Tải bản đầy đủ

Kê biên quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất để thi hành án dân sự qua thực tiễn tại tỉnh Bắc Ninh

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong thi hành án dân sự, cưỡng chế thi hành án là một trong những biện
pháp đảm bảo thi hành các bản án, quyết định của Tòa án đã tuyên. Và kê biên
quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất là một trong những biện pháp
cưỡng chế đó. Kê biên quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất là biện pháp
cưỡng chế nhằm bảo đảm thi hành các bản án, quyết định của Tòa án đã ban
hành, tuy nhiên hiện nay các bản án, quyết định đó không chỉ là những phán
quyết của tòa án mà còn là các quyết định của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh
và trọng tài thương mại. Trong thi hành án dân sự, Kê biên quyền sử dụng đất và
tài sản gắn liền với đất chính là công cụ hữu hiệu và là một trong những biện
pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất thường được chấp hành viên lựa chọn áp dụng
nhằm thi hành các nghĩa vụ trả tiền của người phải thi hành án theo bản án, quyết
định của cơ quan có thẩm quyền. Nó là biện pháp cưỡng chế có vai trò quan
trọng trong việc khôi phục, bảo vệ các quyền và lợi ích trong xã hội bị xâm
phạm, góp phần đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, tăng cường pháp chế
xã hội chủ nghĩa; bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân và Nhà
nước. Nhận thức được tầm quan trọng của cưỡng chế thi hành án nói chung,
cưỡng chế kê biên quyền sử dụng đất nói riêng trong việc đảm bảo thực thi các
bản án, quyết định của các cơ quan có thẩm quyền đã ban hành, các qui định về
cưỡng chế thi hành án nói chung được qui định cụ thể, chặc chẽ và đầy đủ hơn

trong các văn bản qui phạm pháp luật. Đặc biệt trong Luật thi hành án dân sự
2008 và các văn bản hướng dẫn thi hành. Nó tháo gỡ kịp thời một số tồn tại,
vướng mắc trong công tác kê biên quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất
và các vấn đề khác trong thi hành án dân sự mà các văn bản qui phạm pháp luật
về thi hành án trước đó mắc phải.

1


Tuy nhiên, thực tiễn sau năm năm áp dụng Luật thi hành án dân sự và các
văn bản hướng dẫn vào công tác kê biên quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền
với đất để thi hành án dân sự cho thấy các cơ quan thi hành án ở địa phương lại
gặp phải những khó khăn, vướng mắc mới. Đó là một trong những nguyên làm
cho số lượng việc thi hành án dân sự trong cả nước hiện nay còn tồn đọng rất
cao.
Nguyên nhân của thực trạng trên là do qui định của Luật và các văn bản
hướng dẫn vẫn còn nhiều điểm chưa phù hợp, còn nhiều bất cập, vướng mắc.
Nhất là thủ tục thực hiện kê biên, xử lý quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với
đất kê biên, cơ chế về định giá lại, qui định về thủ tục về bán đấu giá quyền sử
dụng đất đã kê biên còn chưa được đầy đủ và chưa thực sự hợp lý. Mặc khác do
Luật thi hành án dân sự và một số văn bản khác qui định chưa đồng bộ và thống
nhất. Ngoài ra do công tác phối hợp của các cơ quan có liên quan chưa được kịp
thời, việc thi hành án đã hoặc đang áp dụng biện pháp kê biên quyền sử dụng đất
và tài sản gắn liền với đất thì bị kháng nghị dẫn đến đình chỉ và phải chờ kết quả
giải quyết của Tòa án thì mới có thể tiếp tục giải quyết nhưng phía Tòa án lại
chậm giải quyết dẫn đến đình chỉ kéo dài trong nhiều năm, hoặc đã giải quyết
xong nhưng nhận được sự đồng thuận của nhân dân dẫn đến khiếu nại, khiếu
kiện mà chưa giải quyết dứt điểm được. Đặc biệt là trong những năm gần đây
nhiều vụ kê biên quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất để thi hành án gây
tranh cãi và gây bức xúc xã hội được báo chí, các ngành, các cấp lãnh đạo quan
tâm theo sát diễn biến của vụ việc, bởi sự phức tạp của vụ việc.
Trước tình hình trên, cần có một giải pháp cụ thể và hiểu quả nhất nhằm
tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trên một cách triệt để, góp phần hoàn thiện các
quy định về thi hành án noi chung, cưỡng chế kê biên quyền sử dụng đất và tài
sản gắn liền với đất nói riêng. Từ đó giúp giải quyết dứt điểm lượng lớn án tồn
đọng, giúp tăng cường hiệu năng của công tác thi hành án trong nước ta hiện nay
2


và trong tương lai. Từ những thực trạng trên, tác giả chọn đề tài “Kê biên quyền

sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất để thi hành án dân sự qua thực tiễn tại
tỉnh Bắc Ninh” làm luận văn tốt nghiệp Cao học Luật của mình. Qua đề tài này,
tác giả muốn khái quát đặc điểm, tính chất cũng như vai trò của kê biên quyền sử
dụng đất và tài sản gắn liền với đất để thi hành án dân sự. Phản ánh thực trạng áp
dụng quy định pháp luật về kê biên quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất
tại một địa bàn cụ thể là Tỉnh Bắc Ninh nhằm làm rõ những khó khăn, vướng
mắc, bất cập của pháp luật hiện hành. Từ đó tác giả xin đề xuất những giải pháp
khắc phục mang tính hiệu quả và thực tế nhất trong công tác thi hành án, đảm
bảo được quyền, lợi ích hợp pháp của Nhà nước, cơ quan, tổ chức và cá nhân
góp phần ổn định xã hội, tạo tiền đề cho sự phát triển của nền kinh tế đất nước.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Với xu hướng phát triển không ngừng của xã hội và nhu cầu khách quan
của công tác thi hành án, trong những năm vừa qua đã có nhiều công trình nghiên
cứu về lĩnh vực thi hành án nói chung trong đó có liên quan đến vấn đề kê biên
quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất để thi hành án dân sự nói riêng. Nó
được thể hiện trong các công trình nghiên cứu ở nhiều cấp độ, phạm vi khác nhau
như Đề tài: “Thi hành án dân sự, thực trạng và hướng hoàn thiện của Dự án
VIE/98/001” do Bộ Tư pháp chủ trì thực hiện dự án. Một số công trình nghiên cứu
khác như Luận văn thạc sĩ luật học: “Các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân
sự, thực tiễn áp dụng và hướng hoàn thiện” của tác giả Nguyễn Công Long; Luận
văn thạc sĩ luật học “Hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự” của tác giả
Nguyễn Thanh Thủy; Luận văn thạc sĩ luật học của tác giả Lê Xuân Hồng về “Xã
hội hóa thi hành án dân sự ở Việt Nam”; Luận văn thạc sĩ luật học của tác giả
Nguyễn Quang Thái về “Đổi mới tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự ở Việt
Nam”; Luận văn thạc sĩ luật học của tác giả Lê Anh Tuấn về “Đổi mới thủ tục thi
hành án dân sự ở Việt Nam”...
3


Bên cạnh đó là một số bài viết đăng trên các tạp chí như: Bài viết “Quyết
định kê biên quyền sử dụng đất ra thời điểm nào?” của tác giả Nguyễn Việt trên
Tạp chí Dân chủ và Pháp luật. Bộ Tư pháp, Số chuyên đề 4/2008; Bài viết “Lại
bàn về quyết định kê biên quyền sử dụng đất ra thời điểm nào”, của tác giả Đỗ
Văn Thịnh trên tạp chí Dân chủ và Pháp luật. Bộ Tư pháp, Số 9/2008; Bài
viết“Chấp hành viên có được kê biên quyền sử dụng đất của người phải thi hành
án đã được chuyển nhượng cho người khác trước khi có bản án của tòa án địa
phương” của tác giả Nguyễn Tất Bắc trên tạp chí Kiểm sát. Viện Kiểm sát nhân
dân tối cao, Số 17/2014; Bài viết “Vì sao cưỡng chế thi hành án khó khăn” của
tác giả Trần Đại Sỹ trên tạp chí Dân chủ và Pháp luật Số 7/2008; Bài viết
“Cưỡng chế thi hành án kê biên, kê biên khẩn cấp tạm thời, giải toả kê biên”
của tác giả Đỗ Văn Thịnh trên tạp chí Dân chủ và Pháp luật Số 12/2010; Bài viết
“Những trường hợp đặc thù trong thi hành biện pháp tự nguyện và cưỡng chế
thi hành án” của tác giả Bùi Thái Bình trên tạp chí Dân chủ và Pháp luật Số
chuyên đề 9/2011; Bài viết “Bất cập trong quy định về việc lập kế hoạch cưỡng
chế thi hành án dân sự” của tác giả Hồ Quân Chính trên tạp chí Dân chủ và
Pháp luật.
Mỗi công trình nghiên cứu ở những góc độ, khía cạnh và mức độ khác
nhau. Tuy nhiên tất cả đều có một điểm chung là hướng đến hoàn thiện pháp luật
thi hành án nói chung nhằm nâng cao hiệu quả chung trong công tác thi hành án
dân sự ở nước ta trong giai đoạn hiện nay. Tuy nhiên, hiện nay vẫn chưa có một
công trình nghiên cứu nào chuyên sâu về biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự
cụ thể đó là kê biên quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất để thi hành án
dân sự. Thực tế thay đổi không ngừng của đời sống xã hội cũng như sự hoàn thiện
liên tục của hệ thống pháp luật thi hành án dân sự nước ta đòi hỏi cần có một công
trình nghiên cứu trực tiếp, chuyên sâu về kê biên quyền sử dụng đất và tài sản gắn
liền với đất để thi hành án dân sự.
4


3. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu tổng quát của tác giả hướng đến là làm rõ những cơ
sở lý luận về thi hành án dân sự và biện pháp kê biên quyền sử dụng đất và tài sản
gắn liền với đất để thi hành án dân sự. Bên cạnh đó đánh giá một cách toàn diện
về thực trạng pháp luật về kê biên quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất để
thi hành án dân sự và các qui định liên quan về xử lý quyền sử dụng đất kê biên,
so sánh với thực tiễn công tác kê biên quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất
để thi hành án dân sự. Từ đó phân tích nguyên nhân của thực trạng còn tồn đọng
trong công tác kê biên quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất để thi hành án
dân sự, nhằm đưa ra những giải pháp cụ thể và thiết thực nhất để nâng cao hiệu
quả công tác thi hành án nói chung, kê biên quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền
với đất để thi hành án dân sự nói riêng trong hiện tại và thời gian sắp tới.
4. Pham vi nghiên cứu
- Về nội dung: Luận văn tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận và các quy định
pháp luật về kê biên quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất để thi hành án
dân sự, về xử lý quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đã kê biên là chủ
yếu mà không đi sâu vào các quy định về đất đai và các quy định liên quan. Bên
cạnh đó, tác giả còn đề cập đến thực tiễn áp dụng pháp luật về kê biên quyền sử
dụng đất và tài sản gắn liền với đất để thi hành án dân sự, đánh giá thực trạng kê
biên. Từ đó rút ra những giải pháp thiết thực để hoàn thiện pháp luật về kê biên
quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất để thi hành án dân sự, góp phần nâng
cao hiệu quả chung trong công tác thi hành án dân sự trong điều kiện mới của
nước ta ngày nay.
- Về thời gian: Luận văn tập trung nghiên cứu hoạt động kê biên quyền sử
dụng đất và tài sản gắn liền với đất để thi hành án dân sự cũng như áp dụng pháp
luật trong khoản thời gian từ năm 2013 đến nay.

5


- Về không gian: Luận văn nghiên cứu hoạt động và áp dụng pháp luật về
kê biên quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất để thi hành án dân sự trên
phạm vi tỉnh Bắc Ninh.
5. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn lấy chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử
của Chủ nghĩa Mác – Lênin làm cơ sở phương pháp luận của phương pháp
nghiên cứu kinh tế; luận văn dựa vào các qui luật kinh tế và quan điểm, đường
lối, chính sách của đảng và Nhà nước làm cơ sở phân tích, đánh giá và đề xuất
giải pháp. để giải quyết những nội dung nhiệm vụ đặt ra, luận án còn sử dụng
một số phương pháp nghiên cứu kinh tế phổ biến sau:
- Phương pháp trừu tượng hoá khoa học và phương pháp phân tích hệ
thống: việc nghiên cứu hoạt động kê biên quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền
với đất để thi hành án dân sự được thực hiện một cách đồng bộ, gắn với từng giai
đoạn, từng hoàn cảnh lịch sử cụ thể của đất nước về điều kiện phát triển kinh tế.
- Phương pháp thống kê, thu thập thông tin định lượng: luận văn đã sử
dụng các số liệu tài liệu thống kê thích hợp để phục vụ cho việc phân tích, đánh
giá toàn diện thực trạng áp dụng pháp luật về Kê biên quyền sử dụng đất và tài
sản gắn liền với đất để thi hành án dân sự trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh trong 3 năm
vừa qua.
- Phương pháp quy nạp và diễn dịch: trên cơ sở phân tích những nội dung
cơ bản pháp luật về kê biên quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất để thi
hành án dân sự, luận văn sử dụng phương pháp quy nạp để đưa ra những đánh
giá chung mang tính khái quát về thực trạng áp dụng pháp luật kê biên quyền sử
dụng đất và tài sản gắn liền với đất để thi hành án dân sự. Thực trạng này được
đặt trong bối cảnh chung của cả nước nói chung và của tỉnh Bắc Ninh nói riêng
dưới tác động của cơ chế kinh tế thị trường.

6


- Phương pháp chuyên khảo, đối chiếu so sánh: Luận văn tiến hành nghiên
cứu một vấn đề chuyên sâu trong hoạt động kê biên quyền sử dụng đất và tài sản
gắn liền với đất để thi hành án dân sự. Đồng thời nội dung quản lý của Nhà nước
đối với kê biên quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất để thi hành án dân
sự được xem xét đánh giá trên cơ sở so sánh đối chiếu giữa các năm tại tỉnh Bắc
Ninh, nhằm rút ra bài học kinh nghiệm.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận
văn bao gồm ba chương:
- Chương 1. Lý luận chung về kê biên quyền sử dụng đất và tài sản gắn
liền với đất để thi hành án dân sự.
- Chương 2. Pháp luật về kê biên quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với
đất để thi hành án dân sự
- Chương 3. Thực tiễn kê biên quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với
đất để thi hành án dân sự tại Tỉnh Bắc Ninh và một số kiến nghị hoàn thiện

7


Bố cục đề cương chi tiết luận văn
CHƯƠNG I. LÝ LUẬN CHUNG VỀ KÊ BIÊN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT
VÀ TÀI SẢN GẮN LIỀN VỚI ĐẤT ĐỂ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
1.1.

Khái quát chung về thi hành án dân sự

1.1.1. Khái niệm
1.1.2. Đặc điểm
1.1.3. Phân loại các biện pháp thi hành án dân sự
1.1.3.1. Tự nguyện thi hành án
1.1.3.2. Cưỡng chế thi hành án
1.2.

Khái quát chung về biện pháp kê biên quyền sử dụng đất và tài sản gắn
liền với đất trong thi hành án dân sự

1.2.1. Khái niệm
1.2.2. Đặc điểm và ý nghĩa
1.2.3. Nguyên tắc thực hiện
1.3.

Lược sử hình thành và phát triển pháp luật về kê biên quyền sử dụng đất
và tài sản gắn liền với đất để thi hành án dân sự ở nước ta

1.3.1. Giai đoạn từ sau cách mạng tháng 8 năm 1945 đến năm 1989
1.3.2. Giai đoạn từ năm 1989 đến trước năm 2004
1.3.3. Giai đoạn từ năm 2004 đến trước năm 2009
1.3.4. Giai đoạn từ năm 2009 đến nay
CHƯƠNG II. PHÁP LUẬT VỀ KÊ BIÊN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT VÀ
TÀI SẢN GẮN LIỀN VỚI ĐẤT ĐỂ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
2.1. Các yêu cầu chung khi kê biên quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất
2.1.1. Thẩm quyền quyết định và tổ chức thực hiện kê biên quyền sử dụng đất và
tài sản gắn liền với đất
2.1.2. Thủ tục tiến hành kê biên quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất

8


2.1.3. Quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất được kê biên, bán đấu giá để
thi hành án
2.1.4. Căn cứ để thực hiện kê biên quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất
2.2. Thực hiện kê biên quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất
2.2.1. Kê biên quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất trong các trường hợp
cụ thể
2.2.2. Các bước thực hiện kê biên quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất
2.2.2.1. Xác minh tài sản quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất bị kê biên
2.2.2.2. Lập kế hoạch cưỡng chế và tống đạt văn bản thi hành án cho các bên liên
quan
2.2.2.3. Ra quyết định cưỡng chế và thông báo quyết định tới các bên liên quan
2.2.2.4. Tiến hành kê biên
2.3. Xử lý quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đã kê biên
2.3.1. Tạm giao quản lý, khai thác, sử dụng
2.3.2. Giao quyền sử dụng đất đã kê biên để thi hành án
2.3.3. Nhận lại quyền sử dụng đất đã kê biên
2.3.4. Bán đấu giá quyền sử dụng đất đã kê biên
2.3.5. Giao quyền sử dụng đất đã bán đấu giá
CHƯƠNG III. THỰC TIỄN KÊ BIÊN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT VÀ TÀI
SẢN GẮN LIỀN VỚI ĐẤT ĐỂ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ TẠI TỈNH BẮC
NINH VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN
3.1. Thực tiễn công tác kê biên quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất để
thi hành án dân sự tại Tỉnh Bắc Ninh và vai trò của Viện kiểm sát trong thi hành
án dân sự.
3.1.1. Những kết quả đạt được
3.1.2. Những tồn tại và nguyên nhân chủ yếu

9


3.1.2.1. Đặc điểm kinh tế xã hội tỉnh Bắc Ninh và những ảnh hưởng đến quá
trình thi hành án dân sự.
3.1.3. Vai trò của hoạt động kiểm sát thi hành án dân sự
3.2. Những kiến nghị, đề xuất nhằm khắc phục những tồn tại, bất cập về kê biên
quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất để thi hành án dân sự tại Tỉnh Bắc
Ninh
3.2.1. Hoàn thiện các quy định của pháp luật về kê biên quyền sử dụng đất và tài
sản gắn liền với đất để thi hành án dân sự
3.2.2. Các biện pháp đảm bảo thực thi pháp luật về kê biên quyền sử dụng đất và
tài sản gắn liền với đất để thi hành án dân sự tại Tỉnh Bắc Ninh
3.2.3. Những kiến nghị khác
KẾT LUẬN

10


CHƯƠNG I
LÝ LUẬN CHUNG VỀ KÊ BIÊN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT VÀ
TÀI SẢN GẮN LIỀN VỚI ĐẤT ĐỂ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
1.4.

Khái quát chung về thi hành án dân sự

1.4.1. Khái niệm
Khái niệm thi hành án
Để làm sáng tỏ khái niệm thi hành án dân sự, trước hết cần làm rõ khái
niệm thi hành án. Theo Đại từ điển tiếng Việt, thi hành là: "Thực hiện điều đã
chính thức quyết định"1. Như vậy, thi hành án có thể được hiểu là thực hiện bản
án, quyết định của Tòa án trên thực tế. Bản án, quyết định của Tòa án được hiểu
là là văn bản pháp lý của Tòa án nhân danh Nhà nước tuyên tại phiên tòa, giải
quyết về các vấn đề trong vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, lao
động, kinh tế, hành chính. Việc thực hiện bản án, quyết định của Tòa án có hiệu
quả, một mặt bảo đảm thực hiện quyền tư pháp của Nhà nước, thể hiện sự tôn
trọng của xã hội và công dân đối với phán quyết của cơ quan nhân danh Nhà
nước là Tòa án, mặt khác nó là biện pháp hữu hiệu để khôi phục các quyền, lợi
ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức và công dân bị xâm hại.
Hiện nay, xung quanh bản chất pháp lý của khái niệm thi hành án, còn có
nhiều ý kiến khác nhau. Có quan điểm cho rằng thi hành án là một giai đoạn tố
tụng "Bởi nếu tách ra thì sẽ không thực hiện được mục tiêu chung của toàn bộ
quá trình tố tụng. Khi chân lý được làm sáng tỏ thể hiện trong bản án, quyết
định của Tòa án, thì mới dừng lại ở việc làm rõ đúng hay sai, phải hay trái trên
văn bản giấy tờ. Muốn nó được thực hiện trên thực tế, cần phải chờ ở hiệu quả
của công tác thi hành án. Vì vậy, thi hành án là giai đoạn tiếp theo của quá trình
xét xử. ở giai đoạn này, cơ quan thi hành án áp dụng các biện pháp được pháp
luật quy định để đưa chân lý trở thành hiện thực trong đời sống thực tế" 2. Quan
1

Nguyễn Như Ý (Chủ biên) 1988, Đại từ điển tiếng Việt, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội.
Viện Khoa học Pháp lý – Bộ tư pháp (2002), “Một số vấn đề về tổ chức và hoạt động thi hành án hiện nay”,
Thông tin Khoa học pháp lý
2

11


điểm thứ hai cho rằng thi hành án là một giai đoạn mang tính hành chính – tư
pháp. “Thi hành án không mang tính tố tụng thuần túy mà có nhiều tính chất của
giai đoạn mang tính hành chính - tư pháp. ở đây có nhiều điểm khác nhau giữa
tố tụng và quá trình thực hiện thi hành án. Hoạt động thi hành án là hoạt động
đặc thù mà chủ thể thực thi không phải là Tòa án. Các thủ tục trong quá trình
thi hành án mang nặng tính hành chính - tư pháp hơn (đặc biệt là trong thi hành
án kinh tế, tuyên bố phá sản doanh nghiệp, lao động và một phần của thi hành
án hình sự đối với loại hình phạt không phải là hình phạt tù...)”2.
Các quan điểm trên đều có hạt nhân hợp lý và đều dự trên những luận cứ
khoa học nhất định, nhưng về vấn đề này, tác giả cho rằng, thi hành án là hoạt
động tư pháp bởi những lý do sau:
- Thi hành án là giai đoạn diễn ra ngay sau giai đoạn xét xử và các bản án,
quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án là cơ sở để tiến hành hoạt động
thi hành án. Song không thể nói đây là cơ sở pháp lý duy nhất, mà mới chỉ là
điều kiện cần. Để tiến hành hoạt động thi hành án có hiệu quả, phải có các điều
kiện đủ là có cơ quan thi hành án, các nguyên tắc, trình tự, thủ tục thi hành án
được quy định cụ thể trong pháp luật thi hành án. Cho nên, hoạt động thi hành án
không chịu sự điều chỉnh của pháp luật tố tụng mà chịu sự điều chỉnh của pháp
luật thi hành án.
- Thi hành án mặc dù có sự lệ thuộc và chịu sự chi phối như trên, nhưng ở
giai đoạn thi hành án, tính chất tố tụng đã chấm dứt, bởi lẽ khi bản án, quyết định
của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, chức năng xét xử đã hoàn thành, chân lý đã
được làm sáng tỏ. Để thực hiện nhiệm vụ đưa các phán quyết của Tòa án trở
thành hiện thực trên thực tế, cơ quan thi hành án phải có sự phối hợp với các cơ
quan, tổ chức có liên quan, trong đó có Tòa án. Việc tổ chức thi hành bản án,
quyết định của Tòa án, nhìn chung không thuộc chức năng của cơ quan xét xử,
điều này được thể hiện rõ nhất trong hoạt động thi hành án dân sự, kinh tế, hành
chính, lao động.
12


- Thi hành án không mang tính chất hành chính, bởi hành chính là hoạt
động chấp hành, điều hành, các quyết định hành chính được đưa ra trên cơ sở
mệnh lệnh có tính bắt buộc thi hành của cấp trên đối với cấp dưới. Hoạt động
của cơ quan hành chính chủ yếu xoay quanh người đứng đầu là Thủ trưởng cơ
quan hành chính, trong khi đó thi hành án là hoạt động tư pháp có những điểm
khác cơ bản.
Từ sự phân tích ở trên, có thể đưa ra khái niệm thi hành án như sau: Thi
hành án là hoạt động tư pháp do cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền tiến
hành theo trình tự, thủ tục do pháp luật qui định để đưa bản án, quyết định của
Tòa án hoặc các quyết định khác theo qui định của pháp luật, được thực hiện
trên thực tế, nhằm bảo đảm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của
các công dân, tổ chức, bảo vệ trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa.
Khái niệm thi hành án dân sự
Thi hành án dân sự là giai đoạn kết thúc của tố tụng dân sự mà trong đó cơ
quan thi hành án đưa các bản án, quyết định đã có hiệu lực thi hành ra thi hành
nhằm bảo vệ quyền lợi của cá nhân, cơ quan, tổ chức. Bản chất của thi hành án
dân sự là thi hành các quyết định của Tòa án tuyên trong bản án, quyết định mà
không giải quyết lại nội dung vụ án và là giai đoạn bảo vệ quyền lợi cho các
đương sự về mặt thực tế. Thi hành án dân sự có ý nghĩa vô cùng quan trọng đó là
bảo đảm bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực thực tế trong cuộc sống, bảo
đảm quyền lợi của đương sự bên cạnh đó thông qua việc thi hành án, Cơ quan thi
hành án phát hiện sai sót của Tòa án trong việc áp dụng pháp luật từ đó kiến nghị
Tòa án có thẩm quyền kịp thời chỉ đạo công tác xét xử, hướng dẫn áp dụng pháp
luật và kiến nghị trong việc lập pháp.
Dưới góc độ lý luận, xung quanh khái niệm "dân sự" trong thi hành án dân
sự hiện nay được hiểu là những bản án, quyết định liên quan đến quan hệ dân sự,
hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động. Phạm vi của thi hành án
dân sự phải được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm: bản án, quyết định về dân sự,

13


kinh tế, lao động, hôn nhân và gia đình; quyết định về tài sản trong bản án, quyết
định hình sự (phạt tiền, tịch thu tài sản, án phí); quyết định về tài sản và quyền tài
sản trong bản án, quyết định hành chính; bản án, quyết định dân sự của Tòa án
nước ngoài, quyết định của trọng tài nước ngoài được Tòa án Việt Nam công nhận
và cho thi hành ở Việt Nam. Điều này cũng hoàn toàn phù hợp với pháp luật của
nhiều quốc gia trên thế giới: việc tổ chức thi hành các bản án có nguồn gốc pháp
luật về nội dung là luật tư (Luật dân sự, kinh doanh, thương mại, lao động), được
thực hiện theo một thủ tục chung mà không có sự tách bạch căn bản việc thi hành
án dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh tế, thương mại hay lao động.
Các bản án, quyết định được thi hành án không chỉ là các bản án, quyết
định được ban hành bởi tòa án, của hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh và của
trọng tài thương mại trong nước mà còn là những phán quyết được ban hành bởi
Tòa án nước ngoài và quyết định của Trọng tài nước ngoài nhưng được tòa án
Việt Nam công nhận và cho thi hành trên lãnh thổ Việt Nam.
Tóm lại, thi hành án dân sự là việc tổ chức thi hành những bản án, quyết
định về phần dân sự của các cơ quan có thẩm quyền được thực hiện bởi cơ quan
thi hành án dân sự theo trình tự thủ tục chặt chẽ theo qui định của pháp luật về
thi hành án dân sự, nhằm đảm bảo quyền và lơi ích hợp pháp theo các quyết
định trong các bản án, quyết định đã tuyên.
1.4.2. Đặc điểm
Thi hành án dân sự có những đặc tính chung phổ biến, đồng thời có những
đặc thù. Đặc tính chung, phổ biến của thi hành án dân sự là là được phát sinh
trên cơ sở bản án, quyết định của Tòa án, do pháp luật thi hành án dân sự quy
định; các chủ thể trong thi hành án dân sự như cơ quan thi hành án, chấp hành
viên, người được thi hành án, người phải thi hành án có những quyền và phải
thực hiện các nghĩa vụ do pháp luật quy định. So với các loại thi hành án khác,
thi hành án dân sự có những đặc điểm sau đây:

14


Thứ nhất, thi hành án dân sự chỉ phát sinh trên cơ sở bản án, quyết định
của Tòa án sau khi giải quyết các tranh chấp dân sự theo nghĩa rộng, đó là: bản
án, quyết định về dân sự, kinh tế, lao động, hôn nhân và gia đình; quyết định về
tài sản trong bản án, quyết định hình sự (phạt tiền, tịch thu tài sản, án phí); quyết
định về tài sản và quyền tài sản trong bản án, quyết định hành chính; bản án,
quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, quyết định của trọng tài nước ngoài
được Tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành ở Việt Nam; Quyết định xử lý
vụ việc cạnh tranh của Hội đồng; Phán quyết, quyết định của Trọng tài thương
mại, Quyết định của Tòa án giải quyết phá sản.
Tuy nhiên, nếu như trong thi hành án hình sự, thi hành án hành chính, hoạt
động thi hành án hình sự, thi hành án hành chính chỉ phát sinh trên cơ sở bản án,
quyết định đã có hiệu lực pháp luật, thì hoạt động thi hành án dân sự không
những được phát sinh trên cơ sở bản án, quyết định dân sự đã có hiệu lực pháp
luật, mà còn được phát sinh trên cơ sở những bản án, quyết định dân sự của Tòa
án chưa có hiệu lực pháp luật nhưng được thi hành ngay, đó là bản án, quyết
định của Tòa án cấp sơ thẩm về cấp dưỡng, trả công lao động, nhận người lao
động trở lại làm việc, trả lương, trợ cấp mất việc làm, bảo hiểm xã hội hoặc bồi
thường thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tổn thất tinh thần của công dân; quyết
định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời.
Thứ hai, trong thi hành án dân sự luôn tồn tại ba chủ thể với địa vị pháp lý
khác nhau, đó là cơ quan thi hành án, chấp hành viên với người phải thi hành án
và người được thi hành án. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, giữ gìn
trật tự, kỷ cương trong thi hành án dân sự là trách nhiệm của Nhà nước, không
phải là việc riêng của công dân. Cơ quan thi hành án, chấp hành viên tham gia
quan hệ pháp luật về thi hành án dân sự không phải vì lợi ích của chính mình, mà
nhân danh cơ quan nhà nước, thực hiện quyền lực nhà nước, thực hiện trên thực
tế những phán quyết về dân sự của Tòa án, nhằm bảo đảm lợi ích của Nhà nước,
15


quyền, lợi ích hợp pháp của các công dân, tổ chức, bảo vệ trật tự pháp luật xã hội
chủ nghĩa.
Là chủ thể bắt buộc trong quan hệ thi hành án dân sự, chấp hành viên nhân
danh Nhà nước, thực thi quyền lực nhà nước thông qua hoạt động thi hành án.
Những phán quyết về dân sự của Tòa án nhân danh quyền lực nhà nước được
chấp hành viên bảo đảm thực thi trên thực tế, công lý xã hội được thực hiện
nhưng không phải vì lợi ích của chính bản thân mình, mà vì lợi ích mà pháp luật
bảo vệ, vì bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật phải được các
đương sự nghiêm chỉnh chấp hành, các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ
chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và công dân tôn trọng. Để chấp hành viên
có cơ sở pháp lý hoạt động, pháp luật qui định cho chấp hành viên những quyền
hạn nhất định, như trong trường hợp bản án, quyết định dân sự của Tòa án đã có
hiệu lực pháp luật, hai bên đương sự tự nguyện bàn bạc và thỏa thuận với nhau
việc thực hiện quyền và nghĩa vụ theo nội dung và quyết định của bản án, thì
chấp hành viên đóng vai trò là người "xác nhận" việc tự nguyện và thỏa thuận
đó và làm các thủ tục theo qui định của pháp luật thi hành án dân sự. Trường hợp
một bên là chủ thể của quan hệ pháp luật thi hành án dân sự cố ý không tôn trọng
bản án, quyết định của Tòa án, không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ của mình
mà có biểu hiện chây ỳ, coi thường pháp luật mặc dù đã được chấp hành viên cơ
quan thi hành án phân tích, giải thích, giáo dục, thì chấp hành viên phải áp dụng
biện pháp cưỡng chế, buộc người phải thi hành án phải thực hiện nghĩa vụ theo
phán quyết mà Tòa án đã tuyên. Trường hợp áp dụng biện pháp cưỡng chế thi
hành án không những thể hiện quyền lực nhà nước, mà còn thể hiện bản chất dân
chủ của chế độ xã hội chủ nghĩa cũng như trách nhiệm của Nhà nước trong việc
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.
Thứ ba, trong thi hành án dân sự, việc thi hành bản án, quyết định theo yêu
cầu của người được thi hành án là một đặc điểm của thi hành án dân sự, xuất
16


phát từ nguyên tắc tự nguyện, tự thỏa thuận, bình đẳng của các bên trong giao
lưu dân sự. Pháp luật công nhận sự thỏa thuận, tự nguyện của người được thi
hành án và của người phải thi hành án về việc chấp hành bản án, quyết định của
Tòa án, nếu sự thỏa thuận đó không vi phạm lợi ích của Nhà nước, của xã hội.
Điều đó có nghĩa sau khi tranh chấp đã được phân xử, các bên vẫn có quyền tiếp
tục thể hiện ý chí của mình trong quá trình thi hành án. Đây là điểm khác nhau
cơ bản của thi hành án dân sự so với thi hành hình sự, thi hành án hành chính.
Bên cạnh cơ chế thi hành án theo yêu cầu của người được thi hành án, pháp luật
thi hành án dân sự của nước ta còn quy định cơ chế chủ động thi hành án, không
phụ thuộc vào ý chí của người được thi hành án và người phải thi hành án. Quy
định này xuất phát từ yêu cầu bảo vệ tài sản xã hội chủ nghĩa, tính nghiêm minh
và tính kịp thời của thi hành án dân sự trong việc bảo đảm lợi ích của đương sự,
bảo đảm hiệu quả hoạt động của Tòa án và cơ quan thi hành án.
Thứ tư, sự phát triển, diễn biến của hoạt động thi hành án dân sự không
phải là một quá trình tự phát mà theo một cơ chế chặt chẽ do pháp luật về thi
hành án dân sự qui định.Trong quan hệ thi hành án dân sự, Nhà nước sử dụng
quyền lực công để đảm bảo thi hành án, nhưng Nhà nước cũng không cho phép
Cơ quan thi hành dân sự, chấp hành viên lạm dụng quyền lực. Nhà nước quy
định hệ thống văn bản pháp luật về thi hành án dân sự một cách chi tiết, cụ thể,
khoa học, chặt chẽ bao gồm các nguyên tắc, trình tự thủ tục trong thi hành án dân
sự nhằm tạo cơ sở pháp lý cho cơ quan thi hành án, chấp hành viên thực hiện
nhiệm vụ thực thi các bản án, quyết định của Tòa án trên thực tế. Trình tự, thủ
tục thi hành án dân sự không được qui định hoặc qui định không rõ ràng, không
khoa học sẽ dẫn đến việc áp dụng không đúng pháp luật, làm phức tạp quá trình
thi hành án, gây tốn kém kinh phí, không kịp thời hoặc không bảo đảm được lợi
ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, dẫn đến khiếu kiện
bức xúc, kéo dài.
17


Mặt khác, do cơ quan thi hành án là một bộ phận trong bộ máy nhà nước
nên hoạt động thi hành án trong một quá trình thi hành án đều phải tuân theo
nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước nói chung và điều đó
chứng tỏ sự diễn biến và phát triển của hoạt động thi hành án dân sự luôn chịu sự
tác động, điều chỉnh trực tiếp của pháp luật về thi hành án dân sự và rộng hơn là
của cả hệ thống pháp luật.
1.4.3. Phân loại các biện pháp thi hành án dân sự
Biện pháp thi hành án dân sự chính là những cách thức thực hiện các bản
án, quyết định nhằm đảm bảo các phán quyết đó được thực thi theo qui định của
pháp luật thi hành án dân sự. Theo qui định của Luật thi hành án hiện hành thì có
hai biện pháp thi hành án đó là tự nguyện thi hành và cưỡng chế thi hành án. Sự
tự nguyện thi hành của người phải thi hành án luôn được nhà nước khuyến khích
trong thi hành án dân sự. Tuy nhiên đối với người phải thi hành án có điều kiện
mà không tự nguyện thi hành thì sẽ bị cưỡng chế thi hành bằng các biện pháp
cưỡng chế trong từng trường hợp cụ thể.3
1.4.3.1. Tự nguyện thi hành án
Tự nguyện thi hành án là việc thi hành bản án, quyết định của tòa án xuất
phát từ phía các bên đương sự (người phải thi hành án, người được thi hành án),
nhằm thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự đã được bản án, quyết định ghi nhận, thể
hiện ý chí và sự mong muốn của các đương sự.
Tự nguyện là một biện pháp thi hành án dân sự được khuyến khích thực
hiện đối với người phải thi hành án. Kết quả của sự tự nguyện thi hành sẽ căn cứ
để chấp hành viên có hay không áp dụng biện pháp cưỡng chế. Sự tự nguyện thi
hành án của người phải thi hành án luôn là mục tiêu và mong muốn đầu tiên khi
thi hành án của cơ quan thi hành án dân sự. Bởi việc tự nguyên thi hành án dân
sự giúp chấp hành viên không áp dụng biện pháp cưỡng chế, từ đó đóng góp
3

Điều 9 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014

18


đáng kể vào sự thành công trong vụ việc thi hành cụ thể làm nên thành công
chung trong công tác thi hành án dân sự, tiết kiệm được nhiều thời gian, công
sức và cả tiền bạc cho người phải thi hành án và người được thi hành án, giúp cơ
quant hi hành án giải quyết nhanh chóng vụ việc thi hành án, giữ vững được sự
ổn định trong xã hội.
Chủ thể của việc tự nguyện thi hành án không chỉ là người phải thi hành
án, mà còn có thể là người được thi hành án. Đối với người được thi hành án, sự
tự nguyện chính là việc họ dùng quyền lợi của minh đã được bản án có hiệu lực
pháp luật ghi nhận để thể hiện sự tự nguyện. Nó được thể hiện ở chỗ họ có thể
thỏa thuận với người phải thi hành án về thời gian, địa điểm, phương thức thi
hành án, nhưng thỏa thuận này không được trái pháp luật và đạo đức xã hội.
Việc tự nguyện thi hành án của người được thi hành án cũng được Nhà nước
khuyến khích, đó là người được thi hành án cũng có thể đơn phương tự nguyện
đồng ý cho bên phải thi hành án hoãn thi hành án, thời gian hoãn do bên được thi
hành án quyết định. Hoặc người được thi hành án cũng có thể đơn phương tự
nguyện từ bỏ quyền và lợi ích của họ được hưởng theo bản án quyết định, nếu
việc từ bỏ này không làm ảnh hưởng đến lợi ích Nhà nước hoặc của người khác.
1.4.3.2. Cưỡng chế thi hành án
Thuật ngữ "cưỡng chế" được hiểu là dùng một sức mạnh nhất định để
buộc một đối tượng phải thực hiện một việc trái với ý muốn của họ. Trong thi
hành án dân sự, thuật ngữ "cưỡng chế thi hành án dân sự" là việc Chấp hành viên
được giao nhiệm vụ sử dụng quyền năng mà pháp luật trao cho để buộc người
phải thi hành án phải thực hiện nghĩa vụ của họ đối với người được thi hành án
mà nghĩa vụ đó đã được ấn định trong Bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp
luật. Và hiển nhiên, việc cưỡng chế thi hành án dân sự là trái với ý muốn chủ
quan của người phải thi hành án.

19


Sự tự nguyện thi hành án luôn được nhà nước khuyến khích thực hiện,
nhưng không phải lúc nào người phải thi hành án luôn tự giác thực hiện các
nghĩa vụ của mình. Chính vì thế mà cần đến sự cưỡng chế bắt buộc họ phải thực
hiện. Cưỡng chế thi hành án không phải là biện pháp mà chấp hành viên mong
muốn áp dụng. Nhưng đối với các trường hợp người phải thi hành án dân sự cố ý
không muốn thi hành, hoặc trốn tránh các nghĩa vụ mà bản án, quyết định buộc
họ phải thực hiện thì việc áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án là cần thiết
và hiệu quả nhất để vừa có thể giải quyết dứt điểm vụ việc thi hành án, vừa
khẳng định tính kiên quyết của Nhà nước trong việc bảo đảm quyền, lợi ích hợp
pháp của người được thi hành án. Bên cạnh đó nó còn có tác dụng giáo dục, răn
đe những đối tượng phải thi hành án khác có điều kiện thi hành mà cố tình chây
ỳ không thực hiện.
Như vậy, Cưỡng chế thi hành án dân sự là biện pháp cưỡng chế bắt buộc
của cơ quan thi hành án thực hiện quyền lực Nhà nước, do Chấp hành viên quyết
định theo thẩm quyền quy định nhằm buộc đương sự (người phải thi hành án)
phải thực hiện những hành vi hoặc nghĩa vụ về tài sản theo bản án, quyết định
của Tòa án. Biện pháp cưỡng chế được áp dụng trong trường hợp người phải thi
hành án có điều kiện thi hành án mà không tự nguyện thi hành trong thời hạn do
Chấp hành viên ấn định, hoặc trong trường hợp cần ngăn chặn người phải thi
hành án tầu tán, hủy hoại tài sản. Cưỡng chế thi hành án dân sự là biện pháp thi
hành án cuối cùng khi sự tự nguyện không còn hiệu quả, nhằm đảm bảo các bản
án, quyết định dân sự có hiệu lực pháp luật phải được thi hành.
Trong thi hành án dân sự về nguyên tắc người phải thi hành án sẽ có một
thời gian nhất định để tự nguyện thi hành mà không bị áp dụng biện pháp cưỡng
chế ngay. Quy định này chính là nhằm khuyến khích ý thức tự giác chấp hành
pháp luật của đương sự, nhằm duy trì mối quan hệ hữu hảo, thiện trí trong xã hội.
Chỉ khi nào người phải thi hành án không tự nguyện và việc giáo dục, thuyết phục

20


không hiệu quả Chấp hành viên mới ra Quyết định cưỡng chế (trừ trường hợp cần
ngăn chặn hành vi tẩu tán tài sản). Và tùy vào từng trường hợp cụ thể mà Chấp
hành viên có quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành án sau đây4:
- Khấu trừ tiền trong tài khoản; thu hồi, xử lý tiền, giấy tờ có giá của người
phải thi hành án.
- Trừ vào thu nhập của người phải thi hành án.
- Kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án, kể cả tài sản đang do
người thứ ba giữ.
- Khai thác tài sản của người phải thi hành án.
- Buộc chuyển giao vật, chuyển giao quyền tài sản, giấy tờ.
- Buộc người phải thi hành án thực hiện hoặc không được thực hiện công
việc nhất định.
Mỗi biện pháp mang đặc điểm và điều kiện áp dụng riêng biệt khác nhau.
Căn cứ nghĩa vụ và điều kiện của người phải thi hành án, tình hình thực tế tại địa
phương mà chấp hành viên lựa chọn và áp dụng biện pháp cưỡng chế sao cho phù
hợp và hiệu quả nhất.
1.5.

Khái quát chung về biện pháp kê biên quyền sử dụng đất và tài sản

gắn liền với đất trong thi hành án dân sự
1.5.1. Khái niệm
Quyền sử đụng đất
Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là một loại tư liệu sản xuất
đặc biệt quan trọng đối với con người. Ở Việt Nam, khi nói đến quyền sở hữu
đất đai, chúng ta thấy với tư cách chủ sở hữu, nhà nước có đầy đủ quyền chiếm
hữu, sử dụng và định đoạt đất đai. Trong các quyền năng đó, quyền sử dụng là
quyền có ý nghĩa thực tế lớn nhất, trực tiếp đem lại lợi ích cho chủ sở hữu.
Nhưng Nhà nước không trực tiếp sử dụng mà giao cho tổ chức, hộ gia đình, cá
nhân, cộng đồng dân cư sử dụng để khai thác lợi ích từ đất dưới các hình thức

4

Điều 71 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi bổ sung năm 2014

21


giao đất, cho thuê và bảo hộ việc nhận chuyển quyền sử dụng đất giữa người sử
dụng với nhau.
Như vậy, quyền sử dụng đất trước hiết được hiểu là một quyền tự nhiên,
khi con người chiếm hữu đất đai thì họ sẽ thực hiện hành vi sử dụng đất mà cụ
thể là khai thác tính năng sử dụng đất mà không quan tâm đến hình thức sở hữu
của nó. Thông qua hành vi sử dụng đất mà con người có thể thỏa mãn những nhu
cầu của minh trong cuộc sống cũng như tạo ra của cải cho xã hội. Ngoài ra,
quyền sử dụng đất được xem như một quyền năng pháp lý tức quyền năng này
được pháp luật ghi nhận và bảo vệ. Quyền sử dụng đất là một loại quyền đặc
trưng của người sử dụng đất, nó được phái sinh từ quyền sở hữu toàn dân về đất
đai. Đây là loại quyền phát sinh trên cơ sở kết hợp một cách đặc thù quyền tài
sản của chủ sở hữu với yếu tố quyền lực nhà nước. Yếu tố quyền lực nhà nước
được thể hiện ở chỗ Nhà nước ban hành các quy định pháp luật một cách chặt
chẽ về hình thưc, thủ tục, điều kiện, quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan
hệ sử dụng đất đai.
Tài sản gắn liền với đất bao gồm nhà, công trình xây dựng và các tài sản
khác gắn liền với đất đai, kể cả các tài sản gắn liền với nhà, công trình xây dựng
đó. Quyền sử dụng đối với tài sản gắn liền với đất tương tự như quyền sử đụng đất
về mặt khái niệm còn về mặt nội dung căn cứ vào tính chất, đặc điểm của hai loại
tài sản này khác nhau nên phạm vi các quyền năng đối với mỗi loại là khác nhau.
Tóm lại, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất là quyền khai thác
những thuộc tính có lợi từ đất và tài sản gắn liền với đất, được hưởng các khoản
lợi thu được từ đất và tài sản gắn liền với đất của người sử dựng đất do nhà
nước giao, cho thuê… một cách hợp pháp và được nhà nước công nhận các
quyền năng đó thông qua việc nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất.

22


Kê biên quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất trong thi hành án
dân sự
Theo từ điển từ và ngữ Việt Nam, “Kê” nghĩa là tính toán, còn “biên” có
nghĩa là ghi chép lại theo một trật tự nhất định 5. Vậy kê biên có nghĩa là tính
toán và ghi chép lại theo một trật tự nhất định. Thuật ngữ kê biên tài sản được
ghi nhận trong nhiều văn bản pháp lý của nước ta như Pháp lệnh thi hành án dân
sự 1993, 2004, Luật thi hành án dân sự 2008 được sửa đổi bổ sung năm 2014…
Do đó, có thể thấy rằng đây là một thuật ngữ pháp lý được sử dụng nhiều trong
pháp luật tố tụng dân sự. Trong từ điển pháp lý thông dụng có định nghĩa kê biên
tài sản như sau: “Kê biên tài sản là việc ghi lại từng tài sản, cấm việc tẩu tán,
phá hủy, để đảm bảo cho việc xét xử và thi hành án” 6. Như vậy, kê biên tài sản
là một thuật ngữ pháp lý chỉ việc tính toán và ghi chép lại tài sản theo một trật tự
nhất định nhằm mục đích cụ thể.
Từ những năm 1989 trở về trước, trong pháp luật tố tụng dân sự nước ta
có sự phân biệt rõ ràng hai khái niệm kê biên tài sản và tịch biên tài sản. Song
mỗi khái niệm về một sự vật hiện tượng luôn gắn với một hoàn cảnh lịch sử cụ
thể, trong quá trình phát triển các nhà lập pháp đã có sự phân biệt về khái niệm
này. Kê biên tài sản là một hình thức ghi lại tài sản theo thứ tự và áp dụng đối
với tài sản hợp pháp của một chủ thể, còn tịch biên thường được áp dụng đối với
tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Cũng chính vì thế mà nó kéo theo hậu quả
pháp lý khác nhau. Tài sản bị tịch biên thường sung công quy Nhà nước, tài sản
kê biên sẽ được xử lý để thực hiện nghiaxa vụ của người có tài sản kê biên, có
nghĩa là không bị sung công. Điều đó cho thấy, tịch biên có thể gọi là tịch thu
sung công quỹ Nhà nước những tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp, nó có bản
chất hoàn toàn khác với kê biên.
5
6

Từ điển từ và ngữ Việt Nam, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh 1998
Từ điển các thuật ngữ pháp lý thông dụng, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh 1999

23


Qua khái niệm kê biên tài sản ta thấy rằng trong đời sống hàng ngày có
những khái niệm tương tự, gần giống với kê biên. Nhưng kê biên tài sản luôn
gắn với một chủ thể nhất định, nhân danh cho quyền lực Nhà nước, vì thế không
phải ai cũng có quyền kê biên tài sản của người khác, không phải hành động nào
tương tự cũng được gọi là kê biên.
Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất là một trong loại tài sản có thể
bị cưỡng chế kê biên đảm bảo thi hành các bản án, quyết định theo quy định của
pháp luật. Kê biên quyền sử dụng dất để thi hành án dân sự là biện pháp cưỡng
chế với người phải thi hành án sau khi đã hết thời gian tự nguyện thi hành án, do
chấp hành viên tiến hành tính toán và ghi chép lại những quyền sử dụng đất và tài
sản gắn liền với đất của người phải thi hành án theo một trật tự nhất định theo
quy định pháp luật nhằm đảm bảo thi hành các bản án, quyết định có hiệu lực
pháp luật.
Kê biên quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất để thi hành án dân sự
là một trong những biện pháp khó khăn và phức tạp nhất trong các biện pháp
cưỡng chế hiện nay, đặc biệt là thực hiện kê biên đối với người phải thi hành án là
cá nhân. Bởi vì như chúng ta đã biết đất đai là những tài sản lớn và vô cùng quan
trọng của mỗi người, đó là nơi sinh hoạt, sản xuất của mỗi gia đình hay là nơi
thiêng liêng, nơi có mộ phần ông bà, cha mẹ của người phải thi hành và cũng là
nơi mà nhiều thế hệ ông bà, cha mẹ họ đã sống nơi đó. Nên việc cưỡng chế, tước
đi quyền năng của họ đối với tài sản này, buộc họ phải rời bỏ mảnh đất đó thì có
sự chây ỳ không muốn thưc hiện, thậm chí là kháng cự, chống đối là điều không
tránh khỏi.
Chính vì vậy, khi áp dụng biên pháp này chấp hành viên cần tuân thủ
nghiêm ngặc các trình tự, thủ tục luật định để tránh sai sót dẫn đến khiếu nại,
khiếu kiện, làm ảnh hưởng đến quá trình thi hành án, gây mất lòng tin của nhân
dân trong việc thực thi pháp luật của các cơ quan nhà nước. Bên cạnh đó chúng ta

24


cần phải có những qui định mang tính chất hỗ trợ đối với những người này sau khi
bị cưỡng chế mà không nơi ở hay sản xuất để không những vừa đảm bảo thi hành
các phán quyết,đảm bảo trật tự an ninh xã hội vừa cho người phải thi hành án thấy
được sự chính sách nhân đạo của nhà nước ta.
1.5.2. Đặc điểm và ý nghĩa
Đặc điểm
Mỗi biện pháp đảm bảo thi hành án đều có đặc trưng riêng và biện pháp kê
biên quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất cũng vậy. Những đặc điểm này
phản ánh bản chất và giúp phân biệt các biện pháp đảm bảo thi hành án với nhau.
Cụ thể:
- Kê biên quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất để thi hành án dâm
sự là biện pháp cưỡng chế bắt buộc mang tính quyền lực nhà nước nhằm đảm
bảo ác bản án, quyết định của tòa án và các quyết định khác theo quy định của
pháp luật đã có hiệu lực pháp luật được thi hành trên thực tế.
- Kê biên quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất để thi hành án dân
sự là một trong những biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự có tính nghiêm
khắc nhất trong các biện pháp cưỡng chế. Theo đó, cơ quan thi hành án đã tước
bỏ hẳn quyền tự định đoạt đối với quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất
của đương sự là người phải thi hành án có nghĩa vụ trả tiền theo quyết định của
bản án, quyết định của Tòa án.
- Thi hành án dân sự nói chung, kê biên quyền sử dụng đất và tài sản gắn
liền với đất để thi hành án dân sự nói riêng là một quá trình gồm nhiều thủ tục
pháp lý liên quan chặt chẽ với nhau. Các trình tự thủ tục thực hiện đòi hỏi Chấp
hành viên phải có trình độ nghiệp vụ cao, áp dụng đúng pháp luật để giải quyết
vụ việc. Thủ tục ban đầu nhanh chóng, chính xác sẽ làm tiền đề cho các thủ tục
tiếp theo. Thủ tục ban đầu chặt chẽ, thì thủ tục tiếp theo đảm bảo đúng quy định
của pháp luật.

25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×