Tải bản đầy đủ

Mặt trận Việt Minh đóng vai trò nào trong cách mạng tháng 8 năm 1945

Mặt trận Việt Minh đóng những vai trò nào trong Cách mạng tháng 8
năm 1945?
Ngay từ khi mới ra đời, Mặt trận Việt Minh đã có những đóng góp to lớn trong việt
tập hợp đông đảo quần chúng, tổ chức và giáo dục họ thành những lực lượng chính
trị mạng mẽ ở các vùng thành thị và nông thông, phá tan âm mưu tuyên truyền, lừa
bịp của bọn phát xít Nhật – Pháp, tạo lập được khối đoàn kết dân tộc mạng mẽ, cô
lập và phân hóa kẻ thù. Mặt trận Việt Minh đã tập hợp mọi lực lượng yêu nước
trong các tổ chức quần chúng lấy tên là hội cứu quốc: Thanh niên cứu quốc, Phụ nữ
cứu quốc …, xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc. “liên hiệp hết thảy các giới đồng
bào yêu nước, không phân biệt giàu nghèo, già trẻ, gái trai, không phân biệt tôn giáo
và xu hướng chính trị, đặng cùng nhau mưu cuộc dân tộc giải phóng và sinh tồn”.
Cùng với thời gian thành lập đội Cứu quốc quân ở căn cứ địa Bắc Sơn – Vũ Nhai và
thực hiện chiến tranh du kích để chống lại sự càn quét của địch ở đây, ở Cao Bằng
được coi là nơi thí điểm cuộc vận động xây dựng các hội cứu quốc trong Mặt trận
Việt Minh. Đến năm 1942, khắp 9 châu của Cao Bằng đều có hội cứu quốc, trong
đó có 3 châu “hoàn toàn”, nghĩa là mọi người đều tham gia tổ chức Việt Minh, xã
nào cũng có Uỷ ban Việt Minh. Rồi Uỷ ban Việt Minh tại Cao Bằng và Uỷ ban Việt
Minh lâm thời tỉnh Cao – Bắc – Lạng được thành lập, sang năm 1943, Uỷ ban Việt
Minh tỉnh Cao – Bắc – Lạng lập ra 19 ban xung phong “Nam tiến” để liên lạc với
căn cứ địa Bắc Sơn – Vũ Nhai và phát triển lực lượng cách mạng xuống các tỉnh
miền xuôi. Đến năm 1945, Tại Hà Nội, mỗi xí nghiệp đều có Hội công nhân cứu

quốc, nhiều nơi có đội tự vệ. Biểu tình, diễn thuyết thường xuyên xảy ra trên đường
phố, ở trường học, nhà máy, các cửa ô. Ở Huế, nhiều cơ sở Đảng được phát triển
trong công nhân, những người buôn bán nhỏ, và học sinh. Tại Sài Gòn, số hội viên
của Hội công nhân cứu quốc lên đến 120.000 người. Ngoài ra, Việt Minh còn tranh
thủ được sự đồng thuận của Thanh niên tiền phong, một tổ chức thanh niên rộng
lớn, công khai xuất hiện tại Nam Bộ sau ngày Nhật hất cẳng Pháp.


Mặt trận Việt Minh đã có đóng góp to lớn trong việc phát triển lực lượng vũ trang
cách mạng, trong việc chỉ đạo phong trào kháng Nhật cứu nước, tạo tiền đề cho
cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945. Sau biến cố Nhật hất cẳng Pháp
(9/3/1945), Đảng Cộng sản Đông Dương và Việt Minh đã phát động cao trào chống
Nhật cứu nước, chuẩn bị tổng khởi nghĩa. Hịch của Mặt trận Việt Minh kêu gọi:
“Vận mệnh dân tộc ta đang treo trên sợi tóc. Nhưng cơ hội ngàn năm có một đang
lại !
… Giờ kháng Nhật cứu nước đã đánh. Kíp nhằm theo lá cờ đỏ sao vàng năm cánh
của Việt Minh”.
Ở khu căn cứ địa Cao – Bắc – Lạng: Đội Việt Nam tuyên truyền giair phóng quân
và đội Cứu quốc quân chặn đánh các toán quân Nhật trên đường hành quân của
chúng, diệt các đồn lẻ. Đi đâu, đội cũng làm nhiệm vụ tuyên truyền, phát triển lực
lượng chính trị, lực lượng vũ trang đến đó. Nhiều nơi, quần chúng nhân dân đã
thành lập được chính quyền cách mạng. Ở Quảng Ngãi (Trung Kỳ), anh em tù chính
trị đã nổi dậy, chiếm lấy đồn giặc, lãnh đạo quần chúng nhân dân tiến hành cuộc
khởi nghĩa, tuyên bố thành lập chính quyền cách mạng, thành lập đội du kích Ba Tơ
và xây dựng căn cứ địa Cách mạng Ba Tơ. Ở Nam Kỳ, phong trào phát triển mạng
tại Mỹ Tho và Hậu Giang.
Phong trào quần chúng phát triển nhanh ở nông thôn và thành thị. Khẩu hiệu “Phá
kho thóc, giải quyết nạn đói” đã làm dấy lên cả một phong trào đánh chiếm kho
thóc của Nhật để chia cho dân. Đến đầu tháng 8 năm 1945, cao trào kháng Nhật
diễn ra ngày càng sục sôi; ở nhiều nơi, các đội danh dự Việt Minh đã trừ khử một số
tên tay sai đắc lực cho địch. Không khí chuẩn bị khởi nghĩa đã trở nên hết sức khẩn
trương. Quần chúng đã sẵn sàng, chỉ còn chờ thời cơ là đứng lên tổng khởi nghĩa.
Ngày 4 tháng 6 năm 45, khu giải phóng Việt Bắc ra đời, bao gồm các tỉnh Cao
Bằng, Bắc Cạn, lạng Sơn, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Hà Giang và một số vùng
lân cận thuộc các tỉnh trung du (Bắc Giang, Phú Thọ, Yên Bái, Vĩnh Yên). Ủy ban
lâm thời khu giải phóng đã thi hành 10 chính sách của Việt Minh như: Giành lấy


chính quyền, xây dựng một nước Việt Nam dân chủ cộng hoà trên nền tảng hoàn
toàn độc lập. Võ trang nhân dân. Phát triển Quân giải phóng Việt Nam. Tịch thu tài

sản của giặc nước và của Việt gian, tuỳ từng trường hợp sung công làm của quốc
gia hay chia cho dân nghèo…”. Khu giải phóng trở thành căn cứ địa chính của cả
nước.
Cách mạng tháng 8 năm 45 là kết quả trước hết của việc thực hiện chính sách đoàn
kết toàn dân vì nhiệm vụ tối cao giải phóng dân tộc giành lấy chính quyền. Mặt trân
việt minh đã đóng vai trò to lớn trong những năm tháng quyết liệt nhất của thời kỳ
cách mạng giành chính quyền.
Triệu tập và tiến hành thành công Quốc dân Đại hội Tân trào ngày 16 và 17 tháng 8
năm 1945, huy động nhân dân tham gia Tổng khởi nghĩa tháng Tám, dưới sự lãnh
đạo của Đảng, giành được thắng lợi. Trước Quốc dân đại hội là Hội nghị toàn quốc
của Đảng họp ở Tân Trào (Tuyên Quang) từ 13 đến 15 tháng 8 năm 1945 quyết định
phát động Tổng khởi nghĩa giành chính quyền. Quốc dân Đại hội đã hiệu triệu nhân
dân toàn quốc “giành chính quyề, xây dựng một nước Việt Nam dân chủ công hoà
trên nền tảng hoàn toàn độc lập”. Đại hội đã nhất trí tán thành quyết định Tổng khởi
nghĩa và bầu Uỷ ban giải phóng dân tộc Việt Nam (Chính phủ lâm thời) do Hồ Chí
Minh làm Chủ tịch. Chiều 16/8/1945, một đội quân giải phóng do Võ Nguyên Giáp
chỉ huy tiến về giải phóng thị xã Thái nguyên, mở đầu cho cuộc Tổng khởi nghĩa
giành chính quyền trong cả nước. Sau 15 ngày, dươi sự lãnh đạo của Đảng cộng sản
và sự chuẩn bị từ trước của Việt Minh, Tổng khởi nghĩa tháng 8 năm 1945 đã thành
công trong cả nước.
Bối cảnh ra đời của Mặt trận Việt minh.
1. Tình hình quốc tế
Chiến tranh thế giới thứ 2 ở giai đoạn thứ nhất (1939 – 1941). Ngày 1 tháng 9 năm
1939, phát xít Đức tấn công Ba Lan (mở đầu cho Chiến tranh thế giới lần 2). Đế


quốc Anh, Pháp lao vào vòng chiến. Đảng cộng sản Pháp bị đặt ra ngoài vòng pháp
luật, Mặt trận nhân dân Pháp tan vỡ. Vào trận chưa được bao lâu, tháng 6 năm
1940, Đức tấn công Pháp. Chính phủ Pháp đầu hàng Đức; một chính phủ bù nhìn, ty
sai của Đức được dựng lên. Ngày 22 tháng 6 năm 1941, Phát xít Đức tấn công Liên
Xô, thế giới chia thành 2 trận tuyến: một bên là lực lượng dân chủ do Liên Xô đứng
đầu và một bên là khối phát xít Đức, Italia, Nhật.
2. Tình hình trong nước
Lợi dụng sự thất bại của đế quốc Pháp, phát xít Nhật yêu cầu chính quyền thực dân
ở Đông Dương để cho chúng kiểm soát biên giới Việt – Trung và đưa quân vào
Đông Dương. Tháng 9/1940, quân đội Nhật xâm lược Việt Nam, biến Việt Nam
thành căn cứ quân sự để tiến công Nam Trung Quốc và làm bàn đạp mở rộng xâm
lược khu vực Đông Nam Á. 23/9/1940, tại Hà Nội, Pháp kỹ hiệp định đầu hàng
Nhật. Thực dân Pháp phải thừa nhận quyền ưu đãi của Nhật. Nhật bắt Pháp cung
cấp nguyên liệu, lương thực, thực phẩm và tiền. Từ đây, nhân dân Việt Nam phải
chịu cảnh “một cổ hai tròng”. Từ thuộc địa của Pháp, Việt Nam trở thành thuộc địa
của Nhật – Pháp. Công nhân và nông dân là những người phải gánh chịu trước nhất
và nặng nề nhất hậu quả của những chính sách phát xít, những thủ đoạn bóc lột tàn
bạo của Pháp, Nhất và bọn tay sai. Các tầng lớp và giai cấp khác đời sống cũng sa
sút nhiều. Tất cả đều bùng lên tinh thần chống phát xít Nhật – Pháp ở mức độ khác
nhau.
3. Sự ra đời của Mặt trận Việt Nam cách mạng đồng minh
Trước tình hình thế giới và trong nước ngày càng khẩn trương, ngày 28 tháng 1 năm
1941, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc về nước triệu tập Hội nghị Ban chấp hành Trung
ương Đảng Cộng sản Đông Dương lần thứ 8. Hội nghị họp từ ngày 10 đến ngày 19
tháng 5 tại Pác Bó (Cao Bằng), nêu rõ ở Việt Nam lúc này mâu thẫn đòi hỏi phải
giải quyết cấp bách là mâu thẫn giữa dân tộc ta với đế quốc Pháp và phát xít Nhật.
Từ đó, hội nghị chủ trương trước hết phải làm sao giải phóng cho được các dân tộc


Đông Dương ra khỏi ách thống trị Pháp – Nhật. “Nếu không giải quyết được vấn đề
giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những
toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận
giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được”.
Vì vậy, hội nghị quyết định tiếp tục tạm gác khẩu hiệu “đánh đổ địa chủ, chia ruộng
đất cho dân cày”, thay bằng các khẩu hiệu tịch thu ruộng đất của bọn đế quốc và
Việt gian chia cho dân cày nghèo, giảm tô, giảm tức, chia lại ruộng đất công, tiến
tới thực hiện “dân cày có ruộng”.
Hội nghị chủ trương thành lập Việt Nam độc lập đồng minh (gọi tắt là Việt Minh).
Việt Minh sẽ tổ chức tất cả những người yêu nước vào những hội cứu quốc như:
Công nhân cứu quốc, Nông dân cứu quốc, Thanh niên cứu quốc, Phụ nữ cứu quốc
… Hội nghị còn quyết định gấp rút xây dựng lực lượng vũ trang và nửa vũ trang khi
thời cơ đến, cùng toàn dân đã được tập hợp trong Việt Minh, dưới sự lãnh đạo của
Đảng, phát động tổng khởi nghĩa, giành lấy chính quyền.
Mặt trận Việt Minh chính thức thành lập ngày 19 tháng 5 năm 1941 thay cho Mặt
trận dân tộc thống nhất phản đế Đông Dương đã được thành lập từ Hội nghị Trung
ương lần thứ 6 (11/1939).
Lý do Đảng, Bác Hồ chủ trương thành lập Mặt trận Việt Minh.
Chỉ trong hơn một năm đầu của cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai, nhân dân Việt
Nam đã có ba lần vùng dây khởi nghĩa vũ trang: tại Bắc Sơn ngày 27 tháng 9 năm
1940, tại Nam Kỳ là đêm 22 rạng ngày 23 tháng 11 năm 1940 và Cuộc binh biến Đô
Lương ngày 13 tháng 1 năm 1941 do binh lính đông Chợ Rạng dưới sự chỉ huy của
Đội Cung (Nguyễn Văn Cung). Tình hình ấy chứng minh rằng nền thống trị của
thực dân phản động Pháp và bước đầu xâm nhập của phát xít Nhật đã nung nấu
thêm long căm thù bè lũ đế quốc và nguyện vọng giải phóng dân tộc của nhân dân


ta. Tình hình ấy cũng nói lên khả năng giải phóng dân tộc bằng khởi nghĩa vũ trang.
Nhưng tất cả các cuộc khởi nghĩa và binh biến trên đều thất bại.
Trên đây cũng chính là nguyên nhân dẫn đến việc Đảng và Bác Hồ chủ trương
thành lập Mặt trận Việt Minh. Đảng và Bác đã nhận ra lòng căm thù giặc của nhân
dân cả nước đang càng lúc càng lên cao biểu hiện hàng loạt các cuộc khởi nghĩa đã
nổ ra trên khắp cả nước. Nhưng những cuộc khởi nghĩa đõ lại chỉ diễn ra trên quy
mô nhỏ: ở một địa phương như tại Bắc Sơn hoặc chỉ ở một thành phần như binh
lính trong Binh biến Đô lương. Thực dân Pháp và phát xít Nhật đang ở giai đoạn
suy yếu do Chiến tranh thê giới thứ hai. Nhưng để chiến thắng được chúng thì cần
thiết phải có được sự đoàn kết của mọi tầng lớp dân tộc, phát huy mọi nguồn lực.
Việc thành lập Mặt trận Việt Minh chính là để tập hợp mọi lực lượng yêu nước của
dân tộc để xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc, làm nhiệm vụ giải phóng dân tộc,
cứu nước, cứu nhà.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×