Tải bản đầy đủ

“Thực tiễn áp dụng pháp luật thuế nhập khẩu đối với mặt hàng xăng dầu 6 tháng đầu năm 2015 và ý kiến pháp lý của nhóm thực hiện nhằm khắc phục những hạn chế, bất cập của pháp luật thuế nhập khẩu về vấn đề này”.

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU
Có lẽ, trong cấu trúc hệ thống thuế ở mỗi quốc gia trên thế giới, thuế nhập
khẩu có vai trò và ý nghĩa thiết thực nhất và có vị trí quan trọng trong hệ thống
pháp luật thuế của mỗi quốc gia. Mặc dù, sự xuất hiện của loại thuế này muộn hơn
so với các loại thuế khác, nhưng thuế nhập khẩu nhanh chóng khẳng định được vai
trò, tác dụng to lớn của mình đối với nền kinh tế quốc gia, đặc biệt là vai trò kiểm
soát hoạt động nhập khẩu hàng hóa với bên ngoài. Càng ngày xu hướng hội nhập
kinh tế quốc tế đang từng bước ảnh hưởng đến tình trạng của loại thuế này theo
hướng hạn chế vai trò của nó ở mỗi quốc gia. Ngày càng nhiều các mặt hàng mới
được nhập khẩu vào Việt Nam, theo các con đường các nhau. Tuy nhiên có một
mặt hàng không bao giờ “giảm nhiệt” đối với thế giới nói chung và Việt Nam nói
riêng – xăng dầu. Để tìm hiểm sâu hơn về vấn đề trên nhóm 4 xin chọn đề tài số 9:
“Thực tiễn áp dụng pháp luật thuế nhập khẩu đối với mặt hàng xăng dầu 6 tháng
đầu năm 2015 và ý kiến pháp lý của nhóm thực hiện nhằm khắc phục những hạn
chế, bất cập của pháp luật thuế nhập khẩu về vấn đề này”.

1



NỘI DUNG
I.

Khái quát về pháp luật thuế nhập khẩu:

1. Khái niệm:

Theo quan niệm chung, thuế là một khoản tiền do các cá nhân, tổ chức nộp
cho nhà nước để góp phần chia sẻ gánh nặng chi tiêu với nhà nước trong quá trình
phát triển kinh tế, xã hội. Trong cấu trúc hệ thống thuế ở mỗi quốc gia, thuế nhập
khẩu luôn là loại thuế có vai trò và ý nghĩa thiết thực không chỉ tạo nguồn thu cho
ngân sách mà quan trọng hơn, nó là công cụ hữu hiệu trong tay nhà nước để kiểm
soát các hoạt động nhập khẩu hàng hóa từ nước ngoài, bảo hộ sản xuất trong nước
và thực hiện các mục tiêu đối ngoại của chính phủ trong từng thời kỳ.
Có nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm thuế xuất khẩu, tùy thuộc vào
góc độ tiếp cận.
Về phương diện kinh tế, thuế nhập khẩu được quan niệm là khoản đóng góp
bằng tiền mặt của tổ chức, cá nhân vào ngân sách nhà nước theo quy định của pháp
luật, khi họ có hành vi nhập khẩu hàng hóa qua biên giới một nước.
Về phương diện pháp lý, thuế nhập khẩu có thể hình dung như là quan hệ
pháp luật phát sinh giữa Nhà nước (người thu thuế) với tổ chức, cá nhân (người
nộp thuế), về việc tạo lập và thực hiện các quyền, nghĩa vụ pháp lý cho các bên
trong quá trình hành thu thuế nhập khẩu.
Theo quy định của luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu năm 2005 và luật hải
quan sửa đổi bổ sung năm 2005 thì thuế nhập khẩu được định nghĩa là loại thuế
đánh vào hàng hóa được nhập khẩu vào những khu vực có lãnh thổ của nước Cộng
Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, trong vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của
Việt Nam, nơi hải quan được áp dụng.

2


2. Đặc điểm:

Từ những cách tiếp cận trên, có thể thấy thuế nhập khẩu có những đặc điểm
sau:
-

Thuế nhập khẩu có đối tượng chịu thuế là các hàng hóa được phép vận
chuyển qua biên giới. Thuế nhập khẩu không tác động vào đối tượng


-

nhập khẩu là các loại hình dịch vụ.
Thuế nhập khẩu không hoàn toàn là thuế trực thu hoặc gián thu: nếu nhà
nhập khẩu nộp thuế nhập khẩu và tự tiêu dùng số hàng hóa nhập khẩu thì
khoản thuế nhập khẩu đã nộp có tính chất là thuế trực thu; ngược lại khi
nhà nhập khẩu đã nộp xong thuế nhập khâỉ và bán số hàng hóa cho người

-

khác thì khoản thuế nhập khẩu đã nộp có tính chất gián thu.
Thuế nhập khẩu gắn liền với hoạt động kinh tế đối ngoại của mỗi quốc
gia trong từng thời kỳ bởi hoạt động ngoại thương là một trong những
hoạt động cơ bản của nền kinh tế đối ngoại mà thuế nhập khẩu là công cụ
góp phần thực hiện vai trò quản lý, kiểm soát hoạt động ngoại thương của

-

Nhà nước.
Thuế nhập khẩu được quản lý bởi cơ quan chuyên trách là cơ quan hải
quan. Điều 1 Luật Hải Quan quy đinh: Hải quan Việt Nam có nhiệm vụ
tổ chức thực hiện pháp luật về thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập
khẩu, kiến nghị chủ trương biện pháp quản lý nhà nước về hải quan đối

-

với chính sách thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu.
Thuế nhập khẩu bị chi phối bởi nhiều yếu tố, đặc biệt là yếu tố hội nhập
nền kinh tế của quốc qia. Các yếu tố cơ bản chi phối đến chính sách thuế
như nhu cầu thu ngân sách nhà nước, yếu tố thực trạng kinh tế xã hội,
chính sách thuế nhập khâỉ phải phù hợp với chính sách phát triển kinh tế
của Nhà nước,…

3


Với những đặc trưng cơ bản trên đã cho thấy những nét khác biệt giữa thuế
nhập khẩu với các loại thuế khác. Trên cơ sở đó hiểu rõ bản chất cũng như vai trò
của loại thuế này.
3. Vai trò:

Bên cạnh 3 vai trò của thuế nói chung là: tạo nguồn thu cho ngân sách nhà
nước; điều tiết hoạt động kinh tế và hướng dẫn tiêu dùng trong xã hội thì Thuế
nhập khẩu còn có những vai trò đặc biệt của mình, xuất phát từ những đặc điểm cơ
bản của thuế nhập khẩu là đánh vào hàng hóa nhập khẩu và sau đó được cấu thành
trong giá của hàng hóa. Đó là bảo hộ nền sản xuất trong nước và chống lại xu
hướng cạnh tranh không cân sức giữa hàng hóa nội địa và hàng hóa ngoại nhập.
Thuế nhập khẩu sẽ làm cho hàng hóa ngoại nhập tăng lên, giúp hàng hóa
trong nước có thể cạnh tranh được, đồng thời hạn chế sự tác động của các biện
pháp cạnh tranh không lành mạnh trên thị trường quốc tế. Như vậy, bản chất của
việc đánh thuế nhập khẩu là biện pháp bảo hộ nền sản xuất trong nước khi Chính
phủ nhận thấy những bất lợi nghiêng về phía hàng hóa trong nước.
Ngoài ra, thuế nhập khẩu còn là cơ sở cho việc đàm phán trong thương mại
quốc tế. Lộ trình, mức độ, phạm vi hội nhâp kinh tế của mỗi quốc gia được phản
ảnh trước hết trong chính sách thuế nhập khẩu. Vấn đề cắt giảm hàng rào thuế quan
luôn là tâm điểm của các cuộc đàm phán, thỏa thuận giữa các quốc gia về mở rộng
tự do hó thương mại.
Trong trường hợp đặc biệt, thuế nhập khẩu còn là biện pháp tự vệ hay trả
đũa cho một quốc gia nhằm bảo vệ lợi ích kinh tế hoặc bù đắp những tổn thất do
các hoạt động thương mại không lành mạnh gây ra. Qua đó thúc đẩy cạnh tranh
không lành mạnh trong thương mại quốc tế.

4


Do vậy, thuế nhập khẩu đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc gia
nói riêng và nền kinh tế thế giới nói chung. Việc xây dựng một chính sách thuế
nhập khẩu hoàn thiện thực hóa pháp luật, góp phần vào việc giúp thuế nhập khẩu
phát huy được hết vai trò của mình.
Thực tiễn áp dụng pháp luật thuế nhập khẩu đối với mặt hàng xăng

II.

dầu 6 tháng đầu năm 2015:
1. Khái quát thực trạng pháp luật thuế nhập khẩu ở nước ta hiện nay:

Để phù hợp với các yêu cầu khách quan của quá trình phát triển kinh tế và
hội nhập, đặc biệt sau khi Việt Nam kí kết cách hiệp định lớn như gia nhập WTO,
TPP,.. các cơ quan có thẩm quyền đã ban hành nhiều văn bản pháp luật về thuế
nhập khẩu để đáp ứng với những yêu cầu đó.
a.

Chủ thế nộp thuế.

Theo quy định tại Điều 4 Luật thuế xuất khẩu, nhập khẩu năm 2005, người
nộp thuế nhập khẩu là tổ chức, cá nhân có hàng hóa nhập khẩu thuộc đối tượng
chịu thuế nhập khẩu. Tại nghị định số 87/2010/NĐ-CP cũng đã quy định chi tiết
đối tượng nộp thuế nhập khẩu tại Điều 4, theo đó, chủ thể nộp thuế bao gồm: chủ
hàng hóa nhập khẩu, tổ chức nhận ủy thác nhập khẩu hàng hóa, cá nhân có hàng
hóa nhập khẩu khi nhập cảnh, nhận hàng qua cửa khẩu biên giới Việt Nam.
Về nguyên tắc, một tổ chức hay cá nhân chỉ được xem là đối tượng nộp thuế
nhập khẩu khi chủ thể đó thỏa mãn các điều kiện sau:
-

Là người trực tiếp đứng tên làm thủ tục nhập khẩu hàng hóa với nước

-

ngoài.
Hàng hóa do chủ thể đó nhập khẩu với nước ngoài theo quy định của
pháp luật về thuế nhập khẩu.
b. Về đối tượng chịu thuế.

5


Theo Điều 2 Luật thuế xuất khẩu, nhập khẩu, hàng hóa là đối tượng chịu
thuế nhập khẩu gồm: hàng hóa nhập khẩu qua cửa khâu, biên giới Việt Nam (hàng
hóa nhập khẩu qua cửa khẩu đường bộ, đường sông, cảng biển, cảng hàng không,
đường sắt liên vận quốc tế, bưu điện quốc tế và địa điểm làm thủ tục hải quan khác
được thành lập theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền); hàng hóa
được đưa từ khu phí thuế quan vào thị trường trong nước.
Như vậy, so với các luật cũ, thì Luật xuất khẩu, nhập khẩu năm 2005 có một
số thay đổi về đối tượng chịu thuế. Cụ thể, cụm từ “khu phi thuế quan” đã thay thế
cho cụm từ “khu chế xuất” trước đây. Theo đó, khu phi thuế quan bao gồm khu chế
xuất, doanh nghiệp chế xuất, kho bảo thế, khu bảo thuế, kho ngoại quan, kho kinh
tế thương mại đặc biệt và các khu vực kinh tế khác được thành lập theo quyết định
của Thủ tướng Chính phủ, có quan hệ mua bán trao đổi hàng hóa giữa khu này với
bên ngoài là quan hệ xuất khẩu, nhập khẩu.
Từ đó, để xác định đối tượng chịu thuế nhập khẩu, theo điều 3 luật thuế xuất
khẩu, nhập khẩu, thì hàng hóa trong các trường hợp sau đây là đối tượng không
chịu thuế nhập khẩu
-

Hàng hóa vận chuyển quá cảnh hoặc mượn đường qua cửa khẩu biên giới

-

Việt Nam, hàng hóa chuyển khẩu theo quy định của Chính ohủ;
Hàng hóa viện trợ nhân đạo, hàng hóa viện trợ không hoàn lại;
Hàng hóa từ khu phi thuế quan nhập khẩu từ nước ngoài vào khu phi
thuế quan và chỉ sử dụng trong khu phi thuế quan, hàng hóa đưa từ khu



phi thuế quan này sang khu phi thuế quan khác.
c. Căn cứ tính thuế:
Căn cứ tính thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu bao gồm:
- Số lượng từng mặt hàng ghi trong tờ khai hàng xuất khẩu, nhập khẩu.
- Giá tính thuế
6


- Thuế suất của mặt hàng chịu thuế quy định trong biểu thuế.


Giá tính thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu:
Giá tính thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu được áp dụng theo quy định đối với

từng trường hợp sau đây:
-

Giá tính thuế đối với hàng hoá xuất khẩu là giá bán cho khách hàng tại
cửa khẩu xuất (FOB), không gồm chi phí vận tải (F), phí bảo hiểm (I)

-

theo hợp đồng bán hàng.
Giá tính thuế đối với hàng hoá nhập khẩu là giá mua của khách hàng tại
cửa khẩu nhập, bao gồm cả chi phí vận tải (F), phí bảo hiểm (I) theo hợp

-

đồng mua hàng, tức là giá CIF.
Ðối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu nếu có hợp đồng mua bán và có
đủ các chứng từ hợp lệ đủ điều kiện để xác định giá tính thuế thì giá tính

-

thuế được xác định theo hợp đồng.
Trong trường hợp hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu theo phương thức khác
hoặc giá ghi trên hợp đồng quá thấp so với giá mua bán tối thiểu thực tế
tại cửa khẩu thì giá tính thuế áp dụng theo biểu giá do Chính phủ quy
định. Giá tính thuế tính bằng đồng Việt Nam. Ngoại tệ được quy đổi ra



đồng Việt Nam theo tỷ giá mua vào do Ngân hàng nhà nước công bố.
Thuế suất:
Thuế suất đối với hàng nhập khẩu gồm thuế suất thông thường, thuế suất ưu

đãi và thuế suất ưu đãi đặc biệt:
Thuế suất thông thường áp dụng cho hàng hoá nhập khẩu có xuất xứ từ nước
không có thoả thuận đối xử tối huệ quốc trong quan hệ thương mại với Việt Nam.
Thuế suất thông thường được quy định cao hơn không quá 70% so với thuế suất ưu
đãi của từng mặt hàng tương ứng do Chính phủ quy định.

7


Thuế suất ưu đãi áp dụng cho hàng hoá nhập khẩu có xuất xứ từ nước có
thỏa thuận đối xử tối huệ quốc trong quan hệ thương mại với Việt Nam.Thuế suất
ưu đãi đặc biệt áp dụng cho hàng hoá nhập khẩu có xuất xứ từ nước mà Việt Nam
và nước đó đã có thoả thuận ưu đãi đặc biệt về thuế nhập khẩu.
Hàng hoá nhập khẩu trong các trường hợp sau, ngoài việc chịu thuế theo quy
định như trên còn phải chịu thuế bổ sung.
Hàng hoá được nhập khẩu vào Việt Nam với giá bán của hàng hoá đó quá
thấp so với giá thông thường do được bán phá giá, gây khó khăn cho sự phát triển
ngành sản xuất hàng hoá tương tự cuả Việt Nam .
Hàng hoá được nhập khẩu vào Việt Nam với giá bán của hàng hoá đó quá
thấp so với giá thông thường do có sự trợ cấp của nước xuất khẩu, gây khó khăn
cho sự phát triển ngành sản xuất hàng hoá tương tự cuả Việt Nam.
Hàng hoá được nhập khẩu vào Việt Nam có xuất xứ từ nước mà nước đó có
sự phân biệt đối xử về thuế nhập khẩu hoặc có những biện pháp phân biệt đối xử
khác đối với hàng hoá cuả Việt Nam.


Số lượng hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu:
Là số lượng hàng hoá thực tế ghi trên tờ khai mà cơ sở có hàng xuất khẩu,

nhập khẩu nộp cho cơ quan hải quan .


Phương pháp tính thuế :
Thuế (xuất) nhập khẩu = Số lượng x giá tính thuế x thuế suất thuế nhập

khẩu.
- Giá tính thuế đối với hàng hoá xuất khẩu là giá bán tại cửa khẩu xuất theo
hợp đồng.

8


- Giá tính thuế đối với hàng hóa nhập khẩu là giá thực tế phải trả tính đến
cửa khẩu nhập đầu tiên theo hợp đồng, phù hợp với cam kết quốc tế.
-Tỷ giá giữa đồng Việt Nam với đồng tiền nước ngoài dùng để xác định giá
tính thuế là tỷ giá hối đoái do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm
tính thuế.
- Thuế suất đối với hàng hoá xuất khẩu được quy định cụ thể cho từng mặt
hàng tại Biểu thuế xuất khẩu.
Thuế suất đối với hàng hóa nhập khẩu gồm thuế suất ưu đãi, thuế suất ưu đãi
đặc biệt và thuế suất thông thường:
-Thuế suất ưu đãi áp dụng đối với hàng hóa nhập khẩu có xuất xứ từ nước,
nhóm nước hoặc vùng lãnh thổ thực hiện đối xử tối huệ quốc trong quan hệ thương
mại với Việt Nam;
-Thuế suất ưu đãi đặc biệt áp dụng đối với hàng hóa nhập khẩu có xuất xứ từ
nước, nhóm nước hoặc vùng lãnh thổ thực hiện ưu đãi đặc biệt về thuế nhập khẩu
với Việt Nam;
-Thuế suất thông thường áp dụng đối với hàng hóa nhập khẩu có xuất xứ từ
nước, nhóm nước hoặc vùng lãnh thổ không thực hiện đối xử tối huệ quốc và
không thực hiện ưu đãi đặc biệt về thuế nhập khẩu với Việt Nam. Thuế suất thông
thường được quy định không quá 70% so với thuế suất ưu đãi của từng mặt hàng
tương ứng do Chính phủ quy định.
a) Số thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu phải nộp bằng số lượng đơn vị từng
mặt hàng thực tế xuất khẩu, nhập khẩu ghi trong tờ khai hải quan nhân với giá tính
thuế và thuế suất của từng mặt hàng ghi trong Biểu thuế tại thời điểm tính thuế;

9


b) Trong trường hợp mặt hàng áp dụng thuế tuyệt đối thì số thuế xuất khẩu,
thuế nhập khẩu phải nộp bằng số lượng đơn vị từng mặt hàng thực tế xuất khẩu,
nhập khẩu ghi trong tờ khai hải quan nhân với mức thuế tuyệt đối quy định trên
một đơn vị hàng hoá tại thời điểm tính thuế.
2. Tình hình thuế suất nhập khẩu xăng dầu 6 tháng đầu năm 2015:

Sáu tháng đầu năm 2015 với diễn biến đầy phức tạp của thị trường xăng dầu
trong nước và quốc tế dẫn đến Bộ Tài chính phải liên tục điều chỉnh thuế suất nhập
khẩu xăng dầu để đảm bảo được lợi ích cho người dân và điều tiết, ổn định thị
trường.
Đầu tháng 1.2015 Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư 03/2015/TT-BTC điều
chỉnh tăng thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi đối với mặt hàng xăng dầu..
Cụ thể, thuế nhập khẩu xăng tăng từ 27% lên 35%; dầu hỏa tăng từ 26% lên
35%; dầu mazut tăng từ 24% lên 35%; dầu diesel tăng từ 23% lên 30%.
Thời báo kinh tế Sài Gòn đã trích dẫn Bộ Tài chính cho thấy, việc này nhằm
giúp các doanh nghiệp đầu mối kinh doanh xăng dầu chủ động xây dựng kế hoạch,
phương án kinh doanh. Một lý do nữa là các mức thuế này phù hợp với mức khung
thuế suất mà Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã thông qua, phù hợp với cam kết của
Việt Nam trong Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) là 0-40%.
Trong những trường hợp để bảo vệ thị trường và các doanh nghiệp sản xuất
trong nước như vậy, việc tăng thuế nhập khẩu (lên mức tối đa được phép) đôi khi
là điều phải làm, nên làm, khi xét đến sự phát triển còn non trẻ của doanh nghiệp
trong nước, sự cạnh tranh không lành mạnh của doanh nghiệp nước ngoài, hay vì
một nhu cầu nào đó đáp ứng quyền lợi của cả quốc gia.
Tuy nhiên, xét trong ngành xăng dầu, Việt Nam là nước xuất khẩu ròng dầu
thô, nhưng lại là nước nhập khẩu ròng xăng dầu thành phẩm. Nói cách khác, nâng
10


thuế nhập khẩu xăng dầu trong trường hợp này hầu như chỉ có tác dụng (đúng hơn
là tác hại) đáng kể là làm tăng giá xăng dầu trong nước, chứ không phải bảo vệ nhà
sản xuất, lọc dầu trong nước (có sản phẩm tiêu thụ ở nội địa), ngoài tác dụng hiển
nhiên là ngân sách sẽ được bù đắp một khoản lớn dự kiến sẽ mất đi do hụt thu thuế
nhập khẩu xăng dầu (tính ở mức cũ) do giá xăng dầu tụt giảm mạnh.
Ngày 13/04/2015, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 48/2015/TT-BTC
sửa đổi thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi đối với một số mặt hàng xăng, dầu. Thông
tư này có hiệu lực thi hành từ ngày 14/04/2015, tức sau 01 ngày được ban hành.
Do đó, đến giữa tháng 4.2015, cả xăng và dầu điều chỉnh giảm xuống còn 20%.
Theo lý giải của Bộ tài chính, Thông tư có hiệu lực thi hành từ ngày
14/4/2015 nhằm phù hợp với quy định đảm bảo dự trữ xăng dầu bắt buộc tối thiểu
30 ngày theo quy định tại Nghị định số 83/2014/NĐ-CP.
Theo đó, mức thuế nhập khẩu ưu đãi đối với mặt hàng xăng, dầu hoả giảm
từ 35% xuống mức 20% (tức giảm gần 43%), dầu diezel giảm từ 30% xuống 20%
(tương ứng mức giảm 33%), dầu mazut giảm từ 35% xuống 25% (tương ứng giảm
29%) và nhiên liệu bay từ 25% xuống 10% (tương đương mức giảm 60%).
Được biết, từ ngày 01/05/2015, thuế Bảo vệ môi trường (BVMT) đối với
một số mặt hàng xăng dầu (đã được Ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua) được
điều chỉnh tăng lên 200% so với biểu thuế trước đó, cụ thể: Mặt hàng xăng, nhiên
liệu bay tăng từ 1.000 đ/lít lên 3.000 đ/lít; Mặt hàng dầu diezel tăng từ 500 đ/lít lên
1.500 đ/lít; Mặt hàng dầu mazut tăng từ 300 đ/lít lên 900 đ/lít; riêng mặt hàng dầu
hoả giữ nguyên mức thuế là 300 đ/lít.
Theo Bộ tài chính, việc ban hành Thông tư 48- điều chỉnh giảm thuế nhập
khẩu xăng, dầu là để việc thực hiện chính sách thuế BVMT từ ngày 01/05/2015
trước mắt không ảnh hưởng đến giá bán của các mặt hàng xăng dầu, đảm bảo
11


quyền lợi của người tiêu dùng. Tuy nhiên, mức giảm cao nhất của thuế nhập khẩu
xăng dầu chưa tới 43% cũng khó "kìm" được mức tăng tới 200% của thuế BVMT,
áp lực tăng giá bán lẻ xăng, dầu trong thời gian tới cũng khó tránh khỏi.
Bộ Tài chính vừa ban hành Thông tư số 61/2015/TT-BTC sửa đổi mức thuế
suất thuế nhập khẩu ưu đãi đối với một số mặt hàng xăng, dầu. Đến đầu tháng
5.2015, dầu tiếp tục giảm xuống 12%. Theo đó, kể từ ngày 4-5-2015, thuế nhập
khẩu ưu đãi đối với mặt hàng dầu mazut giảm từ 25% xuống 13% (giảm 12%); mặt
hàng dầu diezel, dầu diezel sinh học (B5, B10) giảm từ 20% xuống 12% (giảm
8%).
Thuế suất các mặt hàng xăng RON92/95, xăng sinh học (E5,E10), dầu hoả
giữ nguyên mức 20%; nhiên liệu bay, xăng máy bay giữ nguyên mức 10%.
Đây là lần giảm thuế nhập khẩu xăng dầu thứ 2 liên tục trong năm nay. Vào
lần điều chỉnh trước, ngày 14-4, Bộ Tài chính đã quyết định giảm suất thuế nhập
khẩu xăng và dầu hỏa từ 35% xuống 20%, dầu diezel từ 30% xuống 20%, dầu
mazut từ 35% xuống 25% và nhiên liệu bay từ 25% xuống 10%.
Việc Bộ Tài chính liên tục hạ mức thuế nhập khẩu các mặt hàng xăng, dầu
nhằm đảm bảo không ảnh hưởng giá bán xăng, dầu; đảm bảo quyền lợi của người
tiêu dùng cũng như việc thực hiện quyền nghĩa vụ của doanh nghiệp kinh doanh
xăng dầu khi thuế bảo vệ môi trường tăng từ 1-5.
Ngày 20 tháng 01 năm 2015, Bộ Tài chính ban hành Thông tư 06/2015/TTBTC. Điều 1 của Thông tư đã quy định: “Sửa đổi mức thuế suất thuế nhập khẩu ưu
đãi đối với một số mặt hàng xăng, dầu thuộc nhóm 27.10 tại Biểu thuế nhập khẩu
ưu đãi kèm theo Thông tư số 03/2015/TT-BTC ngày 6/1/2015 của Bộ trưởng Bộ
Tài chính thành mức thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi mới quy định tại Danh mục
thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi ban hành kèm theo Thông tư này.”
12


Sau đây là một số mức thuế suất được quy định trong Danh mục:
Mô tả hàng hóa

Mã hàng

Thuế suất
(%)

- - - Xăng động cơ:
2710.12.11

- - - - RON 97 và cao hơn, có pha chì

40

2710.12.12

- - - - RON 97 và cao hơn, không pha chì

40

2710.12.13
2710.12.14

III.

- - - - RON 90 và cao hơn, nhưng dưới RON 97 có
pha chì
- - - - RON 90 và cao hơn, nhưng dưới RON 97
không pha chì

40
40

Ý kiến của nhóm về những bất cập trên:
Xuất phát từ những hạn chế trên đặt ra yêu cầu phải nhanh chóng hoàn thiện

hệ thống pháp luật, điều chỉh để bổ sung cho phú hợp với thực tiễn tạo điều kiện
cho việc tìm hiểu và áp dụng thuế s nhập khẩu trong thực tiễn. Nhóm chúng em
đưa ra một số ý kiến sau đây:
Thứ nhất, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến kiến thức thuế. Cơ quan
thuế các cấp cần quan tâm đến việc đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ thuế, về kĩ thuật
tuyên truyền đến cán bộ thuế, nhất là cán bộ cơ sở để có thể nắm chắc mọi chính
sách, chế độ, từ mục đích ý nghĩa đến nội dung cụ thể, đủ khả năng làm nhiệm vụ.
Ví dụ như các giải pháp:
- Tạo diễn đàn cho các cán bộ có thể trao đổi thông tin, trau dồi thêm nghiệp
vụ về thuế.

13


- Tích cực, thường xuyên đào tạo cán bộ thuế có trình độ, hăng say với công
tác tuyên truyền pháp luật thuế để công tác có thể đạt được hiệu và và phát huy
tính thiết thực.
- Tổng cục thuế, các Cục và Chi cục thuế không ngừng phối hợp chặt chẽ
với các cơ quan báo chí, truyền thông để đẩy mạnh công tác tuyên truyền một cách
rộng rãi, đầy đủ nhất.
- Triển khai các chương trình lắng nghe ý kiến của dân và tổ chức nhiều
đường dây nóng bố trí cán bộ để có thể giải đáp các thắc mắc về quản lý thuế cho
người dân.
Thứ hai, hoàn thiện hệ thống pháp luật theo chủ trương đường lối của Đảng
trong quá trình hội nhập quốc tế, phù hợp với nội dung các cam kết quốc tế mà
Việt Nam ký kết và tham gia.
- Hoàn thiện hệ thống pháp luật theo hướng đảm bảo nguồn thu ngân sách
do thời gian qua, để đáp ứng được yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế, tăng sức cạnh
tranh của nền kinh tế, hệ thống chính sách thuế của Việt Nam liên tục có sự điều
chỉnh, đặc biệt việc điều chỉnh giảm thuế suất đối với thuế XNK và một số sắc thuế
nội địa quan trọng, có số thu NSNN lớn. Ngoài ra, để tháo gỡ khó khăn cho sản
xuất trong nước, trong giai đoạn vừa qua Quốc hội, Chính phủ cũng đã ban hành
nhiều chính sách miễn, giảm, giãn, hoãn tiền thuế cho người dân và doanh
nghiệp... Đây là những nguyên nhân dẫn đến tỷ lệ động viên từ thuế và phí trên
GDP thấp, có xu hướng giảm qua các năm.
- Hoàn thiện hệ thống pháp luật thuế XNK nhằm bảo hộ, thúc đẩy sự phát
triển của nền kinh tế trong nước.
- Tạo một hệ thống đồng bộ, thống nhất có tính ổn định cao, có khả năng đáp
ứng được tình hình cạnh tranh giữa các thành phần trong nước và nước ngoài.
14


Thứ ba, xây dựng một hàng rào bảo hộ thuế quan hợp lí do hệ quả tất yếu
của quá trình hội nhập kinh tế đòi hỏi phải cắt giảm thuế quan nên cần thiết phải
xây dựng và hoàn thiện nhanh chóng các loại thuế xuất nhập khẩu như: thuế nhập
khẩu để tự vệ, chống bán phá giá, chống trợ cấp, chống phân biệt đối xử trong
nhập khẩu hàng hoá.
Thứ tư, tăng cường hiện đại hoá vật chất cho ngành hải quan, đẩy mạnh tin
học hoá các quá trình quản lý thu thuế xuất nhập khẩu. Đầu tư trang thiết bị hiện
đại để giám định ký thuật hàng hoá.
Thứ năm, hoàn thiện chế tài áp dụng đối với hành vi gian lận thuế hay chậm
nộp thuế nhằm đẩy mạnh đấu tranh, phát hiện kịp thời các hành vi gian lận thuế, nợ
thuế kéo dài nhằm chiếm đoạt tiền thuế từ ngân sách.
KẾT LUẬN
Với xu thế hội nhập ngày càng sâu rộng về mọi mặt trong giai đoạn hiện
nay, việc hoàn thiện hệ thống pháp luật là yêu cầu cần thiết. Các hoạt động giao
lưu, hợp tác sẽ thúc đẩu sự phát triển kinh tế nếu có một hành lang pháp lý phù hợp
làm nền tảng cho nó, đặc biệt trong hoạt động nhập khẩu và hệ thống pháp luật về
nhập khẩu. Các quy định cần phù hợp hơn với từng loại mặt hàng đặc biệt là mặt
hàng về xăng dầu,… Các quy định pháp luật cần sát hơn nữa, phù hợp với cam kết
quốc tế của Việt Nam,… Như vậy, sẽ thúc đẩy, phát huy nhưng vai trò của thuế
nhập khẩu trong thị trường giao lưu, hội nhập,…

15


TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.
2.
3.
4.
5.
6.

Giáo trình Luật Thuế Việt Nam, NXB Công An Nhân Dân, năm 2015
Luật Thuế xuất khẩu, nhập khẩu 2015
Thông tư 06/2015/TT-BTC
Thông tư số 48/2015/TT-BTC
Thông tư 03/2015/TT-BTC
Thông tư số 61/2015/TT-BTC

16



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×