháp luật chưa đầy đủ, chưa phù hợp.......................................18
2.2.2.
Đội ngũ thẩm phán, kiểm sát viên, luật sư chưa đáp ứng được yêu cầu
nhiệm vụ....................................................................................................19
2.2.3.
Nguyên nhân khác....................................................................................20
2.3.
Giải pháp...................................................................................................21
2.3.1.
Hoàn thiện các quy định của BLTTHS về tranh tụng tại phiên tòa.........21
2.3.1.1. Hoàn thiện các nguyên tắc cơ bản............................................................21
2.3.1.2. Hoàn thiện chế định về bảo đảm quyền bào chữa....................................22
2.3.1.3. Hoàn thiện các quy định về địa vị pháp lý, nhiệm vụ, quyền hạn của các
chủ thể tham gia phiên tòa hình sự...........................................................24
2.3.1.4. Hoàn thiện về thủ tục xét xử tại phiên tòa................................................25
2.3.2.
Kiện toàn đội ngũ Thẩm phán, Hội thẩm, Kiểm sát viên, Luật sư..........26
2.3.3.
Đào tạo các chức danh tư pháp theo hướng đáp ứng yêu cầu tranh tụng tại
phiên tòa....................................................................................................28
2.3.4.
Đảm bảo cơ sở vật chất và chế độ đãi ngộ phù hợp với những người tiến
hành tố tụng...............................................................................................30
2.3.5.
Tăng cường ý thức pháp luật trong nhân dân...........................................30
CPHẦN KẾT LUẬN.................................................................................32
CHÚ THÍCH:
VKS:
Viện kiểm sát
HĐXX: Hội đồng xét xử
LS:
Luật sư

1



Giải pháp nâng cao tính tranh tụng tại Phiên toà hình sự theo cải cách tư pháp

A-PHẦN MỞ ĐẦU
Những năm gần, tình hình vi phạm pháp luật ở nước ta xảy ra nghiêm trọng,
diễn biến phức tạp, có chiều hướng gia tăng cả về số lượng lẫn tính chất của tội
phạm. Chất lượng công tác nói chung và công tác xét xử nói riêng vẫn đang còn bộc
lộ nhiều didemr yếu kém, bỏ lọt tội phạm, làm oan người vô tội, xâm phạm đến
quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, của xã hội và công dân… Những điều đó
đã tạo nên dư luận xã hội không tốt khiến người dân thiếu lòng tin vào pháp luật
Nhà nước và niềm tin vào Đảng và nền công lý pháp luật chủ nghĩa. Các cơ quan
chức năng, ban ngành đã có nhiều cố gắng đấu tranh phòng chống tội phạm, nỗ lực
trong công tác cải cách tư pháp góp phần giữ vững an ninh - chính trị, trật tự an toàn
xã hội.
Đặc biệt với sự ra đời của NQ 08/NQ-TW 02/01/2002 và NQ 49/NQ-TW về
chiến lước cải cách tư pháp của Bộ Chính trị được xem như sự mở đầu cho công
cuộc cải cách tư pháp ở nước ta. Nghị quyết đề cập nhiều nội dung khác nhau của
công tác tư pháp từ hoạt động điều tra truy tố xét xử cho đến việc đào tạo cán bộ
tư pháp, tuy nhiên việc tăng cường yêu tố tranh tụng, nâng cao chất lượng tranh
tụng trong quá trinh xét xử vụ án hình sự, theo đó phán quyết của Toà án phải căn
cứ chủ yếu vào kết quá tranh tụng tại phiên toà.lại được coi là điểm nhấn của cải
cách tư pháp và là trọng tâm của Nghị quyết. Từ đó vấn đề nghiên cứu làm rõ cơ sở
lý luận, thực tiễn và nâng cao chất lượng của hoạt động tranh tụng tại phiên toà là
hết sức cần thiết.
Đã có nhiều bài viết, bài nghiên cứu sách chuyên khảo đề cập đến vấn đề tranh
tụng trong tố tụng hình sự, tuy nhiên các bài viết đó chỉ đề cập được một sô vấn đề
nhất định và còn có nhiều ý kiến trái chiều xung quanh các vấn đề đổi mới hoạt
động xét xử theo tinh thần cải cách tư pháp. Trước yêu cầu cấp thiết đó và để đảm
bảo bình đẳng dân chủ trong tố tụng hình sự, tránh bỏ lọt tội phạm và làm oan
người vô tội, tôi chọn đề tài : “Giải pháp nâng cao tính tranh tụng tại phiên toà
hình sự theo tinh thần cải cách tư pháp” làm đề tài tiểu luận của mình.
Mục đích của bài tiểu luận nhằm nhắm đến làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn của
vấn đề tranh tụng trong tố tụng hình sự tại phiên toà theo tinh thần cải cách tư pháp,
chỉ ra những bất cập tồn tại và thông qua đó trọng tâm vào những giải pháp thiết
thực nhằm nâng cao tính tranh tụng tại phiên toà hình sự hướng đến xây dựng xây
dựng một phiên toà hình sự công bằng dân chủ, đảm bảo sự công bằng, khách quan

2


Giải pháp nâng cao tính tranh tụng tại Phiên toà hình sự theo cải cách tư pháp
của pháp luật, không bỏ lọt tội phạm và làm oan người vô tội. Để làm được điều đó,
bài tiểu luận sẽ làm sáng tỏ:
1. Sơ lược về các quy định về tố tụng hình sự Việt Nam về tranh tụng tại phiên
toà và những yêu cầu của cải cách tư pháp. Từ đó phát triển làm sáng tỏ về
cơ sở lý luận của hoạt động tranh tụng tại phiên toà, các cơ sở pháp lý quy
định về tranh tụng tại phiên toà và ý nghĩa của tranh tụng tại phiên toà.
2. Phân tích đánh giá thực trạng tranh tụng tại phiên toà ở Việt Nam những năm
gần đây, qua đó rút ra những mặt tích cực cũng như những tồn tại hạn chế
trong hoạt động tranh tụng tại phiên toà.
3. Đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao tính tranh tụng tại phiên toà hình sự
theo tinh thần cải cách tư pháp dựa trên việc làm sáng tỏ cơ sở lý luận và
phân tích đánh giả thực tiễn của vấn đề.
Bải tiểu luận sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể: Phương pháp phân
tích, tổng hợp; phương pháp thống kê, so sánh; phương pháp lịch sử… nhằm làm rõ
nội dung và đạt được mục đích nghiên cứu của đề tài trong phạm vi nghiên cứu là
địa phương nơi thực tập: Thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng.
Do người viết lần đầu viết đề tài và thời gian nghiên cứu có hạn nên không
tránh khỏi nhiều hạn chế và sai sót. Vì vậy, người viết rất mong nhận được sự tận
tình quan tâm, giúp đỡ của quý thầy cô và các bạn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!

3


Giải pháp nâng cao tính tranh tụng tại Phiên toà hình sự theo cải cách tư pháp

B-PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1- KHÁI QUÁT CHUNG
1.1. Một số vấn đề về cải cách tư pháp
Ngày 02/6/2005, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 49 về Chiến lược cải
cách tư pháp đến năm 2020 với mục tiêu “Xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững
mạnh, dân chủ, hiện đại, bảo vệ công lý”. Hơn tám năm thực hiện, nền tư pháp
Việt Nam đã có những thay đổi rõ rệt trên tất cả các mặt, đặc biệt là hệ thống Tòa
án nhân dân (TAND), cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam.
Những yêu cầu cải cách tòa án:
Theo quy định của Hiến pháp và các đạo luật hiện hành, các cơ quan tư pháp ở
Việt Nam hiện nay bao gồm: cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát nhân dân (VKSND),
TAND và cơ quan thi hành án. Mỗi cơ quan tư pháp có chức năng, nhiệm vụ, quyền
hạn khác nhau được quy định chung tại Hiến pháp và quy định riêng tại các Luật
chuyên ngành. Sau hơn tám năm thực hiện Nghị quyết số 49 của Bộ Chính trị, các
cơ quan tư pháp đã có nhiều cố gắng trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ
được giao, kịp thời phát hiện, xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm pháp luật và
tội phạm. Tích cực giải quyết các vụ án dân sự, hành chính và thi hành án, góp phần
quan trọng vào việc giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ lợi ích
của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân. Tuy nhiên, vẫn tồn
tại một số hạn chế như: còn để xảy ra tình trạng oan sai trong điều tra, truy tố, xét
xử; khiếu nại, tố cáo của công dân trên lĩnh vực hoạt động tư pháp còn nhiều; số
lượng án tồn đọng khá lớn; kết quả thi hành án hình sự, dân sự còn gặp nhiều khó
khăn, vướng mắc...
Để tạo chuyển biến căn bản trong cải cách tư pháp, phải nghiên cứu tìm giải
pháp đột phá về vấn đề này, đó là phải tiến hành cải cách ở khâu then chốt nhất: cải
cách tổ chức và hoạt động của hệ thống tòa án. Bởi lẽ, chất lượng phán quyết, các
bản án và quyết định của tòa án là kết quả cuối cùng của cả chuỗi hoạt động tố tụng
của các cơ quan tư pháp (điều tra, truy tố, xét xử). Một bản án được tòa án tuyên
công bằng, khách quan, đúng pháp luật luôn tạo ra sức mạnh, tính chân lý của cả hệ
thống cơ quan tư pháp mới được người dân tin tưởng “tâm phục, khẩu phục”.

4


Giải pháp nâng cao tính tranh tụng tại Phiên toà hình sự theo cải cách tư pháp
Thông qua hoạt động của tòa án, các cơ quan điều tra, truy tố, thi hành án cũng phải
không ngừng nâng cao năng lực hoạt động của mình để đảm bảo tính đồng bộ, trách
nhiệm. Theo tinh thần thượng tôn pháp luật, pháp quyền và pháp luật thực định nếu
tòa án tuyên vô tội, tất yếu các cơ quan điều tra, VKS hoặc tòa án cấp dưới phải
thực hiện việc bồi thường nếu để xảy ra oan sai trong quá trình tố tụng.
Nghị quyết số 49 đã chỉ rõ “Cải cách tư pháp lấy trọng tâm là cải cách hệ
thống tòa án”, “Tổ chức hệ thống tòa án theo thẩm quyền xét xử, không phụ thuộc
vào đơn vị hành chính cấp huyện; tòa án sơ thẩm khu vực được tổ chức ở một hoặc
một số đơn vị hành chính cấp huyện; tòa án phúc thẩm có nhiệm vụ chủ yếu xét xử
phúc thẩm và xét xử sơ thẩm một số vụ án. tòa Thượng thẩm được tổ chức theo khu
vực có nhiệm vụ xét xử phúc thẩm. Tòa án nhân dân tối cao có nhiệm vụ tổng kết
kinh nghiệm xét xử, hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật, phát triển án lệ và xét
xử giám đốc thẩm, tái thẩm”.
Yêu cầu đầu tiên, cơ bản của việc xây dựng Nhà nước pháp quyền là phải đảm
bảo tính độc lập của tòa án. Hiến pháp, Luật Tổ chức TAND đã quy định rõ ràng
“Khi xét xử, Thẩm phán độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”. Vì vậy, cần xây dựng
tính độc lập của tòa án để giảm thiểu tối đa sự can thiệp từ bên ngoài vào hoạt động
của tòa án.
Yêu cầu thứ hai của cải cách tòa án là xây dựng mô hình tòa án, một mặt tạo
thuận lợi cho việc thực hiện quyền lực nhà nước nhưng cũng cần quan tâm đến lợi
ích của công dân khi có có việc liên quan đến tố tụng tại tòa. Quan điểm của Chủ
tịch Hồ Chí Minh về xây dựng cơ quan tư pháp phải “gần dân, hiểu dân, giúp dân,
học dân” vẫn là bài học vô cùng quý giá trong chiến lược cải cách tư pháp của
chúng ta hiện nay.
Yêu cầu thứ ba của cải cách tòa án là phải đặt ra mục tiêu góp phần làm cho
hoạt động xét xử đảm bảo “công bằng, liêm khiết”, cán bộ tòa án phải “vừa hồng,
vừa chuyên” như lời dạy của Chủ tịch Hồ chí Minh trong ngày đầu mới thành lập
ngành tòa án Việt Nam.
1.2. Bản chất của tranh tụng tại phiên toà:
Hiện nay, trong khoa học pháp lý còn nhiều ý kiến khác nhau về nội dung
tranh tụng tại phiên tòa. Có ý kiến cho rằng tại phiên tòa các bên chỉ thực hiện việc
tranh luận trong giai đoạn tranh luận, còn xét hỏi là nhiệm vụ của Hội đồng xét xử
và Viện kiểm sát. Những người khác lại cho rằng tranh tụng được thực hiện trong
hầu hết các giai đoạn của phiên tòa, đặc biệt là trong phần xét hỏi và tranh luận.

5


Giải pháp nâng cao tính tranh tụng tại Phiên toà hình sự theo cải cách tư pháp

Thực ra tranh tụng là một khái niệm nhập ngoại, xuất hiện ở Việt Nam giải
đoạn chúng ta chuẩn bị ban hành Bộ luật TTHS 2003, với nội dung là đề nghị bổ
sung vào Bộ luật TTHS nguyên tắc “tranh tụng”. Như vậy xuất phát điểm của khái
niệm tranh tụng để chỉ một kiểu tố tụng hình sự mà có những đặc điểm riêng so với
kiểu tố tụng hiện hành của Việt Nam (kiểu tố tụng xét hỏi). Nếu đưa nguyên tắc này
vào BLTTHS của Việt Nam sẽ dẫn đên việc thay đổi hoàn toàn bản chất của kiểu tố
tụng hiện hành.
Theo Nghị quyết số 08 của Bộ Chính trị thì khái niệm “tranh tụng được hiểu
đồng nhất với khái niệm “tranh luận”, nâng cao chất lượng tranh tụng nghĩa là nâng
cao chất lượng tranh luận tại phiên toà, với tư cách là nâng cao chất lượng một giai
đoạn tố tụng bằng giai đoạn tranh luận.
Trong toàn bộ quá trình tố tụng, xét xử đóng vai trò trung tâm, thể hiện đầy đủ
nhất bản chất của hệ thống tư pháp của mỗi nhà nước, là giai đoạn quyết định tính
đúng đắn, khách quan của việc giải quyết vụ án, bảo vệ lợi ích nhà nước, quyền và
lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân.
Trong xét xử, phiên tòa là giai đoạn có vai trò đặc biệt quan trọng và mang
tính quyết định trong giải quyết vụ án, thực hiện các nhiệm vụ, mục đích tố tụng đặt
ra. Vai trò quyết định đó của phiên tòa thể hiện ở những điểm sau đây:
- Thứ nhất, phiên tòa là nơi tòa án bằng thủ tục công khai, toàn diện thực
hiện cuộc điều tra chính thức để xác định sự thật khách quan của vụ án. Tòa án ra
bản án, quyết định trên cơ sở các chứng cứ được thu thập và kiểm tra công khai tại
phiên tòa. Việc chứng minh (bao gồm cả quá trình thu thập, kiểm tra và đánh giá
chứng cứ) được các chủ thể có quyền và lợi ích khác nhau (bên buộc tội, bên bào
chữa, nguyên đơn, bị đơn) thực hiện một cách bình đẳng, dân chủ tại phiên tòa khi
xét hỏi cũng như tranh luận. Việc chứng minh và từ đó xác định sự thật của vụ án
được tòa án thực hiện trên cơ sở chứng cứ được thu thập, thẩm tra tại phiên tòa và
cân nhắc, đánh giá của các bên tham gia tố tụng khác nhau;
- Thứ hai, phiên tòa đảm bảo sự tham gia của những người tham gia tố tụng.
Hơn ở đâu hết, tại phiên tòa quyền và nghĩa vụ tố tụng của những người tham gia tố
tụng được quy định và được đảm bảo thực hiện đầy đủ nhất bằng thủ tục tố tụng
trực tiếp, công khai. Tại phiên tòa khó có thể xảy ra các trường hợp vi phạm pháp
luật nghiêm trọng như bức cung, ép cung, dùng nhục hình v.v…;

6


Giải pháp nâng cao tính tranh tụng tại Phiên toà hình sự theo cải cách tư pháp

- Thứ ba, phiên tòa là nơi có điều kiện tốt nhất để thực hiện việc áp dụng
đúng đắn pháp luật. Qua phân tích nội dung các đề xuất của các bên tham gia tố
tụng về áp dụng pháp luật, Tòa án lựa chọn cho mình phương án áp dụng pháp luật
chính xác nhất để giải quyết đúng đắn vụ án;
- Thứ tư, phiên tòa là nơi tốt nhất thực hiện việc tuyên truyền, giáo dục pháp
luật. Thông qua thủ tục tại phiên tòa, việc điều tra công khai, việc tranh luận và đặc
biệt là qua việc công bố một bản án đúng đắn, hợp lý, hợp tình, tòa án giúp cho
những người tham gia tố tụng cũng như những người tham dự phiên tòa nâng cao
hiểu biết pháp luật, củng cố lòng tin vào pháp luật để từ đó không chỉ tự nguyện
tuân thủ pháp luật, mà còn tích cực tham gia vào đấu tranh phòng chống vi phạm
pháp luật v.v.
Như vậy, phiên tòa là giai đoạn trung tâm thể hiện đầy đủ nhất bản chất quá
trình tố tụng nói chung và xét xử nói riêng. Phiên tòa có sự tham gia đầy đủ của các
cơ quan tiến hành tố tụng, những người tiến hành tố tụng, những người tham gia tố
tụng với địa vị pháp lý được xác định. Thông qua phiên tòa, bằng thủ tục trực tiếp,
công khai, qua nghe ý kiến và đề xuất của các bên tham gia tố tụng, tòa án (với tư
cách là cơ quan tiến hành tố tụng quan trọng nhất) tiến hành xác định sự thật khách
quan của vụ án và ra các phán quyết giải quyết vụ án một cách đúng đắn, đầy đủ,
khách quan và đúng pháp luật.
Mỗi quốc gia khác nhau có các thủ tục tố tụng khác nhau mang yếu tố đặc
trưng cũng như truyền thống của mình. Tuy nhiên trong xã hội dân chủ, tiến bộ hiện
nay, nguyên tắc hai cấp xét xử được thực hiện ở tuyệt đại đa số các nhà nước trên
thế giới. Theo nguyên tắc này, bản án, quyết định sơ thẩm bị các bên tham gia tố
tụng có quyền và lợi ích liên quan kháng cáo, hoặc bị Viện kiểm sát kháng nghị
trong thời hạn luật định thì phải được xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm. Vì vậy,
trong tố tụng nói đến phiên tòa, tức là nói đến phiên tòa sơ thẩm, phiên tòa phúc
thẩm. Thế nhưng, là phiên tòa lần đầu xem xét và quyết định về toàn bộ vụ án,
phiên tòa sơ thẩm thể hiện đầy đủ nhất các yếu tố đặc trưng của phiên tòa. Ngoài ra,
tuỳ theo cách tổ chức của hệ thống tư pháp, ở các nước còn có các phiên tòa khác
như phiên tòa giám đốc thẩm, phiên tòa tái thẩm, phiên tòa phá án, nhưng đây là các
thủ tục đặc biệt, nên những phiên tòa này cũng mang yếu tố đặc biệt, không thể thực
hiện đầy đủ các yếu tố đặc trưng của một phiên tòa.

7


Giải pháp nâng cao tính tranh tụng tại Phiên toà hình sự theo cải cách tư pháp
Với vai trò quan trong như vậy, việc nâng cao chất lượng phiên tòa luôn luôn
là một nhu cầu, một đòi hỏi cấp thiết khách quan. Việc nghiên cứu hoàn thiện các
quy định của pháp luật tố tụng phải lấy thủ tục tại phiên tòa là tâm điểm. Việc
nghiên cứu xây dựng một hệ thống tố tụng tranh tụng hay hệ thống tố tụng khác có
các yếu tố tranh tụng phải được xuất phát trước tiên từ vấn đề tranh tụng tại phiên
tòa.
1.3. Sự ra đời và phát triển của khái niệm tranh tụng trong tố tụng
Sự ra đời và phát triển của khái niệm tranh tụng trong tố tụng gắn liền với sự
hình thành và phát triển của các tư tưởng dân chủ, tiến bộ trong lịch sử tư tưởng
nhân loại. Tranh tụng không chỉ là thành tựu pháp lý đơn thuần, mà cao hơn nó là
thành tựu của sự phát triển tư tưởng, của nền văn minh nhân loại. Trong xã hội hiện
đại, ở các nước dù có tổ chức hệ thống tư pháp khác nhau, dù là hệ thống luật án lệ
(common law), hệ thống luật lục địa (legal law) hay hệ thống luật xã hội chủ nghĩa,
thì ít hay nhiều và bằng các thể hiện khác nhau, trong hệ thống tố tụng đều có yếu tố
tranh tụng. Đây là cơ chế tố tụng có hiệu quả bảo đảm cho tòa án xác định sự thật
khách quan của vụ án, giải quyết đúng đắn vụ việc, đảm bảo sự công bằng và bảo
vệ các quyền và lợi ích của các bên tham gia tố tụng.
Vì thế, tôi không thể đồng ý với quan điểm cho rằng tranh tụng là yếu tố đặc
trưng của tư pháp tư sản; rằng tranh tụng là biểu hiện của nền dân chủ tư sản hình
thức; và vì vậy nó không thể có chỗ đứng trong hoạt động tư pháp xã hội chủ nghĩa;
rằng trong tư pháp xã hội chủ nghĩa chỉ có tố tụng xét hỏi và kết hợp với tranh luận
để giải quyết vụ án mà thôi v.v.
Theo Từ điển tiếng Việt, tranh tụng có nghĩa là kiện cáo lẫn nhau. Còn theo
nghĩa Hán Việt thì thuật ngữ tranh tụng được ghép từ hai từ “tranh luận” và “tố
tụng”. Tranh tụng là tranh luận trong tố tụng. Trong tố tụng bao giờ cũng có sự
tham gia của các bên có quyền và (hoặc) lợi ích trái ngược nhau yêu cầu tòa án
phân xử. Để có cơ sở cho tòa án có thể phân xử, pháp luật quy định cho các bên
tham gia tố tụng quyền khởi kiện vụ việc ra trước tòa án, chứng minh và tranh luận
để bảo vệ yêu cầu của mình.
Như vậy, tranh tụng bao giờ cũng gắn liền với hoạt động tài phán của tòa án.
Xét xử dân sự là hoạt động phân xử vụ kiện giữa các bên có quyền và lợi ích khác
nhau. Tại phiên tòa, tòa án tiến hành xác định sự thật của vụ án bằng cách điều tra

8


Giải pháp nâng cao tính tranh tụng tại Phiên toà hình sự theo cải cách tư pháp
công khai, chính thức về vụ việc, nghe các bên tranh luận về giải quyết vụ án từ góc
độ nội dung cũng như pháp luật áp dụng để ra phán quyết.
Tùy theo tính chất vụ án mà chức năng tố tụng, địa vị pháp lý của các bên
cũng khác nhau. Tranh tụng trong tố tụng hình sự diễn ra giữa bên buộc tội và bên
bào chữa, chủ yếu là giữa công tố với người bào chữa và bị cáo; trong tố tụng dân
sự diễn ra giữa nguyên đơn với bị đơn dân sự. Để những người đó thực hiện việc
tranh tụng, pháp luật tố tụng quy định cho họ các quyền và nghĩa vụ tố tụng nhất
định. Vì vậy, trong khoa học pháp lý, tranh tụng được phân thành tranh tụng dân sự,
tranh tụng kinh tế, tranh tụng hành chính.
Trong tất cả các loại tranh tụng, tòa án là cơ quan thực hiện chức năng xét
xử. Tòa án thực hiện chức năng như một trọng tài có địa vị độc lập với các bên để
phân xử một cách khách quan, theo pháp luật. Trong tố tụng hình sự, chức năng xét
xử của tòa án độc lập với chức năng buộc tội và chức năng bào chữa; trong tố tụng
dân sự, kinh tế, tòa án là người đứng ra phân xử giữa bên khởi kiện và bên bị kiện
để ra phán quyết về vụ án.
1.4. Các quy định hiện hành của pháp luật TTHS Việt Nam về vấn đề
tranh tụng tại phiên toà
1.4.1. Các nguyên tắc đảm bảo tình tranh tụng tại phiên toà
Hiện nay, pháp luật TTHS Việt Nam chưa ghi nhận các nguyên tắc tranh
tụng là nguyên tắc cơ bản. Để hoạt động tranh tụng được đảm bảo thực thi trong
thực tế, BLTTHS 2003 ghi nhận một số nguyên tắc như: Nguyên tắc: “Không ai bị
coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật” (Điều 9
BLTTHS); nguyên tắc: “Bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị
cáo” (Điều 11 BLTTHS); nguyên tắc: “Thực hiện chế độ xét xử có Hội thẩm tham
gia” (Điều 15 BLTTHS); “Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo
pháp luật” (Điều 16 BLTTHS); nguyên tắc: “Xét xử công khai” (Điều 18
BLTTHS); nguyên tắc: “Bảo đảm quyền bình đẳng trước Toà án” (Điều 19
BLTTHS):
1.4.2. Chủ thể thực hiện tranh tụng
Chủ thể thực hiện việc tranh tụng tại Toà án chủ yếu được diễn ra giữa bên
buộc tội và bên gỡ tội.

9


Giải pháp nâng cao tính tranh tụng tại Phiên toà hình sự theo cải cách tư pháp
Đối với các chủ thể thuộc bên gỡ tội, bao gồm bị can, bị cáo, người bào chữa.
Điều 50 BLTTHS quy định bị cáo có các quyền: được nhận quyết định đưa vụ án ra
xét xử; quyết định áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn; quyết định
đình chỉ vụ án; bản án, quyết định của Toà án; các quyết định tố tụng khác theo quy
định của Bộ luật này; quyền được tham gia phiên toà; được giải thích về quyền và
nghĩa vụ... So với BLTTHS năm 1988 thì BLTTHS năm 2003 đã mở rộng hơn các
quyền của bị cáo. Đặc biệt, quyền “trình bày ý kiến, tranh luận tại phiên tòa” của bị
cáo được nhấn mạnh tại điểm g, khoản 2, Điều 50 của bộ luật.

Điều 58 BLTTHS năm 2003 quy định người bào chữa có quyền tham gia tố
tụng ngay từ khi có quyết định tạm giữ trong trường hợp bắt người theo quy định tại
Điều 81 và Điều 82 của bộ luật. Bên cạnh việc tiếp tục ghi nhận các quyền cơ bản
của người bào chữa, BLTTHS 2003 đã quy định khá nhiều các quyền mới cho
người bào chữa như: có mặt khi lấy lời khai của người bị tạm giữ; xem các biên bản
về hoạt động tố tụng có sự tham gia của mình và các quyết định tố tụng liên quan
đến người mà mình bào chữa; đề nghị Cơ quan điều tra báo trước về thời gian, địa
điểm hỏi cung bị can để có mặt khi hỏi cung bị can; sao chụp tài liệu trong hồ sơ vụ
án liên quan đến việc bào chữa; được khiếu nại hành vi tố tụng của người có thẩm
quyền tiến hành tố tụng...
Các quyền và nghĩa vụ của bị đơn dân sự hoặc người đại diện hợp pháp của họ
được quy định tại Điều 53 BLTTHS. Nhằm bảo đảm cho họ có thể bảo vệ được các
quyền và lợi ích hợp pháp của mình, BLTTHS năm 2003 đã chú trọng tới mở rộng
tranh tụng tại phiên tòa với quy định bị đơn dân sự hoặc người đại diện hợp pháp
của họ có quyền “trình bày ý kiến tranh luận tại phiên tòa để bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của bị đơn” tại điểm đ, khoản 2, Điều 53. Quyền và nghĩa vụ của các chủ
thể thuộc bên bào chữa còn được quy định tại một số điều luật khác của BLTTHS
như: Điều 10, Điều 24, Điều 62, Điều 201, Điều 207, Điều 212, Điều 215, Điều
247...
Đối với các chủ thể của chức năng buộc tội tại phiên tòa như VKS (KSV),
người bị hại, nguyên đơn dân sự và người đại diện hợp pháp của họ, BLTTHS cũng
quy định những quyền, nghĩa vụ pháp lý cụ thể.
Theo quy định của BLTTHS 2003 thì VKS có các quyền và nghĩa vụ sau: có
trách nhiệm chứng minh tội phạm (Điều 10); áp dụng mọi biện pháp hợp pháp để
xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ; làm rõ những

10


Giải pháp nâng cao tính tranh tụng tại Phiên toà hình sự theo cải cách tư pháp
chứng cứ xác định có tội và chứng cứ xác định vô tội; những tình tiết tăng nặng,
giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo; bảo đảm cho bị can, bị cáo thực
hiện quyền bào chữa (Điều 11); giải thích và bảo đảm cho những người tham gia tố
tụng thực hiện các quyền và nghĩa vụ (Điều 62); thu thập, xem xét và đánh giá
chứng cứ (các Điều 65 và 66).
Điều 37 BLTTHS đã quy định cụ thể về các hoạt động của KSV tại phiên
tòa: “đọc cáo trạng, quyết định của VKS liên quan đến việc giải quyết vụ án; hỏi,
đưa ra chứng cứ và thực hiện việc luận tội; phát biểu quan điểm về việc giải quyết
vụ án, tranh luận với những người tham gia tố tụng tại phiên tòa”. Song hành với
quyền công tố, KSV tham gia phiên tòa còn có quyền “kiểm sát việc tuân theo pháp
luật trong hoạt động xét xử của Toà án, của những người tham gia tố tụng và kiểm
sát các bản án, quyết định của Toà án”.
Ngoài ra, người bị hại, nguyên đơn dân sự tham gia tố tụng thực hiện chức
năng buộc tội ở một mức độ nhất định. Để các chủ thể này có thể thực hiện chức
năng của mình trong tố tụng hình sự, pháp luật quy định cho họ những quyền và
nghĩa vụ tố tụng nhất định được quy định tại các Điều 51, Điều 52 BLTTHS như
quyền “trình bày ý kiến, tranh luận tại phiên tòa để bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp”; quyền “khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm
quyền tiến hành tố tụng”.

1.5. Nội dung tranh tụng tại phiên toà
Hiện nay, trong khoa học pháp lý còn nhiều ý kiến khác nhau về nội dung
tranh tụng tại phiên tòa. Có ý kiến cho rằng tại phiên tòa các bên chỉ thực hiện việc
tranh luận trong giai đoạn tranh luận, còn xét hỏi là nhiệm vụ của Hội đồng xét xử
và Viện kiểm sát. Những người khác lại cho rằng tranh tụng được thực hiện trong
hầu hết các giai đoạn của phiên tòa, đặc biệt là trong phần xét hỏi và tranh luận.
Nếu chỉ thu hẹp việc tranh tụng trong phần tranh luận thì không đạt được
các mục đích tranh tụng đặt ra. Để thực sự tham gia vào quá trình chứng minh, các
bên tham gia tranh tụng phải được phép đưa ra chứng cứ, thực hiện việc xét hỏi,
xem xét vật chứng, để đảm bảo tính đầy đủ, toàn diện, chứng cứ phải được thu thập,
kiểm tra, đánh giá từ góc độ, cách nhìn nhận khác nhau cả của bên nguyên (nguyên
đơn, buộc tội) cũng như bên bị (bị đơn, bị cáo). Hơn nữa, theo tố tụng hình sự của
nhiều nước, nhất là các nước theo truyền thống án lệ, phiên tòa không được phân

11


Giải pháp nâng cao tính tranh tụng tại Phiên toà hình sự theo cải cách tư pháp
chia rõ rệt thành phần xét hỏi, phần tranh luận thì quan điểm cho rằng tranh tụng chỉ
xảy ra trong phần tranh luận là không chính xác.
Theo tôi, nội dung tranh tụng tại phiên tòa bao gồm:
- Đưa ra chứng cứ mới bằng cách yêu cầu triệu tập thêm người làm chứng,
đưa ra vật chứng hoặc tài liệu mới. Hồ sơ, chứng cứ được xác lập trong giai đoạn
điều tra là rất quan trọng cho việc xét xử tại phiên tòa. Tuy nhiên, các chứng cứ có
trong hồ sơ là do các cơ quan tiến hành tố tụng thu thập, nhiều trường hợp chưa thể
đầy đủ và không loại trừ việc thiếu khách quan. Đặc biệt đối với vụ án hình sự,
trách nhiệm chứng minh thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng; cho nên đa số các
trường hợp Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát chỉ thu thập chứng cứ buộc tội, không
chú trọng thu thập chứng cứ gỡ tội; trong khi đó bên bào chữa (người bào chữa, bị
can, bị cáo) không được quyền chủ động thu thập chứng cứ làm hạn chế khả năng
tranh tụng của họ tại phiên tòa. Vì vậy, cho nên pháp luật tố tụng quy định các bên
tham gia tố tụng có quyền yêu cầu triệu tập thêm người làm chứng, quyền đưa ra
các chứng cứ mới tại phiên tòa. Nhiệm vụ của tòa án là đảm bảo để các bên thực
hiện quyền tố tụng này; tránh trường hợp sợ phiền phức, sợ phiên tòa đi chệch quỹ
đạo chuẩn bị nên không chú trọng thủ tục này tại phần mở đầu phiên tòa.
- Thực hiện việc xét hỏi tại phiên tòa. Xét hỏi thực chất là cuộc điều tra
chính thức tại phiên tòa để xác định sự thật khách quan của vụ án. Vì vậy, các bên
tham gia tố tụng đều có quyền điều tra dưới sự điều khiển của chủ tọa phiên tòa từ
hỏi người khác, xem xét vật chứng, tài liệu. Việc xét hỏi này chỉ kết thúc khi tòa án
thấy rằng thông qua xét hỏi sự thật khách quan, đối tượng chứng minh trong vụ án
đã được xác định đầy đủ, các tình tiết liên quan đến việc giải quyết đã được làm rõ.
Vì thế cho nên, thủ tục tố tụng quy định quyền thu thập chứng cứ chỉ cho các cơ
quan tiến hành tố tụng, quy định gánh nặng xét hỏi cho tòa án, quy định chỉ cho
phép một số ít các bên tham gia xét hỏi (đại diện Viện kiểm sát, luật sư) cần được
xem xét lại từ góc độ tranh tụng;
- Phát biểu ý kiến về đánh giá chứng cứ. Qua việc điều tra chính thức, công
khai tại phiên tòa, mỗi bên tham gia tố tụng đều có cách nhìn nhận, đánh giá của
mình về kết qủa chứng minh. Để thực hiện chức năng tố tụng, nhiệm vụ tố tụng,
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, các bên tham gia tố tụng phải công khai
đưa ra ý kiến đánh giá của mình về sự thật khách quan của vụ án để giúp cho tòa án
cân nhắc khi ra phán quyết. Các đánh giá khác nhau, phản biện nhau của các bên

12


Giải pháp nâng cao tính tranh tụng tại Phiên toà hình sự theo cải cách tư pháp
tham gia tố tụng tại phiên tòa sẽ giúp cho tòa án khách quan hơn, toàn diện hơn,
thận trọng hơn khi đánh giá để ra phán quyết;
- Phát biểu ý kiến về pháp luật áp dụng. Thực tiễn cho thấy rằng, do nhiều lý
do khác nhau như kĩ thuật lập pháp chưa tốt, quy định của pháp luật chưa rõ ràng,
thiếu cụ thể, trình độ nhận thức pháp luật chưa tốt mà pháp luật được nhận thức rất
khác nhau trong hoạt động tố tụng. Vì vậy, nội dung của tranh tụng trong giai đoạn
tranh luận tại phiên tòa bao gồm việc các bên tham gia tố tụng đề nghị áp dụng luật
để bảo vệ quan điểm của mình trong giải quyết vụ án theo chức năng, nhiệm vụ
được giao. Ví dụ: trong phiên tòa hình sự, đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng
pháp luật hình sự để bảo vệ cáo trạng, bảo vệ việc buộc tội; người bào chữa đề nghị
áp dụng pháp luật hình sự để gỡ tội, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo v.v;
- Đề nghị biện pháp giải quyết vụ án liên quan đến quyền và lợi ích liên
quan. Mỗi bên tham gia tố tụng đều nhằm mục đích bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của mình. Vì vậy, nội dung không thể thiếu trong tranh tụng là các bên đề xuất
ý kiến và lập luận trên cơ sở chứng cứ, quy định của pháp luật để bảo vệ quyền và
lợi ích đó. Tùy theo tư cách tố tụng của mình mà phạm vi xét hỏi, tranh luận, đề
xuất ý kiến của mỗi người tham gia tố tụng cũng có khác nhau: đại diện Viện kiểm
sát bảo vệ cáo trạng, người bào chữa, bị cáo bảo vệ quan điểm không có tội hoặc
giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nguyên đơn dân sự đòi hỏi việc bồi thường, bị đơn
dân sự bác bỏ hoặc giảm mức bồi thường v.v
Như vậy, tranh tụng tại phiên tòa là hình thức tố tụng mà trong đó Tòa án
thay mặt nhà nước xác định sự thật của vụ án trên cơ sở điều tra công khai tại phiên
Tòa, nghe ý kiến của các bên tham gia tố tụng để ra quyết định phán xét giải quyết
vụ án một cách khách quan, toàn diện, đầy đủ và đúng pháp luật.
Tóm lại:
Từ những phân tích nội dung một số quy định của BLTTHS năm 2003 có thể
thấy rằng TTHS nước ta là tố tụng thẩm vấn nhưng đã đan xen các yếu tố tranh tụng
trong quá trình tố tụng, nổi bật là tranh tụng tại phiên tòa. Mặc dù vậy, tranh tụng
vẫn chưa được quy định là một trong những nguyên tắc cơ bản của TTHS Việt
Nam.
Qua hơn 10 năm thi hành BLTTHS 2003; thực hiện Nghị quyết số 08NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng (Nghị

13


Giải pháp nâng cao tính tranh tụng tại Phiên toà hình sự theo cải cách tư pháp
quyết số 08) và Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02-06-2005 của Bộ Chính trị Ban
chấp hành Trung ương Đảng (Nghị quyết số 49); thực tiễn đã phản ánh những mặt
đạt được từ hoạt động tranh tụng tại phiên toà như: nâng cao vị trí vai trò của luật
sư trong hoạt động TTHS; nâng cao chất lượng xét xử; nâng cao việc thực hiện
quyền con người; nâng cao ý thức pháp luật cho nhân dân. Bên cạnh đó thực tiễn
tranh tụng cũng phản ánh những mặt hạn chế như: tình trạng vi phạm các nguyên
tắc cơ bản của TTHS; việc thực hiện các chức năng tố tụng còn nhiều bất cập; việc
xét hỏi, tranh luận tại phiên toà chưa đáp ứng được yêu cầu tranh tụng…Nguyên
nhân của những tồn tại hạn chế trên bao gồm nguyên nhân chủ quan và nguyên
nhân khách quan, có thể kể đến là do những hạn chế trong quy định của pháp luật;
do trình độ chuyên môn và kỹ năng, đạo đức nghề nghiệp của đội ngũ thẩm phán,
kiểm sát viên, luật sư… từ đó đòi hỏi phải có những giải pháp nhằm nâng cao chất
lượng tranh tụng tại phiên tòa, thể chế hóa được đường lối, tư tưởng của Đảng về
cải cách tư pháp.

CHƯƠNG 2- THỰC TRẠNG, NGUYÊN NHÂN
VÀ GIẢI PHÁP
Tranh tụng tại phiên tòa có vai trò hết sức quan trọng, nó không chỉ là sự
đánh giá kết quả hoạt động của các giai đoạn điều tra, truy tố mà còn có tác dụng to
lớn đối với chính giai đoạn xét xử. Đây chính là cơ chế tối ưu nhất để bảo vệ quyền
lợi hợp pháp của bị cáo, đảm bảo việc truy tố, xét xử là đúng người, đúng tội, đúng
pháp luật. Chính vì tầm quan trọng như vậy nên Nghị quyết số 08/NQ-TW ngày
2/1/2002 của Bộ Chính trị “Về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong
thời gian tới” đã đề cập đến việc nâng cao chất lượng xét xử của Tòa án là khâu
trung tâm đột phá, quyết định của hoạt động tư pháp, phán quyết của Tòa án phải
căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa.
2.1. Thực trạng tranh tụng tại phiên tòa hình sự
Từ khi Nghị quyết số 49 ngày 02/6/2005 về Chiến lược cải cách tư pháp đến
năm 2020 được quán triệt, hầu hết các vụ án đã được đưa ra xét xử với sự đổi mới

14


Giải pháp nâng cao tính tranh tụng tại Phiên toà hình sự theo cải cách tư pháp
thủ tục xét hỏi và tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở những quy định của Bộ luật Tố
tụng hình sự và theo tinh thần cải cách tư pháp của Bộ Chính trị. Tại phiên tòa, Hội
đồng xét xử đã thể hiện được tính khách quan, tôn trọng, lắng nghe ý kiến của cả
kiểm sát viên, luật sư, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác. Phiên tòa đã
thể hiện được tính dân chủ, bình đẳng giữa những người tiến hành tố tụng, người
tham gia tố tụng trong việc đưa ra chứng cứ, bày tỏ quan điểm khác nhau, cùng
tranh luận xác định sự thật khách quan. Cùng với việc xét hỏi, Hội đồng xét xử còn
chấp nhận luật sư, bị cáo và những người tham gia tố tụng xuất trình chứng cứ mới.
Hội đồng xét xử xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ mới, chứng cứ có trong hồ
sơ, chứng cứ đã được kiểm sát viên phân tích khi luận tội bảo vệ cáo trạng, phát
biểu tại phiên tòa, quan điểm của kiểm sát viên, của người bào chữa và những người
tham gia tố tụng để ra phán quyết cuối cùng.
Mặc dù đã có nhiều nỗ lực, nhưng bên cạnh những phiên tòa xét xử đúng với
tinh thần tranh tụng còn có những phiên tòa không đạt yêu cầu.
Có những phiên toà, thẩm phán thiếu trách nhiệm, không nghiên cứu kỹ hồ
sơ vụ án, cẩu thả trong công tác chuẩn bị phiên tòa, trong phiên tòa cũng như trong
viết bản án; đánh giá chứng cứ không đầy đủ, không chính xác nên xét xử oan
người không có tội, vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng hình sự, không áp dụng
đầy đủ các quy định của pháp luật hoặc các hướng dẫn phải áp dụng trong công tác
xét xử... Ngược lại, có những trường hợp do đánh giá chứng cứ không chính xác,
nhận thức không đầy đủ về quy định của pháp luật nên lẽ ra phải kết án đối với bị
cáo lại tuyên bị cáo không có tội.
Việc bị cáo và đại diện hợp pháp cho bị cáo có mặt tại phiên tòa là những
quy định bắt buộc của pháp luật tố tụng hình sự, đó không chỉ là tuân thủ quy định
tố tụng mà còn đảm bảo cho bị cáo được bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của mình qua quá trình tranh tụng. Nhưng trên thực tế vẫn còn có những vụ án
khi xét xử vắng mặt bị cáo nhưng không có lệnh truy nã và kết quả truy nã; xét xử
bị cáo chưa thành niên mà không có người đại diện hợp pháp của bị cáo hoặc nhà
trường tham gia; xét xử vắng mặt những người tham gia tố tụng khác - những người
mà pháp luật cho phép tham gia vào quá trình tranh tụng để bảo vệ quyền lợi chính
đáng của mình.
Hồ sơ, chứng cứ được xác lập trong giai đoạn điều tra là rất quan trọng cho
việc xét xử tại phiên toà. Tuy nhiên, các chứng cứ có trong hồ sơ là do các cơ quan
tiến hành tố tụng thu thập, nhiều trường hợp chưa thể đầy đủ và không loại trừ việc
thiếu khách quan. Đặc biệt đối với những vụ án hình sự, trách nhiệm chứng minh
thuộc về các cơ quan tố tụng, cho nên đa số các trường hợp Cơ quan điều tra, Viện
kiểm sát chỉ thu thập chứng cứ buộc tội, không chú trọng thu thập chứng cứ gỡ tội,

15


Giải pháp nâng cao tính tranh tụng tại Phiên toà hình sự theo cải cách tư pháp
trong khi đó bên bào chữa không được quyền chủ động thu thập chứng cứ làm hạn
chế khả năng tranh tụng của họ tại phiên toà.
Luật đã quy định người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan hoặc người đại diện hợp pháp của họ được quyền
trình bày ý kiến để bảo vệ quyền và lợi ích của mình, nếu những người này có luật
sư bảo vệ quyền lợi thì luật sư trình bày trước, những người đó bổ sung sau. Tuy
nhiên trên thực tế, nhiều vụ án do hạn chế về thời gian mà thủ tục này bị vi phạm,
đương sự không được trình bày hoặc trình bày không hết ý kiến của mình. Thậm chí
có trường hợp họ cũng không được xét hỏi ở giai đoạn trước đó. Đây là những vi
phạm thủ tục tố tụng nghiêm trọng và vi phạm tinh thần của tranh tụng tại phiên tòa.
Thực tiễn xét xử hiện nay còn tồn tại thiếu sót của thẩm phán - chủ tọa phiên
tòa là khi xét hỏi bị cáo thường thẩm vấn theo hướng buộc tội như cáo trạng của
Viện kiểm sát, giúp Viện kiểm sát bảo vệ cáo trạng. Không ít trường hợp kiểm sát
viên tham gia phiên tòa trong suốt thời gian xét hỏi không hỏi một câu nào mà chỉ
đọc bản cáo trạng rồi ngồi xem Hội đồng xét hỏi khi nào kết thúc phần xét hỏi thì
đọc bản luận tội. Vai trò của kiểm sát viên tại phiên tòa chỉ như người chứng kiến,
rõ ràng là kiểm sát viên đã không ý thức được mình là một bên không thể thiếu của
quá trình tranh luận tại phiên tòa, dường như việc xét hỏi và tranh luận là của Hội
đồng xét xử.
Trong phiên tòa, luật sư là một bên của quá trình tranh tụng nhưng nhiều
trường hợp, bài bào chữa chỉ mang nặng việc khai thác các tình tiết tăng nặng, giảm
nhẹ hoặc bắt bẻ về câu chữ, hay những lỗi tố tụng nhỏ mà không đi vào những tình
tiết của vụ án một cách toàn diện, để khai thác bảo vệ quyền lợi chính đáng của bị
cáo.
2.2. Nguyên nhân của hạn chế trong tranh tụng tại phiên tòa hình sự
2.2.1. Quy định pháp luật chưa đầy đủ, chưa phù hợp
Mặc dù pháp luật TTHS hiện hành của chúng ta đã có những quy định khá
tiến bộ về tranh tụng tại phiên toà, như: quy định về bảo đảm quyền bào chữa của bị
cáo tại phiên toà; quy định về nguyên tắc bình đẳng giữa kiểm sát viên với người
bào chữa, bị cáo trong việc đưa ra chứng cứ, đưa ra yêu cầu và tranh luận trước Toà
án, nhằm bảo đảm tính khách quan của hoạt động xét xử… Bộ luật Tố tụng hình sự
(TTHS) cũng quy định khi xét hỏi và tranh luận, chủ toạ phiên toà không hạn chế
thời gian để xét hỏi cũng như để tranh luận... Những quy định này tạo điều kiện cho
những người tham gia tố tụng có điều kiện về thời gian để tranh luận bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của mình.

16


Giải pháp nâng cao tính tranh tụng tại Phiên toà hình sự theo cải cách tư pháp
Tuy nhiên, Bộ luật TTHS hiện hành chưa quy định tranh tụng là một nguyên
tắc của hoạt động xét xử, vì vậy, trong từng điều luật tại các chương về xét xử cũng
chưa thể hiện hết toàn bộ tinh thần của tranh tụng và như thế việc đảm bảo cho
tranh tụng tại phiên tòa chưa đạt hiệu quả cao nhất.
Bảo đảm sự bình đẳng giữa các chủ thể tham gia tranh tụng là một điều kiện
cơ bản của hoạt động tranh tụng tại phiên tòa. Nó là cơ sở để xác định tư cách tố
tụng của người bào chữa, bị cáo không chỉ là một chủ thể mà còn là một bên tham
gia tranh tụng bình đẳng với bên buộc tội. Tuy nhiên, việc thể hiện nội dung này tại
các điều luật cụ thể vẫn chưa được quy định tại Bộ luật TTHS năm 2003. Ví dụ: tại
các điều 187, 189, 190, 245, 280 Bộ luật TTHS quy định, trong mọi trường hợp
kiểm sát viên vắng mặt phải hoãn phiên tòa, trong khi đó người bào chữa hoặc bị
cáo và các chủ thể khác vắng mặt thì vẫn có thể tiến hành xét xử vụ án. Tôi cho
rằng, quy định như vậy là chưa đảm bảo sự bình đẳng giữa các bên trong tranh tụng,
sự vắng mặt của luật sư và của bị cáo ở phiên tòa sẽ làm cho quá trình tranh tụng
mất đi ý nghĩa của nó, bởi thiếu một bên tham gia và một chức năng quan trọng là
bào chữa không được thực hiện.
Tại phiên tòa, phán quyết của Tòa án phải dựa trên việc xem xét đánh giá
những chứng cứ được đưa ra và tranh luận giữa các bên. Thế nhưng khi qua thẩm
tra và đánh giá chứng cứ, nếu xét thấy bị cáo phạm tội khác nặng hơn thì Hội đồng
xét xử cũng không có quyền ra phán quyết về tội nặng hơn đó theo quy định tại
Điều 196 Bộ luật TTHS. Vì vậy, khi xét thấy bị cáo phạm tội nặng hơn thì Hội đồng
xét xử chỉ có thể căn cứ vào Điều 179 Bộ luật TTHS trả hồ sơ cho Viện kiểm sát để
điều tra bổ sung. Từ đó cho thấy, tranh tụng tại phiên tòa chưa phải là căn cứ có tính
quyết định với phán quyết của Tòa án.
Viện kiểm sát là cơ quan đại diện cho Nhà nước thực hành quyền công tố,
nói một cách khác, Viện kiểm sát là bên buộc tội, thế nhưng Viện kiểm sát lại kiêm
luôn cả chức năng kiểm sát việc xét xử, như vậy rõ ràng là không thể khách quan.
Cần phải xác định Viện kiểm sát chỉ thực hành quyền công tố, vì như vậy mới tránh
tình trạng vừa đá bóng vừa thổi còi, đồng thời, Viện kiểm sát sẽ chuyên sâu hơn về
nhiệm vụ của mình.
2.2.2. Đội ngũ thẩm phán, kiểm sát viên, luật sư chưa đáp ứng được yêu
cầu nhiệm vụ
Đội ngũ thẩm phán, kiểm sát viên, luật sư hiện nay còn nhiều hạn chế, ảnh
hưởng đến chất lượng tranh tụng nói chung, chất lượng xét xử án hình sự nói riêng.
Năng lực, trình độ chuyên môn: năng lực của thẩm phán, kiểm sát viên có
ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng của quá trình tranh tụng tại phiên tòa, được thể

17


Giải pháp nâng cao tính tranh tụng tại Phiên toà hình sự theo cải cách tư pháp
hiện ở hai khía cạnh là trình độ chuyên môn nghiệp vụ và kinh nghiệm khi tham gia
phiên tòa, đối với thẩm phán là kỹ năng điều khiển phiên tòa và kiểm sát viên là kỹ
năng tranh tụng. Trong đó trình độ chuyên môn, nghiệp vụ có ảnh hưởng rất lớn vì
chủ yếu các trường hợp án bị sửa, hủy là do việc nắm và vận dụng pháp luật của
thẩm phán và kiểm sát viên còn hạn chế.
Trong những năm gần đây, luật sư đã tham gia nhiều vào tranh tụng trong vụ
án hình sự. Tuy nhiên ở nhiều vụ án mà có sự tham gia của luật sư thì việc tranh cãi
chỉ xoay quanh quan điểm định tội danh hoặc tìm ra những chỗ chưa hoàn chỉnh
của công tác điều tra để “bắt bẻ” chứ rất hiếm khi đưa ra được những bằng chứng
phản bác đắt giá... chưa kể sự mâu thuẫn, căng thẳng trong khi tranh cãi thay vì phải
xuất phát từ sự cọ xát về chứng cứ, luận điểm thì đôi lúc chỉ vì thái độ, ngôn ngữ
mang tính hình thức. Nhiều lúc công đoạn tranh luận chỉ là sự công kích giữa hai
phía buộc tội và gỡ tội, tuy là có kịch tính nhưng nhiều khi lại làm mất đi vẻ uy
nghiêm của một phiên tòa. Điều này có một phần nguyên nhân từ năng lực của luật
sư. Thực tế hiện nay, do điều kiện kinh tế, bị cáo và người nhà bị cáo không thuê
luật sư, cho nên nhiều khi luật sư phải làm thêm các dịch vụ pháp lý khác, chưa kể
có người còn có những công việc khác bên cạnh nghề luật sư, nhiều luật sư là cán
bộ hưu trí... Những điều này làm cho kinh nghiệm và kỹ năng của luật sư bị dàn
trải, hạn chế năng lực chuyên sâu của luật sư.
Đạo đức, ý thức nghề nghiệp: hiện nay còn có một số bộ phận cán bộ tư pháp
thoái hóa, biến chất, vi phạm pháp luật, làm trái với lương tâm và đạo đức nghề
nghiệp để kiếm tiền.
Một số luật sư khi tham gia bào chữa vụ án hình sự không quan tâm đến
công việc chuyên môn, tới việc làm rõ các tình tiết của vụ án một cách đầy đủ, toàn
diện mà quá coi trọng vật chất, không trong sáng, làm lộ bí mật điều tra hòng chạy
tội cho bị can, bị cáo. Thậm chí có những luật sư tìm cách “chạy án” nhằm gỡ tội
cho thân chủ. Chính những biểu hiện, việc làm của luật sư đã tự cản trở việc thực
hiện quy định người bào chữa tham gia tố tụng kể từ khi khởi tố vụ án và tiếng nói
của luật sư bào chữa trong một vài vụ án chưa được người dân đồng tình, coi trọng.
2.2.3. Nguyên nhân khác
Cơ chế đảm bảo cho việc tranh tụng tại phiên tòa chưa hợp lý: hiện nay cơ
chế để đảm bảo cho việc thực hiện tranh tụng tại phiên tòa còn nhiều vấn đề. Từ
việc tạo hành lang pháp lý để tạo ra cơ chế, ý thức của người tham gia tranh tụng
đến những quy chế kiểm tra giám sát để đảm bảo thực hiện, với những chế tài
nghiêm khắc khi phát hiện vi phạm và kịp thời khen thưởng những trường hợp hoàn

18


Giải pháp nâng cao tính tranh tụng tại Phiên toà hình sự theo cải cách tư pháp
thành tốt nhiệm vụ vẫn chưa hoàn thiện. Chẳng hạn, tại phiên tòa, nếu Viện kiểm
sát không chủ động xét hỏi làm rõ những tình tiết buộc tội, không đối đáp trực tiếp
đúng vấn đề mà luật sư đưa ra; việc ghi lại diễn biến của toàn bộ vụ án tại phiên tòa
không chính xác, khách quan thì sẽ xử lý như thế nào? Thu thập tài liệu chứng cứ là
việc rất quan trọng để luật sư có thể tham gia tranh luận một cách bình đẳng tại
phiên tòa, nhưng nếu Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát gây khó khăn trong việc cấp
giấy phép bào chữa cho luật sư thì chế tài nào xử lý? Và rất nhiều vấn đề cần phải
có sự quy định cụ thể để tạo ra một cơ chế đồng bộ chuẩn xác cho việc thực hiện
tranh tụng.
Cơ sở vật chất chưa đáp ứng được yêu cầu: Một nguyên nhân cũng không
kém phần quan trọng ảnh hưởng đến quá trình tranh tụng tại phiên tòa, đảm bảo tính
trang nghiêm của Tòa án là cơ sở vật chất, trang thiết bị của ngành Tòa án phần lớn
đã xuống cấp, lạc hậu, không phù hợp với yêu cầu của công tác xét xử trong tình
hình mới. Một số Tòa án quá chật hẹp, nhiều khi phải xử án tại phòng làm việc, xử
án xong lại kê bàn ghế như cũ. Phòng xử như vậy không đảm bảo tính trang nghiêm
của Tòa án; chỗ ngồi cho luật sư chật hẹp, không có phòng cách ly người làm chứng
và các bên tham gia tố tụng, ảnh hưởng nhiều đến quá trình tranh tụng tại phiên tòa.
Ý thức pháp luật trong một bộ phận nhân dân vẫn còn hạn chế: tham gia vào
quá trình tranh tụng còn có bị cáo, người bị hại, người liên quan v.v.. nhưng nhận
thức, ý thức pháp luật trong một bộ phận nhân dân vẫn còn hạn chế. Họ tham gia
vào các giai đoạn tố tụng còn chưa nắm vững được luật để bảo vệ quyền lợi hợp
pháp cho mình, nên chưa thể ý thức được rằng họ tham gia vào quá trình tố tụng ấy
cũng là để bảo vệ pháp luật, giám sát việc thực thi pháp luật của các cơ quan tư
pháp, nhất là hiện nay công tác hướng dẫn, tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp
luật về lĩnh vực tư pháp chưa sâu rộng.
2.3. Giải pháp
Cùng với việc toàn cầu hoá, hội nhập hoá, sự đi lên của nền kinh tế, quá trình
quốc tế hoá đời sống kinh tế quốc tế, trình độ dân trí ngày càng được nâng cao…
việc thực hiện xây dựng nhà nước pháp quyền đang đi vào giai đoạn chuyển hoá về
chất thì vấn đề tranh tụng càng được cả xã hội, người dân cũng như Bộ chính trị
quan tâm hơn bao giờ hết. Do đó, cần thiết phải nâng cao chất lượng tranh tụng tại
phiên toà hình sự để đáp ứng với yêu cầu trong tình hình mới.
Tại báo cáo tổng kết công tác ngành Toà án 2012 cũng xác định: “Tiếp tục
xác định việc đổi mới thủ tục tranh tụng tại phiên tòa theo hướng thực chất, đảm
bảo dân chủ, công khai, đúng quy định của pháp luật…” là một trong các nội dung
trọng tâm của ngành Toà án trong năm 2013

19


Giải pháp nâng cao tính tranh tụng tại Phiên toà hình sự theo cải cách tư pháp
2.3.1. Hoàn thiện các quy định của BLTTHS về tranh tụng tại phiên tòa
2.3.1.1. Hoàn thiện các nguyên tắc cơ bản
-Nguyên tắc tranh tụng
Một phiên tòa tranh tụng sẽ buộc hoạt động của tất cả những chủ thể tham
gia phiên tòa và các chủ thể tham gia giai đoạn trước phiên tòa sẽ phải “chuyên
nghiệp” hơn. Sự hiện diện của nguyên tắc tranh tụng trong BLTTHS là cơ sở pháp
lý quan trọng để các bên tranh tụng được bình đẳng với nhau trong việc thực hiện
chức năng tranh tụng của mình và Toà án với chức năng xét xử là vị trọng tài vô tư,
khách quan, điều khiển, quyết định kết quả của quá trình tranh tụng. Với ưu điểm
đó, nguyên tắc tranh tụng cần sớm được ghi nhận là một nguyên tắc cơ bản trong
BLTTHS Việt Nam giữ vai trò chi phối và định hướng mọi hoạt động cũng như
hành vi tranh tụng của tất cả các chủ thể tham gia vào quá trình TTHS. Nguyên tắc
này cũng cần được cụ thể hóa trong toàn bộ quá trình tố tụng. Đây là giải pháp cần
thiết để tạo ra sự chuyển biến tích cực trong hoạt động TTHS ở nước ta, làm cho
hoạt động TTHS phù hợp với qui luật phát triển khách quan vốn có của nó.
BLTTHS hiện hành của nước ta chưa có điều luật cụ thể ghi nhận nguyên tắc
tranh tụng. Quy định tại Điều 19 BLTTHS mới phản ánh được một phần nội dung
của nguyên tắc này đó là “bảo đảm quyền bình đẳng trước Toà án”. Chính vì vậy,
việc nhận thức và áp dụng quy định đó trong thực tiễn hoạt động điều tra, truy tố và
xét xử các vụ án hình sự chưa được chính xác và đầy đủ. Điều đó có thể ảnh hưởng
đến mục đích và các nhiệm vụ đặt ra của pháp luật tố tụng hình sự. Bởi vậy, trong
BLTTHS nên ghi nhận nguyên tắc tranh tụng với những nội dung chính sau đây:
- Khẳng định sự tách bạch giữa các chức năng cơ bản của TTHS là chức
năng buộc tội, bào chữa và xét xử. Những chức năng này do các chủ thể
khác nhau thực hiện;
- Khẳng định sự bình đẳng của bên buộc tội và bào chữa trong hoạt động
thu thập, đưa ra các chứng cứ, các yêu cầu và tranh luận về các vấn đề có
liên quan đến việc giải quyết vụ án tại phiên tòa.
- Khẳng định nghĩa vụ của các Cơ quan tiến hành tố tụng phải tạo mọi điều
kiện tốt nhất để thực hiện việc tranh tụng. Toà án phải tạo điều kiện để
các bên tranh tụng thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình, phải
xem xét vô tư, khách quan mọi chứng cứ và lý lẽ của bên buộc tội cũng
như bên bào chữa. Bản án của Toà án chỉ dựa trên cơ sở kết quả tranh
tụng giữa các bên.

20


Giải pháp nâng cao tính tranh tụng tại Phiên toà hình sự theo cải cách tư pháp
Theo đó, cần bổ sung Điều luật quy định về tranh tụng như sau:
Điều...Bảo đảm tranh tụng trong TTHS:
“Trong tố tụng hình sự, các chức năng buộc tội, bào chữa và xét xử độc lập
với nhau:
1.Bên buộc tội và bên bào chữa bình đẳng với nhau trong việc thu thập và
đưa ra các chứng cứ, các yêu cầu và tranh luận về các vấn đề có liên quan đến việc
giải quyết vụ án.
2.Toà án tạo điều kiện để các bên tranh tụng thực hiện quyền và nghĩa vụ tố
tụng của mình; xem xét vô tư, khách quan mọi chứng cứ và lý lẽ của bên buộc tội
cũng như bên bào chữa..Bản án của Toà án chỉ dựa trên cơ sở kết quả tranh tụng
giữa các bên.”
2.3.1.2.Hoàn thiện chế định về bảo đảm quyền bào chữa
Thứ nhất, về nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị
can, bị cáo được quy định tại Điều 11 BLTTHS.
Đây là nguyên tắc có nguồn gốc từ nguyên tắc hiến định: bảo đảm quyền con người,
quyền công dân. Tuy nhiên, quy định tại đoạn 1 của Điều này còn có điểm bất
cập: “Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền tự bào chữahoặc nhờ người khác
bào chữa”. Quy định này sẽ dễ dẫn đến sự hiểu nhầm về việc bị can, bị cáo chỉ có
thể tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa cho mình, chứ không thể vừa tự bào
chữa, vừa nhờ người khác bào chữa. Trong khi đó, theo quy định tại khoản 2 Điều
191 BLTTHS thì ngoài việc tự bào chữa, bị cáo có quyền nhờ người bào chữa cho
mình, sau đó còn có quyền bổ sung ý kiến mà người bào chữa đã trình bày.
Do vậy, việc thay từ “hoặc” bằng từ “và” trong đoạn 1 của Điều 11 BLTTHS
là rất cần thiết để quyền “tự bào chữa”và “nhờ người khác bào chữa” không triệt
tiêu nhau mà cùng song song tồn tại trong chỉnh thể quyền bào chữa của bị can, bị
cáo. Theo đó, tôi đề nghị sửa đổi Điều 11 BLTTHS như sau: “Người bị tạm giữ, bị
can, bị cáo, có quyền tự bào chữa và nhờ người khác bào chữa”.
Thứ hai, về chế định người bào chữa.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Bộ luật tố tụng hình sự thì người bào
chữa có thể là: Luật sư; người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị
cáo; bào chữa viên nhân dân. Hiện nay cùng với sự phát triển về trình độ dân trí thì
việc mở rộng thêm diện những người mà bị can, bị cáo có thể lựa chọn là người bào
chữa là hết sức cần thiết giúp cho việc chất lượng tranh tụng tại phiên toà được

21


Giải pháp nâng cao tính tranh tụng tại Phiên toà hình sự theo cải cách tư pháp
nâng cao. Sự mở rộng này cũng phù hợp với quy định tại khoản 2 của Điều luật này
vì họ không thuộc diện những người không được bào chữa cho bị can, bị cáo.
Theo đó, quy định tại khoản 1 Điều 56 BLTTHS cần thiết được sửa đổi, bổ
sung như sau:
“1. Người bào chữa có thể là:
a) Luật sư;
b) Người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo;
c) Bào chữa viên nhân dân;
d) Trợ giúp viên pháp lý;”
Thứ ba, để bị cáo thực hiện tốt quyền bào chữa của mình, thực hiện tốt hoạt
động tranh tụng tại phiên tòa, Luật cần quy định cho họ quyền được chất vấn, đối
chất với người làm chứng chống lại mình. Theo đó, khi bị cáo có yêu cầu về người
làm chứng trực tiếp đối chất với mình, Toà án phải đảm bảo để họ thực hiện được
quyền này.
Thứ tư, cần quy định chế tài áp dụng đối với những hành vi vi phạm các
nguyên tắc của BLTTHS như không đảm bảo quyền bào chữa cho người bị tạm giữ,
bị can, bị cáo; không đảm bảo thực hiện tranh tụng tại phiên tòa... của Cơ quan tiến
hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.2.3.1.3. Hoàn thiện các quy định về địa vị
pháp lý, nhiệm vụ, quyền hạn của các chủ thể tham gia phiên tòa hình sự
Từ nguyên tắc tranh tụng với sự phân định rõ ba chức năng cơ bản trong
TTHS là buộc tội, bào chữa và xét xử với những chủ thể tương ứng, BLTTHS cũng
cần sửa đổi các quy định cụ thể về địa vị pháp lý, nhiệm vụ, quyền hạn của các chủ
thể này đáp ứng yêu cầu của nguyên tắc trên.
- Đối với Tòa án: chủ thể của chức năng xét xử, cần được quy định cụ thể, rõ
ràng Toà án là cơ quan tư pháp, độc lập với bên buộc tội và bên bào chữa. Theo tôi,
những quy định không phù hợp với nội dung của chức năng xét xử cần được sửa lại
cho phù hợp. Cụ thể là:
Thứ nhất, bỏ quy định HĐXX có quyền khởi tố vụ án tại Điều 104 BLTTHS;
Bởi vì đây là công việc thuộc chức năng buộc tội.
Thứ hai, việc Toà án tạm đình chỉ vụ án và kiến nghị với VKS cấp trên khi
thấy việc rút quyết định truy tố không có căn cứ không phù hợp với chức năng, địa
vị pháp lý của Toà án. Do đó, cần bỏ quy định nêu trên tại khoản 2 Điều 222
BLTTHS.

22


Giải pháp nâng cao tính tranh tụng tại Phiên toà hình sự theo cải cách tư pháp
Thứ ba, sửa đổi quy định về việc thẩm phán trả hồ sơ để điều tra bổ sung
theo Điều 179 BLTTHS 2003 theo hướng quy định trường hợp duy nhất mà Thẩm
phán có thể trả hồ sơ yêu cầu bổ sung là khi thẩm phán phát hiện ra những vi phạm
nghiêm trọng thủ tục tố tụng cản trở cho việc xét xử của HĐXX (VKS chưa tống
đạt cáo trạng cho bị cáo...). Còn về vấn đề chứng cứ đã đủ hay chưa, chứng cứ nào
là chứng cứ quan trọng của vụ án... là trách nhiệm của VKS đối với việc bảo vệ cáo
trạng của mình. Toà án không có nhiệm vụ hỗ trợ chức năng “buộc tội” của VKS.
- Đối với VKS, cần quy định VKS chỉ thực hiện một chức năng duy nhất là
chức năng công tố. Tại phiên tòa sơ thẩm, VKS chỉ có nhiệm vụ thực hành quyền
công tố để bảo vệ cáo trạng của mình. Điều này phù hợp với nguyên tắc tranh tụng,
phân định rõ chức năng của các chủ thể và đảm bảo sự bình đẳng giữa hai chức
năng buộc tội và gỡ tội về địa vị pháp lý. Việc bỏ chức năng kiểm sát xét xử tại
phiên tòa của VKS sẽ góp phần giúp HĐXX độc lập, khách quan hơn khi xét xử.
Ngoài ra, cần quy định lại vị trí ngồi của KSV và người bào chữa tại các phiên tòa
hình sự theo hướng để Luật sư được ngồi ở ghế đối diện ngang bằng với KSV và
gần bị cáo. Ở vị trí này Luật sư bào chữa cho bị cáo vừa có điều kiện dễ dàng tiếp
xúc với bị cáo vừa có sự ngang bằng với KSV. Quy định này thể hiện sự bình đẳng
trước Toà án của KSV và Luật sư. Trong các phiên toà có nhiều bị cáo, nhiều người
bào chữa, có thể tăng số lượng KSV để tương xứng hơn trong tranh tụng.
- Đối với Người bào chữa, để thực hiện tốt hoạt động tranh tụng tại phiên
tòa, cần mở rộng quyền thu thập chứng cứ và cách thức thu thập chứng cứ của
người bào chữa. BLTTHS cần quy định về việc CQĐT và VKS khi nhận được đồ
vật, tài liệu do người bào chữa cung cấp phải đưa những chứng cứ này vào hồ sơ
hình sự. Trong trường hợp bị cáo không có người bào chữa, việc hỏi cung cũng cần
sự có mặt của người đại diện hợp pháp hoặc người thân thích được bị cáo đề nghị
làm người bào chữa cho họ. Quy định này không chỉ nhằm tránh tình trạng “bức
cung, mớm cung” dẫn tới việc bị cáo phản cung tại phiên tòa mà còn tăng tính dân
chủ, khách quan trong quá trình điều tra, tránh những oan sai. Hơn nữa, quy định
này cũng sẽ đảm bảo sự vững chắc của các lý lẽ, lập luận mà người bào chữa đưa ra
trong tranh tụng tại phiên tòa. Không thể nói về tăng cường tranh tụng, bảo vệ
quyền và lợi ích chính đáng của bị can, bị cáo nếu không tạo điều kiện cho họ và
người bào chữa của họ có được các bảo đảm về mặt pháp lý khi tham gia vào quá
trình tranh tụng tại Tòa.
2.3.1.3. Hoàn thiện về thủ tục xét xử tại phiên tòa

23


Giải pháp nâng cao tính tranh tụng tại Phiên toà hình sự theo cải cách tư pháp
- Về trình tự xét hỏi tại Điều 207 BLTTHS cần sửa đổi theo hướng quy định
khi xét hỏi KSV hỏi trước rồi đến người bào chữa. Thẩm phán và Hội thẩm yêu cầu
hai bên tranh tụng đặt câu hỏi về các nội dung cần làm rõ. Quy định này sẽ xóa bỏ
được tình trạng HĐXX là chủ thể xét hỏi chính, buộc KSV có trách nhiệm hơn đối
với việc buộc tội qua sự chủ động và tích cực xét hỏi để chứng minh, bảo vệ cáo
trạng của VKS.
Theo tôi, cần sửa đổi, bổ sung Điều 207 BLTTHS như sau:
“1.Chủ tọa phiên tòa điều khiển quá trình xét hỏi, tạo điều kiện cho các bên
tranh tụng và những người tham gia xét hỏi xác định sự kiện, các tình tiết của vụ án
được bình đẳng, khách quan.
2. Khi xét hỏi từng người Kiểm sát viên tham gia hỏi trước, sau đó là Người
bào chữa; Người đại diện hợp pháp và người bảo vệ quyền lợi của họ; HĐXX có
quyền đặt câu hỏi nêu vấn đề để hai bên tập trung làm rõ nội dung vụ án.
Đối với bên buộc tội, tham gia hỏi trước tiên là KSV; tiếp theo là NBH, đại diện
hợp pháp và người bảo vệ quyền lợi của họ; người đại diện hợp pháp và người bảo
vệ quyền lợi của họ. Trong trường hợp vụ án được khởi tố theo yêu cầu của NBH
thì NBH, người đại diện hợp pháp và người bảo vệ quyền lợi của họ tham gia hỏi
trước VKS.
Đối với bên bào chữa, tham gia hỏi trước tiên là Người bào chữa; sau đó là
BĐDS, người đại diện hợp pháp và người bảo vệ quyền lợi của họ.
3. Khi xét hỏi, HĐXX và những người tham gia phiên tòa có thể xem xét
những vật chứng có liên quan trong vụ án.”
- Về trình tự phát biểu khi tranh luận tại Điều 217 BLTTHS cần sửa đổi, bổ
sung theo hướng: bị cáo và người bào chữa là người phát biểu sau cùng. Bởi vì sau
khi trình bày lời bào chữa, bị cáo và người bào chữa phải thể hiện quan điểm của
mình không chỉ đối với lời luận tội của KSV mà còn đối với cả ý kiến của người bị
hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan,
người đại diện hoặc người bảo vệ quyền lợi của họ. Do đó, việc hoán đổi vị trí giữa
khoản 2 và khoản 3 của Điều 217 là phù hợp với logic tranh luận.
- Cần sửa đổi Điều 218 BLTTHS theo hướng: KSV có nghĩa vụ đáp lại ý
kiến của những người tham gia tố tụng khác đưa ra chưa được KSV tranh luận. Chủ
tọa phiên tòa có trách nhiệm đảm bảo việc đối đáp giữa KSV, người bào chữa và
những người tham gia tố tụng khác. Việc KSV không thực hiện việc đối đáp hoặc
đối đáp không có cơ sở thì việc bào chữa của bên bị buộc tội phải được coi là có cơ
sở và được ghi nhận trong bản án.

24


Giải pháp nâng cao tính tranh tụng tại Phiên toà hình sự theo cải cách tư pháp

2.3.2. Kiện toàn đội ngũ Thẩm phán, Hội thẩm, Kiểm sát viên, Luật sư
Thứ nhất, về kiện toàn đội ngũ Thẩm phán, Hội thẩm và tổ chức, hoạt động
của Toà án.
- Đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay, Thẩm phán và Hội thẩm cần có
nhận thức thống nhất về khái niệm, nội dung và ý nghĩa của thuật ngữ “tranh tụng”
theo tinh thần cải cách tư pháp. Thẩm phán và Hội thẩm cần phải ý thức được rằng
mình chính là người trọng tài vô tư, khách quan điều khiển quá trình tranh tụng giữa
các bên tại phiên tòa. Xác định rõ nghĩa vụ của HĐXX là làm rõ sự thật khách quan
của vụ án, chứng minh căn cứ và lý do cho phán quyết trong bản án hoặc quyết định
của mình thông qua kết quả tranh tụng của các bên tại phiên tòa.
- Ngành Toà án cần có biện pháp xây dựng đội ngũ Thẩm phán đủ về số
lượng, đảm bảo về chất lượng để hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị của mình. Trình
độ, năng lực của Thẩm phán dù có giỏi đến đâu nhưng số lượng không đủ, công
việc quá tải, áp lực công việc đè nặng thì hiệu quả chắc chắn không cao. Do đó, cần
có quy định về việc mở rộng nguồn bổ nhiệm thẩm phán không chỉ đối với cán bộ
đang công tác trong ngành mà còn cả những người là luật gia, Luật sư nếu họ đáp
ứng được các điều kiện theo quy định của pháp luật. Khi đảm bảo đủ số lượng thẩm
phán cần thay đổi số lượng thẩm phán trong thành phần HĐXX theo hướng nâng từ
một lên hai thẩm phán, giảm số lượng Hội thẩm từ hai xuống một (nếu HĐXX có
ba người). Nâng Thẩm phán từ hai lên ba người, giảm số lượng Hội thẩm từ ba
xuống hai người (nếu HĐXX có năm người).
- Thường xuyên quan tâm công tác đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao năng lực,
trình độ cho Thẩm phán trước và sau khi bổ nhiệm, công việc này cần tiến hành
thường xuyên. Trong điều kiện hội nhập quốc tế và phát triển kinh tế thị trường cần
phải đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng xét xử chuyên sâu cho thẩm phán đối với các vụ án
trong các lĩnh vực tham nhũng, chứng khoán, công nghệ thông tin, tài chính ngân
hàng, xây dựng …
- Bên cạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ công tác
thì việc giáo dục nâng cao đạo đức nghề nghiệp cho đội ngũ Thẩm phán là nhiệm
vụ vô cùng quan trọng. Cần chú ý đến văn hóa ứng xử khi điều khiển tranh tụng của
thẩm phán tại phiên tòa. Vấn đề này tuy không được điều chỉnh bởi pháp luật nhưng
nó ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả của phiên tòa cũng như uy tín, vị thế của
thẩm phán nói riêng, của ngành Tòa án nói chung.
Thứ hai, kiện toàn đội ngũ KSV và tổ chức, hoạt động của VKS.

25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×