Tải bản đầy đủ

Tình hình tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có trên địa bàn huyện Diễn Châu tỉnh Nghệ An

Tình hình tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có trên địa
bàn huyện Diễn Châu tỉnh Nghệ An
THỰC TIỄN TỘI TIÊU THỤ TÀI SẢN DO NGƯỜI KHÁC PHẠM TỘI MÀ
CÓ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN DIỄN CHÂU TỈNH NGHỆ AN
2.1. Tình hình tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
trên địa bàn huyện Diễn Châu tỉnh Nghệ An
2.1.1. Vài nét về tình hình phát triển kinh tế- xã hội ở huyện Diễn
Châu tỉnh Nghệ An
Diễn Châu là một huyện ven biển thuộc tỉnh Nghệ An với diện tích
là 304,92 km, dân số 218.227 người. Huyện Diễn Châu có một thị
trấn và 38 xã. Diễn Châu là một mảnh đất lịch sử có kênh nhà Lê,
sông Bùng và đường sắt Bắc Nam. Huyện Diễn Châu cách thủ đô
Hà Nội 270 km, cách thành phố Vinh 40 km.
Diễn Châu có điều kiện giao thông hết sức thuận lợi tạo điều kiện
cho huyện phát triển kinh tế xã hội. Bao gồm: đường bộ, đường
thuỷ, đường sắt. Đối với mạng lưới đường bộ, Diễn Châu có 30 km
quốc lộ 1A đi qua từ đầu đến cuối huyện; có quốc lộ 7A bắt đầu từ
ngã tư Diễn Châu nối liền với nước bạn Lào thông qua cửa khẩu
Quốc tế Cầu Treo; có tỉnh lộ 38 nối ngã ba Chợ Si với trung tâm
huyện Yên Thành và một hệ thống nông thôn được nhựa hoá nối
liền các xã với nhau.

Những lợi thế về giao thông không chỉ tạo điều kiện thuận lợi trong
việc đi lại, thông thương, trao đổi hàng hoá mà còn giúp Diễn Châu
tiếp cận được một khối lượng thông tin lớn, mới mẻ về tình hình


trong nước và quốc tế một cách nhanh nhất. Nhưng bên cạnh đó
cũng là thách thức lớn của huyện trong việc ngăn ngừa tội phạm
du nhập vào địa bàn huyện.Với tổng diện tích tự nhiên 30,49 km2
gồm có núi - rừng - sông - biển, có đồng bằng, Diễn Châu có đủ
điều kiện để phát triển nông- lâm- ngư, diêm nghiệp. Diễn Châu
được biết đến là một trong những địa phương có sản lượng lạc,
vừng lớn nhất trong cả nước, có tiềm năng đánh bắt, nuôi trồng
thuỷ - hải sản nhất, nhì tỉnh Nghệ An.
Bên cạnh đó, các nghành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và
dịch vụ cũng phát triển hết sức phong phú, đa dạng. Nghề đánh
bắt hải sản ở tất cả các xã ven biển, nghề luyện quặng sắt và
nghề rèn ở khe Lậm, nghề đúc ở Diễn Thành, nghề đóng thuyền ở
Thanh Bích, nghề chế biến nước mắm Vạn Phần ở Diễn Ngọc nghề
dệt vải tơ lụa Phương Lịch… cũng được qua tâm, đầu tư phát triển
Đa số người dân ở đây kiếm sống bằng nghề đánh bắt thủy hải
sản, còn lại là phát triển nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch
vụ. Trình độ dân trí ngày càng được nâng cao, tỷ lệ phổ cập tiểu
học khá, huyện Diễn Châu đang thực hiện việc xóa mù chữ cho trẻ
em đặc biệt là những trẻ em ở vùng sông nước ít khi được đến
trường.
Tuy nhiên, huyện Diễn Châu vẫn còn có những khó khăn:
Lẽ thường thuận lợi đi liền với khó khăn, thời cơ đi đôi với thách
thức, Diễn Châu cũng không nằm ngoài cái lẽ thường đó. Diễn
Châu là huyện đồng bằng ven biển, địa hình hẹp về chiều ngang.
Bởi vậy, nếu mưa lớn thì lũ lụt sẽ đến nhanh, gây ngập úng trên
diện rộng làm thiệt hại về kinh tế, hoa màu. Mặt khác, lũ lụt


thường xuyên cũng ảnh hưởng rất lớn đến độ phì nhiêu của đất,
làm cho đất mất màu hay sự nhiễm mặn do ảnh hưởng của thuỷ
triều nước lợ.
Đa số người dân ở đây kiếm sống bằng nghề đánh bắt thủy hải
sản, còn lại là phát triển nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch
vụ, thu nhập bình quân đầu người còn thấp, hộ nghèo vẫn còn
nhiều. Trình độ dân trí còn thấp, số trẻ em bỏ học, trốn học, thất

học còn diễn ra khá phổ biến, ý thức pháp luật của người dân còn
kém, nhiều người còn trực tiếp hoặc gián tiếp tiếp tay cho tội
phạm làm cho tỷ lệ người phạm có chiều hướng tăng. Tỷ lệ người
không có việc làm, thất nghiệp và kéo theo đó là các tệ nạn xã hội
và tội phạm gia tăng gia tăng. Đây là một thách thức của huyện
trong việc đảm bảo phát triển kinh tế xã hội đi đôi với việc ngăn
chặn những mặt trái của nó.
Một số doanh nghiệp nhỏ nằm trên địa bàn huyện đi vào hoạt
động sản suất kinh doanh đạt doanh thu chưa cao, nhiều sản
phẩm truyền thống như: chế biến đông lạnh, các loại nông sản,
nước mắm, sản xuất muối…chưa tìm được thị trường tiêu thụ ổn
định. Sản xuất công nghiệp vẫn còn nhiều khó khăn, số doanh
nghiệp sản xuất ổn định trên địa bàn còn ít nhiều tiềm ẩn những
yếu tố phức tạp. Cơ sở hạ tầng chưa được đầu tư so với tốc độ phát
triển hiện nay của huyện. Giá trị sản xuất nông nghiệp đạt thấp
hơn so với cùng kỳ 8,4% . Sản lượng lúa cả năm bằng 81,8 %; ngô
bằng 72,2%. Chăn nuôi tăng chậm, vẫn để xẩy ra dịch cúm gia
cầm ở một số xã trong huyện. [3, 2]
2.1.2. Tình hình tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
trên địa bàn huyện Diễn Châu tỉnh Nghệ An


Gần đây, sự gia tăng của tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm
tội mà có đã gây ảnh hưởng xấu và nguy hiểm tới tình hình trật tự
công cộng trên địa bàn huyện. Tính từ năm 2005 đến năm 2008,
sự gia tăng của các tội phạm về xâm phạm sở hữu đã kéo theo sự
phát triển của tội phạm này. Theo số liệu của cơ quan cảnh sát
điều tra về trật tự xã hội công an huyện Diễn Châu thì trong
khoảng 4 năm trở lại đây (từ năm 2005 đến năm 2008), cứ mỗi lần
triệt phá các ổ nhóm trộm cắp tài sản thì lại khám phá ra các
đường dây tiêu thụ của chúng. Trong 125 vụ án về các tội xâm
phạm sở hữu, thì Viện kiểm sát truy tố tới 15 vụ án về tội tiêu thụ
tài sản do người khác phạm tội mà có.
Do ý thức pháp luật kém nên tình trạng người dân mua đồ gian
vẫn còn nhiều, có người biết rõ tài sản do phạm pháp nhưng vẫn
đồng ý mua vì tham lợi. Một số đồ như quạt điện, phích nước, bàn
là,… trị giá 400 ngàn đồng nếu trong trường hợp này bị phát hiện
sẽ bị xử lý theo điều 18 nghị định số 150/2005/NĐ- CP. Còn những
tài sản có giá trị lớn hơn như máy tính xách tay, xe máy, vàng,
điện thoại di động … nếu trong trường hợp bị phát hiện sẽ bị truy
cứu trách nhiệm hình sự theo điều 250 BLHS năm 1999. Hầu hết
những tài sản này, người tiêu thụ có thể mua với giá thấp hơn rất
nhiều so với giá thị trường do vậy những kẻ hám lợi sẵn sàng
phạm pháp gián tiếp tiếp tay cho loại tội phạm này phát triển.
Một tình trạng khá phổ biến diễn ra trên địa bàn huyện Diễn Châu
đó là việc tiêu thụ chó có nguồn gốc bất minh không được kiểm
soát chặt chẽ. Số chó sau khi trộm được, các đối tượng chủ yếu
bán cho các chủ cửa hàng bán thịt chó, (một số khác bán cho
người dân và cửa hàng chó cảnh). Đối với các vụ án trộm chó khi


đã bắt được và qua đấu tranh đối tượng khai bán chó cho một cửa
hàng bán thịt chó nào chẳng hạn. Cơ quan điều tra làm việc với
người mua đó nhưng rất khó làm rõ nhận thức của người mua chó
rằng nếu biết con chó đó là do ăn trộm được mà vẫn mua thì sẽ bị
xử lý theo pháp luật (tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội
mà có ). Phần lớn những người mua con chó trộm cắp được cũng
tìm cách đối phó khi bị đối tượng khai ra, vì lúc mua chỉ có một
người mua người bán (một chứng một cung) không có người thứ
ba. Và một vấn đề nữa là các đối tượng trộm cắp chó mang đi bán
không bao giờ nói đây là con chó trộm cắp được. Chính vì vậy
không thể xử lý đối tượng tiêu thụ được.
Việc hình thành ổ nhóm tiêu thụ nhằm hợp thức hóa xe gian cũng
khá phổ biến, các đối tượng không chỉ liên kết nhỏ hẹp ở địa bàn
huyện mà còn có sự tham gia của các đối tượng ở tỉnh khác. Điển
hình như vụ án Nguyễn Văn Hiếu cùng đồng bọn đang được viện
kiểm sát truy tố về tội trộm cắp tài sản và tiêu thụ tài sản do người
khác phạm tội mà có. Ngoài ra, việc tiêu thụ tài sản có nguồn gốc
không rõ ràng ở các cửa hàng bán phụ tùng xe máy, ô tô cũng
đang khiến các cơ quan có thẩm quyền nhức nhối và khó xử lý
(đây chính là nơi tiêu thụ đồ trộm cắp phụ tùng xe máy ô tô là
nhiều nhất). Trong 3 năm gần đây, nếu điểm lại các vụ án về tiêu
thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, có rất ít vụ việc xảy ra
tại khu vực buôn bán hàng phụ tùng xe các loại .Vì vậy, phụ tùng ô
tô xe máy ăn cắp được bán công khai.
Qua thực tế diễn biến tình hình tội tiêu thụ tài sản do người khác
phạm tội mà có trên địa bàn huyện Diễn Châu, chủ yếu là các hình
thức tiêu thụ nhỏ và vừa, có thể thấy các đối tượng thực hiện hành
vi phạm tội thường rất tinh vi và ít khi bị phát hiện. Hiện tượng


người dân mua đồ gian vẫn còn nhiều vì ham rẻ, lợi nhuận cao nên
họ đã bất chấp. Các lực lượng trinh sát của cơ quan công an còn
mỏng, chưa có thể xử lý được hết các hành vi phạm tội cũng như
ngăn chặn các loại tội phạm có tính chất “nguồn” liên quan đến
hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có. Vì thế cho
nên, cần sự phối hợp của tất cả người dân với cơ quan có thẩm
quyền để hạn chế bớt loại tội phạm này xảy ra.
2.1.3. Mối quan hệ giữa tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội
mà có với các tội phạm khác
Điểm khác biệt giữa loại tội phạm này với các loại tội phạm khác ở
chương XIX của các tội phạm xâm phạm an toàn công cộng, trật tự
công cộng là tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có liên
quan tới các tội phạm có tính chất là đầu vào duy trì cho sự phát
triển gia tăng của tội phạm này cũng như các loại tội phạm khác
như trộm cắp, cướp giật, buôn lậu, trốn thuế, tham nhũng, buôn
ma túy và các hành vi phạm tội khác trực tiếp hay gián tiếp có
được tài sản một cách bất hợp pháp, khuyến khích các đối tượng
tham gia phạm tội và phạm tội nhiều lần. [4,23]
Hầu hết các vụ án tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
trên địa bàn huyện đều liên quan đến các tội trộm cắp, cướp giật…
Hoạt động của các nhóm đối tượng phạm tội về xâm phạm sở hữu
có xu hướng gia tăng, chúng không chỉ thực hiện hành vi phạm tội
đơn lẻ mà ngày càng có sự liên kết chặt chẽ giữa các đối tượng
trong việc tiêu thụ tài sản cũng như làm giả giấy tờ, tài liệu ccủa
cơ quan nhà nước để hợp pháp hóa các tài sản này và để đưa ra
thị trường nhằm đáp ứng các nhu cầu khác nhau của người tiêu
dùng.


Mặt khác, theo quy định của BLHS có hai điều luật quy định về tội
phạm liên quan trực tiếp tới việc “rửa tiền” là tội chứa chấp hoặc
tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có (điều 250) và tội
hợp pháp hóa tiền và tài sản do người khác phạm tội mà có (điều
251). Như vậy, tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có là
một trong những tội có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp tới việc
rửa tiền, nhưng điều luật này lại chưa bao quát hết được các hành
vi sử dụng tiền, tài sản do phạm tội mà có vào việc đánh bạc hợp
pháp tại các casino, làm quà tặng, làm từ thiện, tài trợ cho các
hoạt động văn hóa, thể thao, du lịch và các hoạt động phi lợi
nhuận khác.
“Tài sản và tiền do phạm tội mà có được trực tiếp đưa vào hoạt
động kinh doanh, hoạt động kinh tế. Một tài sản do phạm tội mà
có có thể được ngụy trang nguồn gốc bất hợp pháp của nó bằng
hợp đồng tặng, cho, di chúc…”. [23, 38] Tài sản thực tế không
tham gia vào các giao dịch này nhưng lại được ngụy trang bởi các
giao dịch này. Trong khi đó các khoản tiền có được do buôn bán ma
túy chẳng hạn được đầu tư vào dưới hình thức góp vốn, mua cổ
phần vào công ty nhất định được xem là việc sử dụng tiền, tài sản
do người khác phạm tội mà có vào hoạt động kinh doanh, nói cách
khác tiền và tài sản do phạm tội mà có trở thành công cụ của tội
phạm rửa tiền.
Như vậy, tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có có liên
quan tới nhiếu tội phạm từ các tội xâm phạm sở hữu cho tới các tội
phạm làm giả giấy tờ, tài liệu cảu cơ quan nhà nước, buôn lậu, trốn
thuế, tham nhũng, buôn bán ma túy…. Tiêu thụ tài sản do người
khác phạm tội mà có không chỉ thể hiện tính chất nguy hiểm của


nó với xã hội thông qua hành vi tiêu thụ tài sản phạm pháp mà nó
còn làm gia tăng các loại tội phạm khác. Và điều cấp thiết phải làm
để ngăn chặn loại tội phạm này là phải xử lý thật nghiêm minh các
tội phạm liên quan được coi là nguồn cho loại tội phạm này hoạt
động. Nếu làm tốt được việc này thì sẽ hạn chế được loại tội phạm
này phát triển cũng như các tội phạm liên quan tới hoạt động hợp
thức hoá hàng gian (hợp thức hóa tài sản do phạm tội mà có).
2.2. Cơ cấu, tính chất của tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm
tội mà có trên địa bàn huyện Diễn Châu tỉnh Nghệ An

2.2.1. Cơ cấu của tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà

Cơ cấu của tình hình tội phạm về tiêu thụ tài sản do người khác
phạm tội mà có là tỉ trọng, mối tương quan giữa tội tiêu thụ tài sản
do người khác phạm tội mà có trong tổng thể các tội phạm xâm
phạm an toàn trật tự công cộng xảy ra trên địa bàn huyện Diễn
Châu trong khoảng thời gian từ năm 2005 đến năm 2008.
Qua số liệu thống kê của Tòa án án nhân dân huyện Diễn Châu từ
năm 2005 đến năm 2008, Tòa án án đã xét xử được 554 vụ án về
tội xâm phạm an toàn trật tự công cộng.Trong đó, tội tiêu thụ tài
sản do người khác phạm tội mà có là 64 vụ án chiếm 45,28 % còn
lại là các tội về vi phạm quy định về điều phương tiện giao thông
đường bộ, tội đánh bạc và tổ chức đánh bạc. Cơ cấu tội phạm về
tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có trong tổng thể
các tội xâm phạm an toàn trật tự công cộng hiện nay thể hiện qua
bảng thống kê dưới đây:


Bảng 1: Tỷ lệ tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
trong tổng số tội phạm xâm phạm trật tự an toàn công cộng
Năm Tổng số vụ án về trật tự an toàn công cộng Tổng số vụ án về
tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có Tỷ lệ %
Năm 2005 22 5 22,7
Năm 2006 25 7 28
Năm 2007 31 9 29
Năm 2008 34 11 32,3
Tổng số 112 32 112,5
(Nguồn: Số liệu thống kê kiểm sát điều tra, xử lý, xét xử sơ thẩm
án hình sự năm 2005- 2008 của phòng thống kê – VKSND huyện
Diễn Châu)
Qua bảng thống kê trên chúng ta có thể thấy, trong nhóm các tội
phạm xâm phạm an toàn trật tự công cộng thì tội đánh bạc vẫn là
tội phạm điển hình. Ngoài ra, trong thời gian gần đây tội tiêu thụ
tài sản do người khác phạm tội mà có có chiều hướng gia tăng
theo sự gia tăng của các tội phạm về sở hữu. Điều này được thể
hiện qua bảng số liệu thống kê sau:
Bảng 2: Tỷ lệ tội tiêu thụ tài sản trong tổng số vụ án hình sự do
VKSND huyện thụ lý
Năm Tổng số vụ án về hình sự được thụ lý Tổng số vụ án về tội
tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có Tỷ lệ %
Năm 2005 190 8 4,2
Năm 2006 201

6 2,98


Năm 2007 211 12 5,68
Năm 2008 225 17 7,55
(Nguồn: Số liệu thống kê kiểm sát điều tra, xử lý, xét xử sơ thẩm
án hình sự năm 2005- 2008 của phòng thống kê – VKSND huyện
Diễn Châu)
Năm 2005, Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu mới chỉ thụ lý
được 8 vụ án chiếm 4,2 % tổng số vụ án hình sự , nhưng đến năm
2008 số lượng vụ án mà VKSND thụ lý đã lên tới 17 vụ chiếm 7,55
% tổng số vụ án hình sự. Điều này cho thấy loại tội phạm này đang
có xu hướng gia tăng rõ rệt.
2.2.2. Tính chất của tình hình tội tiêu thụ tài sản do người khác
phạm tội mà có.
Thông qua các chỉ số về cơ cấu của tình hình tội phạm, chúng ta
xác định được tính chất của tình hình tội phạm.
2.2.2.1 Mức độ nguy hiểm của hành vi tiêu thụ tài sản do người
khác phạm tội mà có
Mặc dù tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có chiếm tỷ
trọng không lớn trong tổng số vụ và người được phát hiện, xử lý
hình sự hằng năm nhưng mức độ nguy hiểm gây ra cho xã hội lại
có xu hướng tăng. Thể hiện:
Hành vi tiêu thụ không chỉ thực hiện ở một địa bàn nhất định mà
được thực hiện nhiều huyện trong tỉnh, có móc nối chặt chẽ từ khi
có nguồn hàng đến khi tập kết đến nơi tiêu thụ.


Trước đây, việc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có chỉ
dừng lại ở việc tiêu thụ phích nước, bàn là, quạt điện, xe đạp…có
giá trị từ 500.000đ trở lên và thực hiện ở phạm vi thôn xóm. Nhưng
hiện nay, cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường và
những mặt trái của nó đã kéo theo sự gia nhập của các loại tội
phạm. Tính chất hoạt động của tội phạm cũng phức tạp hơn, sự
liên kết giữa các đối tượng cũng chuyên nghiệp hơn trong việc hợp
pháp hóa các tài sản do người khác phạm tội mà có để đưa đi tiêu
thụ. Hoạt động này diễn ra trong thời gian dài mà không bị phát
hiện và xử lý.
So với những năm trước, tội phạm tiêu thụ tài sản do người khác
phạm tội mà có thường có tổ chức nhỏ, số lượng người tham gia ít,
quy mô nhỏ, phạm vi hẹp, tài sản có giá trị thấp. Nhưng trong
những năm gần đây, tội phạm này hoạt động có tổ chức chặt chẽ
hơn, số lượng người tham gia đông hơn, có quy mô, tài sản có giá
trị lớn hơn gây thiệt hại hàng chục triệu đồng cho các tổ chức, xí
nghiệp, và của người dân.
Loại tội phạm này diễn ra phổ biến hơn không chỉ ở địa bàn thôn,
xóm, huyện mà còn lan ra các huyện khác trong tỉnh và các tỉnh
lân cận gây ảnh hưởng không nhỏ tới tình hình trật tự trị an xã hội.
2.2.2.2. Thủ đoạn của bọn tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội
mà có
Thủ đoạn của bọn tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
rất đa dạng như: lợi dụng những sơ hở của người dân trong khi
trao đổi mua bán, sự kiểm soát thiếu chặt chẽ của cơ quan quản lý


trong việc đăng ký phương tiện giao thông cơ giới, móc nối với đối
tượng khác ở các tỉnh lân cận để tiêu thụ .Và một điều quan trọng
nữa, là tranh thủ đuợc tâm lý hám lợi của một số ít người dân
chúng đã tiêu thụ được rất nhiều tài sản phạm pháp. Điển hình cho
thủ đoạn tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có là thủ
đoạn tiêu thụ xe cơ giới có nguồn gốc bất hợp pháp. Thủ đoạn của
bọn chúng như sau:
Qua điều tra các vụ án có thể thấy, thủ đoạn gian dối trong đăng
ký để hợp thức hóa phương tiện giao thông cơ giới đường bộ
( PTGTCGĐB) có nguồn gốc bất hợp pháp là các hành vi lắt léo, lợi
dụng những sơ hở, thiếu sót, những khó khăn, bất lợi trong kiểm
tra, soát xét thực hiện quy trình, thủ tục đăng ký để làm sai lệch
nội dung hồ sơ hoặc tình trạng thực của phương tiện đăng ký
nhằm hợp thức các phương tiện giao thông cơ giới có nguồn gốc
bất hợp pháp.
Thực tế cho thấy thủ đoạn gian dối trong đăng ký thường được
thực hiện dưới một số dạng chủ yếu như: làm giả hồ sơ đăng ký
cho phù hợp với tình trạng của phương tiện bất hợp pháp ( ví dụ:
lấy cắp, mua bán ấn chỉ rồi điền số máy, số khung của xe gian
vào, đóng dấu giả, chữ ký giả để đăng ký), thay đổi đặc điểm, hình
dáng hoặc tình trạng kỹ thuật của phương tiện bất hợp pháp cho
phù hợp với hồ sơ đăng ký (ví dụ như các đối tượng thường được sử
dụng kết hợp với hồ sơ, giấy tờ thật hoặc giả qua mắt lực lượng
kiểm tra hoặc đục sửa số máy, số khung nhằm trốn thuế cho xe
bằng việc sửa cho phù hợp với mẫu đăng ký xe nội địa), vừa làm
giả hồ sơ, sửa chữa, thay đổi nội dung hồ sơ vừa sửa chữa, thay
đổi đặc điểm, hình dáng, đặc tính kỹ thuật phương tiện bất hợp
pháp cho phù hợp với hồ sơ đăng ký(ví dụ: bọn tội phạm thường sử


dụng đăng ký xe giả kết hợp với biển đăng ký xe giả hoặc biển
đăng ký xe thật để tiến hành mua bán, sang tên hợp thức). Ngoài
ra, bọn chúng lợi dụng sơ hở trong việc cấp lại biển đăng ký xe,
giấy đăng ký xe (ví dụ như là báo mất, xin cấp lại đăng ký xe, sau
đó tiếp tục báo mất biển đăng ký xe để được cấp lại. Dùng giấy tờ
và biển đăng ký đó lắp vào xe lậu, xe gian đã đục lại số máy, số
khung phù hợp giấy tờ xe rồi tiến hành tiêu thụ trong khi xe thật
vẫn còn nguyên đăng ký cũ. Như vậy, cả xe đăng ký hợp pháp và
xe bất hợp pháp đều có đăng ký thật).
Để ngăn chặn tình trạng trên cần phải có các biện pháp đấu tranh
mạnh mẽ kịp thời phát hiện phòng chống các hành vi cướp xe
máy, trộm cắp xe máy, kịp thời xử lý các hành vi gian dối trong
việc hợp thức hóa các phương tiện giao thông bất hợp pháp để
tiêu thụ trên thị trường.
2.3. Thực tiễn xét xử tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội
mà có ở tòa án nhân dân huyện Diễn Châu tỉnh Nghệ An
2.3.1. Thực tiễn xét xử tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội
mà có qua một số vụ án cụ thể
Thực hiện chỉ đạo của lãnh đạo Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An, Tòa
án nhân dân huyện Diễn Châu có nhiều cố gắng và thực hiện tốt
công tác xét xử. Trong 4 năm 2005 đến năm 2008 đã giải quyết
420 vụ án hình sự các loại trên tổng số 448 vụ án đã thụ lý, đạt
93,75 %. Số vụ án còn lại chủ yếu do mới thụ lý còn trong thời hạn
xét xử và đang được tiến hành giải quyết. Tỷ lệ hủy án do lỗi khách
quan là 1 vụ chiếm 0,22 % , bị sửa nghiêm trọng và để quá thời
hạn không có vụ nào. Trong số các vụ án xét xử có thể thấy vụ án


về tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có có chiều
hướng gia tăng. Năm 2008 có 12 vụ án, tăng 6 vụ so với năm
2007. Trong số các bị cáo bị xét xử trong 4 năm thì phạt tù có 27 bị
cáo, phạt tù cho hưởng án treo chiếm 12 bị cáo , cải tạo không
giam giữ 9 bị cáo, phạt tiền 5 bị cáo.
Bảng 4: Tỷ lệ xét xử tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà
có trong năm 2005- 2008
Năm Tổng số vụ án hình sự được thụ lý Tổng số vụ án về tội tiêu
thụ tài sản do người khác phạm tội mà có Tỷ lệ %
Vụ Bị cáo Vụ Bị cáo
2005 96 106 06 10 6,2
2006 100 110 4 8 4,4
2007 120 150 8 16 6,6
2008 132 187 12 21 9,0
Tổng số 448 553 30 54 26,38
(Nguồn:Phòng tổng hợp – TAND huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An)
Đường lối xét xử nghiêm minh, đúng người, đúng tội, đúng pháp
luật, không có oan sai hay bỏ lọt tội phạm. Mặc dù còn nhiều khó
khăn về kinh phí hoạt động nhưng Tòa án đã chủ động phối hợp
với cơ quan công an, Viện kiểm sát, đài truyền hình xét xử lưu
động 4 vụ án về tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
ở địa bàn phức tạp, nhằm tuyên truyền giáo dục ý thức pháp luật
trong nhân dân.
Tuy nhiên, con số trên vẫn chưa phản ánh hết thực trạng của tình
hình tội phạm, nhất là đối với tội tiêu thụ tài sản do người khác
phạm tội mà có. Thực tế, con số thống kê của Tòa án cần phải tính
đến những sai số của nó, thường là do hai nguyên nhân chính sau:


Viện kiểm sát, cơ quan điều tra vì những nguyên nhân nào đó
không gửi báo cáo hoặc có gửi nhưng không gửi đúng thời hạn
theo quy định nên khi TAND thực hiện việc thống kê còn gặp nhiều
khó khăn và bỏ sót tội phạm. Chúng ta biết rằng tội tiêu thụ tài
sản do người khác phạm tội mà có bắt nguồn từ các tội phạm
khác. Do đó, một khi chưa phát hiện ra các tội phạm khác thì khó
có thể phát hiện, điều tra xử lý tội tiêu thụ tài sản do người khác
phạm tội mà có được.
Hơn nữa, việc điều tra tội phạm về tiêu thụ tài sản do người khác
phạm tội mà có còn gặp nhiều vướng mắc trong việc xác minh
nguồn gốc thực của các tài sản đó chính vì vậy số lượng các vụ
phạm tội xảy ra, số lượng người phạm tội vẫn chưa bị phát hiện và
xử lý hình sự và nó vẫn chưa được thống kê. Thực tế vẫn còn nhiều
số lượng tội phạm “ẩn” so với con số thật thống kê được.
Ngoài ra, cần phải kể đến các vụ án và số lượng người phạm tội đã
bị phát hiện nhưng không cần thiết áp dụng thủ tục xét xử của tòa
án và số tội phạm đã phát hiện song chưa đủ điều kiện để đưa ra
xét xử hoặc vì một lý do tiêu cực nào đó mà cho “chìm xuồng”
luôn hoặc do chính nguyên nhân người phạm tội (tâm lý sợ trả thù,
cho rằng hành vi phạm tội của mình quá tinh vi và không thể bị
phát hiện…). Như vậy có thể thấy các con số trên chỉ phản ánh bề
nổi của tình hình tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
(tức tội phạm thực tế) còn lại là con số chưa được thống kê nói lên
tình hình tội phạm ẩn của tội phạm này. Đây mới chính là “bức
tranh” toàn cảnh về thực trạng tình hình tội tiêu thụ tài sản do
người khác phạm tội mà có.


Hằng năm, số lượng các vụ án về tội tiêu thụ tài sản do người khác
phạm tội mà có mà Viện kiểm sát, tòa án nhân dân huyện Diễn
Châu xét xử và thống kê số liệu còn rất ít so với các loại tội phạm
khác cũng như thực tế tội phạm này xảy ra. Điều này cho chúng ta
thấy được loại tội phạm về tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội
mà có đang có chiều hướng gia tăng. Việc này gây ảnh hưởng
không tốt tới tình hình trật tự an toàn công cộng, khuyến khích, tác
động, cho các tội phạm khác phát triển.
Thực tế xét xử cho thấy, bọn tội phạm thực hiện hành vi tiêu thụ
tài sản có nguồn gốc thường là không rõ ràng từ những vật dụng
sinh hoạt thường ngày cho tới những chiếc xe máy…Hầu hết các
vụ án xét xử ở tòa án đều xác minh những tài sản này có liên quan
tới các vụ án trộm cắp, cướp giật…Số lượng người tham gia vào
việc tiêu thụ cũng rất đa dạng. Ngoài ra, ở những vụ án về tiêu thụ
xe máy các đối tượng phạm tội thường có sự hứa hẹn trước người
cung cấp các công cụ để hợp thức hóa các phương tiện này, số các
vụ án còn lại thường ở dạng không hứa hẹn trước. Cụ thể:
Tại bản án số 110/HS- ST ngày 26 tháng 6 năm 2008 tòa án nhân
dân huyện Diễn Châu xét xử Nguyễn Văn Đắc (trú tại xóm 4 xã
Diễn Quảng huyện Diễn Châu) về tội trộm cắp tài sản, Lê Hữu Sản
(trú tại xã Diễn Thái huyện Diễn Châu) và Vũ Văn Kiên (trú tại xã
Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh) về tội tiêu thụ tài sản do người khác
phạm tội mà có.
Theo bản cáo trạng thì Sản là một đối tượng không ngề nghiệp
nhưng liên tục thay đổi nhiều loại xe máy. Qua điều tra xác minh
của cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Diễn Châu, được biết
xe Hon đa Wave RS y đang điều khiển là tang vật của một vụ án


trộm cắp xảy ra tại thôn Yên Trung, xã Diễn Thái, huyện Diễn
Châu. Sản khai nhận đã mua chiếc xe máy trên của Kiên với giá
4,2 triệu đồng trong tình trạng không có giấy tờ xe. Sản cho biết y
đã mua 4 chiếc xe máy của Kiên với giá từ 2- 2,7 triệu đồng, sau
đó, tẩy xóa số khung để đi bán kiếm lời. Kiên khai nhận mua số tài
sản trên của Đắc .Đắc khai nhận y có số xe trên là do trộm cắp
được. Chiếc xe máy trộm được ở xã Diễn Thái vào tháng 12 năm
2007 y bán cho Kiên với giá 4,2 triệu đồng. Vào tháng 3 năm 2008
y lại trộm được chiếc Hon đa Future màu đỏ tại khu vực cầu Bến
Thủy, thành phố Vinh và bán cho Kiên với giá 3,5 triệu đồng.
Tháng 5 năm 2008, Đắc lại trộm cắp tiếp 1 chiếc xe máy Hon đa
Wave RS bán cho Kiên với giá 2,7 triệu đồng. Những vụ trộm cắp
trên đều xảy ra vào lúc sơ hở mọi người xuống ruộng làm đồng.
Và mới đây, tòa án huyện Diễn Châu đã xét xử vụ án đối với bị cáo
Nguyễn Văn Hiếu và đồng bọn về tội tiêu thụ tài sản do người khác
phạm tội mà có nhằm lừa đảo chiếm đoạt tài sản các hiệu cầm đồ.
Hầu hết các xe mà bọn chúng đưa đi cầm đều là xe đắt tiền là tài
sản do trộm cắp, cướp được. Từ những tài sản có được, các đối
tượng chấp nhận bỏ ra khoản phí để mua giấy tờ đăng kí xe, CMND
giả. Tiếp đó chúng đưa những chiếc xe có giấy tờ “hợp lệ”đúng
hình họ tên rồi càm với giá 17- 25 triệu đồng. Vào ngày
20/12/2008 chúng đang thực hiện hành vi trên thì bị công an
huyện Diễn Châu bắt quả tang.
Như vậy, thông qua hoạt động xét xử của tòa án chúng ta có thể
thấy được thực chất hành vi tiêu thụ tài sản ngày càng trở nên
phức tạp, thủ đoạn của chúng ngày càng tinh vi hơn gây khó khăn
nhiều hơn trong việc xác minh chứng cứ phạm tội và giải quyết
đúng đắn vụ án nhằm thực hiện sự nghiêm minh của pháp luật.


2.3.1.1. Đặc điểm nhân thân của tội phạm về tiêu thụ tài sản do
người khác phạm tội mà có
Tính chất nghiêm trọng của tội phạm về tiêu thụ tài sản do người
khác phạm tội mà có thể hiện ở các đặc điểm về nhân thân người
phạm tội.
Nhân thân người phạm tội là tổng hợp các đặc điểm riêng biệt của
người phạm tội, chúng có ảnh hưởng nhất định tới quá trình thực
hiện tội phạm. Xác định được nhân thân người phạm tội giúp cho
cơ quan tiến hành tố tụng làm sáng rõ một số chi tiết liên quan
đến vụ án từ đó giải quyết đúng đắn vấn đề trách nhiệm hình sự
của họ.
Bảng 3: Nhân thân người phạm tội tiêu thụ tài sản do người khác
phạm tội mà có từ năm 2005 đến năm 2008
Năm Công nhân viên chức Tái phạm Tiền án, tiền sự Nữ Từ 18- 30
tuổi Người chưa thành niên
2005 2 1 1 6 9 0
2006 0 2 0 2 6 1
2007 1 1 2 3 8 2
2008 2 3 3 5 12 4
(Nguồn: phòng tổng hợp –TAND huyện Diễn Châu năm 2005- 2008)
Qua bảng thống kê trên chúng ta có thể thấy rằng, đối tượng
phạm tội về tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có bao
gồm nhiều tầng lớp và thành phần tham gia khác nhau đủ mọi lứa
tuổi. Trong 54 bị cáo phạm tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm


tội mà có đã được tòa án nhân dân huyện Diễn Châu xét xử sơ
thẩm hình sự trong 5 năm (từ năm 2005- 2008) cho kết quả sau:
a) Về giới tính
Trong thực tiễn xét xử các vụ án về tiêu thụ tài sản do người khác
phạm tội mà có thì nữ giới chiếm tỷ lệ khoảng 18,5 %. Họ thường
tập trung tiêu thụ ở các cửa hàng bán đồ phụ tùng ô tô xe máy,
các cửa hàng bán thịt chó, các cửa hàng bán đồ gia dụng…lớn hơn
là các cửa hàng bán điện thoại di động và máy tính xách tay…Các
đối tượng này khi mua đồ không có nguồn gốc thì không khai báo
cho cơ quan chức năng để xử lý mà vẫn tiếp tục thực hiện hành vi
mua bán vì những đồ dùng này rất rẻ và khi bán lại trên thị trường
với giá cao. Ví dụ như trường hợp mua máy tính xách tay, người
chủ cửa hàng sau khi đã thỏa thuận giá cả xong, bảo đối tượng mở
mật mã, nhưng người đó không biết. Trong trường hợp này, chỉ cửa
hàng biết đó là đồ gian nhưng vì ham lợi nhuận nên biết đó là đồ
gian mà vẫn chấp nhận mua.
Nữ giới tham gia các hành vi này chủ yếu ở tuổi từ 18 đến 55,
chiếm vị trí cao nhất. Đối tượng vừa thực hiện hành vi trộm cắp
vừa thực hiện hành vi tiêu thụ thường xuyên thấy ở những người
thất học, không có nghề nghiệp và gia cảnh khó khăn.
Người chưa thành niên tham gia vào việc tiêu thụ tài sản phạm
pháp cũng có xu hướng tăng lên chiếm khoảng 12,9 % , thể hiện ở
việc cấu kết tiêu thụ tài sản với người lớn. Các đối tượng này
thường là những đứa trẻ lang thang được lớn lên trong gia đình
làm ăn bất chính, buôn bán gian lận, nghiện hút, trộm cắp…


b) Tuổi
Thanh niên từ 18 đến trên 30 tuổi chiếm tỷ lệ cao khoảng 64,8 %
và có xu hướng tăng nhanh từ năm 2006 trở lại đây. Đa số những
người này là thất nghiệp và làm việc bán thời gian, làm việc ở các
trạm sửa xe, bảo hành…
Các đối tượng là công nhân, viên chức làm việc cho các nhà máy
sản xuất phụ tùng xe các loại, họ thường trộm cắp các loại tài sản
này rồi tìm nơi tiêu thụ lấy tiền tiêu xài. Hiện tượng này diễn ra
khá phổ biến ở các khu công nghiệp.
c) Tiền án, tiền sự
Tỷ lệ các đối tượng có tiền án, tiền sự chiếm khoảng 14,8 %. Các
đối tượng thực hiện hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm
tội mà có thường có tiền án về tội trộm cắp, cướp giật, các tội về
chiếm đoạt tài sản như tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, tội lạm dụng
tín nhiệm chiếm đoạt tài sản,…hoặc các đối tượng này đã bị cơ
quan nhà nước có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính về tội
tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có.
d) Tái phạm
Tỉ lệ tái phạm chiếm khoảng 12,9 % và tăng cao nhất trong năm
2008. Thực tế xét xử cho thấy, phần lớn người thành niên phạm tội
nhiều lần và tái phạm rất lớn vì cải tạo xong ra trường lại tiếp tục
thực hiện hành vi phạm tội vì chúng không được sự quan tâm của
gia đình và xã hội.


Như vậy, đặc điểm nhân thân người phạm tội về tiêu thụ tài sản do
người khác phạm tội mà có có sự thay đổi đáng chú ý ở một số
điểm như: số người thành niên tham gia lớn, nữ giới và người chưa
thành niên cũng có xu hướng tăng. Phần lớn các đối tượng này
phạm tội vì động cơ vụ lợi, động cơ thỏa mãn nhu cầu nghiện hút,
còn lại là có động cơ và mục đích khác.
2.3.1.2. Hậu quả của tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà
có gây ra đối với xã hội.
Nghiên cứu các dấu hiệu hậu quả của tội tiêu thụ tài sản do người
khác phạm tội mà có, có ý nghĩa quan trọng giúp chúng ta nhận
thức đầy đủ về tình hình tội phạm tiêu thụ tài sản do người khác
phạm tội mà có. Như chúng ta đã phân tích ở các mục trên, hậu
quả của loại tội phạm này gây ra thể hiện trước hết ở số lượng gia
tăng các vụ án trộm cắp, cướp giật và kéo theo đó là số lượng
người phạm tội trong xã hội tăng lên dần theo cấp số nhân đặc
biệt là giới trẻ là những chủ nhân tương lai của đất nước. Điều này
gây mất ổn định trật tự trị an trong thôn xóm ảnh hưởng tới cuộc
sống của người dân cũng như sự phát triển bền vững của xã hội.
Đồng thời, nó còn là nhân tố thuận lợi cho các tệ nạn xã hội khác
cũng như tội phạm phát triển.. Nhiều thanh thiếu niên vì thoả mãn
những nhu cầu thường ngày mà thực hiện hành vi trộm cắp đưa tài
sản đi bán lấy tiền chơi game, cờ bạc…nó làm cho nhân cách của
các em bị tụt dốc, làm suy thoái đạo đức, ảnh hưởng tới sự phát
triển tương lai các em sau này.
Tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có còn gây thiệt hại
trực tiếp đến trật tự quản lý nhà nước đối với tài sản do người khác
phạm tội mà có, ảnh hưởng tới việc điều tra, phát hiện tội phạm,


tạo điều kiện khuyến khích những người khác đi vào con đường
phạm tội, có trường hợp làm cho việc điều tra phát hiện bị bế tắc
phải tạm đình chỉ hoặc đình chỉ điều tra vì không thu hồi được tài
sản do người khác phạm tội mà có.
Thiệt hại gây ra ở đây chính là số lượng tiền, tài sản của người dân
bị mất cắp cũng như tài sản của nhà nứơc bị xâm phạm làm cho
người dân mất lòng tin vào sự quản lý đúng đắn của nhà nước đối
với xã hội. Ngoài ra, còn phải kể đến toàn bộ chi phí của nhà nước
và xã hội cho công tác đấu tranh phòng chống tội phạm về trật tự
an toàn xã hội nói chung cũng như tội tiêu thụ tài sản do người
khác phạm tội mà có nói riêng. Do đó, thiệt hại này không thể
thống kê đựơc. Không những thế, loại tội phạm này đã ảnh hưởng
tới sự phát triển kinh tế xã hội của địa phương vì số tiền chi phí
trên đáng lẽ phải được sử dụng cho đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng
ở địa phương cũng như thực hiện các chương trình xoá đói giảm
nghèo, giúp người dân vay vốn để tăng gia sản xuất, nâng cao
chất lượng cuộc sống giúp người dân tránh xa với các tệ nạn xã hội
thì nay lại chi phí cho hoạt động ngăn chặn tội phạm này.
2.4. Những vướng mắc trong thực tế xét xử tội tiêu thụ tài sản do
người khác phạm tội mà có
Bộ luật hình sự là công cụ sắc bén của nhà nước, của nhân dân, đã
phát huy vai trò, tác dụng to lớn trong công cuộc bảo vệ những
thành quả của cách mạng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ
an ninh quốc phòng và trật tự an toàn xã hội, bảo vệ quyền, lợi ích
hợp pháp của công dân, đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm,
góp phần tích cực vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo
vệ vững chắc tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.


Tuy nhiên, kết quả tổng kết 8 năm qua thi hành BLHS trong các
ngành công an, kiểm sát, quốc phòng cũng như kết quả khảo sát
tình hình thi hành BLHS tại một số địa phương cho thấy, BLHS năm
1999 đã bộc lộ một số điểm bất cập, hạn chế cần được phải được
khắc phục. Tiêu biểu trong số các tội phạm được nêu ra trong
BLHS năm 1999 có tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà
có (điều 250).
2.4.1. Về cách hiểu và vân dụng điều luật
Điều luật này do chưa có hướng dẫn cụ thể của cơ quan Nhà nước
có thẩm quyền, nên thực tiễn các cơ quan tiến hành tố tụng hình
sự đã có những cách hiểu và vận dụng khác nhau. Chúng ta có thể
thấy điều này qua một số ví dụ sau đây:
Ví dụ1 A chưa đủ tuổi chịu TNHS, trộm cắp chiếc xe mô tô trị giá 6
triệu đồng, bán cho B, B biết rõ là xe do A trộm cắp nhưng vẫn
mua với giá là 3 triệu đồng.
Ví dụ 2 C đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án
tích, sau đó C lại trộm cắp chiếc đồng hồ đeo tay trị giá 800.000
đồng bán cho D với giá 300.000 đồng
Ở ví dụ 1 có hai cách hiểu như sau:
• Cách hiểu thứ nhất: do A chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự
nên A không phạm tội. Vì vậy hành vi tiêu thụ tài sản của B không
cấu thành tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có.


• Cách hiểu thứ hai: tuy về điều kiện chủ thể của tội phạm chưa
thoả mãn, nhưng đã thoả mãn các dấu hiệu của tội trộm cắp tài
sản. Do đó, tuy A không phạm tội trộm cắp tài sản, B vẫn phải chịu
trách nhiệm hình sự về tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội
mà có.
Ở ví dụ 2 cũng có hai cách hiểu như sau:
• Cách hiểu thứ nhất: mặc dù giá tri tài sản dưới 500 nghìn đồng
nhưng C đã bị kết án, chưa được xoá án tích về tội chiếm đoạt nên
C sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội tiêu thụ tài sản do
người khác phạm tội mà có.
• Cách hiểu thứ hai : vì giá trị tài sản mà C chiếm đoạt dưới 500
nghìn đồng, nên chưa thoả mãn cấu thành cơ bản của tội trộm cắp
tài sản. Vì vậy, D không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội tiêu
thụ tài sản do nguời khác phạm tội mà có.
Vướng mắc nữa là điều 250 BLHS không có quy định giá trị tài sản
tiêu thụ là bao nhiêu nên chưa đồng bộ với các tội danh khác mà
người có tài sản đó thực hiện. Chính vì không quy định cụ thể giá
trị tài sản tiêu thụ là bao nhiêu thì phải chịu trách nhiệm hình sự
(như một số tội có tính chất chiếm đoạt khác như tội chiếm đoạt
tài sản, tội trộm cắp, tội lừa đảo, tội lạm dụng tín nhiệm chiếm
đoạt tài sản…). Do vậy, còn có nhiều ý kiến khác nhau về giá trị tài
sản tiêu thụ để xác định các yếu tố cấu thành tội phạm.
Ví dụ: Trần Văn A mua một xe đạp Trung Quốc trị giá 400.000
đồng của Hoàng Văn Q do phạm tội "cướp" mà có, nhưng Q nói với


A là do trộm cắp được nên bán với giá rẻ là 200.000 đồng.Và A đã
mua.

Ý kiến thứ nhất cho rằng : hành vi của A đã đủ yếu tố cấu thành
tội "tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có ", vì chiếc xe
đạp mà A mua của Q là do phạm tội mà có.
Ý kiến thứ hai cho rằng: “trường hợp này chưa đủ yếu tố cấu
thành tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, bởi lẽ như
sau: A biết là tài sản phạm pháp nhưng tham rẻ nên đã mua,
nhưng lại tưởng đó là xe đạp do Q "trộm cắp " được chứ không hề
biết do Q phạm tội "cướp " mà có. Giả sử, nếu Q trộm cắp chiếc xe
đạp đó, thì bản thân Q cũng chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự,
mà chỉ xử lý hành chính”[27,20]. Do vậy, cũng chỉ áp dụng xử lý
hành chính đối với A, chứ chưa thể truy cứu trách nhiệm hình sự
được.
Trong trường hợp đối với tội danh này, việc quy định giá trị tài sản
tiêu thụ mức tối thiểu để định tội hay xác định "tài sản, vật phạm
pháp có giá tri lớn" hay "rất lớn" để định khung là rất khó khăn và
sẽ có nhiều bất cập, vì các tội danh khác nhau có quy định về giá
trị tài sản, vật phạm pháp rất khác nhau.
Ví dụ: + Tội cướp tài sản khoản 1 điều 133 BLHS thì không quy
định giá trị tài sản nhằm chiếm đoạt;
+ Tội trộm cắp tài sản khoản 1 điều 138 BLHS quy định tài sản
chiếm đoạt có giá trị từ 500.000 đồng trở lên mới cấu thành tội;


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×