Tải bản đầy đủ

Bài tập lớn MacLênin : Xây dựng nền văn hóa xã hội chủ nghĩa

Lời nói đầu

I.
1.

2.

Giới thiệu
Văn hoá Việt Nam là thành quả hàng nghìn năm lao động sáng tạo, đấu
tranh kiên cường dựng nước và giữ nước của cộng đồng các dân tộc Việt
Nam, là kết quả giao lưu và tiếp thụ tinh hoa của nhiều nền văn minh thế
giới để không ngừng hoàn thiện mình. Văn hoá Việt Nam đã hun đúc nên
tâm hồn, khí phách, bản lĩnh Việt Nam, làm rạng rỡ lịch sử vẻ vang của dân
tộc.
Trong thời đại Hồ Chí Minh, với đường lối đúng đắn và sáng tạo của Đảng
ta, văn hoá Việt Nam tiếp tục được phát huy, đã góp phần quyết định vào
những thắng lợi to lớn của nhân dân ta trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng
dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, thực hiện hai nhiệm vụ
chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc vì “dân giàu, nước mạnh, xã hội
công bằng văn minh”, là sự nghiệp xây dựng và sáng tạo to lớn của nhân dân

ta, đồng thời là một quá trình cải biến xã hội sâu sắc, đòi hỏi phát huy khả
năng và trí tuệ ở mỗi con người Việt Nam. Sự thay đổi cơ cấu kinh tế, kết
cấu xã hội, nhu cầu tăng nhanh về văn hoá, v.v. là những yếu tố làm thay đổi
nhiều mặt đời sống văn hoá dân tộc.
Những thành tựu của cách mạng khoa học - công nghệ thế giới cùng với
việc mở rộng giao lưu quốc tế là cơ hội để chúng ta tiếp thụ những thành quả
trí tuệ của loài người, đồng thời cũng đặt ra những thách thức mới trong việc
giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc.
Tình hình đó đòi hỏi Đảng ta có phương hướng chiến lược cùng các nhiệm
vụ và giải pháp để lãnh đạo thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng và phát
triển nền văn hoá nước ta theo đúng cương lĩnh xây dựng đất nước trong
thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và Nghị quyết Đại hội lần thứ VIII của
Đảng.
Ý nghĩa
- Văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực
thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội.
- Chăm lo văn hoá là chăm lo củng cố nền tảng tinh thần của xã hội. Thiếu
nền tảng tinh thần tiến bộ và lành mạnh, không quan tâm giải quyết tốt
mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội thì
không thể có sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững.


Xây dựng và phát triển kinh tế phải nhằm mục tiêu văn hoá, vì xã hội
công bằng, văn minh, con người phát triển toàn diện. Văn hoá là kết quả
của kinh tế đồng thời là động lực của sự phát triển kinh tế. Các nhân tố
văn hoá phải gắn kết chặt chẽ với đời sống và hoạt động xã hội trên mọi
phương diện chính trị, kinh tế, xã hội, pháp luật, kỷ cương,…biến thành
nguồn lực nội sinh quan trọng nhất của phát triển.
Tầm quan trọng của việc xây dựng nền văn hóa xã hội chủ nghĩa
Vậy tại sao chúng ta phải xây dựng nền văn hóa xã hôi chủ nghĩa? Có những
nguyên do như sau:
- Vì cách mạng XHCN cũng như các cuộc cách mạng xã hội trước đó
không chỉ tạo ra cơ sở kinh tế, chính trị mà còn cần xây dựng con người
với thế giới quan, nhân sinh quan mới, có hệ tư tưởng khoa học cách
mạng, có đạo đức, lối sống mới tiến bộ hơn. Vì vậy phải thực hiện cuộc
cách mạng trên lĩnh vực tư tưởng văn hóa, xây dựng nền văn hóa XHCN.
- Vì Xã hội chủ nghĩa là một xã hội lý tưởng, là đích đến sau cùng của mọi
chế độ xã hội của các nước. Trong đó, mọi người được đối xử công bằng,
làm nhiều hưởng nhiều, làm ít hưởng ít, một xã hội công bằng, dân chủ,
văn minh. Việt Nam đang trong thời kì quá độ tiến lên xã hội chủ nghĩa,

chứ chưa đạt đến mức xã hội chủ nghĩa.
-

3.

II.

Nội dung
1.

Lý luận
1.1.
Khái niệm nền văn hóa xã hội chủ nghĩa
a, Khái niệm văn hóa,nền văn hóa
Văn hóa là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do con người
sáng tạo ra bằng lao động và hoạt động thực tiễn trong quá trình lịch sử
của mình. Văn hóa là biểu hiện trình độ phát triển xã hội trong từng thời
kỳ lịch sử nhất định. Khi nghiên cứu quy luật phát triển của xã hội loài
người, chủ nghĩa Mác-Lênin đã khái quát các loại hình hoạt động của xã
hội thành hai hoạt động cơ bản là “sản xuất vật chất” và “sản xuất tinh
thần”. Với ý nghĩa như vậy, theo nghĩa rộng, văn hóa bao gồm cả văn hóa
vật chất và văn hóa tinh thần: Văn hóa vật chất là năng lực sáng tạo của
con người được thể hiện và kết tinh trong sản phẩm vật chất. Theo nghĩa
hẹp, văn hoá được hiểu chủ yếu là văn hoá tinh thần. Văn hóa tinh thần là
tổng thể các tư tưởng, lý luận và giá trị được sáng tạo ra trong đời sống


tinh thần và hoạt động tinh thần của con người. Như vậy, nói tới văn hoá
là nói tới con người, tới việc phát huy những năng lực thuộc bản chất của
con người nhằm hoàn thiện con người, hoàn thiện xã hội. Do vậy, văn
hoá có mặt trong mọi hoạt động của con người, dù đó là hoạt động trên
lĩnh vực kinh tế, chính trị - xã hội, hay trong tư tưởng, tinh thần... Văn
hóa trong xã hội có giai cấp bao giờ cũng mang tính giai cấp.Điều kiện
sinh hoạt vật chất của mỗi xã hội và của mỗi giai cấp khác nhau, nhất là
của giai cấp thống trị là yếu tố quyết định hình thành các nền văn hóa
khác nhau.
Nền văn hóa là biểu hiện cho toàn bộ nội dung, tính chất của văn hóa
được hình thành và phát triển trên cơ sở kinh tế - chính trị của mỗi thời
kỳ lịch sử, trong đó ý thức hệ của giai cấp thống trị chi phối phương
hướng phát triển và quyết định hệ thống các chính sách, pháp luật quản lý
các hoạt động văn hóa. Kinh tế là cơ sở của nền văn hóa còn chính trị là
yếu tố quy định khuynh hướng phát triển của nó, tạo nên ý thức hệ của
nền văn hóa. Chính vì vậy, một nền chính trị lạc hậu tất yếu sẽ không tạo
ra một nền văn hoá tiến bộ. Do đó, nền văn hoá của bất cứ thời kỳ nào
của lịch sử cũng đồng thời có sự kế thừa, sử dụng những di sản của quá
khứ và sáng tạo ra những giá trị văn hoá mới. Trong xã hội có giai cấp và
quan hệ giai cấp, các giai cấp thống trị của mỗi thời kỳ lịch sử đều in dấu
ấn của mình trong lịch sử phát triển của văn hoá và tạo ra nền văn hoá
của xã hội đó, hình thành những giai đoạn khác nhau trong lịch sử phát
triển văn hoá.
b, Khái niệm nền văn hóa xã hội chủ nghĩa
Sự ra đời của nền văn hóa xã hôi chủ nghĩa là điều tất yếu trong quá
trình phát triển của lịch sử, là sự phát triển tự nhiên, hợp quy luật khi
phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đã lỗi thời và phương thức sản
xuất mới xã hội chủ nghĩa hình thành. Chủ nghĩa xã hội được xác lập với
hai tiền đề quan trọng là tiền đề chính trị ( giai cấp công nhân và nhân
dân lao động giành được chính quyền) và tiền đề kinh tế ( chế độ sở hữu
xã hội về tư liệu sản xuất chủ yếu được thiết lập), đó cũng chính là những
tiền đề hình thành nên văn hóa xã hội chủ nghĩa.


Vì thế, ta có thể khái quát như sau: Nền văn hóa xã hội chủ nghĩa là nền
văn hóa được xây dựng và phát triển trên nền tảng hệ tư tưởng của giai
cấp công nhân, do Đảng Cộng sản lãnh đạo nhằm thỏa mãn nhu cầu
không ngừng tăng lên về đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân, đưa
nhân dân lao động được thực sự trở thành chủ thể sáng tạo và hưởng thụ
văn hóa.
c, Đặc trưng của nền văn hóa xã hội chủ nghĩa
Nền văn hóa xã hội chủ nghĩa có những đác trưng có bản sau đây:
-Một là, Chủ nghĩa Mác-Lenin giữ vai trò chủ đạo và là nền tảng tư
tưởng, quyết định phương hướng phát triển nội dung của nền văn hóa xã
hội chủ nghĩa.
-Hai là, là nền văn hóa có tính nhân dân rộng rãi và tính dân tộc sâu sắc
thể hiện mục đích động lực nội tại của quá trình xây dựng xã hội chủ
nghĩa.
-Ba là, là nền văn hóa được hình thành, phát triển một cách tự giác, dưới
sự lãnh đạo của giai cấp công nhân thông qua Đảng Cộng sản, có sự quản
lý của nhà nước xã hội chủ nghĩa. Nền văn hóa xã hội chủ nghĩa không
hình thành, phát triển một cách tự giác, dưới sự lãnh đạo của giai cấp
công nhân thông qua Đảng Cộng sản, có sự quản lý của nhà nước xã hôi
chủ nghĩa.
1.2.

Tính tất yếu của việc xây dựng nền văn hóa xã hội chủ nghĩa

Cách mạng xã hội chủ nghĩa là cuộc cách mạng triệt để toàn diện, do
đó đòi hỏi phải thay đổi phương thức sản xuất tinh thần để phù hợp với
phương thức sản xuất mới của xã hội chủ nghĩa . Xây dựng nền văn hóa
xã hội chủ nghĩa là tất yếu trong quá trình cải tạo tâm lý, ý thức và đời
sống tinh thần của chế độ cũ để lại nhằm giải phóng nhân dân thoát khỏi
ảnh hưởng tư tưởng, ý thức lạc hậu của xã hội cũ, đưa quần chúng nhân
dân trở thành chủ thể sản xuất và tiêu dùng, sáng tạo và hưởng thụ văn
hóa tinh thần. Xây dựng nền văn hóa xã hội chủ nghĩa là tất yếu trong
quá trình nâng cao trình độ văn hóa cho nhân dân, khắc phục tình trạng
thiếu hụt văn hóa, tạo điều kiện để chiến thắng nghèo nàn lạc hậu, nâng


cao trình độ và nhu cầu văn hóa của nhân dân. Xây dựng nền văn hóa xã
hội chủ nghĩa là tất yếu xuất phát từ yêu cầu khách quan: văn hóa vừa là
mục tiêu, vừa là động lực của quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội.
1.3.

Nội dung và phương thức xây dựng nền văn hóa xã hội chủ nghĩa

a. Nội dung cơ bản của nền văn hóa xã hội chủ nghĩa
- Một là, nâng cao trình độ dân trí, hình thành đội ngũ trí thức của xã
hội mới. Chủ nghĩa xã hội là sự nghiệp của quần chúng nhân dân nhưng
muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội phải có con người mới xã hội chủ
nghĩa, do vậy con người cần phải được chuẩn bị tốt về tinh thần, trí lực,
tư tưởng...Vì thế, nâng cao dân trí là nhu cầu cấp bách và lâu dài. Nâng
cao dân trí phải gắn liền với sự nghiệp giáo dục đào tạo để hình thành đội
ngũ trí thức mới, có tri thức hiện đại, mang bản sắc văn hóa dân tộc.
- Hai là, xây dựng con người mới phát triển toàn diện. Con người vừa là
sản phẩm, vừa là chủ thể của xã hội. Sự nghiệpxây dựng chủ nghĩa xã hội
trước hết phải xây dựng con người mới, đó là yêu cầu khách quan. Con
người mới xã hội chủ nghĩa được xây dựng là con người phát triển toàn
diện, có tinh thần và năng lực xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, có
tinh thần yêu nước và tinh thần quốc tế trong sáng, có lối sống tình nghĩa
và có tính cộng đồng cao.
- Ba là, xây dựng lối sống mới xã hội chủ nghĩa. Lối sống là dấu hiệu
biểu thị sự khác biệt giữa những cộng đồng ngườikhác nhau; là tổng thể
các hình thái hoạt động của con người, phản ánh điềukiện vật chất, tinh
thần và xã hội của con người. Lối sống mới xã hội chủ nghĩa được hình
thành trên cơ sở chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, xóa bỏ tình trạng
bất bình đẳng xã hội, mở rộng dân chủ.
- Bốn là, xây dựng gia đình văn hóa xã hội chủ nghĩa. Gia đình là một
hình thức cộng động đặc biệt, ở đó con người chung sống với nhau bởi
hai mối quan hệ cơ bản là quan hệ hôn nhân và quan hệ huyết thống. Gia
đình là một hình thức tổ chức cơ bản trong đời sống cộng đồng của con
người, một thiết chế văn hóa - xã hội đặc thù được hình thành, tồn tại và
phát triển trên cơ sở quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống, quan hệ
nuôi dưỡng và giáo dục giữa các thành viên. Xã hội loài người đã trải qua


các hình thức: gia đình huyết tộc, gia đình đối ngẫu, gia đình một vợ, một
chồng.
b, Phương thức xây dựng nền văn hóa xã hội chủ nghĩa
-

Một là, giữ vững và tăng cường vai trò chủ đạo của hệ tư tưởng giai cấp
công nhân trong đời sống tinh thần của xã hội. Qúa trình tư tưởng diễn ra
không ngừng cùng với quá trình sản xuất vật chất. Trong đời sống văn
hóa tinh thần, quá trình đó diễn ra với tất cả tính đa dạng, phức tạp của
nó. Chính vì thế, trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, giai cấp
công nhân với tư cách là giai cấp cầm quyền, phải bằng mọi phương pháp
thông qua đội ngũ những nhà tư tưởng và các thiết chế tư tưởng của mình
để tác động, chi phối các quan hệ tư tưởng nhằm giữ vững, tăng cường
vai trò chủ đạo của hệ tư tưởng của mình trong đời sống thinh thần xã hội
bởi “ Những tư tưởng thống trị của một thời đại bao giờ cũng chỉ là
những tư tưởng của giai cấp thống trị”. Xây dựng nền văn hóa xã hội chủ
nghĩa là hoạt động có mục đích của giai cấp công nhân thông qua sự lãnh
đạo của đảng cộng sản và quản lý của nhà nước XHCN, nhằm xây dựng
và phát triển hệ tư tưởng XHCN, làm cho hệ tư tưởng của giai cấp công
nhân trở thành hệ tư tưởng chủ đạo trong xã hội. Do đó, giữ vững và tăng
cường vai trò chủ đại của hệ tư tưởng giai cấp công nhân trong đời sống
tinh thần xã hội là phương thức quan trọng để xây dựng nền văn hóa
XHCN. Đây là phương thức cơ bản để giữ vững đặc trưng, bản chất của
nền văn hóa đó.

-

Hai là, không ngừng tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và vai trò quản
lý của nhà nước xã hội chủ nghĩa đối với hoạt đông văn hóa. Sự lãnh đạo
của đảng cộng sản và quản lý của nhà nước XHCN đối với mọi hoạt động
văn hóa là phương thức có tính nguyên tắc , là nhân tố quyết đinh thắng
lợi sự nghiệp xây dựng nền văn hóa XHCN. Phương thức này được coi là
sự bảo đảm về chính trị, tư tưởng để nền văn hóa xây dựng trên nền tảng
của hệ tư tưởng của giai cấp công nhân đi đúng quỹ đạo và mục tiêu xác
định. Theo các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lenin, thực chất đây là
sự tăng cường chuyên chính vô sản trong hoạt động văn hóa. Thiết lập
chuyên chính vô sản thì mới có tiền đề chính trị cho việc xây dựng nền
văn hóa vô sản. Giữ vững và không ngừng tăng cường chuyên chính vô
sản là sự bảo đảm cho thắng lợi của quá trình xây dựng nền văn hóa vô
sản. Đảng lãnh đạo nền văn hóa bằng cương lĩnh, đường lối, chính sách
văn hóa của mình và sự lãnh đạo của Đảng phải được thể chế hóa trong


Hiến pháp, pháp luật, chính sách. Nhà nước thực hiện quản lý văn hóa
theo đúng các nguyên tắc, quan điểm, chủ trương của Đảng cộng sản.

-

Ba là, xây dựng nền văn hóa xã hội chủ nghĩa phải theo phương thức kết
hợp việc kế thừa những giá trị trong di sản văn hóa dân tộc với tiếp thu
có chọn lọc những tinh hoa của văn hóa nhân loại. Nền văn hóa xã hội
chủ nghĩa không hình thành từ hư vô, trái lại nó được hình thành trên cơ
sở kế thừa những giá trị văn hóa của dân tộc. Văn hóa dân tộc là nền
móng và trên cơ sở đó tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại. V.I.Lenin từng
nói : “ Văn hóa vô sản là sự phát triển hợp quy luật của tổng số những
kiến thức mà loài người tích lũy được. Đó là con đường dang và sẽ được
tiếp tục đưa tới văn hóa vô sản, cũng như chính trị kinh tế học do Mác
hoàn chỉnh lại”. Sự gắn kết giữa giữ gìn, kế thừa văn hóa dân tộc, tiếp thu
giá trị văn hóa nhân loại với quá trình sản sinh giá trị mới tạo nên sự
thống nhất biện chứng của hai mặt giữ gìn và sáng tạo văn hóa. Đây được
coi là phương thức nhằm xây dựng nền văn hóa XHCN phong phú, đa
dạng. Cùng với quá trình này là những phương pháp thích hợp nhằm đưa
những giá trị văn hóa vào đời sống xã hôi để đông đảo nhân dân được
hưởng thụ văn hóa do mình tạo ra.

-

Bốn là, tổ chức và tập hợp quần chúng nhân dân vào các hoạt động sáng
tạo văn hóa. Trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, nhân dân lao
động chính là chủ thể sáng tạo và cũng là những người hưởng thụ những
thành quả của văn hóa. Chính vì thế, để phát huy tính sáng tạo của quần
chúng nhân dân, Đảng và Nhà nước phải tổ chức thực hiện nhiều phong
trào nhằm lôi cuốn đông đảo quần chúng nhân dân tham gia vào các hoạt
động sáng tạo văn hóa.

2.

Thực trạng xây dựng nền văn hóa xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

-

Trong phần thứ nhất của Nghị quyết Hội nghị lần thứ Năm, Ban chấp
hành trung ương Đảng về việc phát triển nền văn hóa Việt Nam nêu rõ:
• Những thành tựu
Tư tưởng, đạo đức và lối sống là những lĩnh vực then chốt của văn hoá,
đã có những chuyển biến quan trọng. Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng


Hồ Chí Minh được vận dụng và phát triển sáng tạo ngày càng tỏ rõ giá trị
vững bền làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng
và của cách mạng nước ta, nhân tố hàng đầu bảo đảm cho đời sống tinh
thần xã hội phát triển đúng hướng. Ý thức phấn đấu cho độc lập dân tộc
và chủ nghĩa xã hội, tinh thần trách nhiệm và năng lực tổ chức thực tiễn
của cán bộ, đảng viên được nâng lên một bước. Nhiều nét mới trong giá
trị văn hoá và chuẩn mực đạo đức từng bước hình thành. Tính năng động
và tính tích cực công dân được phát huy, sở trường và năng lực cá nhân
được khuyến khích. Không khí dân chủ trong xã hội tăng lên. Thế hệ trẻ
tiếp thụ nhanh những kiến thức mới và có ý chí vươn lên lập thân, lập
nghiệp, xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Những việc làm thiết thực hướng về
cội nguồn, về cách mạng và kháng chiến, tư tưởng các anh hùng dân tộc,
quý trọng các danh nhân văn hoá, đền ớp đáp nghĩa những người có
công, giúp đỡ những người hoạn nạn…trở thành phong trào quần chúng.
Tự do tín ngưỡng và không tín ngưỡng được tôn trọng.
- Sự nghiệp giáo dục, khoa học thu được những thành tựu quan trọng,
góp phần nâng cao dân trí, trình độ học vấn của nhân dân, làm tăng thêm
sinh mạnh nội sinh.
- Trên lĩnh vực văn học, nghệ thuật, các hoạt động sáng tạo có bước phát
triển mới. Nhiều bộ môn nghệ thuật truyền thống được giữ gìn. Có thêm
nhiều tác phẩm có giá trị về đề tài cách mạng và kháng chiến, về công
cuộc đổi mới. Nhiều bộ sưu tập công phu từ kho tàng văn hoá, dân gian
và văn hoá bác học Việt Nam trong nhiều thế kỷ được xuất bản, tạo cơ sở
cho việc nghiên cứu, bảo tồn và phát huy những giá trị tư tưởng, học
thuật và thẩm mỹ của dân tộc. Hoạt động lý luận, phê bình đã đạt được
những kết quả tích cực, khẳng định mạnh mẽ văn nghệ cách mạng và
kháng chiến, đẩy lùi một bước những quan điểm sai trái.Số đông văn
nghệ sĩ được rèn luyện và thử thách trong thực tiễn cách mạng, có vốn
sống, giàu lòng yêu nước; trước những biến động của thời cuộc và những
khó khăn của đời sống vẫn giữ gìn được phẩm chất, kiên định quan điểm
sáng tác phục vụ nhân dân, làm sứ mệnh người nghệ sĩ - chiến sĩ.
- Thông tin đại chúng phát triển nhanh về số lượng và quy mô, về nội
dung và hình thức, về in, phát hành, truyền dẫn, ngày càng phát huy vai
trò quan trọng trong đời sống văn hoá tinh thần của xã hội. Hệ thống


-

-

-

-

mạng thông tin trong nước và quốc tế được thiết lập, tạo khả năng lựa
chọn, khai thác các nguồn thông tin bổ ích phục vụ đông đảo công chúng.
- Giao lưu văn hoá với nước ngoài từng bước được mở rộng. Chúng ta có
dịp tiếp xúc rộng rãi với những thành tựu văn hoá nhân loại, đồng thời
giới thiệu với nhân dân các nước những giá trị tốt đẹp, độc đáo của văn
hoá Việt Nam. Hệ thống thể chế văn hoá được xây dựng tuy chưa hoàn
chỉnh, nhưng về căn bản bảo đảm được sự lãnh đạo của Đảng và sự quản
lý của Nhà nước. Thể chế văn hoá mới khuyến khích nhân dân lao động
tham gia sự nghiệp xây dựng văn hoá trên cả hai mặt sáng tạo và hưởng
thụ; giúp đội ngũ văn nghệ sĩ chuyên nghiệp làm tốt vai trò nòng cốt
trong việc sáng tạo các giá trị văn hoá mới; tạo điều kiện thực hiện tốt
nhiệm vụ giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc kết hợp với tiếp
thụ tinh hoa văn hoá thế giới.
• Những mặt yếu kém
Nổi lên trước hết ở nhận thức tư tưởng, trong đạo đức và lối sống.
Trước những biến động chính trị phức tạp trên thế giới, một số người dao
động, hoài nghi về con đường xã hội chủ nghĩa, phủ nhận thành quả của
chủ nghĩa xã hội hiện thực trên thế giới, phủ nhận con đường đi lên chủ
nghĩa xã hội ở nước ta; phủ nhận lịch sử cách mạng Việt Nam dưới sự
lãnh đạo của Đảng. Không ít người còn mơ hồ, bàng quang hoặc mất
cảnh giác trước những luận điệu thù địch xuyên tạc, bôi nhọ chế độ ta.
Nhiều biểu hiện tiêu cực trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo làm cho xã hội
lo lắng như sự suy thoái đạo lý trong quan hệ thầy trò, bạn bè, môi trường
sư phạm xuống cấp; lối sống thiếu lý tưởng, hoài bão, ăn chơi, nghiện ma
tuý…ở một bộ phận học sinh, sinh viên; việc coi nhẹ giáo dục đạo đức,
thẩm mỹ và các bộ môn chính trị, khoa học xã hội và nhân văn.
Đời sống văn học, nghệ thuật còn những mặt bất cập. Rất ít tác phẩm
đạt đỉnh cao tương xứng với sự nghiệp cách mạng và kháng chiến vĩ đại
của dân tộc và thành quả đổi mới. Trong sáng tác và lý luận, phê bình, có
lúc đã nảy sinh khuynh hướng phủ nhận thành tựu văn học cách mạng và
kháng chiến, đối lập văn nghệ với chính trị, nhìn xã hội với thái độ bi
quan. Một vài tác phẩm viết về kháng chiến đã không phân biệt chiến
tranh chính nghĩa vói chiến tranh phi nghĩa.
Về thông tin đại chúng, còn nhiều sản phẩm chất lượng thấp, chưa kịp
thời phát hiện và lý giải những vấn đề lớn do cuộc sống đặt ra. Báo chí


-

3.
-

-

chưa biểu dưng đúng mức những điển hình tiên tiến trên các lĩnh vực,
cũng như thiếu sự phê phán kịp thời những việc làm trái với đường lối
của Đảng, pháp luật của Nhà nước và đạo đức xã hội.
Giao lưu văn hoá với nước ngoài chưa tích cực và chủ động, còn nhiều
sơ hở. Số văn hoá phẩm độc hại, phản động xâm nhập vào nước ta còn
quá lớn, trong khi đó, số tác phẩm văn hoá có giá trị của ta đưa ra bên
ngoài còn quá ít.
Giải pháp
a. Giải pháp vĩ mô ( các chính sách của Đảng và Nhà nước)
Mở cuộc vận động giáo dục chủ nghĩa yêu nước gắn với thi đua yêu
nước và phong trào “ toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”:
Giáo dục chủ nghĩa yêu nước phải gắn chặt với phong trào thi đua yêu
nước và giáo dục về chủ nghĩa xã hội, về nhiệm vụ công nghiệp hóa-hiện
đại hóa, đưa đất nước thoát nghèo nàn, lạc hậu, làm cho mọi người thấm
nhuần truyền thống lịch sử và cách mạng của dân tộc, đóng góp xứng
đáng vào công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc trong giai đoạn mới.
Phát động phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”,
huy động mọi lực lượng nhân dân và cả hệ thống chính trị từ trên xuống,
từ trong đảng, cơ quan nhà nước, các đoàn thể ra ngoài xã hội tích cực
tham gia phong trào.
Xây dựng, ban hành luật pháp và các chính sách văn hóa
Xây dựng và ban hành luật pháp. Xây dựng các luật, pháp lệnh, các văn
bản pháp quy điều chỉnhcác hoạt động trên lĩnh vực văn hóa. Bổ sung
những luật đã ban hành cho phù hợp với tình hình mới. Nghiên cứu xây
dựng Luật Di sản văn hóa dân tộc, Luật quảng cáo, Pháp lệnh thư viện…,
xây dựng quy chế về gải thưởng, tặng thưởng trong lĩnh vực văn hóa-văn
nghệ, báo chí (trong nước và thế giới), đặt tên đường phố, lập nhà bảo
tang, xây dựng tượng đài, v.v…
Xây dựng và ban hành các chính sách:
Chính sách kinh tế trong văn hóa nhằm gắn văn hóa với các hoạt động
kinh tế, khai thác tiềm năng kinh tế, tài chính hỗ trợ cho phát triển văn
hóa, đồng thời đảm bảo yêu cầu chính trị, tư tưởng của hoạt động văn
hóa, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc


Chính sách văn hóa trong kinh tế bảo đảm cho văn hóa thể hiện rõ
trong các hoạt động kinh tế, đồng thời thúc đẩy các hoạt động kinh tế tạo
điều kiện hơn cho sự nghiệp phát triển văn hóa.
Chính sách xã hội hóa hoạt động văn hóa nhằm động viên sức người,
sức của của các tầng lớp nhân dân, các tổ chức xã hội để xây dựng và
phát triển văn hóa. Chính sách này được tiến hành đồng thời với việc
nâng cao vai trò, trách nhiệm của Nhà nước. Các cơ quan chủ quản về
văn hóa của nhà nước phải làm tốt chức năng quản ly và hướng dẫn
nghiệp vụ đối với các hoạt động xã hội về văn hóa.
Chính sách bảo tồn và phát huy di sản văn hóa dân tộc hướng cả vào
văn hóa vật thể và phi vật thể. Tiến hành sớm việc kiểm kê, sưu tầm,
chỉnh ly vón văn hóa truyền thống (bao gồm văn hóa bác học và văn hóa
dân gian) của người việt và các dân tộc thiểu số; phiên dịch, giới thiệu
kho tang văn hóa Hán Nôm, bảo tồn các di tích lịch sử, văn hóa và các
danh lam thắng cảnh, các làng nghề, các nghề truyền thống… Trọng đãi
các nghệ nhân bậc thầy trong các ngành, nghề truyền thống.

-

Chính sách khuyến khích sáng tạo trong các hoạt động văn hóa đòi hỏi
tăng nguồn đầu tư thích đáng cho khu vực sang tọa văn hóa, văn học,
nghệ thuật. Trú trong đầu tư hỗ trợ những tác giả có uy tín, những tài
năng trẻ, đầu tư cho lực lượng chuyên nghiệp và cả những phong trào
quần chúng. Có chính sách chăm sóc đặc biệt đối với các văn nghệ sỹ
tuổi cao tiêu biểu, các mầm non nghệ thuật suất xắc.
Tăng cường nguồn lực và phương tiện cho các hoạt động văn hóa
Tăng mức đầu tư cho văn hóa từ nguồn chi phí thường xuyên và nguồn
chi phí phát triển trong ngân sách nhà nước. Tỉ trọng chi ngân sách cho
văn hóa phải tương ứng nhịp độ tăng trưởng kinh tế. Khuyến khích các
địa phương tăng thêm nguồn đầu tư cho văn hóa, tích cực huy động các
nguồn lực ngoài ngân sách nhà nước cho phát triển văn hóa.
Củng cố, hoàn thiện tổ chức bộ máy, cán bộ của các cơ quan lãnh đạo,
quản lý, tham mưu, các đoàn thể, các tổ chức nghề nghiệp của hoạt động
văn hóa từ trung ương đến cơ sở, bảo đảm hoạt động hiệu quả.


-

Nâng cao hiệu quả lãnh đạo của Đảng trên lĩnh vực văn hóa
Nhận thức đúng đắn về vai trò đặc biệt quan trọng của văn hóa trong
việc bồi dưỡng và phát huy nhân tố con người, xây dựng xã hội mới-Xã
hội chủ nghĩa. Khắc phục thái độ xem nhẹ việc xây dựng và đấu tranh
trên lĩnh vực văn hóa.
Thường xuyên chăm lo việc nâng cao nhận thức, hiểu biết về lý tưởng
cách mạng, chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối,
chính sách của Đảng và tình hình đất nước cho đội ngũ trí thức, văn nghệ
sý, cán bộ văn hóa; làm tốt công tác kết nạp Đảng trong đội ngũ trí thức,
văn nghệ sỹ ưu tú.
Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng theo hướng vừa đảm bảo cho
văn hóa văn học nghệ thuật, báo chí phát triển đúng định hướng chính trị,
tư tưởng của Đảng, vừa đảm bảo quyền tự do, dân chủ cá nhân trong sáng
tạo văn hóa, nghệ thuật, khoa học công nghệ trên cơ sở phát huy tính tự
giác cao với mục đích đúng đắn.
Đi sát nắm chắc tình hình hoạt động trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa;
lãnh đạo, chỉ đạo kịp thời, sắc bén, giúp các cơ quan nhà nước thể chế
hóa các chủ trương, chính sách của Đảng. Hỗ trợ giải quyết những khó
khăn, vướng mắc đối với ngành văn hóa trong quá trình triển khai nhiệm
vụ quản lý nhà nước.
b.

Giải pháp vi mô ( ý kiến và quan điểm cá nhân)
Là sinh viên đang ngồi trên ghế giảng đường, chúng ta cần:
- Có tinh thần yêu nước, tự cường dân tộc, phấn đấu vì độc lập dân tộc
và chủ nghĩa xã hội, có chí vươn lên đưa đất nước thoát khỏi nghèo
nàn lạc hậu, đoàn kết với nhân dân thế giới trong sự nghiệp đấu tranh
vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.
- Có ý thức tập thể, đoàn kết, phấn đấu vì lợi ích chung.
- Có lối sống lành mạnh, nếp sống văn minh, cần kiệm, trung thực,
nhân nghĩa, tôn trọng kỷ cương phép nước, quy ước của cộng đồng;
có ý thức bảo vệ và cải thiện môi trường sinh thái.
- Lao động chăm chỉ với lương tâm nghề nghiệp, có kỹ thuật, sáng
tạo, năng suất cao vì lợi ích của bản thân, gia đình, tập thể và xã hội.
- Thường xuyên học tập, nâng cao hiểu biết, trình độ chuyên môn,
trình độ thẩm mỹ và thể lực.


III.

Kết luận
Như vậy, việc xây dựng nền văn hóa xã hội chủ nghĩa góp một phần
không hề nhỏ trong công cuộc phát triển đất nước. Phương hướng chung của
sự nghiệp văn hoá nước ta là phát huy chủ nghĩa yêu nước và truyền thống
đại đoàn kết dân tộc, ý thức độc lập tự chủ, tự cường xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc xã hội chủ nghĩa, xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên
tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, tiếp thụ tinh hoa văn hoá nhân loại, làm cho
văn hoá thấm sâu vào toàn bộ đời sống và hoạt động xã hội, vào từng người,
từng gia đình, từng tập thể và cộng đồng, từng địa bàn dân cư, vào mọi lĩnh
vực sinh hoạt và quan hệ con người, tạo ra trên đất nước ta đời sống tinh
thần cao đẹp, trình độ dân trí cao, khoa học phát triển, phục vụ đắc lực sự
nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã
hội công bằng, văn minh, tiến bước vững chắc lên chủ nghĩa xã hội. Hơn 50
dân tộc sống trên đất nước ta đều có những giá trị và sắc thái văn hoá riêng.
Các giá trị và sắc thái đó bổ sung cho nhau, làm phong phú nền văn hoá Việt
Nam và củng cố sự thống nhất dân tộc là cơ sở để giữ vững sự bình đẳng và
phát huy tính đa dạng văn hoá của các dân tộc anh em. Bản sắc dân tộc bao
gồm những giá trị bền vững, những tinh hoa của cộng đồng các dân tộc Việt
Nam được vun đắp nên qua lịch sử hàng ngàn năm đấu tranh dựng nước và
giữ nước. Đó là lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc, tinh thần
đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân - gia đình - làng xã - Tổ quốc;
lòng nhân ái, khoan dung, trọng nghĩa tình, đạo lý, đức tính cần cù, sáng tạo
trong lao động; sự tinh tế trong ứng xử, tính giản dị trong lối sống…Bản sắc
văn hoá dân tộc còn đậm nét cả trong các hình thức biểu hiện mang tính dân
tộc độc đáo.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×